TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI Đề tài VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY MỤC LỤC Lời mở đầu Tr 3 Nội dung Tr 4 1 Quan niệm về văn hóa tộc người và văn hóa các LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em là 54 màu sắc văn hóa khác nhau tạo nên một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Văn hoá tộc người bao gồm tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi… khiến người ta phân biệt tộc người này với các tộc khác. Văn hoá tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc người. Một dân tộc bị đồng hoá, tức bị mất văn hoá riêng thì ý thức tộc người trước sau cũng bị mai một. Hiện nay, vấn đề văn hóa nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng đang được rất nhiều sự quan tâm của xã hội. Đời sống văn hóa mỗi ngày càng phong phú hơn, sinh động và phức tạp hơn bởi sự bao quát và thẩm thấu của nó trong mọi hoạt động sống, trong phong tục tập quán của con người, của từng tộc người Di sản văn hóa dân tộc thiểu số là những giá trị vật chất và tinh thần được tích tụ, gìn giữ trong toàn bộ quá trình lịch sử phát triển của dân tộc thiểu số, là bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa dân tộc thiểu số. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng, trở thành động lực tinh thần thúc đẩy phát triển về mọi mặt ở khu vực dân tộc thiểu số, làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam, lưu giữ tính đa dạng của văn hóa thế giới, góp phần bảo đảm quyền lợi của văn hóa dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, vấn đề bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đưa ra nghiên cứu tìm hiểu. Đây cũng là lý do em chọn đề tài “Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay” làm tiểu luận hết môn học “Văn hóa tộc người”.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: VĂN HÓA TỘC NGƯỜI
Đề tài:
VẤN ĐỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY VĂN HÓA
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
1 Quan niệm về văn hóa tộc người và văn hóa các dân tộc
2 Thực trạng của sự biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số
ở nước ta hiện nay Tr 9
3 Định hướng, chủ trương của Đảng đối với vấn đề bảo tồn,
phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay Tr 11
4 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc
- Tài liệu tham khảo Tr 16
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em là 54 màu sắc văn hóa khác nhau tạo nên một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Văn hoá tộc người bao gồm tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục
và lễ nghi… khiến người ta phân biệt tộc người này với các tộc khác Văn hoá tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc người Một dân tộc bị đồng hoá, tức bị mất văn hoá riêng thì ý thức tộc người trước sau cũng bị mai một Hiện nay, vấn đề văn hóa nói chung và văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng đang được rất nhiều sự quan tâm của xã hội Đời sống văn hóa mỗi ngày càng phong phú hơn, sinh động và phức tạp hơn bởi sự bao quát và thẩm thấu của nó trong mọi hoạt động sống, trong phong tục tập quán của con người, của từng tộc người
Di sản văn hóa dân tộc thiểu số là những giá trị vật chất và tinh thần được tích tụ, gìn giữ trong toàn bộ quá trình lịch sử phát triển của dân tộc thiểu số, là
bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa dân tộc thiểu số Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc thiểu số có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng, trở thành động lực tinh thần thúc đẩy phát triển về mọi mặt ở khu vực dân tộc thiểu số, làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam, lưu giữ tính đa dạng của văn hóa thế giới, góp phần bảo đảm quyền lợi của văn hóa dân tộc thiểu số Chính vì vậy, vấn đề bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đưa ra nghiên cứu tìm hiểu Đây cũng là lý do em chọn đề tài
“Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay”
làm tiểu luận hết môn học “Văn hóa tộc người”
Trang 4NỘI DUNG
1 Quan niệm về văn hóa tộc người và văn hóa các dân tộc thiểu số
Văn hóa là một lĩnh vực xã hội rộng lớn, văn hóa gắn liền với con người,
do con người sáng tạo ra và phục vụ cho cuộc sống con người Vì vậy, có thể coi lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển của văn hóa Văn hóa đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển hưng thịnh, suy vong của một quốc gia, một dân tộc hay một thời đại
Xuất phát từ quan niệm về bản chất của con người và về phương thức xác định bản chất của sự "tồn tại người" của triết học Mác, chúng ta có thể đi tới một kết luận rằng: Nếu tự nhiên là cái nôi đầu tiên của sự hình thành và phát triển con người thì văn hóa là cái nôi thứ hai Nếu tự nhiên là cái quy định sự tồn tại của con người với tư cách là một thực thể sinh vật, thì văn hóa là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực bản chất người gắn liền với các hoạt động sống của con người Nói cách khác, văn hóa là sự kết tinh năng lực bản chất người trong thế giới các sản phẩm do chính hoạt động con người tạo ra, là cái quy định bản chất con người với tư cách là một "sinh vật có tính loài" - là "một thực thể xã hội"
Nhân loại ngày càng quan tâm đến văn hóa Vấn đề văn hóa trở thành trung tâm chú ý của giới nghiên cứu trên thế giới Ở nước ta, đặc biệt là từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề văn hóa cũng được tập trung đề cập Mặc dù góc độ nghiên cứu, phương pháp tiếp cận có thể khác nhau nhưng người ta đều nhất trí rằng văn hóa là một cái gì đó giúp cho con người "không bị đứt đoạn với quá khứ", "không bị hẫng hụt trước tương lai", và là sự chuẩn bị đầy đủ "hành trang của con người để bước vào thế kỷ XXI"
Trang 5Cho đến nay đã có tới hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Thuật ngữ "văn hóa" xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại (xuất phát từ gốc chữ latinh "Cultura" - có nghĩa là trồng trọt, canh tác) Qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm văn hóa được bổ sung thêm những nội dung mới Người ta đưa ra rất nhiều định nghĩa về văn hóa, đặc biệt là trong khoảng vài chục năm trở lại đây Các định nghĩa đó được hình thành hoặc theo lối duy danh định nghĩa, hoặc là trên cơ sở các phương pháp tiếp cận khác nhau (như phương pháp nghiên cứu hệ thống - cấu trúc, hay phương pháp nghiên cứu chức năng của văn hóa); hoặc cũng có thể xuất phát từ quan điểm lịch đại xem xét văn hóa với tư cách là tiêu chí để phân định các bước tiến bộ xã hội, hay từ quan điểm đồng đại xem xét văn hóa như là một trong những tiêu chuẩn để so sánh (phân biệt) trình độ phát triển của các quốc gia Đánh giá một cách tổng thể, cho đến nay văn hóa vẫn là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định Trong “Thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa” Phederico Mayo – Tổng giám đốc UNESCO lúc đó có đưa ra quan niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Hay Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa thế giới, đã đưa ra định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Từ những cách hiểu về văn hóa khác nhau ấy, ta có thể đưa ra định nghĩa
về văn hóa tộc người như sau: Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị văn
Trang 6hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn, phát triển, gắn với môi trường tự nhiên, xã hội Nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy và lao động sáng tạo của các tộc người trong các giai đoạn phát triển với các thông tin về nội hàm và ngoại diên phản ánh sự vận động nội tại trong mối quan hệ văn hóa ở cấp độ tộc người và quốc gia (Giáo trình dân tộc học đại cương, tập II, Trường đại học Văn hóa Hà Nội, 1997 do Lê Ngọc Thắng chủ biên) Hay văn hóa tộc người là tổng thể sống động các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, thể hiện bản sắc tộc người, là bộ phận hữu cơ của văn hóa quốc gia
Văn hoá tộc người tương ứng với cộng đồng tộc người, hình thành sớm nhất từ hậu kì đá mới và tồn tại bền vững tới tận ngày nay Việt Nam từ thời lập quốc Văn Lang - Âu Lạc (cách ngày nay khoảng 2500 năm) thì quốc gia đó đã là quốc gia đa tộc người Các dấu hiệu văn hoá hiện tại còn nhận biết được qua các
di vật khảo cổ cho thấy, có thể cư dân của các quốc gia cổ đại ấy nói các ngôn ngữ khác nhau thuộc Môn - Khơme cổ, Việt - Mường cổ, Tày - Thái cổ
Từ đó trở đi, cùng với việc mở rộng và củng cố cương vực của các triều đại phong kiến, thì tính đa tộc người của quốc gia Việt Nam càng trở nên rõ rệt hơn Cho tới nay, theo công bố chính thức của Nhà nước vào năm 1979 thì nước Việt Nam có 54 tộc người, thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ - tộc người khác nhau: Việt - Mường, Môn - Khơme, Tày - Thái, Nam Đảo, Hmông - Dao, Tạng - Miến, Hán, với những sắc thái văn hóa rất phong phú, đa dạng Sắc thái văn hoá đa dạng ấy thể hiện trên ba cấp độ: Sắc thái đa dạng của nhóm ngôn ngữ - tộc người, của tộc người và của nhóm địa phương của tộc người
Từ góc độ tộc người và văn hóa thì Việt Nam giống như một Đông Nam Á thu nhỏ, bởi vì trên lãnh thổ Việt Nam hiện sinh sống đầy đủ các đại biểu của các nhóm ngôn ngữ - tộc người (ngữ hệ và ngữ tộc) lớn của Đông Nam Á, như Nam
Trang 7Á (trong đó có Môn - Khơme, Việt - Mường, Thái, Hmông - Dao), Nam Đảo (Austronésien), Hán - Tạng (Tạng - Miến, Hán) Việc phân chia (phân loại) các tộc người ở Đông Nam Á nêu trên cơ bản dựa trên các cứ liệu về mối quan hệ thân thuộc về ngôn ngữ, tuy nhiên, từ các mối quan hệ thân thuộc ấy, sự tương đồng về những đặc trưng văn hoá cũng thể hiện khá rõ Chúng ta hãy tạm nêu các đặc trưng cơ bản về văn hoá của các nhóm ngôn ngữ - tộc người của Việt Nam:
- Nhóm Việt - Mường: Bao gồm người Việt, Mường, Thổ và Chứt, có dân
số đông nhất ở Việt Nam (trên 85% dân số cả nước) Các tộc người này có nguồn gốc chung từ cộng đồng người Tiền Việt Mường (Việt cổ) thời Văn hoá Đông Sơn, cách ngày nay khoảng gần 3000 năm Trong suốt thời Bắc Thuộc (thế
kỉ I - X), đã diễn ra quá trình phân hoá giữa người Việt và Mường và sau đó các cộng đồng nhỏ hơn, như Chứt, Thổ tách khỏi người Việt vào khoảng thế kỉ XV
Cư dân nhóm Việt - Mường chủ yếu canh tác nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng châu thổ ở Bắc Bộ và Nam Bộ và rẻo đồng bằng hẹp ven biển miền Trung
Sự tương đồng văn hoá giữa các tộc người này thể hiện chủ yếu về trình độ phát triển, trong đó tộc người Việt phát triển cao, còn các nhóm Thổ, Chứt thì sống biệt lập và có phần thoái hoá
- Nhóm Môn - Khơme: Bao gồm 21 tộc người khác nhau, như: Khơ me, Bana, Xơ đăng, Cơ ho, Hrê, Co, Mnông, Mạ, Xtiêng, Bru, Tà ôi, Cơ tu, Giẻ-Triêng, Brâu, Rơmăm, Chơro, Khơmú, Kháng, Xinh mun, Mảng, Ơđu Đó là các tộc người bản địa ở Việt Nam và các nước Đông Dương Hiện nay họ sinh sống
ở các miền rẻo giữa vùng núi và cao nguyên, làm nương rẫy canh tác lúa khô, cơ cấu xã hội truyền thống là làng (buôn, bon, plây) mang tính cộng đồng cao, tín ngưỡng đa thần, văn hoá giữ lại nhiều tàn dư của xã hội nguyên thuỷ, ít chịu ảnh hưởng văn hoá Hán và ấn Độ (trừ dân tộc Khơme)
Trang 8- Nhóm Tày - Thái: Bao gồm 8 tộc người: Thái, Tày, Nùng, Lự, Lào, Giáy, Bố y, Sán chay, sinh sống chủ yếu ở các thung lũng miền núi phía bắc Việt Nam, tạo nên một dạng sinh thái - tộc người thung lũng và cùng với nó là dạng văn hoá thung lũng Họ canh tác lúa nước, xã hội tổ chức thành bản (làng) và Mường, một hình thức tổ chức tiền nhà nước Mối quan hệ và tương đồng về ngôn ngữ và văn hoá giữa các tộc người này khá gần gũi và chặt chẽ
- Nhóm Nam Đảo (Austronésien): Bao gồm 5 tộc người: Chăm, Êđê, Gia rai, Raglai, và Chu ru, sinh sống chủ yếu ở Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung
Bộ Tổ tiên của các tộc người này có lẽ là chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh thời
sơ kì kim khí Sau đó có sự phân hoá giữa người Chăm cư trú ven biển tiếp thu văn hoá ấn Độ và hình thành nhà nước Chămpa thời đầu công nguyên với các tộc người khác vượt lên sinh sống ở Tây Nguyên, không hoặc ít chịu ảnh hưởng văn hoá ấn Độ, là tổ tiên của các tộc Êđê, Gia rai, Raglai và Chu ru ngày nay Văn hoá của các tộc người này mang sắc thái văn hoá biển, thể hiện qua huyền thoại,
sử thi, truyền thuyết, kiến trúc nhà ở, phong tục, nghi lễ
- Nhóm Hmông - Dao: Bao gồm 3 tộc: Hmông (Mèo), Dao và Pà Thẻn, sinh sống chủ yếu ở vùng rẻo núi cao miền núi phía bắc Việt Nam, tạo nên dạng sinh thái - tộc người rẻo cao Họ canh tác nương rẫy trồng ngô và lúa khô Các tộc người này từ Trung Quốc di cư vào Việt Nam từ các thời kì lịch sử khác nhau, sớm nhất từ thế kỉ XIII (người Dao) và thế kỉ XVIII - XIX (Hmông) Văn hoá các tộc người này mang sắc thái Bắc Á, thể hiện qua trang phục, truyền thuyết, nghi lễ, đặc biệt là Shaman giáo
- Nhóm Tạng - Miến (Tiberto - Birman): Bao gồm các tộc người: Hà nhì,
Lô lô (Di), La hủ, Cống, Phù lá, Si la, sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc, tương tự điều kiện sinh thái của nhóm Hmông
- Dao Họ canh tác nương rẫy, trồng lúa và ngô Các tộc người này về lịch sử và
Trang 9văn hoá gắn bó mật thiết với các tộc người ở vùng tây nam Trung Quốc, mà tổ tiên họ đã từng sáng tạo nên văn hoá Điền thời sơ kì kim khí và là chủ nhân nhà nước Nam Chiếu thời đầu thiên niên kỉ II sau công nguyên Các tộc người này di
cư vào Việt Nam vào các thời kì lịch sử khác nhau, mang theo văn hoá vùng Tây Tạng và xa hơn là Trung á, làm phong phú hơn văn hoá Việt Nam
- Nhóm ngôn ngữ Hán: Gồm các tộc người: Hoa, Ngái và Sán Dìu, trong
đó người Hoa thường sinh sống ở các đô thị, còn người Ngái, Sán Dìu thì tụ cư xen cài với các tộc khác ở miền núi phía bắc Việt Nam Các tộc này đều từ Trung Quốc di cư vào Việt Nam, trong đó người Hoa là tộc người góp phần truyền bá văn hoá Hán vào Việt Nam
Mỗi tộc người vừa nêu trên thường hình thành các nhóm địa phương, giữa chúng có những khác biệt nhất định về thổ ngữ, trang phục, phong tục tập quán, nghi lễ trong một số trường hợp, như các nhóm địa phương của tộc người Hmông, Dao thì sự khác biệt ấy khá lớn, thậm chí tiếng nói giữa các nhóm rất khác nhau Tình trạng đó khiến cho tính đa dạng và phong phú của văn hoá tộc người càng trở nên sống động và rõ rệt hơn
2 Thực trạng của sự biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Khi nhận diện và đánh giá thực trạng biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số
ở nước ta hiện nay (cả mặt tích cực và tiêu cực) nhiều người đánh giá vai trò quan trọng của sự đổi mới của Đảng và Nhà nước (điều đó là đúng) nhưng lại không công bằng khi đổ hết tội lỗi cho kinh tế thị trường Một cách đánh giá khác là nêu lên khá nhiều thành tựu của sự nghiệp phát triển văn hóa, xem đó là yếu tố cơ bản (điều đó là cần thiết) nhưng lại thiếu thiện chí với những ai nhận xét, phản biện ngược chiều Chẳng hạn như việc nhiều nhà nghiên cứu văn hóa tâm huyết cảnh báo xu hướng chối bỏ các hoạt động văn hóa dân gian truyền
Trang 10thống, hay sự đồng hóa tự nhiên theo xu hướng Kinh hóa là một thực trạng khó cưỡng nổi trong một bộ phận người dân tộc thiểu số cần phải xem xét một cách thấu đáo, nhưng không dược sự quan tâm của nhiều người Xem ra cách nhận xét trung dung về những biến đổi văn hóa có vẻ sống lâu nhất vì nó làm cho mọi người vừa lòng vì cảm thấy dễ chịu Cách này được bảo kê bằng cái gọi là “tư duy biện chứng” nhưng thật ra đó là một trong nhiều kiểu “tránh đạn” tốt nhất, tránh né sự va chạm dễ nhất
Sự biến đổi của văn hóa hay sự tha hóa của con người, suy cho cùng cũng chỉ là một bởi lẽ hai khái niệm con người và văn hóa không thể tách rời nhau Các dân tộc thiểu số là những chủ thể của những nền văn hóa vô cùng đa dạng
và sự đa dạng đó đã làm nên tiềm năng văn hóa vô cùng độc đáo của văn hóa Việt Nam Điều quan trọng là sự đa dạng đó có mất đi, bị bào mòn hay được bồi đắp trước những biến đổi văn hóa mạnh mẽ hiện nay Có một thực tế là có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa (dù không phải là người dân tộc thiểu số) thật sự đau xót trước những mất mát của văn hóa các dân tộc thiểu số thì chính cộng đồng văn hóa đó lại có vẻ như không quan tâm nhiều lắm, ngoại trừ một bộ phận người già, nghệ nhân, trí thức các dân tộc thiểu số Cách diễn đạt này có thể gây tổn thương cho những người yêu mến văn hóa, ý thức rất rõ về văn hóa của dân tộc mình, nhưng không đến nỗi ngộ nhận khi hiện nay có nhiều người dân tộc thiểu số sống theo lối sống của người Kinh, đặc biệt là lớp trẻ Điều này cũng xảy ra đối với lớp trẻ Việt Nam khi sống trong môi trường toàn cầu hóa, khi họ bị lây nhiễm lối sống phương Tây ở khía cạnh tiêu cực và đối lập với văn hóa truyền thống
Sự đan xen của giá trị, bản sắc văn hóa với sự mất mát vốn di sản văn hóa
ở các dân tộc thiểu số Việt Nam đang diễn ra từng ngày, từng giờ trong nếp nghĩ, lối sống, ứng xử, đặc biệt là ở các dân tộc thiểu số bản địa Ngày càng có nhiều người dân tộc thiểu số sống theo lối sống của người Kinh không còn là điều mới