Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ giải quyết các chính sách chế độ cho người lao động, ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai đã thường xuyên phối hợp với các đơn vị sử dụng lao động t
Trang 1ị TIỀU LUẬN CUÓI KHÓA ị
2‘Giải quyết đơn của bà: Đỗ Thị Linh tố cáo ông Phạm Đức Cường ở 1^0 3, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, đã khai man tuổi đời
I và năm câng tác để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội”
A
Ngưòi thực hiện: Hoàng Ngọc Minh Thương
Đơn vị công tác: Ban Tổ Chức Thị ủy Thỉ Xã Sa Pa
Học viên: Lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên
Sa Pa, thảng 10 năm 2020
Trang 2Hoàng Ngọc Mình Thương - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG *— - 3
1 Nội dung tình huống 3
1.1 Hoàn cảnh ra đời 3
1.2 Mô tả tình huống 3
2 Phân tích tình huống 4
2.1 Cơ sở lý luận của tình huống 4
2.1.1 Lý luận chung của tình huống 4
2.1.2 Quan điểm của Đảng về công tác bảo hiểm xã hội 5
2.1.3 Văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết tình huống 6
2.2 Phân tích diễn biến tình huống 7
2.3 Nguyên nhân dẫn đến tình huống 8
2.4 Hậu quả của tình huống 8
3 Xử lý tình huống 9
3.1 Mục tiêu xử lý tình huống 9
3.2 Đề xuất các phương án tối ưu để giải quyết tình huống 9
3.3 Các giải pháp cụ thể thưc hiện phương án đã lựa chọn 11
4 Khuyến nghị 11
4.1 Khuyến nghị đối vơi Nhà nước 12
4.2 Khuyến nghị đối với cấp ủy, chính quyền 12
4.3 Khuyến nghị đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai 12
PHÀN KẾT LUẬN 13
TÀI IỆU THAM KHẢO 15
Trang 3Hoàng Ngọc Minh Thương - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới đất nước, việc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước là một đòi hỏi bức thiết trong giai đoạn hiện nay Công tác quản lý Nhà nước hình thành tồn tại và phát triển không phải chỉ hoàn toàn do bản thân Nhà nước mà còn là nhu cầu ổn định và phát triển chung của xã hội Mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước của người lãnh đạo đều dưới một quyết định quản lý, một biện pháp tổ chức; một biện pháp tổ chức thực hiện chỉ được coi là có hiệu quả đối với xã hội khi đạt được mục đích xây dựng, của một quá trình xã hội Đây là một quan niệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Thực tế cho thấy, quản lý Nhà nước không trực tiếp scáng tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần nhưng tác động của nó ảnh hưởng rất lớn tới đến sự phát triển tốt hay không tốt, nhanh hay chậm của các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội Tính toàn diện
đa dạng, tương đối ổn định của các hoạt động quản lý Nhà nước đòi hỏi không thể đánh giá quản lý Nhà nước chỉ ở một mặt nào, một lĩnh vực nào mà phải đề cập đến mọi khía cạnh hoạt động xã hội
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý, Nhà nước ban hành các chính sách để tác động đến các mặt đời sống xã hội nhằm giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, của nhu cầu xã hội đặt ra Chính sách xã hội luôn được Nhà nước ta xác định là một trong những chính sách cơ bản, toàn diện bao gồm các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương và bảo trợ xã hội
Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, là yếu tố không thể thiếu của một
xã hội tiến bộ Bảo hiểm xã hội mang ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, thể hiện nhiều truyền thống đạo lý của dân tộc ta thông qua tính chia sẻ cộng đồng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ
Tồ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ giải quyết các chính sách chế độ cho người lao động, ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai đã thường xuyên phối hợp với các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh luôn thực hiện tổt công tác thu, quản lý sô bảo hiểm xã hội, cấp thẻ bảo hiểm y tế, chi trả kịp thời các chế
độ trợ cấp ôm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động
Tuy nhiên hiện nay vẫn còn một số đơn vị sử dụng lao động chưa chú trọng tham gia đóng nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động của đơn vị mình Đặc biệt là công tác kiện toàn hồ sơ để thẩm định đối chiếu quá trình công tác, ngày tháng năm sinh của người lao động với sổ bảo hiểm xã hội làm hồ sơ giải quyêt các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động sau này cũng chưa được các đơn vị sử dụng lao động quan tâm đúng mức Hồ sơ của người lao động từ các năm trước không được bổ sung kịp thời, việc lưu trữ, bảo quản
Trang 4Hoàng Ngọc Minh Thương - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
hồ sơ không được đầy đủ chặt chẽ dẫn đến hồ sơ bị thất lạc, các quyết định tuyển dụng ban đầu, quyết định nâng lương, thuyên chuyển công tác không được lưu trữ trong hồ sơ Vì vậy cơ quan Bảo hiểm xã hội gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thẩm định thời gian công tác liên tục để giải quyết các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động
Trước tình hình đó trong những năm qua ngoài việc tập trung vào công tác quản lý thu và chi trả kịp thời, giải quyết nhanh gọn các chế độ chính sách cho người lao động, cơ quan Bảo hiểm xã hội luôn quan tâm đến việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của người hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, về thời gian công tác, về tuổi đời Đây là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, nếu không tập trung giải quyết dứt điểm, minh bạch, chính xác dễ gây ra sự bất bình, không an tâm của người tham gia bảo hiểm xã hội, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành, các chú trương chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội
Xuất phát từ thực tiễn trong quá trình công tác của bản thân và quá trình học Lớp Bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên năm 2020, tôi được bổ sung nhiều kiến thức mới về quản lý nhà nước, về kỹ năng soạn thảo văn bản, công nghệ hành chính, có khả năng giải quyết các tình huống quản lý đặt ra trong thực tế; được sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, cho nên tôi chọn đề tài: “Giải quyết đơn của bà: Đỗ
Thị Lỉnh tổ cáo ông Phạm Đức Cường ở tồ 3 phường Sa Pa - thỉ xã Sa Pa - tỉnh Lào Cai, đã khai man tuổi đờỉ và năm công tác để hưởng ché độ bảo hiểm xã hội” làm tiểu luận cuối khóa.
Với mục đích tham gia một số giải pháp cho công tác giải quyết chế độ bảo hiêm xã hội trong giai đoạn hiện nay Nhưng do thời gian và trình độ có hạn, nên những vấn đề mà nội dung nghiên cứu đề cập chắc sẽ không tránh khỏi thiêu sót Kính mong nhận được sự góp ý của các thây, cô giáo để nội dung đề tài ngày càng hoàn thiện và áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn
Trang 5Hoàng Ngọc Mình Thương - Lớp Bồi dương kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
PHẢN NỘI DUNG
1 Nội dung tình huống
1.1 Hoằn cảnh ra đời
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc thực hiện các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động, đảm bảo sự công bằng cho người lao động khi tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiếm
xã Hội
Việc thực hiện các chế độ chính sách được cãn cứ vào các tài liệu có trong
hồ sơ văn bản, giấy tờ có giá trị pháp lý đối với người lao động theo đúng quy định hiện hành về hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
Ngày 22/5/2018 Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai nhận được đơn tố cáo của
bà Đỗ Thị Linh, trong đơn ghi rõ tôi tên là Đỗ Thị Linh sinh ngày 08/8/1953 cư trú tại ở tổ 3 phường Sa Pa - thị xã Sa Pa - tỉnh Lào Cai tố cáo ông Phạm Đức Cường ở tổ 3 phường Sa Pa - thị xã Sa Pa - tỉnh Lào Cai hiện đang hưởng chế
độ hưu trí tại tổ 3 phường Sa Pa - thị xã Sa Pa - tỉnh Lào đã khai man tuổi đời
và năm công tác để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
1.2 Mô tả tình huống
Việc tố cáo người hưởng sai chế độ là việc làm cần thiết và luôn được khuyến khích, yêu cầu các cơ quan chức năng có liên quan giải quyết kịp thời, đảm bảo kỷ cương phép nước
Trong đơn bà Đỗ Thị Linh ghi rõ tôi là Đỗ Thị Linh sinh ngày 08/8/1953
sô chứng minh thư nhân dân 063452665 do Công an tỉnh Lào Cai cấp ngày 05/5/2015 Tôi cùng quê với ông Phạm Đức Cường ở tổ 3 phường Sa Pa- thị xã
Sa Pa - tỉnh Lào Cai Chúng tôi sinh cùng năm và lớn lên sinh hoạt tại địa phương cùng nhau, sau đó ông Phạm Đức Cường đi bộ đội đến năm 1974 được chuyển về Công ty Rau quả thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai làm việc và được nghỉ chế
độ hưu trí từ tháng 11/2001 theo Nghị định 12/CP ngày 26/11/1995 Nơi hưởng chê độ hưu trí tại phường Sa Pa - thị xã Sa Pa - tỉnh Lào Cai
Bà Đỗ Thị Linh ghi rõ sau khi tốt nghiệp cấp 3 vì điều kiện gia đình khó khăn nên bà không thể tiếp tục đi học mà xin vào làm nhân viên Công ty Thương nghiệp thị xã Sa Pa Đến tháng 03/2008 bà Đỗ Thị Linh mới được nghỉ hưởng chế độ hưu trí theo quy định Trong đơn bà Đỗ Thị Linh nêu, nếu theo thời gian và tuổi đời và căn cứ vào các quy định để hưởng chế độ chính sách thì ông Phạm Đức Cường không đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí vào tháng 11/2001
Sau khi nhận được đơn tố cáo của bà Đỗ Thị Linh, ngày 06/06/2018 Giám đôc Bảo hiểm xã hội tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 333/QĐ-BHXH, thành phần gồm có 04 đồng chí Lãnh đạo Phòng Thanh tra “ Kiểm tra, lãnh đạo
Trang 6Hoàng Ngọc Minh Thương - Lởp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
và viên chức phòng Chế độ bảo hiểm xã hội, Giám đốc BHXH thị xã Sa Pa cùng tham gỉa để tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ sự việc Đoàn kiểm tra cãn cứ
hồ sơ hưu trí của ông Phạm Đức Cường hiện đang lưu trữ tại Bảo hiểm xã hội tỉnh, kiểm tra, xác minh thực tế tại đơn vị nơi ông Cường công tác trước lúc nghỉ hưu và xác minh nãm sinh tại địa phưong nơi ông Phạm Đức Cường sinh sống (phường Sa Pa - thị xã Sa Pa - tỉnh Lào Cai)
Sau khi kiểm tra xác minh thực tế tại đơn vị Công ty Rau quả thị xã Sa
Pa, xác minh tại địa phương, lấy lời khai của một số người liên quan và bản thân ông Phạm Đức Cường cũng thành thật khai báo do có thời điểm đơn vị chuyến đổi mô hình hoạt động và cơ cấu lại tổ chức nên công việc không được ổn định cho lắm, bản thân ông lại đau yếu thường xuyên nên cơ quan đã tạo điều kiện để cho ông được nghỉ hưởng chế độ Từ những cơ sở trên Đoàn kiểm tra kết luận việc ông Phạm Đức Cường khai tăng tuổi đời và năm công tác để hưởng sai chế
độ chính sách của Nhà nước là đúng sự thật Cụ thể: ông Phạm Đức Cường khai tàng 05 năm tuổi đời và 07 năm công tác để hưởng chế độ hưu trí Trên cơ sở kết luận của Đoàn kiểm tra Giám đốc BHXH tỉnh yêu cầu phòng Chế độ bảo hiểm xã hội căn cứ kết luận của Đoàn kiểm tra để tính toán lại và tham muư hình thức xử lý đối với ông Phạm Đức Cường
2 Phân tích tình huống
2.1 Cơ sở lý luận của tình huống
2.1.1 Lý luận chung của tình huống
Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, vừa
là nhân tố ổn định, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế - xã hội Cho nên, vai trò của Nhà nước là rất quan trọng Thực tế đã chỉ rõ, nếu không
có sự can thiệp của Nhà nước, nếu không có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì môi quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ không được duy trì bền vững, mối quan hệ ba bên trong bảo hiểm xã hội sẽ
bị phá vỡ
Hơn nữa, Bảo hiểm xã hội tỉnh được thực hiện thông qua một quy trình chặt chẽ, từ việc hoạch định chính sách, đảm bảo vật chất đển việc xét trợ cấp v.v Vì vậy, Nhà nước quản lý toàn bộ quy trình này, hay có những giới hạn về mức độ và phạm vi
Trước hết, phải khẳng định rằng việc hoạch định chính sách bảo hiểm xã hội là khâu đầu tiên và quan trọng nhất Sự quản lý của Nhà nước về vấn đề này thê hiện ở việc xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về bảo hiểm xã hội và ban hành thực hiện Sau đó là hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các tổ chức,
cá nhân thực hiện chính sách
Đối với việc đảm bảo vật chất cho bảo hiểm xã hội thì vai trò của Nhà nước phụ thuộc vào chính sách bảo hiểm xã hội do Nhà nước quy định Có nhũng mô hình về bảo đảm vật chất cho bảo hiểm xã hội do ngân sách Nhà nước
Trang 7Hoàng Ngọc Minh Thương - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
cung cấp thì vai trò quản lý Nhà nước là trực tiếp và toàn diện, nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước đóng góp thì Nhà nước tham gia quản lý
2.1.2, Quan điểm của Đảng về công tác bảo hiểm xã hội
Ngay từ khi thành lập nước năm 1945, Chính phủ luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao động nói chung và đối với công nhân, viên chức nhà nước nói riêng Ngoài việc ban hành chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ phụ cấp, trợ cấp xã hội mà thực chất là các chế độ bảo hiểm xã hội như: trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, trợ cấp già yếu, trợ cấp cho cá nhân và gia đình viên chức khi chết và xây dựng các khu an dưỡng, điều dưỡng, bệnh viện, nhà trẻ w
Điều 32 Hỉển pháp năm 1959 quy định rõ "Quyền của người ỉao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, mất sức ỉao động, bệnh tật” [1,7] Năm
1960, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết, trong đó xác định “đi đôi với việc cải tiến chế độ tiền lương, cần cải tiến và ban hành các chính sách cụ thể về bảo hiếm xã hội và phúc lợi cho cho công nhân viên chức, cán bộ”
Ngày 14/12/1961, ủy ban Thưòng vụ Quốc hội đã phê chuẩn, Chính phủ ban hành Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức nhà nước và Nghị định
số 161/CP về chế độ đối với lực lượng vũ trang
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Hiến pháp của thời kỳ đổi mới đó định hướng mục tiêu và các nội dung cốt lõi của chính sách bảo đảm an sinh xã hội Các quy định này đã thể hiện sự tôn trọng đối với các quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được bảo đảm về lao động, việc làm và thu nhập, Bảo hiểm xã hội tỉnh và trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện các chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm đời sống cho người lao động, chăm lo cho người có hoàn cảnh khó khăn và thực hiện chính sách ưu đãi đối vói người có công vói cách mạng
Điều 34 Hiến pháp năm 2013 quy định “Công dân có quyền được đảm
bảo an sinh xã hội” Và để mọi công dân được bảo đảm quyền này, khoản 2
Điều 59 Hỉến pháp năm 2013 quy định: "Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội đế
công dân thụ hưởng phúc ỉợỉ xã hội, phát trỉến hệ thong an sinh xã hội, có chỉnh sách trợ giúp người cao tuối, người khuyết tật, người nghèo và ngườỉ có hoàn cảnh khỏ khăn khác
Ket nối hai quy định này trong Hiến pháp 2013, có thể khẳng định rằng đây là các quy định thể hiện bước phát triển mới về quyền của công dân về an sinh xã hội nói chung và về bảo hiểm xã hội nói riêng, nhằm tạo sự bình đẳng về
cơ hội tham gia cũng như sự thụ hưởng của mọi thành viên trong xã hội
Chính sách bảo hiểm xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi
Trang 8Hoàng Ngọc Minh Thương - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, taỉ nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tuổi già, tủ tuất, dựa trên một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phàn đảm bảo
an sinh xã hội của đất nước
2.1.3 Văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết tình huống
Như phần Lý luận chung đã trình bày, chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành là sự cải tiến, thừa kế các quy định, các văn bản pháp quy có từ mấy chục năm nay Vì thế tính pháp lý của tình huống được thể hiện ở đạo luật cơ bản (Hiến pháp), các văn bản luật và dưới luật, những văn bản có tính pháp lý liên quan đên tình huông:
- Hiến Pháp năm 1959;
- Hiến pháp năm 2013;
“ Bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18 tháng 12 năm 2012
“ Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014
- Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11 tháng 11 năm 2011
- Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13 ngày 25 tháng 1 ỉ năm 2013
" Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động
- Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Nghị định số 01/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm
xã hội Việt Nam
- Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01 tháng 02 năm 2016 của Bộ Tư pháp quy định quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh
“ Thông tư số 59/2015/ TT-BLĐTBXH ngàỵ 29 xã 12 năm 2015 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Quyết định 868/QĐ-BHXH ngày 08/6/2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành quy định về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của Bảo hiêm xã hội Việt Nam
“ Quyết định 1518/QĐ- BHXH ngày 18/10/2016 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành quy định hoạt động thanh tra chuyên ngành đóng bảo hiểm xã
Trang 9Hoàng Ngọc Minh Thương - Lớp Bồi dưỡng kiến thức QLNN ngạch Chuyển viên năm 2020
hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và hoạt động kiểm tra của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Quyết định số 636/QĐ-BHXH ngày 22 tháng 4 năm 2016 của Bảo hiểm
xã hội Việt Nam về việc ban hành quy định về hồ sơ và quy trinh giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội
Ngoài ra còn có một số văn bản khác của ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn giải quyết một số vấn đề tồn đọng về chế độ chính sách cho ng ười ỉao động
Như vậy chỉ có một tình huống thực tế nhưng khi xử lý còn liên quan đến một loạt các văn bản khác Đây là một khó khăn lớn đối với cán bộ chuyên môn khi thực hiện nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi cán bộ phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cập nhật văn bản hướng dẫn kịp thời mới có thể giải quyết một cách hiệu quả Đối với người lao động lại càng không thể nắm bắt một cách đầy đủ hàng loạt văn bản khác nhau để có thể tự trả lời cho tình huống của mình được
về mặt quản lý Nhà nước, khi xử lý vụ việc loại này, nếu người quản lý chỉ đứng góc độ một văn bản pháp quy để xử lý thì có thể là bất lợi, hoặc có lợi cho người lao động Vì thế khi giải quyết tình huống, đòi hỏi người quản lý phải hiêu biêt thật đây đủ các vãn bản pháp quy và vận dụng đúng đăn các văn bản đó
2.2, Phân tích diễn biến tình huống
Từ tình huống trên cho thấy, việc ông Phạm Đức Cường được nghi hưu là
có sự khuất tuất gian lận về thời gian công tác và năm sinh Việc giải quyết chế
độ chính sách đôi với ông Phạm Đức Cường không rõ ràng Vân đê đặt ra đôi với nhà quản lý là giải quyết tình huống này như thế nào? Xác định đúng sai ra sao? Cần tiến hành các biện pháp tháo gỡ với sự thận trọng tỷ mỷ cụ thể làm rõ nguyên nhân và xử lý vụ việc sao cho vừa có lý vừa có tình là không đơn giản Đây là một trong những nhiệm vụ mà cơ quan Bảo hiểm xã hội phải thực hiện
Xuất phát từ tình huống nêu trong đơn tố cáo của bà Đỗ Thị Linh cũng như thái độ của ông Phạm Đức Cường và để có căn cứ làm rõ sự việc giải quyết nghỉ hưu của ông Phạm Đức Cường, chúng tôi cho rằng vấn đề đặt ra để giải quyết tình huống này là:
“ Làm rõ sự thật về quá trình công tác, năm sinh của ông Phạm Đức Cường để giải quyết hợp lý, công bằng, đúng chính sách của Nhà nước và đảm bảo quyền lợi cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội Sau khi giải quyết xong tình huống này, cơ quan Bảo hiểm xã hội cần hoàn chỉnh lại hồ sơ của ông Phạm Đức Cường theo đúng thời gian và tuổi đời thực tế
- Xử lý công minh những thiếu sót hoặc cố tình làm sai chế độ chính sách đối với đơn vị cá nhân Đồng thời xử lý nghiêm túc, đúng pháp luật đối với bản
Trang 10Hoàng Ngọc Mình Thương - Lóp Bồi dường kiến thức QLNN ngạch Chuyên viên năm 2020
thân ông Phạm Đức Cường và những người cố tình làm trái quy định của Nhà nước
- Rút kinh nghiệm chung về hiện tượng này và phổ biến cho toàn thể cán
bộ công chức ngành Bảo hiểm xã hội và thông báo cho các đơn vị sử dụng lao động biết để làm tốt hơn nữa trong công tác luư trữ quản lý hồ sơ và giải quyết chế độ cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, giúp họ yên tâm công tác, tin tưởng vào chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước
“ Từ đơn tố cáo của bà Đỗ Thị Linh và căn cứ vào lời khai của ông Phạm Đức Cường cho thấy có thể có một số nguyên nhân của sự việc và những hậu quả kéo theo, nếu nội dung đơn tố cáo của bà Đỗ Thi Linh là đúng sự thật thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của các cơ quan chức năng của Nhà nước, làm mất lòng tin đối với quần chúng nhân dân đặc biệt là Ngân sách Nhà nước và quỹ Bảo hiếm xã hội bị tốn thất nặng nề
2.3 Nguyên nhân dẫn đến tình huống
a Nguyên nhân chủ quan: Do ông Phạm Đức Cường chưa nắm vững chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà Nước, đã vì mục đích cá nhân lợi dụng sự buông lỏng về công tác quản lý hành chính, đặc biệt là công tác lưu trữ hồ sơ của đơn vị sử dụng lao động đã tạo điều kiện cho người lao động làm sai chế độ chính sách để nhằm mục đích vụ lợi cho chính bản thân mình một cách bất hợp pháp nghiêm trọng
b Nguyên nhân khách quan: Do công tác quản lý hồ sơ của Công ty Rau
quả thị xã Sa Pa thiếu kiểm tra đối với các trường hợp cho nghỉ hưởng chế độ bảo hiếm xã hội, quá tin vào cán bộ làm công tác bảo hiểm xã hội của đơn vị, nên dẫn đến tình trạng tạo dựng hồ sơ giả để hưởng chế độ gây bất bình trong nhân dân, mất lòng tin vào chế độ chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà Nước
Mặt khác có thể kể đến công tác quản lý nghiệp vụ của cơ quan Bảo hiểm
xã hội cũng có phần thiếu sâu sát, quá tin tưởng và ỷ lại vằo cơ sở dẫn đến sai sót Nêu không có đơn tô cáo của bà Đô Thị Linh hoặc có đơn nhưng giải quyêt không dứt điểm rõ ràng thì việc chi trả sai chế độ bảo hiểm xã hội cho ông Phạm Đức Cường sẽ còn kéo dài
2.4 Hậu quả của tình huống
Việc Công ty Rau quả thị xã Sa Pa không làm tốt công tác quản lý hồ sơ cán bộ và thiếu giám sát trong quá trình thực hiện lập hồ sơ giải quyết chế độ của cán bộ nghiệp vụ đế cán bộ vận dụng cơ chế quản lý của Nhà nước đã tạo điều kiện cho ông Phạm Đức Cường lợi dụng sơ hở về chính sách pháp luật để khai tăng tuổi đời và năm công tác để hưởng chế độ hưu trí, việc làm của ông Phạm Đức Cường đã ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của các cơ quan chức năng của Nhà Nước, làm mất lòng tin đối với quần chúng nhân dân đặc biệt là Ngân sách Nhà nước và quỹ Bảo hiểm xã hội bị tổn thất