1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận cao cấp lý luận chính trị, nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng giới

20 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao cấp lý luận chính trị, nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng giới
Trường học University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University HCM City
Chuyên ngành Lý luận chính trị
Thể loại Tiểu luận cao cấp
Năm xuất bản 2024
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 154 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của các A. MỞ ĐẦU Có thể nói lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của các cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ những sự bất bình đẳng xã hội, trong đó có bất bình đẳng giới. Bình đẳng nam nữ một cách toàn diện, đầy đủ là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ. Ngày nay khi nói đến phát triển, người ta không chỉ đề cập đến chỉ số phát triển con người HDI mà còn xem xét đến chỉ số phát triển liên quan đến giới GDI (Gender Devevelopment Index). Những nghiên cứu thực tế cho thấy đầu tư cho phụ nữ mang lại hiệu quả, lợi ích cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào ở các nước đang phát triển. Hay nâng cao khả năng và tạo cơ hội lựa chọn cho phụ nữ không chỉ đem lại lợi ích cho họ mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và phát triển chung. Những minh chứng đó chứng tỏ bình đẳng giới đã trở thành một trong những vấn đề của phát triển mang tính toàn cầu. Theo báo cáo của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), đến nay các quốc gia đều đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển con người, nhưng vẫn còn có sự khác biệt trong các chỉ số phát triển giữa nam và nữ. Trong đó, người ta nhận thấy rằng sự phát triển năng lực của phụ nữ ở tất cả các quốc gia còn thấp hơn nam giới, đặc biệt tại các quốc gia chậm phát triển. Quan sát thực trạng bình đẳng giới cũng như sự phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia, UNDP cũng thấy rằng bất bình đẳng giới thực sự vừa là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đói nghèo, vừa là rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững và tác động tiêu cực không chỉ đến phụ nữ mà đến tất cả các thành viên trong xã hội. Trước thực tế đó, bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), được Đại hội đồng Liên hợp quốc đề ra vào đầu thiên niên kỷ mới. Ở nước ta, sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ buổi đầu cách mạng. Khẩu hiệu “nam nữ bình quyền” được khẳng định từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946) và thực hiện nhiều bước đột phá về nhận thức và hành động, từ khía cạnh luật pháp, chính sách đến thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua. Điểm nổi bật trong việc bảo đảm quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới. Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong việc thúc đẩy quyền phụ nữ như xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới, không phân biệt đối xử theo quy định của Luật Bình đẳng giới 2006 và Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, lồng ghép bình đẳng giới trong việc xây dựng và thực thi pháp luật. Việt Nam cũng ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 20112020 với mục tiêu nâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; tích cực thực hiện các sáng kiến quốc tế và khu vực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền của phụ nữ và chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về bình đẳng giới, Việt Nam còn gặp nhiều thách thức như tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia các vị trí lãnh đạo các cấp còn ít, tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Do đó vẫn còn phụ nữ dân tộc thiểu số chưa biết chữ, vấn đề việc làm, dạy nghề cho phụ nữ dân tộc thiểu số để tiếp cận với lao động chất lượng cao cần có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát hơn của các cấp chính quyền, sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng quốc tế và bản thân chị em phụ nữ cũng cần tự mình vươn lên, học hỏi, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Khoảng cách giới còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực của cuộc sống. Trước hết là sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị còn hạn chế, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Tỷ lệ cán bộ nữ làm công tác quản lý, lãnh đạo còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung và so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ. Trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao và các nguồn lực kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới. Một số chỉ tiêu đặt ra ở Chiến lược quốc gia bình đẳng giới về lao động, đào tạo,… vẫn chưa đạt được. Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, tỷ lệ lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật hàng năm đạt khoảng 11,8%, bằng gần một nửa so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Có thể nói lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của các cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ những sự bất bình đẳng xã hội, trong đó có bất bình đẳng giới Bình đẳng nam nữ một cách toàn diện, đầy đủ là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ

Ngày nay khi nói đến phát triển, người ta không chỉ đề cập đến chỉ số phát triển con người HDI mà còn xem xét đến chỉ số phát triển liên quan đến giới GDI (Gender Devevelopment Index) Những nghiên cứu thực tế cho thấy đầu tư cho phụ nữ mang lại hiệu quả, lợi ích cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào ở các nước đang phát triển Hay nâng cao khả năng và tạo cơ hội lựa chọn cho phụ

nữ không chỉ đem lại lợi ích cho họ mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và phát triển chung Những minh chứng đó chứng tỏ bình đẳng giới đã trở thành một trong những vấn đề của phát triển mang tính toàn cầu

Theo báo cáo của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), đến nay các quốc gia đều đạt được những thành tựu quan trọng về phát triển con người, nhưng vẫn còn có sự khác biệt trong các chỉ số phát triển giữa nam và

nữ Trong đó, người ta nhận thấy rằng sự phát triển năng lực của phụ nữ ở tất

cả các quốc gia còn thấp hơn nam giới, đặc biệt tại các quốc gia chậm phát triển

Quan sát thực trạng bình đẳng giới cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia, UNDP cũng thấy rằng bất bình đẳng giới thực sự vừa là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đói nghèo, vừa là rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững và tác động tiêu cực không chỉ đến phụ nữ mà đến tất cả các thành viên trong xã hội Trước thực tế đó, bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), được Đại hội đồng Liên hợp quốc đề ra vào đầu thiên niên kỷ mới

Ở nước ta, sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ buổi đầu cách mạng Khẩu hiệu “nam nữ bình quyền” được

Trang 2

khẳng định từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946) và thực hiện nhiều bước đột phá về nhận thức và hành động, từ khía cạnh luật pháp, chính sách đến thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua Điểm nổi bật trong việc bảo đảm quyền lợi về giới ở Việt Nam là việc hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về bình đẳng giới Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong việc thúc đẩy quyền phụ nữ như xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới, không phân biệt đối xử theo quy định của Luật Bình đẳng giới 2006 và Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, lồng ghép bình đẳng giới trong việc xây dựng và thực thi pháp luật Việt Nam cũng ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu nâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; tích cực thực hiện các sáng kiến quốc tế và khu vực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền của phụ nữ và chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về bình đẳng giới, Việt Nam còn gặp nhiều thách thức như tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia các vị trí lãnh đạo các cấp còn ít, tỷ lệ nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số còn cao Do đó vẫn còn phụ nữ dân tộc thiểu số chưa biết chữ, vấn đề việc làm, dạy nghề cho phụ nữ dân tộc thiểu số để tiếp cận với lao động chất lượng cao cần có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát hơn của các cấp chính quyền, sự ủng hộ và hợp tác của cộng đồng quốc tế và bản thân chị em phụ nữ cũng cần tự mình vươn lên, học hỏi, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Khoảng cách giới còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực của cuộc sống Trước hết là sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị còn hạn chế, đặc biệt là ở cấp cơ sở Tỷ lệ cán bộ nữ làm công tác quản lý, lãnh đạo còn thấp so với các vị trí quản lý, lãnh đạo nói chung và so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ

Trang 3

Trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao và các nguồn lực kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới Một số chỉ tiêu đặt ra ở Chiến lược quốc gia bình đẳng giới về lao động, đào tạo,… vẫn chưa đạt được Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, tỷ lệ lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật hàng năm đạt khoảng 11,8%, bằng gần một nửa so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra

Về mặt chăm sóc sức khỏe, việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế Tỷ suất tử vong mẹ còn cao so với một số nước trong khu vực Mức giảm tỷ suất

tử vong mẹ trong 10 năm qua còn chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số Tỷ lệ nữ có bảo hiểm y tế (tính trong số người khám chữa bệnh) tăng lên qua các năm, tuy nhiên còn thấp hơn nam giới; Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ tồn tại khá nghiêm trọng Nhận thức về pháp luật của cán

bộ và người dân về phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế Chế tài thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa mạnh, chưa xử lý nghiêm các hành vi bạo lực gia đình; Về mặt luật pháp, một số văn bản hướng dẫn, thể chế hóa quy định của pháp luật liên quan đến bình đẳng giới chậm được ban hành Việc triển khai quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đạt kết quả chưa cao

Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu các giải pháp nhằm thúc đẩy, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng giới không chỉ là yêu cầu của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý mà còn là nhu cầu thiết thực của mỗi công dân

trong xã hội Với các lý do trên nên tôi xin chọn đề tài “Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng giới” làm tiểu luận của mình.

Trang 4

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận về bình đẳng giới

1 Những khái niệm cơ bản

1.1 Giới

Giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm

và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội;

Theo Điều 5, khoản 1 của Luật bình đẳng giới (Luật số 73/2006/QH11 của Quốc hội) thì “ Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất

cả các mối quan hệ xã hội”

Những đặc trưng về giới mang tính xã hôi, do xã hội quy định Giới thể hiện các đặc trưng của xã hội, của phụ nữ và nam giới nên rất đa dạng Nó phụ thuộc và đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, các khu vực, các giai tầng xã hội Các quan điểm, các hành vi, chuẩn mực xã hội về giới hoàn toàn có thể thay đổi được

1.2 Bình đẳng giới

Bình đẳng giới là môi trường trong đó cả nữ giới và nam giới được hưởng vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi

từ các kết quả đó Luật Bình đẳng giới tại Điều 5 chỉ rõ: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” Điều quan trọng nhất, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được hưởng các thành quả một cách bình đẳng Tuy nhiên, việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau không đem lại kết quả như nhau đối với giới nữ và giới nam Vì vậy, bình đẳng giới cần

Trang 5

được hiểu là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau của mỗi giới, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với từng giới một cách hợp lý

Nếu như cả phụ nữ và nam giới cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng

để tham gia, đóng góp và hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội, thì xã hội đó đã đạt được bình đẳng giới Nếu những tiêu chí này không được xác lập có nghĩa là trong

xã hội đang tồn tại bất bình đẳng giới

2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam

Bình đẳng giới ở Việt Nam được quan tâm từ rất sớm Ngay từ thời phong kiến đến từng giai đoạn của cuộc cách mạng giải phóng đất nước và ở giai đoạn hiện nay thì đó là vấn đề được sự quan tâm của toàn xã hội

2.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1948

Thời kỳ này các quy định về bình đẳng giới tuy chưa nhiều, nhưng cũng đã được quan tâm điều chỉnh Nổi bật là Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật đã

có nhiều điều luật quan tâm đến quyền lợi cũng như sự bình đẳng của phụ nữ

và nam giới như: Con gái có quyền thừa kế tài sản của cha mẹ như con trai,

vợ có quyền kiện chồng và bỏ chồng nếu chồng bỏ lửng 5 tháng

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, vấn đề “Bình đẳng nam nữ”

đã được Đảng hết sức chú ý Luận cương năm 1930 của Đảng khẳng định một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là thực hiện

“nam, nữ bình quyền”

Như vậy, có thể thấy, ở Việt Nam vấn đề bình đẳng giới được quan tâm

từ khá sớm Từ thời phong kiến, dù ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo là trọng nam, khinh nữ nhưng pháp luật phong kiến cũng đã có những quy định hết sức tiến bộ, bảo đảm quyền của phụ nữ, từ đó tạo tiền đề thúc đẩy bình đẳng giới ở các giai đoạn sau

Trang 6

2.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1975

Năm 1945, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, chương trình bình đẳng nam nữ đã được đưa vào pháp luật, chính sách, chương trình hoạt động của Nhà nước một cách có hệ thống Tại Điều 1 Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, pháp luật quy định phụ nữ được hưởng các quyền ngang với nam giới: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6 Hiến pháp năm 1946) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9 Hiến pháp năm 1946)

Sau năm 1954 bản Hiến pháp thứ 2 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thông qua Trong đó Điều 24 quy định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình:

“Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới

về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Công việc làm như nhau phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi

đẻ mà vẫn được hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người

mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển của các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ, nhà nuôi trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Luật này đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, Hồ Chủ Tịch đã nói: “Luật lấy

vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nửa loài người”

2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

Sau khi kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp thứ 3 năm 1980, đây tiếp tục là nền tảng cho việc xây dựng các quy định pháp luật về bình đẳng giới Ngày 18/12/1979 Công ước

Trang 7

về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) được Liên hợp quốc phê chuẩn Ngày 29/7/1980 Việt Nam ký Công ước CEDAW, trở thành quốc gia thứ 6 trên thế giới ký Công ước và là quốc gia thứ 35 phê chuẩn Công ước này

Tại Hội nghị phụ nữ quốc tế lần thứ IV của Liên hợp quốc tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc năm 1995, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công bố “Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000”, đến ngày 04/10/1997 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2000” Từ đây vấn đề giới ở Việt Nam mới thực sự trở thành vấn đề quốc gia

Thành tựu bình đẳng giới mà Việt Nam đã đạt được là việc Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bình đẳng giới ngày 29/11/2006

Việc ra đời của Luật Bình đẳng giới có ý nghĩa to lớn đối với vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam

Vấn đề bình đẳng giới trên thế giới và ở Việt Nam đã được đề cập từ rất sớm Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để đạt được bình đẳng giới, tạo

cơ hội như nhau cho nam, nữ trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình mà các nước trên thế giới và Việt Nam đã đề ra Đây là một vấn đề hết sức khó khăn bởi vì bình đẳng giới chính là tiêu chỉ để đánh giá tiến bộ xã hội Bảo đảm bình đẳng giới

là một trong những mục tiêu cơ bản của việc bảo đảm công bằng xã hội

II Thực trạng

Bình đẳng giới là mục tiêu của mọi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

và cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung Đó là mục tiêu của cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ của Đảng và nhân dân ta trong suốt chặng đường cách mạng Trước khi Luật Bình đẳng giới được Quốc hội ban hành, trong việc xây dựng văn bản pháp luật ở nước ta đã có sự quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới Tuy nhiên trên thực tế cho thấy các quy đnhj về biện pháp bảo đảm bình

Trang 8

đẳng giới chưa được quy định hoặc quy định chưa đầy đủ Giữa Luật Bình đẳng giới và các văn bản luật chuyên ngành còn thiếu đồng bộ và thống nhất Điều này dẫn đến việc hạn chế khả năng thực thi và hiệu quả áp dụng luật trong thực tiễn Có thể thấy rõ điều này qua thực trạng xây dựng pháp luật bình đẳng giới trong các lĩnh vực xã hội

1 Trong lĩnh vực lao động - việc làm

Cùng với hệ thống pháp luật chính sách của Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quyền của phụ nữ ngang với nam giới, đây là cơ sở pháp lý, là nền tảng cho phụ nữ vươn lên tự khẳng định mình Tại Điều 63 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương như nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản…”

Sau Hiến pháp 1992, năm 1994 Bộ Luật Lao động được Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động đã dành riêng chương X (gồm 10 Điều) quy định đối với lao động nữ, chương X đã tập trung vào thể hiện chính sách lao động

và chính sách xã hội đối với lao động nữ mà trọng tâm là tạo điều kiện để phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp với hài hòa cuộc sống, bảo đảm cho người phụ nữ phát huy hết khả năng của mình

Bên cạnh đó Chính phủ cũng đã ban hành các Thông tư, Nghị định khác về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động, việc làm Tuy nhiên, các quy định còn chưa thống nhất, chưa quán triệt được đầy đủ, triệt để nguyên tắc bình đẳng nam nữ, thiếu chế độ chế tài xử lý các hành vi vi phạm hoặc chưa đủ mạnh để ngăn chặn

Đến ngày 29/11/2006 Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới, Luật

đã khắc phục được những bất cập trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết với quốc tế về quyền con người, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ

Trên thực tế, tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động mới được giải quyết việc làm đã tăng lên Năm 2005 lao động nữ chiếm khoảng 21,11 triệu

Trang 9

người trong tổng số lao động (đạt 48,6%), đến năm 2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu người (đạt 49,4%) Có nghĩa, sau 2 năm số phụ nữ được giải quyết việc làm mới là 2,76 triệu người và bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 1,33 triệu người Tuy nhiên, công việc của lao động nữ vẫn tập trung chủ yếu ở những lĩnh vực không đòi hỏi kỹ thuật chuyên môn cao như nông – lâm – ngư nghiệp Trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, thu nhập của nữ chỉ bằng 74,5% so với nam Trong một số lĩnh vực cụ thể có thể cao hơn tỷ lệ này, nhưng vẫn ít hơn nam giới Nguyên nhân chính có thể do sự khác biệt về trình độ chuyên môn kỹ thuật, bậc học càng lớn khác biệt càng cao, dẫn đến tình trạng cạnh tranh của lao động nữ không cao Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau nhưng cuối cùng lao động nữ luôn gặp thiệt thòi hơn, họ khó tránh khỏi những rủi ro dễ vấp phải trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

2 Trong lĩnh vực gia đình

Mọi người vẫn thường nói gia đình là tế bào của xã hội, là trường học đầu tiên của mỗi con người Qua đó có thể thấy được tầm quan trọng của gia đình Vì vậy bình đẳng giới trong gia đình chính là sự thúc đẩy xã hội phát triển Do đó xây dựng bình đẳng giới trong gia đình là một hành động cần thiết của mỗi quốc gia

Tại Điều 16 Công ước CEDAW năm 1981 đã đề cập đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình với mục đích “xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ”, bảo đảm các quyền về kết hôn, ly hôn, sinh đẻ, quyền đối với con cái, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản có trước và sau khi kết hôn… phải được các quốc gia thành viên thực hiện trên cả phương diện lý luận cũng như thực tế

Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình còn được đề cập trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, từ Hiến pháp qua các thời kỳ đến các Bộ luật Luật Dân sự năm 2005, Luật Hình sự năm 1999, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Phòng, chống bạo lực gia

Trang 10

đình năm 2007 quy định các hành vi bị coi là bạo lực, các biện pháp phòng chống bạo lực, biện pháp xử lý vi phạm đối với hành vi bạo lực

Sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình đã một lần nữa cụ thể hóa các văn bản quy phạm pháp luật từ trước tới nay trong lĩnh vực gia đình, đặc biệt là các nội dung liên quan đến quyền bình đẳng của phụ nữ, bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình

Trong thực tế, về phương diện xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước ta đã xây dựng được một hệ thống luật tương đối cụ thể và hoàn chỉnh Đặc biệt Nhà nước ta đã có nhiều tiến bộ ngang bằng với nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, do cơ chế thực hiện pháp luật còn nhiều kẽ hở nên những chính sách pháp luật còn chưa đi sâu vào đời sống xã hội Xét về phương diện áp dụng luật, quyền lợi của phụ nữ chưa thực sự được bảo đảm trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực gia đình Trên thực tế xã hội, người phụ nữ vẫn phải gánh vác rất nhiều công việc gia đình, họ có thể vẫn phải đi làm mỗi ngày như nam giới và khi về nhà nhiều chị em lại đầu tắt mặt tối lo toan trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong nhà như: đi chợ, nấu cơm, đón con rồi tắm rửa cho con, cho con ăn, dọn dẹp và thậm chí cả dạy con học, trong khi đó các ông chồng sẵn sàng chia sẻ công việc cho vợ lại rất ít Nên mọi gánh nặng gia đình vẫn còn đè nên vai người phụ nữ Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của người phụ nữ trong xã hội vì họ không còn nhiều thời gian dành cho việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao kiến thức xã hội và thậm chí là không còn đủ thời gian để quan tâm chăm sóc chính mình

3 Trong lĩnh vực đào tạo nghề

Để thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ, bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực đào tạo, Luật bình đẳng giới quy định “Nam nữ được bình đẳng trong lựa chọn ngành nghề, trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục đào tạo” [Điều 14] và “ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ” (điểm b khoản 13 Điều 3) Quy định này đã thể hiện

Ngày đăng: 06/12/2022, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w