Các yếu tố tác động đến biến đổi VHTN thiểu số ở Vn hiện nay ĐẶT VẤN ĐỀ Cuộc sống hiện đại trong sự hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh như vũ bão đã làm cho nhu cầu nhận thức sâu sắc vấn đề bảo tồn, ĐẶT VẤN ĐỀ Cuộc sống hiện đại trong sự hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh như vũ bão đã làm cho nhu cầu nhận thức sâu sắc vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và văn hoá tộc người trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Xu thế trở về cội nguồn để khẳng định những giá trị văn hoá truyền thống là hướng đi mang tính tất yếu của thời đại. Muốn nhận diện được sự biến đổi văn hóa từ truyền thống đến hiện đại trong giao lưu hội nhập trên những bình diện mới giữa các quốc gia dân tộc hiện nay thì vấn đề bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa tộc người có ý nghĩa lớn lao trong việc tham gia đối thoại với các nền văn hóa, văn minh trong khu vực và có thể xa hơn, rộng hơn. Sự cần thiết của việc nghiên cứu so sánh văn hoá của 54 tộc người trên lãnh thổ Việt Nam, nhất là giữa văn hoá của người Kinh (Việt) và văn hoá các tộc người khác đã từ lâu được giới nghiên cứu văn hoá Việt Nam đề cập đến. Theo nhiều nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam, nghiên cứu so sánh văn hoá người Kinh với văn hoá các tộc người khác cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thực chất là đặt văn hoá Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á để phân tích, nhận diện một nền văn hoá đa tộc người nhưng được xác định trong một phức thể thống nhất. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phát triển trong bối cảnh của phát triển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị trường đã khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới, làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng đồng thời cũng nảy sinh những mặt tiêu cực, có nguy cơ hủy hoại bản sắc văn hóa dân tộc quốc gia cũng như bản sắc văn hóa tộc người. Có nhiều yếu tố tác động đến sự biến đổi của văn hóa tộc người. Chính vì vậy, trong khuôn khổ của bài tiểu luận, tác giả sẽ tìm hiểu đề tài “Các yếu tố tác động đến biến đổi Văn hóa tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay” cho môn Văn hóa tộc người.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc sống hiện đại trong sự hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh như vũbão đã làm cho nhu cầu nhận thức sâu sắc vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc vănhoá dân tộc và văn hoá tộc người trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Xu thế trở vềcội nguồn để khẳng định những giá trị văn hoá truyền thống là hướng đi mangtính tất yếu của thời đại Muốn nhận diện được sự biến đổi văn hóa từ truyềnthống đến hiện đại trong giao lưu hội nhập trên những bình diện mới giữa cácquốc gia dân tộc hiện nay thì vấn đề bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vàvăn hóa tộc người có ý nghĩa lớn lao trong việc tham gia đối thoại với các nềnvăn hóa, văn minh trong khu vực và có thể xa hơn, rộng hơn Sự cần thiết củaviệc nghiên cứu so sánh văn hoá của 54 tộc người trên lãnh thổ Việt Nam, nhất làgiữa văn hoá của người Kinh (Việt) và văn hoá các tộc người khác đã từ lâu đượcgiới nghiên cứu văn hoá Việt Nam đề cập đến Theo nhiều nhà nghiên cứu vănhoá Việt Nam, nghiên cứu so sánh văn hoá người Kinh với văn hoá các tộc ngườikhác cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thực chất là đặt văn hoá Việt Nam vào bốicảnh Đông Nam Á để phân tích, nhận diện một nền văn hoá đa tộc người nhưngđược xác định trong một phức thể thống nhất
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phát triển trong bối cảnh của pháttriển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường đã khơi dậy mọitiềm năng sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, tạo thêmnhiều giá trị văn hóa mới, làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng đồngthời cũng nảy sinh những mặt tiêu cực, có nguy cơ hủy hoại bản sắc văn hóa dântộc quốc gia cũng như bản sắc văn hóa tộc người Có nhiều yếu tố tác động đến
sự biến đổi của văn hóa tộc người Chính vì vậy, trong khuôn khổ của bài tiểu
luận, tác giả sẽ tìm hiểu đề tài “Các yếu tố tác động đến biến đổi Văn hóa tộc người thiểu số ở Việt Nam hiện nay” cho môn Văn hóa tộc người.
Trang 2CHƯƠNG I VĂN HÓA TÔC NGƯỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HÓA TÔC NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Văn hóa và văn hóa tộc người
Quan điểm biện chứng khẳng định rằng, sự tồn tại của con người và xã hội
là cuộc đấu tranh nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần trong cuộc sốngcủa mình Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tượng phổ quát của xãhội loài người nói chung và các tộc người
Trong quá trình đó, con người với tính cách là con người hiện thực, là chủthể lịch sử của quá trình thành và phát triển gắn với sự biến đổi của phương thứcsản xuất trong những điều kiện địa lý tự nhiên và xã hội nhất định Chính sự tìmkiếm các phương thức sống đã hình thành nên những lối sống khác nhau, nhữngcách thức sinh hoạt khác nhau, gắn với kinh tế chiếm đoạt, kinh tế chăn dắt bầyđàn, kinh tế trồng trọt (lúa nước và lúa khô) Đây là cơ sở của sự hình thành cácdạng thức đặc trưng văn hóa khác nhau Trong lịch sử truyền thống, hai loại hìnhvăn hóa gốc du mục và văn hóa gốc nông nghiệp là nổi trội nhất
Văn hóa là sản phẩm kết quả của tư duy, hoạt động sáng tạo của conngười, gắn bó với môi trường thiên nhiên cụ thể và trong tổ chức xã hội của cáccộng đồng người qua từng giai đoạn lịch sử Nói cách khác, văn hóa là tất cảnhững gì con người đã bỏ công sức để tạo ra, khác với những gì tồn tại trong tự
nhiên ngoài con người Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm khẳng định “Văn hóa
là hệ thống hữu cơ những giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo ra
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” Cho nên, có thể căn cứ vào vào mức độ được
con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khaithác, cải tạo thì có thể xét trình độ văn hóa chung của con người (C.Mác) Tuynhiên, quá trình hình thành và phát triển của các dạng thức văn hóa là không
Trang 3thuần nhất, mà có sự đan cài phức tạp giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản địa
và ngoại lai, giữa cưỡng bức và tự nguyện
Đó cũng chính là quy luật của hình thành văn hóa tộc người Sự vận động
về mặt vật chất và tinh thần của chủ thể tộc người luôn luôn gắn với thời gian vàkhông gian cụ thể Quá trình quan hệ với tự nhiên và xã hội, các tộc người đãsáng tạo những sản phẩm có giá trị, đồng thời qua đó thể hiện mình trước tựnhiên và xã hội Văn hóa chính là sự thể hiện mình theo một cách riêng, trongđiều kiện cụ thể của một chủ thể văn hóa Trong trường hợp này, một trongnhững định nghĩa văn hóa sau đây đáp ứng được các ý nghĩa khi tiếp cận nghiên
cứu văn hóa tộc người: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng
tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu-những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Trong mối liên hệ với văn hóa tộc người,
văn hóa trước hết là những sáng tạo giá trị mang tính nhân sinh, là yếu tố để phânbiệt đặc tính riêng của các cộng đồng dân tộc
Từ sự phân tích trên đây, khái niệm văn hóa tộc người được hiểu như sau:
Văn hóa tộc người là tổng thể sống động các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, thể hiện bản sắc tộc người, là bộ phận hữu cơ của văn hóa quốc gia
Có thể tham khảo một định nghĩa khác: Văn hóa tộc người là toàn bộ nhữnggiá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trongquá trình sinh tồn và phát triển, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội, nó phản ánhnhững đặc điểm trong tư duy và lao động sáng tạo của các tộc người trong các giaiđoạn phát triển với các thông tin về nội hàm và ngoại diên phản ánh sự vận độngnội tại và trong mối quan hệ văn hóa ở cấp độ tộc người và quốc gia
Trang 4Dù cách thức diễn đạt khác nhau, nhưng nói đến văn hóa tộc người là nóiđến giá trị; các giá trị do cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử; làcăn cứ quan trọng để phân biệt tộc người; là bộ phận cấu thành văn hóa quốc gia.
Sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện trên ba cấp độ: văn hóa tộc người,văn hóa nhóm ngôn ngữ - tộc người và văn hóa nhóm địa phương của tộc người(Ngô Đức Thịnh) Văn hóa tộc người thể hiện sống động toàn bộ cuộc sống củamột cộng đồng tộc người trong suốt quá trình lịch sử Trong mối liên hệ hữu cơgiữa các yếu tố, ý thức tự giác tộc người thể hiện sâu sắc bản sắc văn hóa tộcngười, không chỉ ở tộc danh mà còn là những nét đặc thù về phong cách sống,sinh hoạt, ứng xử và quan niệm giá trị Nói đến văn hóa tộc người là nói đếnnhững khía cạnh tiêu biểu của tộc người đó tạo những nét khác biệt với văn hóatộc người khác Văn hóa tộc người vừa là cái bên ngoài vừa là cái bên trong củatiến trình vận động và phát triển tộc người
1.2 Các dạng thức cơ bản của văn hóa tộc người
Dạng thức chính là sự tồn tại của sự vật, hiện tượng bằng những hình thức,cách thức nhất định Sự phân biệt các dạng thức văn hóa thường căn cứ vào cácgóc độ tiếp cận về tính hệ thống, tính giá trị, hình thức tồn tại của văn hóa hay cơ
sở của sáng tạo văn hóa Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh phân chia cácdạng thức văn hóa ở Việt Nam như sau:
- Văn hóa cộng đồng (bao gồm văn hóa tộc người; văn hóa quốc gia; vănhóa làng; văn hóa gia đình, gia tộc và dòng họ; văn hóa tôn giáo tính ngưỡng; vănhóa nghề nghiệp);
- Văn hóa cá nhân;
- Văn hóa vùng lãnh thổ;
- Văn hóa sinh thái
Trang 5Theo quan điểm trên, văn tộc người là một trong sáu dạng thức quan trọngcủa văn hóa cộng đồng Quan điểm này cũng phân chia văn hóa tộc người ViệtNam thành các dạng thức dựa trên căn cứ chính là theo nhóm ngôn ngữ:
Từ căn cứ phân chia này, biểu hiện cụ thể của dạng thức văn hóa tộc người
sẽ được nghiên cứu trên các phương diện: Chủ nhân văn hóa tộc người là ai?
Không gian sinh sống và sinh hoạt kinh tế? Những sáng tạo thể hiện ở giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần? Văn hóa tộc người được nhìn nhận trong mối
quan hệ giữa chủng tộc - ngôn ngữ và văn hóa Những nội dung này sẽ được trìnhbày cụ thể trong phần nghiên cứu về văn hóa tộc người của Việt Nam
Cũng có thể phân chia các dạng thức văn hóa tộc người dựa trên căn cứ vềnhu cầu và hình thức tồn tại của các sản phẩm sáng tạo Văn hóa tộc người sẽđược phân chia dưới hai dạng thức: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể củatộc người Đây là những giá trị cơ bản của văn hóa tộc người, kết quả tư duy vàlao động sáng tạo của các cộng đồng tộc người trong quá trình lịch sử tồn tại vàphát triển
Về dạng thức văn hóa vật thể của tộc người, có thể đồng tình với quanniệm:
Văn hóa vật thể được là những giá trị văn hóa do các cộng đồng tộc người sáng tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại, lao động, sinh hoạt gia
Trang 6đình và cộng đồng , có kết cấu vật chất không gian ba chiều mà chúng ta có thể cầm nắm, cân, đong, đo đếm được
Theo định nghĩa này, biểu hiện của dạng thức văn hóa vật thể trong đờisống của các cộng đồng tộc người rất đa dạng và phong phú, bao gồm các sángtạo nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người và cộng đồng Về cơ bản, cácgiá trị sáng tạo là tương đồng, song có sự phân biệt bản sắc cá tính tộc người biểuhiện trong tư duy kỹ thuật canh tác, loại hình kinh tế-văn hóa, tư duy thẩm mỹ
Dạng thức văn hóa phi vật thể được quan niệm:
Văn hóa phi vật thể là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong hoạt động
tư tưởng và văn hóa-nghệ thuật mà thể hiện ra khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó Văn hóa phi vật thể của tộc người theo quan niệm này, bao gồm
các giá trị về cơ cấu, tổ chức xã hội (gia đình, dòng họ, cộng đồng ); những giátrị tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh; những giá trị văn học, nghệthuật; giá trị về tri thức dân gian
Sự phân chia các dạng thức văn hóa tộc người có ý nghĩa quan trọng trongnghiên cứu giá trị, bản sắc văn hóa tộc người, đặc biệt nghiên cứu mối quan hệgiữa văn hóa tộc người trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa quốcgia dân tộc
1.3 Chức năng tộc người của văn hoá
Chức năng tộc người của văn hoá có thể khái quát lại trong sáu từ, đó làbảo tồn, chọn lọc và điều tiết các giá trị văn hoá tộc người Ngoài việc duy trì sựtồn tại của tộc người, theo chúng tôi, chức năng tộc người của văn hoá còn có banhiệm vụ sau:
Trang 7Thứ nhất, chức năng tộc người của văn hoá có nhiệm vụ bảo tồn bản sắcvăn hoá tộc người để chống lại những ảnh hưởng có tính áp đặt hoặc có tính lấn
át Các tộc người đã bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống của tộc ngườimình trong các pho truyền 7 thuyết, các bộ sử thi, các áng truyện thơ và kho tàngtục ngữ, ca dao, dân ca…, với các tác phẩm đặc sắc như Khảm hải, Nam Kim ThịĐan của người Tày; Đẻ đất đẻ nước của người Mường; Sóng chụ xon sao củangười Thái; Đam San, Xing Nhã của người Ê-đê và ngay trong cả những tínngưỡng, lễ hội dân gian … Hơn nữa, tộc người Kinh (Việt) với khả năng tiếpnhận và khả năng lan toả của văn hoá tộc người chủ thể đã bảo lưu những giá trịvăn hoá tộc người trong sự gắn kết văn hoá dân tộc Vì “văn hoá Việt do khảnăng thâu nhận cao nên cũng có độ lan tỏa và ảnh hưởng đối với văn hoá tộcngười khác trong phạm vi quốc gia Việt Nam” Chức năng tộc người của văn hoálàm cho văn hoá không bị đứt mạch Chức năng tộc người của văn hoá cũng lànền tảng để trên cơ sở đó tiếp thu những cái mới
Thứ hai, chức năng tộc người của văn hoá còn làm nhiệm vụ chọn lọc cácyếu tố văn hoá ngoại tộc để làm giàu thêm cho văn hoá tộc người Tìm ra đượccác tín hiệu văn hoá mang tính đặc trưng tộc người bằng phương pháp giải mãvăn hoá các biểu tượng văn hoá dân gian sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ hơn chứcnăng tộc người của văn hoá trong việc "chọn lọc" theo hai tiêu chuẩn: Một là,chọn lọc phải là những cái mới, cái có ý nghĩa phát triển chứ không phải là cái lạ.Cái lạ có khi chính lại là cái cản trở Ngay vấn đề văn hoá trong xã hội hiện đại
đã cung cấp nhiều bằng chứng của sự chọn lọc văn hoá Hiện tượng nhạc Rock,
đó là cái mới có ý nghĩa phát triển, làm cho con người nhất là giới trẻ trở nênnăng động hơn, đáp ứng được lối sống hiện đại Nhưng hiện tượng "lắc" lại là cái
lạ có ý nghĩa kìm hãm làm suy thoái thể chất và tinh thần Dưới góc độ nghiêncứu xã hội học và văn hoá học thì nó còn làm băng hoại cả một thế hệ nếu nhưkhông được ngăn chặn kịp thời Hai là, chọn lọc những cái có thể tạo nên sự hài
Trang 8hoà, hội nhập một cách tự nhiên Để làm rõ ý này, chúng tôi muốn mượn mộthình ảnh trong y học để so sánh Khi được cấy ghép một bộ phận nào trong cơthể, điều đó có nghĩa là, con người phải tạo ra một sức đề kháng để dung nạp,tiếp nhận và cũng để đào thải những yếu tố lạ không thể cùng chung sống được.Biện chứng của tự nhiên và biện chứng của xã hội đều thể hiện những nguyên lý
đó Nhưng có điều là trong biện chứng xã hội thì sự ẩn tàng nhiều chứ không lộsáng, không dễ nắm bắt
Thứ ba, chức năng tộc người của văn hoá luôn giữ vai trò điều tiết đờisống văn hoá cộng đồng vừa tương đồng ổn định bền vững vừa giao lưu hội nhập
và phát triển Văn hoá tộc người giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc khẳngđịnh bản sắc văn hoá dân tộc Nếu nói “văn hoá là sự bộc lộ đặc thù của lối sống,hành vi ứng xử của các dân tộc riêng biệt, phương thức cảm nhận thế giới đặcbiệt của nó trong huyền thoại, truyền thuyết, hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo bằng
sự định hướng giá trị đã mang lại ý nghĩa cho sự tồn tại của con người” thì vănhoá tộc người nằm trong chính hệ quy chiếu đó Một nền văn hoá bao giờ cũnghàm chứa nhiều yếu tố, trong đó yếu tố văn hoá tộc người là một trong những yếu
tố quan trọng của nền văn hoá có nhiều thành phần tộc người như nền văn hoáViệt Nam
Đó là nền văn hoá có cội nguồn và bản sắc riêng của ba phức thể văn hoá lúanước với ba yếu tố: văn hoá rừng núi, văn hoá đồng bằng, văn hoá biển, yếu tốđồng bằng tuy có sau nhưng lại đóng vai trò chủ thể Như vậy, nền văn hoá riêngcủa mỗi tộc người đã trở thành những thành phần hữu cơ của nền văn hoá ViệtNam qua sự liên kết và điều tiết của chức năng tộc người của văn hoá thông qua
sự giao lưu tiếp biến văn hoá giữa các tộc người
Trang 9CHƯƠNG II CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI VÀ THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỘC NGƯỜI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra mộtsân chơi chung, trong đó sự phát triển của các các quốc gia về kinh tế, xã hội vàvăn hóa có sự gắn kết với sự phát triển của khu vực và thế giới Dù muốn hay haykhông, dù nhìn từ góc độ nào, thì văn hóa quốc gia cũng như văn hóa tộc ngườiđều bị ảnh hưởng, chi phối của quá trình đó
Có thể thấy một mặt, sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếđang mở ra cho mỗi quốc gia dân tôc cơ hội để khai thác những gì tốt nhất cho sựphát triển Đây cũng là cơ hội để văn hóa mỗi dân tộc tự khẳng định mình Khôngthể phủ nhận được sự làm giàu văn hóa nhân loại từ những bản sắc văn hóa củatừng dân tộc và từng tộc người, khi những di sản văn hóa riêng đó đượcUNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới Quá trình đó cũng đang tạo điềukiện cho mỗi quốc gia, dân tộc cơ hội tiếp nhận chuyển giao về khoa học côngnghệ phục vụ cho sáng tạo, bảo quản, quảng bá văn hóa, phát triển công nghiệpvăn hóa… Nhưng mặt khác cũng cho thấy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế cũng đưa đến nguy cơ làm xói mòn, thậm chí triệt tiêu sự khác biệt văn hóadân tộc Sự cảnh báo hãy coi “xâm lăng về văn hóa là sự xâm lăng cuối cùng vàtriệt để nhất” không là ngoại lệ đối với dân tộc quốc gia nào
Trong bối cảnh đó, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng đangdiễn ra một quá trình hội nhập giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa vănhóa tộc người và văn hóa quốc gia, văn hóa quốc tế rất mạnh mẽ và rộng khắp
Dù chậm so với vùng xuôi, vùng đô thị, nhưng đời sống kinh tế của đồng bào dântộc thiểu số đang ngày một được cải thiện Điều đó tạo cơ sở cho sự biến đổi
Trang 10trong đời sống văn hóa Về mặt tích cực, đồng vào dân tộc đã có điều kiện để tiếpnhận tinh hoa văn hóa nhân loại, loại bỏ những hủ tục, lạc hậu, thay vào đó cácyếu tố văn hóa mới, hiện đại
Có thể thấy văn hóa các dân tộc thiểu số nước ta đang vận động, biến đổitheo các xu hướng:
- Xu hướng giao lưu văn hóa giữa các tộc người Trước hết, đó là sự biếnđổi trong phân bố dân cư giữa các tộc người thiểu số Nhiều vùng đồng bào dântộc trên cả nước ta hiện nay, rất ít có làng thuần nhất chỉ có một tộc người cư trú,
mà thường là cộng cư, xen kẽ Điều đó đã và đang tạo ra những biến đổi về vănhóa tộc người sâu sắc
- Xu hướng chịu ảnh hưởng của hội nhập và văn hóa hiện đại Sự giao lưuvăn hóa này diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các mặt, từ văn hóa sản xuất, khoa họccông nghệ, kiến trúc nhà cửa, sinh hoạt, ẩm thực, trang phục… đến việc đón nhậncác giá trị văn hóa hiện đại
- Xu hướng đồng hóa về văn hóa Thực ra, đồng hóa văn hóa cũng là vấn
đề có tính quy luật trong tiến trình của các tộc người, có cả đồng hóa tự nhiên vàđồng hóa cưỡng bức Trái với sự áp đặt của đồng hóa cưỡng bức, đồng hóa tựnhiên là quá trình tiếp nhận văn hóa một cách tự nguyện giữa các tộc người cótrình độ phát triển cao hơn, để hoàn thiện, nâng cao văn hóa của tộc người mình
- Xu hướng mai một, đứt gãy văn hóa Đây là xu hướng biến đổi văn hóatruyền thống của các tộc người theo hướng suy thoái, nghèo nàn đi Nhiều giá trịvăn hóa tộc người bị mai một, đứt gãy, tạo nên sự hẫng hụt mai một văn hóa
- Xu hướng phục hồi văn hóa truyền thống Xu hướng này cũng diễn ra tấtyếu, do nhu cầu của chủ thể sáng tạo, do tác động của các yếu tố khách quan
2.2 Quan điểm quốc tế về đa dạng văn hóa
Năm 2001, UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới
đã đã đưa ra những quan điểm quan trọng về Đa dạng văn hóa, Văn hóa và pháttriển, Văn hóa và bản sắc Bản chất của đa dạng văn hoá là khẳng định tôn trọngbản sắc văn hoá dân tộc thống nhất trong văn hoá chung của nhân loại Đa dạng
Trang 11văn hoá là chấp nhận có các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, tức là đề cậpđến vấn đề bản sắc từ cấp độ quốc gia, dân tộc, nhóm tộc người, nhóm xã hội đếncấp độ cá thể (nhân cách)
Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor đã nhấn mạnh: “Kinh nghiệmcủa hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độphát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển làhai mặt gắn liền với nhau ( ) Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu pháttriển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mấtcân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo củanước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sửdụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng Vì vậy phân tíchđến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải đượctìm trong văn hóa ( ) Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sungtrực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vịtrí trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội ”
Quan điểm trên đây cho thấy văn hóa là đối thoại, là sự xâm nhập, đan xen,trao đổi, tác động qua lại và có chút pha trộn giữa các yếu tố nội sinh và ngoạisinh Không có nền văn hóa nào trên thế giới lại tuyệt đối đơn lẻ, thuần khiết vàkhông bị ảnh hưởng bởi bất cứ nền văn hóa nào khác Sự vận động, biến đổi củavăn hóa tộc người là quy luật khách quan Không vận động, biến đổi cũng làđồng nghĩa với sự suy thoái Phải nhận thức đúng để hạn chế những mặt tiêu cực
Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dântộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong xu thế hội nhập làvấn đề lớn, phù hợp với định hướng bảo vệ di sản văn hóa của Đảng và Nhà nước
ta Làm thế nào để vừa bảo tồn nhưng vẫn phải duy trì được sự phát triển theo xuhướng tiến bộ của xã hội, bảo vệ văn hóa truyền thống trong nền văn minh côngnghiệp Bảo vệ, bảo tồn nhưng vẫn phải bảo đảm cho những chủ thể ở đây đượchòa nhập, được hưởng thụ những thành quả mà xã hội đem lại
2.3 Thực trạng biến đổi giá trị văn hóa tộc người