TIỂU LUẬN MÔN LUẬT LAO ĐỘNG_ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Chị A làm việc cho công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ 0162015. Ngày 2052021, Giám đốc công ty X tiến hành các thủ tục theo quy định để xử lý kỉ luật sa thải đối với A vì lý do A tự ý nghỉ việc từ ngày 293 – 842021. Trong quá trình xử lý kỉ luật, A tỏ thái độ phản đối hình thức kỉ luật sa thải của Công ty vì cho rằng A nghỉ việc chăm sóc bà ngoại ốm là lý do chính đáng.
Trang 1MỤC LỤC
Câu 1: Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về đình công? 1
II Điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về đình công 2
1 Về quyền đình công và các trường hợp đình công của người lao
2 Về chủ thể có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công 4
3 Về sửa đổi, bổ sung các trường hợp đình công bất hợp pháp 5
4 Về xử lý cuộc đình công không đúng trình tự, thủ tục 6
1 A có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu giải quyết
2 Việc công ty xử lý kỉ luật sa thải đối với A có hợp pháp không? 12
3 Giải quyết chế độ quyền lợi ích cho A theo quy định của pháp luật? 143.1 Về trách nhiệm thanh toán các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi
3.2 Về trách nhiệm hoàn thành thủ tục liên quan đến giấy tờ 15
4 Ngoài xử lý kỉ luật sa thải, công ty có cách nào để chấm dứt quan hệ
Trang 2Bài 4:
Câu 1: Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về đình công? Câu 2: Chị A làm việc cho công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ 01/6/2015 Ngày 20/5/2021, Giám đốc công ty X tiến hành các thủ tục theo quy định để xử lý kỉ luật sa thải đối với A vì lý do A tự ý nghỉ việc từ ngày 29/3 – 8/4/2021 Trong quá trình xử lý kỉ luật, A tỏ thái độ phản đối hình thức kỉ luật sa thải của Công ty vì cho rằng A nghỉ việc chăm sóc bà ngoại ốm là
lý do chính đáng Hỏi:
1 A có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu giải quyết tranh chấp?
2 Việc công ty xử lý kỉ luật sa thải đối với A có hợp pháp không?
3 Giải quyết chế độ quyền lợi ích cho A theo quy định của pháp luật?
4 Ngoài xử lý kỉ luật sa thải, công ty có cách nào để chấm dứt quan hệ lao động với A không?
Trang 3Câu 1: Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về đình công?
I Khái niệm đình công
Dưới góc độ xã hội, đình công là hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại mộtcách khách quan trong nền kinh tế thị trường
Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh của NLĐ nhằm bảo
vệ các quyền và lợi ích kinh tế, xã hội, lao động… mà họ quan tâm
Dưới góc độ pháp lý, đình công là quyền của NLĐ được pháp luật thừanhận trong một phạm vi nhất định NLĐ có quyền ngừng việc tạm thời để buộcNSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn các yêu sách về kinh tế, xã hội, laođộng mà họ quan tâm Đây được coi là một trong những quyền cơ bản của NLĐ.Quyền đình công đã được quốc tế công nhận và quy định trong Điều 8Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên hợp quôc năm 1966
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) không đưa ra một định nghĩa về đình công(không nêu ra các dấu hiệu để nhận dạng đình công và phân biệt đình công vớicác hiện tượng xã hội gần giống nó) mà ILO chỉ chỉ ra rằng đình là một trongnhững biện pháp để bảo vệ người lao động và đình công nhằm đạt được cácmục đích về kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam, định nghĩa về đình công được đưa ra trong BLLĐ năm 2019,
theo đó tại Điều 198 quy định: "Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện
và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo".
Như vậy đình công là hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường,chỉ phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội mà nó tồn tại chứ không phụthuộc vào các quan điểm hay sự ghi nhận của pháp luật Từ bản chất của vấn đề
Trang 4công như sau: Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện, có tổ chức của tập thể lai động nhằm thỏa mãn yêu sách của những NLĐ tham gia đình công.
II Điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về đình công
1 Về quyền đình công và các trường hợp đình công của người lao động
Khoản 1 Điều 209 BLLĐ 2012 quy định: "Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động" quy định này đã chỉ ra được
bản chất của đình công (sự ngừng việc tạm thời), tính chất của đình công (tựnguyện và có tính tổ chức), chủ thể của quyền đình công (tập thể lao động) vàmục đích sử dụng quyền đình công của tập thể lao động (nhằm đạt được yêucầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động) Trên tinh thần đó, BLLĐ
2019 tiếp tục sửa đổi bổ sung hoàn thiện về khái niệm đình công tại Điều 198:
"Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và
do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo" BLLĐ 2019 đã trình bày một cách cụ thể hơn về thẩm quyền lãnh đạo cuộc đình công là "do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo" Việc quy định khái niệm đình công như trên có tác
dụng lớn trong việc nhận diện đình công, thống nhất cách nhìn nhận, thầmquyền lãnh đạo đình công và có thể phân biệt được đình công với một số hiệntượng khác như bỏ việc, làm việc cầm chừng, làm việc chiếu lệ, ngừng việc tậpthể, phản ứng tập thế…1
Khoản 8 Điều 3 BLLĐ 2012 quy định: "Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động phát sinh
từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động,
1 Hoàng Trung Hiếu, Điểm mới về Đình công trong Bộ luật Lao dộng năm 2019, Tạp chí Dân chủ pháp
Trang 5thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thoả thuận hợp pháp khác" Theo đó, BLLĐ 2012 cũng xác định cơ chế giải quyết tranh chấp lao động
về quyền theo trình tự: (1) Hòa giải viên lao động; (2) Chủ tịch UBND cấp huyện; (3) Tòa án nhân dân BLLĐ 2012 không quy định việc giải quyết tranh chấp này
bằng hình thức đình công
Hiện nay để đảm bảo những nguyên tắc của quyền tổ chức và thươnglượng tập thể theo Công ước số 98, BLLĐ 2019 đã quy định cụ thể hơn nhữngtrường hợp tranh chấp lao động tập thể về quyền, gồm: (1) Có sự giải thích vàthực hiện khác nhau các quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy laođộng, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác; (2) Có sự giải thích và thực hiệnkhác nhau các quy định của pháp luật về lao động; (3) Khi NSDLĐ có hành viphân biệt đối xử đối với NLĐ, cán bộ tổ chức đại diện NLĐ vì lí do thành lập, gianhập, hoạt động trong tổ chức đại diện NLĐ; hoặc vi phạm nghĩa vụ về thươnglượng thiện chí Trong việc giải quyết tranh chấp lao động về quyền gắn với nộidung này, luật quy định tổ chức của NLĐ được áp dụng hình thức đình công saukhi đã tiến hành các bước hào giải theo quy định Như vậy, quy định về giảiquyết tranh chấp lao động về quyền trong BLLĐ 2019 vừa có sự kế thừa quyđịnh trước đây, đông thời cụ thể hóa nội dung Công ước 98
Theo BLLĐ 2012, để được đình công, người lao động phải thực hiện cácbước từ hòa giải, tới trọng tài lao động, tóa án (Điều 211) Sau đó, tổ chức côngđoàn mới được lấy ý kiến người lao động, thông báo thời gian đình công (Điều212)… Do đó, từ lúc tranh chấp tới khi tổ chức đình công được cũng phải mấtgần 1 tháng Do thời gian thực hiện các bước trên quá lâu và công đoàn chưathể đứng ra tổ chức đình công bởi chức năng đại diện của tổ chức Công đoàn,nhất là công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp chưa đượcphát huy, phần lớn còn mang tính hình thức, thiếu thực chất, chưa thực hiệnđược vai trò lãnh đạo, tổ chức đình công theo quy định của pháp luật Nhữngnăm qua nhiều cuộc đình công đều tự phát và được xếp vào diện bất hợp pháp
Trang 6sung các trường hợp người lao động có quyền đình công cụ thể như sau:
"1 Hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải (05 ngày làm việc kể
từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan có thẩm quyền - khoản 2 Điều 188 của Bộ luật này)
mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải;
2 Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc thành lập nhưng không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động.
Có thể thấy rằng, việc quy định sửa đổi như trên góp phần giúp người laođộng xác định được rõ các trường hợp mà họ có quyền đình công, đồng thờigiúp người lao động có thể linh hoạt hơn, việc hòa giải không nhất thiết đi theotrình tự, để người lao động lựa chọn phương thức hòa giải nào nhanh nhất.Cùng đó, thời gian để thực hiện các bước để tiến tới đình công cũng được rútngắn Việc sửa đổi BLLĐ 2019 có thêm các tổ chức đại diện NLĐ (ngoài côngđoàn) sẽ hỗ trợ người lao động tốt hơn trong việc giải quyết tranh chấp, từ đónâng cao hiệu quả2
2 Bình luận những điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019, Đồng chủ biên: Trần Thị Thuý Lâm, Đỗ Thị Dung ; Hà Thị Hoa Phượng, Đoàn Xuân Trường, Nguyễn Tiến Dũng , Nxb Lao động, Hà Nội, 2021
Trang 72 Về chủ thể có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công
Ngay trong khái niệm đình công quy định tại Điều 198 BLLĐ 2019, việc tiếnhành đình công được quy đình do tổ chức đại diện NLĐ có quyền thương lượngtập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo Đối chiếuvới quy định tại Điều 210 BLLĐ 2012 về tổ chức và lãnh đạo đình công thì:
"1 Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo.
2 Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động".
Về lãnh đạo đình công, BLLĐ 2019 bổ sung tổ chức Công đoàn được lãnhđạo đình công, các tổ chức đại diện NLĐ khác cũng được phép lãnh đạo đìnhcông, việc đình công chỉ được thực hiện khi có đa số người lao động đồng ý.Việc bổ sung các quy định nêu trên giúp cho việc quản lý có hiệu quả, đảm bảocác tranh chấp lao động được giải quyết nhanh chóng, thuận lợi, hiệu quả, đúngpháp luật theo nguyên tắc của quan hệ lao động
3 Về sửa đổi, bổ sung các trường hợp đình công bất hợp pháp
Điều 215 BLLĐ 2012 quy định về những trường hợp đình công bất hợppháp bao gồm: Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Tổchức cho những người lao động không cùng làm việc cho một người sử dụnglao động đình công Khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặcđang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của BLLĐ Tiếnhành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủquy định Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công
Điều 204 BLLĐ 2019 đã thay đổi những quy định về vấn đề này như sau:
“1 Không thuộc trường hợp được đình công quy định tại Điều 199 của Bộ luật này.
Trang 82 Không do tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công.
3 Vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành đình công theo quy định của Bộ luật này.
4 Khi tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật này.
5 Tiến hành đình công trong trường hợp không được đình công quy định tại Điều 209 của Bộ luật này.
6 Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 210 của Bộ luật này.”
Đối chiếu với BLLĐ 2012 có thể thấy BLLĐ 2019 đã bổ sung 03 trường hợpđình công bất hợp pháp đó là: Cuộc đình công vi phạm các quy định về trình tự,thủ tục tiến hành đình công; Không do tổ chức đại diện người lao động cóquyền tổ chức và lãnh đạo đình công; Không thuộc trường hợp được đình côngquy định tại Điều 199 của BLLĐ 2019
Bên cạnh việc bổ sung các trường hợp được coi là đình công bất hợp pháp,BLLĐ 2019 cũng bỏ 03 trường hợp đình công tại BLLĐ 2012, cụ thể: Không phátsinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Tổ chức cho những người laođộng không cùng làm việc cho một người sử dụng lao động đình công Khi vụviệc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức,
cá nhân giải quyết theo quy định của BLLĐ
4 Về xử lý cuộc đình công không đúng trình tự, thủ tục
Việc xử lý cuộc đình công không đúng theo trình tự, thủ tục tại BLLĐ 2012bao gồm 05 bước:
Một là, NSDLĐ báo lên chính quyền cấp huyện hoặc công đoàn KCN Hai là,
chủ tịch huyện chỉ đạo Phòng Lao động, Thương binh và xã hội điều tra trong
Trang 9thời hạn 24 giờ Ba là, sau khi nhận được báo cáo của Phòng Lao động, Thương
binh và xã hội chủ tịch huyện báo cáo cho chủ tịch tỉnh trong thời hạn 12 giờ
Bốn là, chủ tịch tỉnh ra quyết định tuyên bố cuộc đình công trái thủ tục trong thời hạn 12 giờ Năm là, chủ tịch huyện chỉ đạo Phòng Lao động, Thương binh
và xã hội đến hỗ trợ trong thời hạn 12 giờ
Tổng cộng theo quy trình này để xử lý việc đình công cần tối đa 2 ngàyrưỡi, trên thực tế, đây là một thời gian khá dài và thực sự không cần thiết bởi vìthông thường người lao động đình công tự phát chỉ muốn có được sự trợ giúp
từ chính quyền nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi ích chính đáng của mình.Điều 211 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định việc xử lý cuộc đình côngkhông đúng trình tự, thủ tục như sau:
“Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được thông báo về cuộc đình côngkhông tuân theo quy định tại các điều 200, 201 và 202 của Bộ luật này, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì, chỉ đạo cơ quan chuyên môn về lao độngphối hợp với công đoàn cùng cấp, cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp gặp
gỡ người sử dụng lao động và đại diện ban lãnh đạo tổ chức đại diện người laođộng tại cơ sở để nghe ý kiến, hỗ trợ các bên tìm biện pháp giải quyết, đưa hoạtđộng sản xuất, kinh doanh trở lại bình thường
Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì lập biên bản, tiếnhành xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cá nhân, tổ chức đãthực hiện hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật
Đối với các nội dung tranh chấp lao động thì tùy từng loại tranh chấp,hướng dẫn, hỗ trợ các bên tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp lao độngtheo quy định của Bộ luật này.”
Theo đó, so với BLLĐ 2012, Bộ luật Lao động năm 2019:
Trang 10- Bỏ quy định: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định tuyên bốcuộc đình công vi phạm trình tự, thủ tục và thông báo ngay cho Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp huyện khi việc tổ chức và lãnh đạo đình công không tuân theoquy định tại Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật này.
- Bổ sung các quy định: Trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luậtthì lập biên bản, tiến hành xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cánhân, tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của phápluật.Đối với các nội dung tranh chấp lao động thì tùy từng loại tranh chấp,hướng dẫn, hỗ trợ các bên tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp lao độngtheo quy định của Bộ luật này.”
So với BLLĐ 2012 BLLĐ 2019 đã bổ sung các phương án giải quyết cụ thể,tuy nhiên, vừa có quy định theo hướng ôn hòa trực tiếp gặp gỡ NSDLĐ và đạidiện ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để nghe ý kiến và
hỗ trợ các bên tìm biện pháp giải quyết, vừa đồng thời quy định đây là trườnghợp đình công bất hợp pháp sẽ dễ gây lúng túng cho các cơ quan chức năng và
cả NSDLĐ khi gặp phải trường hợp này
Những điểm mới của BLLĐ 2019 nói chung và những điểm mới về đìnhcông nói riêng được cho là kịp thời phù hợp trong việc điều chỉnh quan hệ laođộng trong thời kỳ hiện nay BLLĐ sửa đổi đóng vai trò quan trọng, tạo khungpháp luật tốt hơn về việc làm và quan hệ lao động, vẫn cần những văn bảnhướng dẫn cụ thể của cơ quan nhà nước để hoạt động lãnh đạo và tổ chức đìnhcông được thành công và đúng pháp luật
Câu 2: Tình huống
Chị A làm việc cho công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ 01/6/2015 Ngày 20/5/2021, Giám đốc công ty X tiến hành các thủ tục theo quy định để xử lý kỉ luật sa thải đối với A vì lý do A tự ý nghỉ việc từ ngày 29/3 – 8/4/2021 Trong quá trình xử lý kỉ luật, A tỏ thái độ phản đối hình thức
Trang 11kỉ luật sa thải của Công ty vì cho rằng A nghỉ việc chăm sóc bà ngoại ốm là lý
do chính đáng Hỏi:
1 A có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu giải quyết tranh chấp?
Khoản 1 Điều 179 BLLĐ 2019 quy định về tranh chấp lao động như sau:
“Điều 179 Tranh chấp lao động
1 Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động Các loại tranh chấp lao động bao gồm:
a) Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động;…
Dựa trên đặc điểm về tranh chấp lao động giữa công ty X là người sử dụnglao động với chị A là cá nhân người lao động, có thể xác định đây là tranh chấplao động cá nhân
Căn cứ theo Điều 187 BLLĐ năm 2019:
“ Điều 187 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân bao gồm:
1 Hòa giải viên lao động
2 Hội đồng trọng tài lao động
3 Tòa án nhân dân.”
Như vậy, việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân có thể thuộc thẩmquyền của Hoà giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động hoặc Toà án nhândân