Trà đen : Khác hẳn trà xanh là trong quá trình chế biến không qua giai đoạn diệt men ngay mà thêm giai đoạn lên men để tạo ra những biến đổi sinh hoá cần thiết làm cho màu sắc và hương
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP
TIỂU LUẬN Công nghệ sản xuất trà đen
Trang 2Trà là loại cây có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất Nhà thực vật học Thụy Sĩ Candolle 1881) đã xếp trà vào loại A, tức là đã được trồng trên 4000 năm Theo thần thoại Trung Hoa, năm
(1788-2737 BC, trà đã được phát hiện một cách tình cờ bởi Hoàng đế Shen Nung khi một lá trà rơi vào bát nước của ông và từ đó trà đã được nhân lên, nhân lên mãi để đem đi trồng trên gần khắp thế giới
Trà được du nhập vào Nhật Bản năm 805 AD như một loại dược
thảo giúp tăng cường sự tỉnh táo, bởi những nhà truyền giáo Thiền Đạo
Năm 1484, Trà đạo thiêng liêng của Nhật ra đời
Cây trà đã đến Bồ Đào Nha vào khoảng những năm 1500, khi
người Bồ Đào Nha là những người đầu tiên thiết lập quan hệ buôn bán với
Trung Quốc Rồi nó xuống thuyền đến Hà Lan, để từ đó đến Pháp và các
nước vùng Baltic Sau đó, cây trà đã theo chân những người nhập cư Hà
Lan đến Mỹ
Thật thú vị khi biết rằng nước Anh, vốn được biết đến như một
quốc gia của những người nghiện trà, lại là quốc gia cuối cùng biết đến trà trong số những quốc gia có ngành hàng hải phát triển lúc bấy giờ
Còn truyền thuyết An Độ thì cho rằng công lao phát hiện ra trà thuộc về Bodhidharma, vị thiền sư đã sáng lập ra Thiền đạo Truyền thuyết kể rằng ông đã dành 7 năm không ngủ để nghiên cứu Phật học, thế nhưng đến năm thứ năm thì ông bắt đầu buồn ngủ Ông bèn ngắt lấy vài chiếc lá
từ một cây bụi gần đó và nhai để xua đi sự mệt mỏi Cây bụi đó chính là một cây trà dại
Là một cây thuộc họ Camellia, cây trà (Camellia Sinensis, hay Chinese Camellia) là một cây thường xanh nhiệt đới, với lá xanh sáng có răng cưa Việt Nam cũng được xem là một cái nôi của trà Năm 1975, sau nhiều nghiên cứu hoá sinh tỉ mỉ, giáo sư người Nga Dzemukhade đi tới kết luận những cây trà ở vùng biên giới Việt-Trung có cấu trúc di truyền cổ xưa nhất
Trà đã bước đi được hơn 4000 năm Hiện nay các nhà thực vật học thế giới đã thống nhất
là quê hương xa xưa của cây trà không phải nằm gọn trong một nước mà là cả một vùng rộng lớn bao gồm phía nam Trung Quốc, An Độ, Myamar, và cả phía Bắc Việt Nam
I
II II I . TÌ ÌÌ NH HÌ ÌÌ NH SẢN XUẤT VÀ TI II ÊU THỤ TRÀ TRÊN THẾ GI II ỚI II :: :
Hiện nay trên thị trường thế giới có hai loại sản phẩm trà cơ bản là trà đen và trà xanh Trong đó, trà đen chiếm 76% sản lượng, còn 24% còn lại là các loại trà khác như trà xanh, oolong …
Sản lượng trung bình hằng năm của cả thế giới từ năm 1995 đến năm 1997 xấp xỉ 2.6 triệu tấn, với kỉ lục 2.86 triệu tấn trà năm 1998 Trà hiện nay được trồng trên ít nhất 30 quốc gia trên cả năm châu lục Trong khoảng hai thập kỉ gần đây, sự chuyển đổi có ý nghĩa nhất trong ngành công nghiệp trà là việc phát triển các đồn điền trồng trà ở Châu Phi và Nam Mỹ Thống kê năm 1998 cho thấy các quốc gia sản xuất trà hàng đầu trên thế giới hiện nay là An Độ, Trung Quốc, Kenya, Srilanka, Indonesia, Thổ Nhĩ Kì…
I
II II I II I TÌ ÌÌ NH HÌ ÌÌ NH SẢN XUẤT VÀ TI II ÊU THỤ TRÀ Ở VI II ỆT NAM: ::
Việt Nam được biết đến như là một trong những cái nôi lâu đời nhất của cây trà Người Việt Nam đã trồng trà được hơn 3000 năm và ngày nay, uống trà đã trở thành một tập quán của dân tộc Việt Nam Nằm ở phía đông nam Châu Á, Việt Nam ta có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để
Trang 3trồng và chế biến trà Hiện nay hơn một nửa đồn điền trà nằm ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, còn lại là ở vùng cao nguyên Trung bộ
Trong những năm gần đây, diện tích đất trồng trà và các cơ sở chế biến trà tăng lên nhanh chóng Năm 2000, cả nước có 80.000 ha đất trồng trà với hơn 174 cơ sở chế biến trà Sản lượng đạt 40.000 tấn trong 1995 và đến năm 2002 xấp xỉ 80.000 tấn, trong đó lượng xuất khẩu tăng từ 17.500 tấn lên 55.600 tấn Năng suất tăng hàng năm khoảng 4% trong mười năm trở lại đây
Đến nay, sản phẩm trà Việt Nam đã có mặt ở trên ba mươi quốc gia Năm 2000, khoảng 1.500 tấn trà thành phẩm được xuất khẩu sang Nga, cho phép Việt Nam xếp hạng sáu trong số 15 quốc gia Châu Á xuất khẩu trà sang thị trường này Còn thị trường Tây Au, đặc biệt là Anh Quốc, nhập khẩu khoảng 2000 tấn trà mỗi năm Hiện tại, Việt Nam nổi tiếng như một quốc gia xuất khẩu các sản phẩm trà chất lượng cao với những khách hàng đầy tiềm năng như Pakistan, Algeria, Singapore… Ở Châu Á, Đài Loan và Nhật Bản là những thị trường lớn nhất của Việt Nam với lượng nhập khẩu từ 5000 đến 10.000 tấn một năm Những thị trường mới nổi bật như Mỹ, Pháp, Australia cũng có nhu cầu cao đối với trà Việt Nam
Tuy nhiên, ngành trà Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, mà vấn đề chính là các nhà máy chế biến Tổng sản lượng đầu ra của các nhà máy không đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu vì hầu hết trang thiết bị đều cũ kĩ và lỗi thời Thêm vào đó là phần lớn các giống trà có từ đầu thế kỉ XX đều kém phẩm chất, do đó ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm Hơn nữa, các đối thủ hiện nay trên thị trường ngày một lớn mạnh hơn, trong khi khách hàng thì ngày càng khó tính hơn Một thống kê gần đây cho thấy Việt Nam chỉ xếp thứ 8 trong tổng số 15 nước xuất khẩu trà trên thế giới
Để giải quyết những vấn đề này, ngành trà Việt Nam cần phải đề ra những chiến lược tiên quyết cho sự phát triển vững mạnh trong tương lai Trước mắt, cả nhà sản xuất lẫn xuất khẩu phải đầu tư đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất, cải thiện chất lượng của trà Gần đây, Việt Nam đã nhập một vài dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại và một số giống trà mới từ An Độ, Trung Quốc, Srilanka Về lâu dài, chính phủ có thể khuyến khích những nhà đầu tư nước ngoài hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam để xây dựng những nhà máy với dây chuyền sản xuất hiện đại
để có thể mở rộng thị phần Căn cứ vào nhu cầu và tình hình sản xuất hiện nay, ngành trà Việt Nam có thể tăng diện tích trồng trà lên 100.000 ha và lượng suất khẩu lên 130.000 –150.000 tấn
đến trước năm 2010
Tóm lại, ngành trà Việt Nam có tiềm
năng rất lớn trong tương lai, đang từng bước chuyển mình để vươn lên mạnh mẽ, để trở thành một trong những nước xuất khẩu trà hàng đầu trên thế giới
I
II V. GI II Á TRỊ ỊỊ CỦA TRÀ :: :
Ngày nay, trà đã là thứ đồ uống phổ biến trên toàn thế giới Khoa học đã chứng minh được rằng uống trà ở mức độ vừa phải có tác dụng rất tốt đối với cơ thể Caffein và một số hợp chất alcaloit khác có trong trà là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích
Trang 4vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao được năng lực làm việc và giảm mệt nhọc sau những lúc lao động Hỗn hợp tanin trong trà làm cho trà có khả năng giải khát, gây cảm giác hưng phấn cho
người uống trà, trợ lực tiêu hoá, làm cho ăn uống ngon
miệng Thành phần catechin trong hỗn hợp tanin trà có khả
năng làm tăng sức đề kháng của thành vi huyết quản, nhờ
đó làm giảm nhanh hiện tượng xung huyết trong cơ thể, hơn
nữa nó còn tăng cường sự tích luỹ và đồng hoá vitamin C
giúp phòng ngừa bệnh hoại huyết Những nghiên cứu gần
đây còn cho thấy nước trà là một nguồn cung cấp những
chất chống oxy hoá tự nhiên, giúp bảo vệ cơ thể khỏi tác hại
của những gốc tự do, chống lão hoá cơ thể, làm da dẻ đẹp hơn và khoẻ hơn Nước trà còn giúp giảm stress, giảm lượng cholesterol và giảm nguy cơ của những bệnh tim mạch và đột quỵ Ngoài
ra, trà còn ngăn ngừa được bệnh ung thư Người Nhật trung bình uống từ 3 đến 4 tách trà một ngày
và họ, kể cả những người nghiện thuốc lá, đã giảm được tỉ lệ mắc các chứng ung thư xuống đáng
kể Những năm gần đây, trà còn được dùng điều trị có hiệu quả các bệnh lỵ, xuất huyết dạ dày và ruột, xuất huyết não và suy yếu mao mạch do tuổi già
Vì vậy, nước trà không những là thức uống giải khát mà còn là một vị thuốc tuyệt vời giúp cải thiện sức khoẻ cho con người Do đó không phải ngẫu nhiên mà trà được gọi là “phép chữa bệnh chỉ trong một cái tách”
V CÁC SẢN PHẨM TRÀ :: :
Sản phẩm trà ngày nay rất đa dạng và phong phú Có thể kể một vài sản phẩm chính như sau :
Trà xanh : Có màu nước pha xanh vàng, vị đậm và
hương thơm tự nhiên của trà, được chế biến bằng cách
đem nguyên liệu diệt men rồi vò và làm khô
Trà đen : Khác hẳn trà xanh là trong quá trình chế
biến không qua giai đoạn diệt men ngay mà thêm giai
đoạn lên men để tạo ra những biến đổi sinh hoá cần
thiết làm cho màu sắc và hương vị của thành phẩm sau
này có những đặc tính riêng mà các loại trà khác
không có được, đó là màu nước pha đỏ sáng, vị dịu,
hương thơm nhẹ
Trà đỏ : Được chế biến bằng cách đem nguyên liệu trà làm héo và lên men, rồi sao và vò kết hợp, cuối cùng sấy khô đóng bao thành phẩm Trà đỏ có nước pha vàng ánh, hoặc ánh kim, vị đậm, hương thơm đặc biệt
Trà vàng : có hương thơm mạnh, vị chát dịu, màu sắc pha vàng ánh, được chế biến từ nguyên liệu trà qua giai đoạn diệt men, rồi vò hoặc không vò, cuối cùng ủ sao hoặc sấy ở nhiệt độ thấp
Nếu phân loại theo tính chất gia công, ta có trà xô (không ướp hương) và trà hương (dùng hoa tươi hoặc hương liệu khô để ướp hương cho trà)
Còn phân loại theo hình thái gia công bên ngoài ta còn có :
Trang 5Nếu phân loại theo đẳng cấp trà thì ta có:
Trà lá : trà mới sơ chế có nhiều lá
Trà buồm : trà vẫn còn lá nhưng ít hơn loại trên
Trà đọt : trà cao cấp nhất không có lẫn lá
VI II . ĐẶC TÍ ÍÍ NH THỰC VẬT CỦA CÂY TRÀ: ::
Có nhiều quan điểm phân loại cây trà khác nhau, nhưng nhìn chung đều xếp trà vào cùng họ Camellia Giáo sư K.M.Dzemukhade đã đưa ra cách phân loại trà như sau :
Cây trà thuộc ngành : ngọc lan hạt kín Agiospermae
Thuộc lớp : ngọc lan hai lá mầm Dicctyledoneae
Thuộc họ : camelliaceae
Thuộc giống : Thea
Thuộc chủng : Thea wethamica
Các giống là : Thea Jiunnanica, Thea Assamica và Thea Ainensis
Việt Nam hiện đang khai thác những loài sau :
Loài Shan : có màu lá xanh nhạt, dài chừng 16-17 cm, rộng 4-7 cm với 13-15 đôi răng cưa
Cây có thể mọc cao đến 9-10 m hoặc hơn, có nhiều đặc tính
quí như búp to, tôm dài, nặng cánh Loài này có khả năng
thích nghi với các điều kiện thời tiết nên được trồng nhiều ở
các vùng cao như Hoàng liên sơn, Hà Tuyên, Lâm Đồng
Trong điều kiện thí nghiệm năng suất cho búp có thể đạt 19
tấn /ha, và trong điều kiện trồng đại trà năng suất cho búp
chỉ đạt 6-7 tấn /ha
Loài Trung du: lá có màu xanh đậm, dài chừng 17
cm, rộng 7cm với 10 đôi răng cưa ở mép lá, có độ tăng
trưởng rất mạnh và tính kháng bệnh khá tốt Trong điều kiện
thí nghiệm năng suất cho búp của loài này là 17-18 tấn và
trong điều kiện trồng đại trà, con số này vào khoảng 4-5 tấn /ha
Ngoài ra, còn có các loài khác ít gặp hơn như Manipuri, Kimin Loài Manipuri có nguồn gốc thuộc dòng Thea Assimica Lá của loài này to, dài 15-17 cm, có hình ô van Đây là loài có triển vọng thứ ba sau loài Shan và Trung du Loài Kimin có quan hệ với dòng Thea Sinensis Trong điều kiện thổ nhưỡng nước ta loài này phát triển kém
VI II II I . THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TRÀ :: :
VII.1 Nước:
Nước trong lá trà là môi trường, trong đó xảy ra sự tương tác của các chất hoà tan Ngoài ra nước còn tham gia trực tiếp vào nhiều phản ứng thủy phân, oxy hoá khử xảy ra liên tục trong các tế bào
Trang 6Hàm lượng nước trong các búp trà non, lá non cao hơn trong lá trà già và nĩ thay đổi rất lớn phụ thuộc vào thời gian thu hái, các điều kiện khí hậu và các yếu tố khác
Như đã nĩi trên, lượng nước trong lá trà luơn luơn thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nếu xét sự phân bố của nước ở các bộ phận khác nhau của búp trà ta thấy lá càng non chứa nước càng nhiều.Ví dụ:
Tơm cĩ chứa : 76,60% nước
Đối với sản xuất trà đen, ở giai đoạn vị nếu thủy phần của trà cao cĩ thể làm cho nước ép
bị chiết ra mạnh gây tổn thất các chất chiết Nếu thủy phần quá thấp thì hiện tượng vụn nát tăng lên Cịn ở giai đọan lên men lá trà cũng phải cĩ độ ẩm nhất định mới tạo điều kiện cho quá trình oxy hố tiến hành một cách thuận lợi và đồng đều trong cả khối trà
VII.2 Hợp chất polyphenol :
Người ta chia hợp chất polyphenol của trà thành 4 nhĩm chất chủ yếu :
1) Hợp chất catechin 2) Hợp chất antoxantin 3) Hợp chất antoxianin 4) Các axit phenolcacboxilic cùng một số chất khác
VII.2.1 Hợp chất catechin
Trong lá trà cĩ 7 loại catechin, chúng là thành phần chính của hỗn hợp tanin trà:
D, L_ Catechin L_epicatechin
D, L_ galocatechin L_ eigalocatechin L_eigalocatechinsingalat L_galocatesingalat Hàm lượng của các catechin trong lá trà luơn luơn thay đổi phụ thuộc vào giống trà, thời kỳ sinh trưởng của cây trà, vị trí các lá trên búp trà
Các chất catechin trong lá trà là những chất kết tinh khơng màu, hình kim hoặc hình lăng trụ, chúng cĩ vị chát dịu hoặc hơi đắng ở mức độ khác nhau
Catechin enzim, O 2 octoquinon
n - Octoquinon ngưng tụ Sản phẩm có màu (3)
Trang 7Phản ứng [1] là phản ứng xảy ra bình thường trong trà khi còn ở trên cây hoặc khi hái xuống, sẽ xảy ra đặc biệt mạnh khi tế bào lá bị phá vỡ
Trong điều kiện quá trình lên men chiếm ưu thế thì phản ứng [1] và [3] xảy ra mạnh, lúc tế bào của lá bị phá vỡ ngay từ lúc bắt đầu giai đoạn vò trong xản xuất trà đen
Sản phẩm oxy hoá trực tiếp của các catechin thường là những chất có màu tạo cho nước trà đen có màu đặc trưng của nó
VII.2.2 Hợp chất Antoxantin
Hiện nay trong các lá trà của các giống trà khác nhau đã tìm thấy các chất antoxantin sau đây:
Campherol và các glucozit của nó
Quecxetin và các glucozit của nó
Mirixetin và các glucozit của nó
Hợp chất antoxantin có vị chát đắng và có tính kích thích niêm mạc ở cổ họng Đối với chất lượng trà, trong quá trình lên men trà đen các hợp chất này cũng tham gia vào các phản ứng oxy hoá thứ sinh và do đó cũng tham gia vào quá trình ngưng tụ để tạo thành các sản phẩm màu Nhưng do hàm lượng của chúng ít hơn rất nhiều so với các catechin, cho nên không giữ vai trò chính trong sự hình thành nên các chất màu đặc trưng cho nước pha của trà đen
VII.2.3 Hợp chất Antoxianin
Trong thực vật hầu như các hợp chất antoxianin đều tồn tại ở trạng thái kết hợp với các gốc đường
Một số tính chất của chúng như sau : Tan trong nước, màu sắc phụ thuộc vào nhiều yếu tố
và luôn luôn thay đổi tuỳ theo trong hỗn hợp có mặt catechin và antoxantin nhiều hay ít, nhiệt độ của dung dịch và nồng độ của chúng
Hợp chất antoxianin có vị đắng, trong lá trà càng chứa nhiều antoxianin thì vị càng đắng không hợp khẩu vị người tiêu thụ
VII.2.4 Các Axit Phenolcacboxilic:
Nhóm axit phenolcacboxilic là nhũng hợp chất hữu cơ trong phân tử có chứa nhóm phenol (-OH) lại có chứa nhóm cacboxil (-COOH)
Trong lá trà tươi có chứa nhiều chất thuộc các axit phenolcacboxilic Chất đơn giản nhất đã tìm thấy trong lá trà là axit galic
Ngoài ra còn tìm thấy các axit sau:
Trang 8VII.3 Hợp chất Tanin của trà :
Tanin của trà là thành phần hóa học quan trọng nhất trong lá trà tươi cũng như trong các lọai trà thành phẩm Nó quyết định chất lượng của trà Tanin không những tạo nên vị độc đáo của trà
mà còn tham gia vào quá trình biến đổi hóa học dưới sự tác dụng của các enzim oxy hóa để tạo hương thơm và màu sắc nước pha đặc trưng cho mỗi loại trà
Nói chung hàm lượng tanin trong trà tươi hay trà thành phẩm càng cao thì chất lượng của trà càng tốt
Tanin quyết định chất lượng của trà, nó không phải là một đơn chất mà là một hỗn hợp phức tạp của các hợp chất có đặc tính polyphenol Trong thành phần tổ hợp của phức chất Tanin trà gồm có các polyphenol catechin đơn giản và các sản phẩm oxy hoá của chúng
Dựa trên cấu tạo có thể chia Tanin thành 2 thành phần:
Tanin thủy phân : là este của đường glucoza với các axit polyphenolic (a.galic, a.digalic, a.elagic…)
Tanin ngưng tụ: hợp chất do các catechin ngưng tụ theo kiểu “đầu nối đuôi, đuôi nối đuôi, đầu nối đầu” và không bị phân giải bởi axit vô cơ cũng như enzim
Ngoài ra trong các loại trà thành phẩm, nhất là trong trà đen, có chứa hợp chất polyphenol kết hợp với protein Phần tanin này của trà không tan trong nước, chúng chỉ có thể bị chiết ra khi
xử lý bằng dung dịch kiềm yếu
VII.4 Hợp chất ancaloit trong lá trà:
Ancaloit là những chất không màu, một số ít có màu vàng, chúng có tính kích thích đầu lưỡi, có vị đắng Thành phần chủ yếu là cafein, và các chất khác với hàm lượng không lớn lắm là:
VII.5 Protein và axit amin:
Protein là một trong các nhóm chất chủ yếu và quan trọng trong thành phần hóa học của lá trà Do :
Nó giữ vai trò quan trọng không những trong quá trình sinh trưởng của cây trà mà cả đối với quá trình chế biến trà Đó là vì protein tham gia cấu tạo nên phần lớn các enzim và các phản ứng enzim lại là cơ sở của sự trưởng thành và phát triển của thực vật, trong đó bao gồm cả lá trà tươi_nguyên liệu dùng để chế biến trà thành phẩm
Trang 9 Protein cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành chất lượng của trà vì chúng là nguồn cung cấp các axit amin tự do vì trong quá trình chế biến trà một phần của protein bị phân giải bởi enzim tương ứng tạo ra các axit amin, những axit amin này bản thân nó cũng là những chất có giá trị đồng thời kết hợp với tanin hoặc đường tạo ra các andehyt bay hơi góp phần tăng cường hương thơm của trà
Tuy nhiên, nếu trong lá trà tươi lượng protein quá cao còn lượng tanin lại thấp thì lại ảnh hưởng xấu đến vị của trà đen vì trong quá trình chế biến trà, nhất là trong quá trình lên men protein
sẽ kết hợp với tanin và chuyển nó thành hợp chất không tan, và giảm lượng tanin hoà tan, nên sẽ làm giảm lượng chất chiết
VII.6 Chất nhựa:
Chất nhựa có trong lá trà, ngoài việc tham gia tạo hương thơm của trà và là chất cố định mùi, nó còn có ý nghĩa quan trọng cùng với các hợp chất có tính keo khác trong quá trình ép nóng khi sản xuất trà ép bánh vì dưới tác dụng của nhiệt độ cao chất nhựa trở nên keo dính giúp cho lá trà bám chặt với nhau theo hình dạng của khuôn ép
VI.7 Chất béo:
Chất béo là chất có tính hấp phụ và là chất giữ mùi Nhờ vào tính chất này có thể tăng cường được hương thơm của trà bằng cách ướp trà với các hương liệu khô hoặc phun hương cho trà bằng các dịch hương nhân tạo… và sau khi trà đã ướp hương sẽ giữ được hương thơm bền hơn
Mặt khác, bản thân chất béo có một số cấu tử có sẵn mùi thơm dễ chịu hoặc dưới tác dụng của nhiệt độ cao chuyển hoá thành các chất có mùi đặc trưng góp phần tham gia trực tiếp vào sự hình thành hương thơm độc đáo của sản phẩm
Ngoài ra, cũng do các tính chất trên của chất béo mà làm cho trà dễ bị nhiễm các mùi lạ và khó khử chúng khi vô ý để trà tiếp xúc với các vật có mùi khó chịu như mùi mốc, mùi bao bì, mùi dầu hỏa,v v…
VII.8 Hợp chất hydratcacbon:
Hợp chất H_C được chia thành 2 nhóm:
H_C đơn giản hay những monosacarit tan
H_C phức tạp hay những polisacarit không tan
Hàm lượng polysacarit không tan càng cao thì chất lượng của trà càng thấp Tuy nhiên các đường hoà tan trong lá trà dù hàm lượng thấp nhưng chúng có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng của trà
Các đường hòa tan giúp điều hoà vị trà
Các đường khử dưới tác dụng của nhiệt độ cao hoặc trong khi tác dụng với tanin, axit amin
có mặt trong lá trà sẽ tạo cho trà có hương thơm đặc trưng và ảnh hưởng tới màu sắc của nước trà
Ngoài ra, glucoza và fructoza dưới tác dụng của nhiệt độ cao trong quá trình chế biến nhiệt
sẽ tham gia vào quá trình caramen hoá tạo cho trà có mùi cốm dễ chịu
Trang 10Pectin là chất háo nước, cùng với các chất khác có tính hút ẩm, nó làm cho độ ẩm trong trà khô tăng lên gây khó khăn trong việc bảo quản trà và do đó dẫn đến làm giảm chất lượng của trà
VII.10 Enzim trong trà :
Người ta chia làm 2 nhóm enzim trong trà : enzim thủy phân và enzim oxy hóa khử
VII.10.1 Enzim thủy phân:
Amilaza phân giải tinh bột thành các lọai đường
Invectaza phân giải sacaroza thành các lại đường đơn giản
Glucozidaza phân giải glucozit thành các cấu tử đơn giản
Proteaza phân giải protein thành các axit amin tự do
Các enzim trong nhóm thủy phân kể trên không những phân giải các hợp chất phức tạp thành các cấu tử đơn giản làm tăng lượng chất hòa tan của trà mà còn góp phần tạo nên các tính chất mới có lợi đối với chất lượng của trà thông qua sự chuyển hóa tiếp tục của các cấu tử đơn giản mới được tạo thành nhờ tác dụng của chúng để hình thành nên hợp chất có hương vị và màu sắc đặc trưng cho trà thành phẩm
VII.10.2 Enzim oxy hoá:
Cả 3 enzim trên đều đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển hóa tanin trà thành các sản phẩm màu cũng như quá trình chế biến trà
VII.11 Tinh dầu và hương thơm tự nhiên của trà :
Hương vị và màu sắc nước trà là những chỉ tiêu chất lượng quan trọng nhất của trà Hương thơm của trà phụ thuộc vào thành phần và hàm lượng tinh dầu có trong trà
Hương thơm của trà thật ra được hình thành do các yếu tố sau:
Lượng tinh dầu có sẵn trong nguyên liệu ban đầu
Các cấu tử mới của tinh dầu được tạo thành trong quá trình chế biến trà (chủ yếu do quá trình oxy hóa lên men và dưới tác dụng của nhiệt độ cao)
Các chất có tính hấp phụ và giữ mùi
Anh hưởng của nhiệt độ cao khi pha trà
Ngoài ra, còn do áp dụng các biện pháp ướp hương và phun huơng nhân tạo cho trà
Hàm lượng tinh dầu trong lá trà tươi và trong trà thành phẩm mặc dầu rất thấp nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó quyết định hương thơm của trà
Như vậy, trong chế biến trà đen, hàm lượng tinh dầu tăng dần và đạt giá trị cực đại vào cuối lúc lên men nhưng sau đó trong quá trình sấy và bảo quản lượng tinh dầu lại mất đi rất lớn
VI II II I II I . NGUYÊN LI II ỆU :: :
Do hàm lượng và sự biến đổi của tanin trong quá trình lên men lại là vấn đề mấu chốt quyết định chất lượng của trà đen thành phẩm nên nguyên liệu dùng để chể biến trà đen phải có hàm lượng tanin cao vì trong quá trình lên men tanin bị oxy hoá một phần để tạo nên màu sắc đặc trưng
Trang 11cho lá trà, bên cạnh đó tanin bị chuyển một phần khác sang trạng
thái không tan do kết hợp với protein Lá trà càng già thì hàm lượng
tanin càng thấp, không có lợi cho sản xuất trà đen
Xét về lượng các hợp chất nitơ trong trà, nếu hàm lượng nó quá cao sẽ không có lợi cho việc sản xuất trà đen, vì trong quá trình lên men xảy ra sự tương tác giữa tanin và protein dẫn đến tạo thành các hợp chất không tan, từ đó sẽ giảm lượng tanin hòa tan, làm giảm lượng chất chiết và kết quả là làm giảm chất lượng của trà thành phẩm
Caffein trong lá trà là chất chủ yếu gây tác dụng khích thích và làm giảm mệt mỏi, nên hàm lượng caffein trong nguyên liệu cũng phải cao và là một đặc điểm hóa sinh không thể thiếu của nguyên liệu trà
Nếu hàm lượng Chlorophin trong nguyên liệu dùng để chể biến trà đen quá cao sẽ làm cho trà đen bạc cánh ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm Trong thực tế nếu nguyên liệu chứa ít chlorophin thì lá trà có màu xanh nhạt hơi vàng, loại nguyên liệu này chứa nhiều hợp chất glycozit của antoxantin và antoxianin, hai chất này có hàm lượng càng lớn thì hàm luợng tanin cũng lớn Nên loại nguyên liệu trà có màu vàng nhạt thích hợp với chế biến trà đen
Hàm lượng pectin nhiều sẽ tăng độ keo nhớt của dịch ép tế bào, làm thuần dịu vị nước trà,
có để lại vị ngọt, đồng thời nếu lá trà được làm héo tốt sẽ có mùi thơm của táo chín Do đó hàm lượng pectin trong nguyên liệu cũng là một trong những đặc điểm hóa sinh quan trọng cần thiết của
lá trà tươi
Tóm lại, thành phần các chất trong nguyên liệu ảnh hưởng lớn đến chất lượng của trà thành phẩm và đối với mỗi loại trà thành phẩm cũng có những yêu cầu nhất định về thành phần hoá học của nguyên liệu Do đó muốn sử dụng hợp lý nguyên liệu nhằm chế biến ra trà thành phẩm có chất lượng cao nhất thì cần nguyên liệu giàu tanin cho sản xuất trà đen Và nguyên liệu trà chứa nhiều tanin hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó 2 yếu tố quan trọng nhất là giống trà và thời vụ thu hái nguyên liệu Về giống trà, nói chung giống trà lá to, màu vàng nhạt, mỏng lá thường giàu tanin, ít protein thích hợp đối với chế biến trà đen, nên dùng nguyên liệu được thu hái vào các tháng nóng ẩm nhất như tháng 6,7,8 để chế biến trà đen
I
II X. CÁC LOẠI II HƯƠNG LI II ỆU DÙNG ĐỂ ƯỚP TRÀ: ::
Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại trà hương khác nhau Trà hương được chế biến từ trà xanh hoặc trà đen và các loại hương liệu khô hoặc tinh dầu của các loại hương liệu này Nếu được chế biến từ trà xanh thì trà hương sản phẩm có màu nước pha xanh sáng, vị chát đượm và thoảng hương của các loại hoa hoặc các loại dược liệu khô Nếu được chế biến từ trà đen thì màu nước pha sẽ ửng hồng màu mật ong, vị chát dịu và thoảng hương của tinh dầu hoặc hương liệu khô
Hương liệu được sử dụng là các loại thực vật có hàm lượng tinh dầu cao, đã được lựa chọn theo kinh nghiệm và đã được người tiêu dùng ưa chuộng Hiện nay, trong công nghiệp chế biến trà hương thường dùng những loại hương liệu sau :
Ngâu : Có tên khoa học là Aylaia Duperreana Pierre, có thân cao 3-7 m và được trồng thành từng vườn để lấy hoa Hoa ngâu được hái ở độ chín vừa phải, có màu vàng và thoảng hương dễ chịu Thành phần tinh dầu của hoa ngâu chưa được xác định rõ Sau khi thu hái, hoa được phơi hoặc sấy ở nhiệt độ 50-60º C sau đó nghiền thành bột và bảo quản trong các dụng cụ khô, kín hoặc đem sử dụng
Trang 12 Cúc : có tên khoa học là Chrysanthamun Sinense Sanbia Cúc được trồng làm kiểng, lấy hoa ướp trà Thành phần tinh dầu của hoa cúc có nhiệt độ bay hơi cao, nên có thể phơi hoặc sấy ở nhiệt dộ 70-80º C rồi đem đi bảo quản
Hồi : tên khoa học là Hilicum Verum Hooker, là loại cây lâu năm Hoa hồi có màu trắng ngà và có mùi thơm nhẹ Tinh dầu hồi có màu vàng nhạt, có mùi đặc trưng Vị ngọt và không hoà tan trong nước Trong quả hồi tươi có khoảng 2-4 % tinh dầu và với quả khô, hàm lượng tinh dầu tăng lên đến 13%
Thành phần chính của tinh dầu là aniton (90-95%) trước khi dùng ướp trà, hồi được sao ở nhiệt độ nhỏ hơn 100º C và được nghiền thành bột Nếu là đại hồi thì sau khi sao nên loại bỏ hột mới nghiền
Quế : Thuộc họ long não ( Lauracoace ) và được phân thành ba giống lớn theo điều kiện sinh sống của cây là:
Quế Thanh Hoá ( Cinnamemum Obtusifolium nees )
Quế Trung Quốc ( Cinnamemum Cassia blum )
Quế Quan hay quế Srilanka ( C Zoylancium Nees ) Đây là loại cây lâu năm, từ lúc trồng cho đến khi cây phát triển có đường kính thân khoảng
20 cm thì có thể thu hoạch Thành phần tinh dầu quế chủ yếu là aldehyt Xynamic Để ướp trà, quế cần được chuẩn bị theo thứ tự sau đây : Thoạt đầu quế được phơi hoặc sấy ở nhiệt độ không lớn hơn 50OC rồi đem nghiền thành bột Tinh dầu quế có mùi cay nồng nên dùng để át các mùi bất lợi khác của trà có chất lượng thấp
Phả cố chỉ : tên khoa học là Psoralea Coroliflia L Có hoa mọc ở nách lá và khi phát triển cho trái có hình trứng chứa các hạt màu đen Thành phần tinh dầu của phả cố chỉ là Pseralen, isopseralen vài loại nhựa khác Để ướp trà, phả cố chỉ được đem sấy hoặc sao hạt ở nhiệt độ khoảng 100 C cho đến khi lớp vỏ ngoài bong ra rồi đem nghiền thành bột Đây là thành phần hương liệu chủ lực trong hỗn hợp hương khô dùng để ướp trà
Cam thảo : có tên khoa học là Glycyrrhiza aralensis fish, là loại cây lâu năm mới được trồng phổ biến ở nước ta khoảng năm 1958 Phần sử dụng của cam thảo là bộ
Bạc hà : tinh dầu bạc hà là chất lỏng trong suốt, tan tốt trong ete, olorofec, có thành phần hoá học chính là Menthol (70-80 % ) Để ướp trà, bạc hà được phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ nhỏ hơn 50ºC và nghiền thành bột Đây là nguyên liệu chủ lực của nhiều nước trong công nghiệp chế biến trà đen ướp hương Đối với các nhà công
Trang 13nghệ Việt Nam, nguyên liệu bạc hà còn mới lạ, song nếu ướp liều vừa phải, mùi của trà sẽ được cải thiện rất nhiều
B QUY TRÌ ÌÌ NH CÔNG NGHệ ệệ Sả ảả N XUấ ấấ T TRÀ ĐEN TRUYề ềề N
THố ốố NG
NGUYÊN LIỆU
Trang 14THUYẾT MINH QUY TRÌNH
I.2 Các biện pháp làm héo:
I.2.1 Làm héo tự nhiên:
Trải trà tươi thành từng lớp mỏng với độ dày 1.5 dến
2 kg/ m2 Tiêu chuẩn làm héo được quy định theo độ ẩm còn
lại 62-63% đối với trà non và 64-67% đối với trà già Thời
gian làm héo phụ thuộc vào độ ẩm và nhiệt độ không khí
thường 10-12 giờ hoặc là lâu hơn nữa
I.2.2 Làm héo nhân tạo:
Tiến hành làm héo trên các dàn héo, hộc héo hay là
các máy héo chuyên dùng với không khí đã được đun nóng
và khống chế độ ẩm tương đối Nhiệt độ không khí không
được vượt quá 46-480C để tránh ảnh hưởng xấu đến hoạt tính của enzim có trong lá trà và đảm bảo
độ héo đồng đều của khối trà Tiêu chuẩn độ ẩm còn lại 64-67%, mức độ héo đồng đều lớn hơn 90%
Ngoài ra người ta còn kết hợp làm héo tự nhiên với làm héo nhân tạo để đảm bảo chất lượng làm héo và rút ngắn thời gian làm héo Biện pháp này nên ứng dụng vào thời kỳ thu hái trà có sản lượng vượt năng suất các thiết bị làm héo
I.3 Các biến đổi trong giai đoạn làm héo:
Trong thực tế sản xuất độ ẩm còn lại của lá trà sau khi làm héo phụ thuộc vào độ ẩm đầu tiên và chất lượng của nguyên liệu
Nước trong búp trà tươi thường tập trung trong hệ thống các mao quản và có ở tất cả các mô của lá trà Khi được làm héo nước sẽ bốc hơi qua các khí khổng phân bố ở mặt dưới của lá trà Nước chuyển dịch được trong lá trà là nhờ áp suất thẩm thấu trong các tế bào của lá giảm đi khi làm héo và tốc độ chuyển dịch của nước phụ thuộc vào nhiều điều kiện như nhiệt độ, độ ẩm tương đối của không khí chung quanh, độ nhớt của dịch bào hay tính keo của các chất Còn tốc độ bốc hơi của nước trong khi làm héo phụ thuộc vào trạng thái của lá và độ mở của khí khổng
I.3.1 Những biền đổi lý học của la” tra khi làm héo:
Yêu cầu công nghệ là các phần khác nhau của búp trà phải được làm đồng đều và độ ẩm còn lại trong búp trà phải được đảm bảo
Trang 15Nếu nhiệt độ làm héo quá cao và tốc độ chuyển động của không khí nóng thổi qua lớp trà quá lớn sẽ làm khô lá trà, đình chỉ quá trình trao đổi chất mà không tạo ra được các biến đổi hoá sinh cần thiết, sẽ giữ lại vị đắng, mùi hăng làm giảm chất lượng sản phẩm
Sự bốc hơi nước của trà được chia làm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: nước tự do trong dịch bào bốc hơi nhanh hơn
Giai đoạn 2: nước liên kết trong dịch bào bốc hơi chậm hơn
Giai đoạn 3: nước bốc hơi nhanh hơn vì dưới tác dụng của nhiệt độ làm héo kéo dài làm biến đổi trạng thái bào chất làm chúng mất tính háu nước, nước liên kết được giải phóng
Sau giai đoạn này nguyên sinh chất mất tính háu nước không thể khôi phục lại trạng thái ban đầu
I.3.2 Biến dổi hoá sinh:
Tuỳ theo mức độ thoát nước từ lá tra mà đặc tính của sự trao đổi chất thay đổi nhiều hay ít
Do đó dẫn đến biến đổi hoá sinh ở mức độ khác nhau
Các hợp chất chứa nitơ cũng có sự biến đổi sâu sắc: protein thành acid amin
Một lượng lớn chất màu bị phân huỷ, nhất là chlorophill giảm tới 30-40% hàm lượng ban đầu của nó và làm thay đổi màu sắc của lá trà héo
Các acid hữu cơ và vô cơ cũng thay đổi hàm lượng Trong số đó, acid limopic tăng lên, acid malic giảm xuống, acid ascorbic giảm 10-20%, acid phosphoric tăng lên
⇒ Tóm lạ, trong quá trình làm héo lá tràtoàn bộcác chấ trong lá trà bịbiế đ?i vềlư?ng và chấ
Bên cạh sựtổ thấ mộ phầ các chấ nhưcác chấ dễbay hơ và tanin hoà tan chuyể mộ phầ vềdạg không tan còn có quá trình phân giả các chấ không tan thành chấ tan Vì vậ nế quá trình làm héo đ?ợ tiế hành bình thư?ng theo đng các chếđ? kỹthuậ thì tổg lư?ng chấ hoà tan sẽtăg 1-2% theo chấ khô và
nế vi phạ thì kế quảsẽngư?c lạ
I.3.2.1 Sựbiế đ?i tanin trong khi làm héo trà:
Tanin củ trà bịoxi hoá mộ phầ và thay đ?i trạg thái phân tửcủ các cấ tửtrong thành phầ hỗ hợ tanin làm cho vịtrà dị đ
Hàm lư?ng tanin giả khoảg 1-2% Trong đ lư?ng tanin đ?c biệ có vịchát dị tăg lên và nhóm polyphenol catechin có vịchát dắg mạh giả đ khá lớ nhờđ vịtrà dễchị và hợ khẩ vị
Nế sửdụg nhiệ đ? cao đ? làm héo trà sẽgây ra tổ thấ lớ vềhàm lư?ng tanin và từđ làm giả chấ lư?ng trà
Nế làm héo trà ởnhiệ đ? thích hợ sẽlàm biế đ?i tanin mộ phầ kèm theo làm tăg giá trịcả quan
củ nư?c trà sau khi làm héo
Vì vậ phả tiế hành làm héo ởnhiệ đ? thích hợ đ? hạ chếđ?n mứ tố thiể lư?ng tanin hoà tan chuyể thành tanin không hoà tan
I.3.2.2 Sựtạ thành hư?ng thơ khi làm héo lá trà:
Trong thờ gian làm héo, trà đ tích luỹđ?ợ mộ lư?ng lớ tinh dầ và do đ làm cho trà có hư?ng thơ đ?c biệ
Tinh dầ tăg 10-15% và vẫ còn tiế tụ tăg ởcác giai đạ sau này Đ?t cự đ?i ởgiai đạ lên men Sựtạ thành mùi thơ hoa quảđ?c trưg cho hư?ng thơ củ trà héo là kế quảcủ sự tác dụg enzim polyphenoloxidaza đ?n tanin trà
Khi có mặ phenylalanin tạ mùi hao hồ
Trang 16 Khi có mặ acid asparaginic tạ mùi táo chín
Khi có mặ alanin và valin tạ các mùi hoa tư?i khác
I.3.2.3 Sựbiế dổ nitơ
Sựbiế đ?i hàm lư?ng các hợ chấ nitơtrong lá trà khi làm héo (mg/g chấ khô)
I.3.2.4 Các biế đ?i khác:
Các hidrat cacbon có sựbiế đ?i sâu sắ trong quá trình làm héo: tinh bộ đ?ợ thuỷphân thành các loạ đ?ờg tư?ng ứg làm cho hàm lư?ng tinh bộ giả đ hai lầ Hàm lư?ng các disaccharit giả còn hàm lư?ng monosaccharit tăg, lư?ng pectin tăg lên do sựthuỷphân protopectin không tan
Lư?ng ester phosphoric củ các loạ đ?ờg (hexozodiphosphate và hoxozomonophosphate) cũg giả xuốg do tách thành acid phosphoric dư?i tác dụg củ các enzim tư?ng ứg
Các muố tan trong nư?c củ acid oxalic từ0.2% ởlá trà tăg lên 0.8% ởlá tràhéo
Acid limonic tăg lên 0.15%
Acid malic giam đ 0.206%
Viamin C giả khá lớ: trà tư?i chứ 162.47 mg/g: trà héo còn 143.06 mg/g
I.3.2.5 Sựbiế đ?i hoạ tính enzim:
Hoạ tính củ enzim tăg lên trong quá trình làm héo trà Đề này có ý nghĩ rấ quan trọg vì enzim đ?ợ hoạ hoá này sẽcó tác dụg làm biế đ?i hoá sinh củ giai đạ vò trà và lên men tạ thành màu
Tạ hình dáng xoă chặ cho cánh tra (tạ hình thứ đ?p cho sả phẩ trà)
Làm dậ tếbào củ lá trà đ? dịh ép, chủyế là catechin, chiế ra mặ ngoài củ lá tạ đề kiệ cho toàn bộenzim tiế xúc dịh chiế, có mặ oxi không khí thự hiệ quá trình oxi hoá lên men
Nhằ mụ đch làm cho chấ hoà tan nhanh ra nư?c pha tra, do tậ quán dùng trà đn chỉpha mộ
Trang 17Vò tra thư?ng tiế hành 3 lầ; mỗ lầ 45 phút Lầ thứnhấ tiế hành trong các máy vò mở nhữg lầ sau tiế hành trong các máy vò có bàn (nắ) ép Sau mỗ lầ vò, có sàng phân loạ trà đ? tách nhữg phầ trà nhỏlọ qua đ lên men trư?c, phầ trà to không lọ qua sàng đ?a đ vò tiế tụ sao cho đ? dậ củ tếbào ≥ 80%
Phân loạ trà còn có mụ đch đnh tơ vón cụ, giả nhẹnhiệ đ? củ khố trà vò, làm thoáng khí nhằ
đề chỈh quá trình oxy hoá và làm cho quá trình oxy hoá xả ra mộ cách đ?u đ?n và thuậ lợ
II.3 Các biế đ?i trong quá trình vò trà:
II.3.1 Sựhấ thụoxy trong thờ gian vò trà:
Theo chuyên gia vềtrà SUBE, sựhấ thu oxy vào khố trà vò lớ gấ 3 lấ so vớ khố trà lúc còn
II.3.2 Sựthay đ?i nhiệ đ? củ khố trà trong quá trình vò trà:
D
Do sựcọxát cơhọ củ khố trà vào thành vò và do sựphát triể củ quá trình oxy hoá khố trà vò
mà khố trà có khảnăg tựbố nóng trong máy vò Sau mỗ lầ vò 40-45 phút nhiệ đ? củ khố trà có
Hiệ tư?ng bố này nế kéo dài trong thờ gian vò sẽkhông có lợ vì nó dẫ đ?n lên men non làm giả đ mộ lư?ng lớ các chấ hoà tan và làm cho màu nư?c pha kém Cho nên ta cầ tiế hành phân loạ trà, nó khắ phụ hiệ tư?ng trên, làm nguộ và làm thoáng khố trà
II.3.3 Sựbiế đ?i các chấ trong quá trình vò trà
Do có xả ra quá trình oxy hoá nên hàm lư?ng các chấ biế đ?i nhưsau: lư?ng tanin giả xuốg
Tăg lên (oC)
Nhiệ đ?
củ khố Trà(oC)
Tăg lên (oC)
Nhiệ đ?
củ khố Trà(oC)
Tăg lên (oC)