TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI Đề tài VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC MỤC LỤC 2MỤC LỤC 3LỜI NÓI ĐẦU 4NỘI DUNG 41 Những yếu tố tác LỜI NÓI ĐẦU Văn hóa và phát triển là hai mặt không thể tách rời trong tiến trình lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc. Nghiên cứu giá trị văn hóa tộc người gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa là vấn đề có tính cấp thiết và tính chiến lược trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc. Cuộc sống hiện đại đương nhiên có nhiều mặt tích cực, như việc góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn miền núi. Cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu được cải thiện, nâng cao, số hộ nghèo giảm nhanh, trẻ em không thất học. Đặc biệt qua các phương tiện nghe, nhìn, mạng internet, ngồi trong nhà, đồng bào cũng có thể tiếp cận được những thông tin mới nhất trên khắp thế giới. Nhưng vấn đề lớn đặt ra là nhiều nét đẹp văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đứng trước một thách thức lớn. Đó là sự mai một, lãng quên những giá trị văn hoá truyền thống tiêu biểu của mỗi dân tộc. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Xây dựng hệ giá trị mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc mình… là yêu cầu tất yếu khách quan trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Bởi vì chỉ có một nền văn hóa tiên tiến mang bản sắc dân tộc, mới đảm bảo cho một quốc gia phát triển bền vững.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI
Đề tài: VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN
SẮC DÂN TỘC
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
1 Những yếu tố tác động đến sự biến đổi của văn hóa tộc người 4
1.1 Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế 4
1.2 Quan điểm quốc tế về đa dạng văn hóa 5
2 Thực trạng biến đổi giá trị văn hóa tộc người 7
2.1 Sự biến đổi của ngôn ngữ tộc người 7
2.2 Biến đổi về văn hóa vật thể 8
2.3 Biến đổi về văn hoá phi vật thể 10
3 Những định hướng quan trọng trong bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số hiện nay 13
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Văn hóa và phát triển là hai mặt không thể tách rời trong tiến trình lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc Nghiên cứu giá trị văn hóa tộc người gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa là vấn đề có tính cấp thiết và tính chiến lược trong
sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc
Cuộc sống hiện đại đương nhiên có nhiều mặt tích cực, như việc góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn miền núi Cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu được cải thiện, nâng cao, số hộ nghèo giảm nhanh, trẻ em không thất học Đặc biệt qua các phương tiện nghe, nhìn, mạng internet, ngồi trong nhà, đồng bào cũng có thể tiếp cận được những thông tin mới nhất trên khắp thế giới Nhưng vấn đề lớn đặt ra là nhiều nét đẹp văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đứng trước một thách thức lớn Đó là sự mai một, lãng quên những giá trị văn hoá truyền thống tiêu biểu của mỗi dân tộc
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: xây dựng nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Xây dựng hệ giá trị mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc mình… là yêu cầu tất yếu khách quan trong giai đoạn phát triển mới của đất nước Bởi vì chỉ có một nền văn hóa tiên tiến mang bản sắc dân tộc, mới đảm bảo cho một quốc gia phát triển bền vững
Trang 4NỘI DUNG
1 Những yếu tố tác động đến sự biến đổi của văn hóa tộc người
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phát triển trong bối cảnh của phát triển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường đã khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới, làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng đồng thời cũng nảy sinh những mặt tiêu cực, có nguy cơ hủy hoại bản sắc văn hóa dân tộc quốc gia cũng như bản sắc văn hóa tộc người Có nhiều yếu tố tác động đến sự biến đổi của văn hóa tộc người
1.1 Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra một sân chơi chung, trong đó sự phát triển của các các quốc gia về kinh tế, xã hội và văn hóa có sự gắn kết với sự phát triển của khu vực và thế giới Dù muốn hay hay không, dù nhìn từ góc độ nào, thì văn hóa quốc gia cũng như văn hóa tộc người đều bị ảnh hưởng, chi phối của quá trình đó
Có thể thấy một mặt, sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đang mở ra cho mỗi quốc gia dân tôc cơ hội để khai thác những gì tốt nhất cho
sự phát triển Đây cũng là cơ hội để văn hóa mỗi dân tộc tự khẳng định mình Không thể phủ nhận được sự làm giàu văn hóa nhân loại từ những bản sắc văn hóa của từng dân tộc và từng tộc người, khi những di sản văn hóa riêng đó được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới Quá trình đó cũng đang tạo điều kiện cho mỗi quốc gia, dân tộc cơ hội tiếp nhận chuyển giao về khoa học công nghệ phục vụ cho sáng tạo, bảo quản, quảng bá văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa… Nhưng mặt khác cũng cho thấy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đưa đến nguy cơ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu sự khác biệt văn hóa dân tộc Sự cảnh báo hãy coi “xâm lăng về văn hóa là sự xâm lăng cuối cùng và triệt để nhất” không là ngoại lệ đối với dân tộc quốc gia nào
Trong bối cảnh đó, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng đang diễn ra một quá trình hội nhập giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa văn
Trang 5hóa tộc người và văn hóa quốc gia, văn hóa quốc tế rất mạnh mẽ và rộng khắp.
Dù chậm so với vùng xuôi, vùng đô thị, nhưng đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số đang ngày một được cải thiện Điều đó tạo cơ sở cho sự biến đổi trong đời sống văn hóa Về mặt tích cực, đồng vào dân tộc đã có điều kiện để tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, loại bỏ những hủ tục, lạc hậu, thay vào đó các yếu tố văn hóa mới, hiện đại
Có thể thấy văn hóa các dân tộc thiểu số nước ta đang vận động, biến đổi theo các xu hướng:
- Xu hướng giao lưu văn hóa giữa các tộc người Trước hết, đó là sự biến đổi trong phân bố dân cư giữa các tộc người thiểu số Nhiều vùng đồng bào dân tộc trên cả nước ta hiện nay, rất ít có làng thuần nhất chỉ có một tộc người cư trú, mà thường là cộng cư, xen kẽ Điều đó đã và đang tạo ra những biến đổi về văn hóa tộc người sâu sắc
- Xu hướng chịu ảnh hưởng của hội nhập và văn hóa hiện đại Sự giao lưu văn hóa này diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các mặt, từ văn hóa sản xuất, khoa học công nghệ, kiến trúc nhà cửa, sinh hoạt, ẩm thực, trang phục… đến việc đón nhận các giá trị văn hóa hiện đại
- Xu hướng đồng hóa về văn hóa Thực ra, đồng hóa văn hóa cũng là vấn
đề có tính quy luật trong tiến trình của các tộc người, có cả đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức Trái với sự áp đặt của đồng hóa cưỡng bức, đồng hóa tự nhiên là quá trình tiếp nhận văn hóa một cách tự nguyện giữa các tộc người có trình độ phát triển cao hơn, để hoàn thiện, nâng cao văn hóa của tộc người mình
- Xu hướng mai một, đứt gãy văn hóa Đây là xu hướng biến đổi văn hóa truyền thống của các tộc người theo hướng suy thoái, nghèo nàn đi Nhiều giá trị văn hóa tộc người bị mai một, đứt gãy, tạo nên sự hẫng hụt mai một văn hóa
- Xu hướng phục hồi văn hóa truyền thống Xu hướng này cũng diễn ra tất yếu, do nhu cầu của chủ thể sáng tạo, do tác động của các yếu tố khách quan
1.2 Quan điểm quốc tế về đa dạng văn hóa
Năm 2001, UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới
Trang 6đã đã đưa ra những quan điểm quan trọng về Đa dạng văn hóa, Văn hóa và phát triển, Văn hóa và bản sắc Bản chất của đa dạng văn hoá là khẳng định tôn trọng bản sắc văn hoá dân tộc thống nhất trong văn hoá chung của nhân loại Đa dạng văn hoá là chấp nhận có các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, tức là đề cập đến vấn đề bản sắc từ cấp độ quốc gia, dân tộc, nhóm tộc người, nhóm xã hội đến cấp độ cá thể (nhân cách)
Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor đã nhấn mạnh: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau ( ) Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng Vì vậy phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hóa ( ) Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội ”
Đảm bảo đa dạng văn hóa là phát huy vai trò văn hóa có vai trò trong phát triển (chất lượng cuộc sống, tạo thu nhập); khuyến khích phát triển văn hóa công nghiệp (industrial culture) để giữ gìn các giá trị văn hóa và tạo thu nhập Văn hóa là phải cho con người, vì con người
Quan điểm trên đây cho thấy văn hóa là đối thoại, là sự xâm nhập, đan xen, trao đổi, tác động qua lại và có chút pha trộn giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh Không có nền văn hóa nào trên thế giới lại tuyệt đối đơn lẻ, thuần khiết và không bị ảnh hưởng bởi bất cứ nền văn hóa nào khác Sự vận động, biến đổi của văn hóa tộc người là quy luật khách quan Không vận động, biến đổi cũng là đồng nghĩa với sự suy thoái Phải nhận thức đúng để hạn chế những mặt tiêu cực
Trang 7Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong xu thế hội nhập
là vấn đề lớn, phù hợp với định hướng bảo vệ di sản văn hóa của Đảng và Nhà nước ta Làm thế nào để vừa bảo tồn nhưng vẫn phải duy trì được sự phát triển theo xu hướng tiến bộ của xã hội, bảo vệ văn hóa truyền thống trong nền văn minh công nghiệp Bảo vệ, bảo tồn nhưng vẫn phải bảo đảm cho những chủ thể
ở đây được hòa nhập, được hưởng thụ những thành quả mà xã hội đem lại
2 Thực trạng biến đổi giá trị văn hóa tộc người
Sự biến đổi văn hóa tộc người ở nước ta mới được xét ở ba phương diện chủ yếu: ngôn ngữ tộc người, văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
2.1 Sự biến đổi của ngôn ngữ tộc người
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế toàn diện hiện nay, sự biến đổi văn hóa các dân tộc trước hết là biến đổi về ngôn ngữ tộc người Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, có ba phương thức chủ yếu tác động đến sự thay đổi này, đó là: chính sách, truyền thông và thị trường
Cũng như các dân tộc khác đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Điện Biên, dân tộc Thái cũng đang đứng trước nguy cơ mất ngôn ngữ mẹ đẻ - một trong ba tiêu chí quan trọng của sự tồn tại tộc người và văn hóa tộc người Từ lâu và hiện tại, do chính sách ngôn ngữ của Nhà nước, song ngữ (tiếng Kinh và tiếng dân tộc) được giảng dạy trong nhà trường cho học sinh dân tộc thiểu số từ lớp 1, hiện tại học sinh người dân tộc còn được học từ lớp mầm non Tiếng Kinh được xác định là tiếng phổ thông và được sử dụng làm ngôn ngữ hành chính Sự biến đổi về ngôn ngữ tộc người như hiện nay sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình sáng tạo, trao truyền và hưởng thụ văn hóa của đồng bào
Học sinh không những học tiếng phổ thông, mà đội ngũ giáo viên
là người dân tộc cũng có số lượng rất ít Tuy Nhà nước ta đã có chủ trương bổ sung đội ngũ trợ lý ngôn ngữ cho các trường tiểu học, nhưng kết quả vẫn hạn chế và thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có chương trình xây dựng chữ viết cho các tộc người, chữ viết này được đưa vào giảng dạy
Trang 8từ tiểu học Trên thực tế, chương trình này đã hạn chế phần nào hiện tượng phổ thông hóa về ngôn ngữ, và cũng tạo điều kiện cho người dân sáng tạo văn hóa nghệ thuật, bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình… Điều đáng nói đây chỉ mới là chương trình thử nghiệm, chưa phổ biến
Cùng với chính sách ngôn ngữ của Nhà nước như đã nêu trên đây, truyền thông cũng có tác động không nhỏ Trên các hệ thống thông tin đại chúng
ở nước ta, tiếng phổ thông được dùng để chuyển tải các thông tin vẫn là ngôn ngữ chủ yếu Tiếng các dân tộc thiểu số mới chỉ được sử dụng còn, rất hạn chế trong các chương trình phát thanh, truyền hình của Trung ương và địa phương Hơn nữa, chỉ có một số tiếng các dân tộc là được lựa chọn và sử dụng trong các chương trình truyền thông Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước việc phủ sóng hầu khắp của phát thanh và truyền hình đã tăng cường tính tiếp cận thông tin của người dân, nhưng vì ngôn ngữ truyền thông bằng tiếng các dân tộc còn quá ít, nên cũng hạn chế đến bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc
Quá trình phát triển kinh tế thị trường của đất nước cũng tạo điều kiện cho người dân của các dân tộc thiểu số tiếp cận với những thông tin, dịch vụ kinh
tế và văn hóa, nhưng việc giao dịch chủ yếu trên thị trường vẫn bằng tiếng phổ thông Khi trao đổi hàng hóa, hầu hết người dân tộc thiểu số, đặc biệt là bà con nông dân vẫn phải sử dụng tiếng Kinh
Mặt hạn chế của thực tế này cũng ảnh hưởng lớn đến việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc
2.2 Biến đổi về văn hóa vật thể
Cùng với biến đổi về ngôn ngữ, sự biến đổi văn hóa vật chất của các dân tộc thiểu số dễ nhận thấy nhất là về kiến trúc nhà ở, trang phục và tập quán ăn uống…
Về nhà ở: Trong vài chục năm trở lại đây, xuất hiện xu hướng trong đời
sống các dân tộc, đó là bỏ nhà sàn, làm nhà đất, nhà ngói, nhà tầng như nhà của người Kinh Hoặc vẫn làm nhà sàn, nhưng có cải tiến Hoặc trong một gia đình, làm cả nhà đất và nhà sàn Nhiều nơi, ngói hoá nhà ở đã trên 50% Nhiều
Trang 9dân tộc thiểu số có tập quán làm nhà Rông, nhà Gươi (nơi sinh hoạt văn hoá và dạy nghề truyền thống của cộng đồng), nhưng giờ đây, tập quán đó đang bị thay đổi Qua khảo sát khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên Việt Nam, hiện tại có 625 làng thuộc 77/79 xã, phường, thị trấn của 7 huyện, thị, nhưng chỉ còn có 265 nhà
Rông, trong đó chỉ 40% mang ít nhiều những nét truyền thống Thực tế việc làm
nhà truyền thống bằng gỗ đắt hơn nhà xây, vì gỗ ngày càng khan hiếm Trong khi làm nhà xây như người Kinh thì vật liệu thuận tiện và rẻ hơn nhiều
Về trang phục: Việc chối bỏ trang phục truyền thống của dân tộc mình từ
lâu đã trở thành hiện tượng phổ biến của các dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc sinh sống ở vùng thấp Một số dân tộc và những người già vẫn sử dụng trang phục truyền thống hàng ngày, một số khác, chỉ dùng trong những ngày lễ hội, tết Có nơi, trong ngày cưới, cả cô dâu và chú rể đem theo một bộ trang phục truyền thống, để trước lúc bước qua cửa nhà chồng (hoặc vợ) thì mặc vào khi đứng trước bàn thờ tổ tiên (theo phong tục) Sau khi làm lễ trình diện trước bàn thờ tổ tiên xong, họ lại thay âu phục Nhiều đám cưới, cả cô dâu và chú rể đều không sử dụng trang phục dân tộc, mà ăn mặc hoàn toàn theo lối “tây hóa”
Cũng có trường hợp, do trao đổi hàng hoá, nên trong trang phục có hiện tượng ảnh hưởng giữa các dân tộc Ví dụ, ở vùng Tây Bắc Việt Nam, trang phục của nhiều dân tộc chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Thái Tại tỉnh Đắc Lắc, nơi
có nghề dệt cổ truyền của những dân tộc thiểu số, nhưng trang phục truyền thống giờ đây đã trở thành hiếm hoi Đến nỗi khi tổ chức một lễ hội truyền thống rất lớn - là lễ hội đâm trâu, Ban tổ chức đã phải mượn trang phục truyền thống của nhà văn hoá tỉnh Biến đổi trong trang phục có nhiều nguyên nhân Chưa kể đến nguyên nhân tâm lý, kinh tế thị trường đã đáp ứng nhu cầu trang phục truyền thống may sẵn bằng vải màu thay cho may bằng vải dệt và thêu hoa văn truyền thống, giá cả rẻ hơn nhiều Hơn nữa trang phục như người Kinh cũng giản tiện, dễ mua bán
Về ăn uống: Những năm gần đây, lĩnh vực này đã có sự thay đổi cơ bản.
Điều này được thể hiện qua các loại thực phẩm được chọn để tạo đồ ăn, thức
Trang 10uống và cách chế biến cũng như tập tục ăn uống Các cư dân Tày, Thái, trước đây chủ yếu ăn xôi nếp, nay chuyển sang ăn cơm tẻ Một bộ phận không ít cư dân trước đây không ăn thịt chó, thịt trâu thì nay đã dùng phổ biến Các loại gia
vị và thực phẩm công nghiệp, như mì chính, bột canh, mì ăn liền… ngày càng được dùng phổ biến Trong khi đó nhiều món ăn và một số loại bánh đã không còn nữa, hoặc chỉ xuất hiện trong những dịp lễ, tết
Sự biến đổi này cũng có nguyên nhân do kinh tế phát triển, đời sống đồng bào được nâng cao, nhất là về nhu cầu lương thực, thực phẩm Kinh tế thị trường
đã tạo điều kiện cho sự trao đổi hàng hóa đa dạng hơn Mặt khác, cũng có sự tác động do mở rộng giao lưu giữa các dân tộc về mọi phương diện, dẫn đến ảnh hưởng qua lại cả hai bên đối với nhiều lĩnh vực văn hóa trong đó có tập quán ăn uống
2.3 Biến đổi về văn hoá phi vật thể
So với văn hoá vật thể, sự biến đổi trong văn hoá phi vật thể diễn ra tương đối chậm hơn Tuy vậy, trước sự tác động của kinh tế thị trường và truyền thông toàn cầu, trong phong tục tập quán, lễ hội, văn học dân gian… đã có thay đổi khá rõ nét
Về phong tục tập quán: Nhiều hủ tục lạc hậu, có ảnh hưởng đến sản xuất
và sức khoẻ cộng đồng đã bị bãi bỏ dần dần (ví dụ như: tục lệ quàn xác người chết trong nhà lâu ngày, tổ chức ma chay linh đình, thách cưới quá nặng…) Nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp được coi trọng và khuyến khích (ví dụ: tổ chức mừng thọ, cầu sức khoẻ cho người già, mừng trẻ sơ sinh tròn ngày, đầy tháng… trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng làng bản Việc cưới xin,
ma chay có lúc bị thương mại hoá, nên thường tổ chức linh đình với hàng trăm mâm cỗ Số tiền thách cưới có khi rất cao, đã trở thành gánh nặng cho các gia đình, nhất là những người nghèo
Về văn hoá dân gian: Trước hết là các lễ hội dân gian Các lễ hội này có
vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần các dân tộc thiểu số Tổ chức
lễ hội là dịp sinh hoạt cộng đồng, có tác dụng giải toả tinh thần, gắn kết các