MỤC LỤC Trang Mở đầu 2 Nội dung 3 I Quan niệm và các dạng thức cơ bản của văn hóa tộc người 3 1 Quan niệm và cơ sở hình thành Văn hóa tộc người 3 2 Các dạng thức cơ bản của văn hóa tộc người MỞ ĐẦU Việt Nam nói riêng và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nói chung là những quốc gia đa dân tộc, đồng thời một dân tộc có thể sống trên nhiều quốc gia. Điều này dẫn tới hai mối quan hệ: Một là, trong quá trình tích hợp văn hóa tộc người thành một cấu trúc dân tộc trong mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc chủ thể và dân tộc ít người, giữa các dân tộc với nhau là một quốc sách vô cùng quan trọng có thể nói là hàng đầu của Việt Nam. Hai là, dù có phân chia thành biên giới quốc gia, trong khi phải đảm bảo chủ quyền nhưng vẫn không thể ngăn cản mối quan hệ đồng tộc của họ bên nước bạn. Xây dựng tình đoàn kết dân tộc trong một quốc gia đồng thời cần quan tâm đến xu thế hoà hợp hội nhập dân tộc trong khu vực và quốc tế. Điều đó có nguyên nhân sâu xa trong lịch sử khu vực Đông Nam Á. Tại đây đã diễn ra những quá trình hội tụ phát tán dẫn đến những phức thể văn hóa mới chung cho toàn vùng. Bước hội tụ sau cao hơn bước hội tụ trước đồng thời cũng để lại nhiều sắc tộc, nhiều dấu ấn địa phương khác nhau. Do đó, đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á là “thống nhất trong đa dạng” và quá trình hội tụ bắt nguồn từ những trung tâm khác nhau nên nó không mang tính đơn tuyến trong sự biệt lập, mà là đa tuyến trong sự tiếp xúc đan xen nhiều chiều, tạo nên những đường đồng quy, những cơ chế văn hóa tộc người đa thành phần. Hiện nay, trên thế giới, xu hướng toàn cầu hóa đang ngày càng càng phổ biến sâu rộng hơn. Nó mở ra cơ hội phát triển cho các nước song cũng tạo ra những thách thức mới cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Việc giữ vững những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là những giá trị văn hóa quốc gia có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định nền chính trị. Từ đó sẽ tạo ra động lực cho sự hòa nhập, phát triển, ổn định của nước ta. Xuất phát từ những lý do trên mà người viết đã chọn đề tài “Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa tộc người với văn hóa quốc gia” làm đề tài tiểu luận nhằm làm rõ những tác động qua lại của 2 phạm trù này.
Trang 1MỤC LỤC
Trang Mở
đầu 2
Nội
dung 3
I Quan niệm và các dạng thức cơ bản của văn hóa tộc người 3
1 Quan niệm và cơ sở hình thành Văn hóa tộc người
3
8
II Mối quan hệ giữa văn hóa tộc người và văn hóa quốc gia 10
1 Văn hóa tộc người là bộ phận cấu thành và tồn tại song song với văn hóa
quốc gia 10
2 Văn hóa quốc gia tạo điều kiện cho văn hóa tộc người hội nhập và phát triển 13
Kết
luận 16
17
Trang 2MỞ ĐẦU
Việt Nam nói riêng và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nói chung là những quốc gia đa dân tộc, đồng thời một dân tộc có thể sống trên nhiều quốc gia Điều này dẫn tới hai mối quan hệ: Một là, trong quá trình tích hợp văn hóa tộc người thành một cấu trúc dân tộc trong mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc chủ thể và dân tộc ít người, giữa các dân tộc với nhau là một quốc sách vô cùng quan trọng có thể nói là hàng đầu của Việt Nam Hai là, dù có phân chia thành biên giới quốc gia, trong khi phải đảm bảo chủ quyền nhưng vẫn không thể ngăn cản mối quan hệ đồng tộc của họ bên nước bạn Xây dựng tình đoàn kết dân tộc trong một quốc gia đồng thời cần quan tâm đến xu thế hoà hợp hội nhập dân tộc trong khu vực và quốc tế Điều đó
có nguyên nhân sâu xa trong lịch sử khu vực Đông Nam Á Tại đây đã diễn ra những quá trình hội tụ - phát tán dẫn đến những phức thể văn hóa mới chung cho toàn vùng Bước hội tụ sau cao hơn bước hội tụ trước đồng thời cũng để lại nhiều sắc tộc, nhiều dấu ấn địa phương khác nhau Do đó, đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á là “thống nhất trong đa dạng” và quá trình hội tụ bắt nguồn từ những trung tâm khác nhau nên
nó không mang tính đơn tuyến trong sự biệt lập, mà là đa tuyến trong sự tiếp xúc đan
Trang 3xen nhiều chiều, tạo nên những đường đồng quy, những cơ chế văn hóa tộc người đa thành phần
Hiện nay, trên thế giới, xu hướng toàn cầu hóa đang ngày càng càng phổ biến sâu rộng hơn Nó mở ra cơ hội phát triển cho các nước song cũng tạo ra những thách thức mới cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Việc giữ vững những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt là những giá trị văn hóa quốc gia có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định nền chính trị Từ đó sẽ tạo ra động lực cho sự hòa nhập, phát triển,
ổn định của nước ta
Xuất phát từ những lý do trên mà người viết đã chọn đề tài “Tìm hiểu mối
quan hệ giữa văn hóa tộc người với văn hóa quốc gia” làm đề tài tiểu luận nhằm
làm rõ những tác động qua lại của 2 phạm trù này
I QUAN NIỆM VÀ CÁC DẠNG THỨC CƠ BẢN
CỦA VĂN HÓA TỘC NGƯỜI
1 1 Quan niệm và cơ sở hình thành Văn hóa tộc người
Văn hóa là sản phẩm kết quả của tư duy, hoạt động sáng tạo của con người, gắn bó với môi trường thiên nhiên cụ thể và trong tổ chức xã hội của các cộng đồng người qua từng giai đoạn lịch sử Nói cách khác, văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công sức để tạo ra, khác với những gì tồn tại trong tự nhiên ngoài con
người Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm khẳng định “Văn hóa là hệ thống hữu cơ những giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” Cho nên, có thể căn cứ vào vào mức độ được con người biến
thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì
có thể xét trình độ văn hóa chung của con người (C.Mác) Tuy nhiên, quá trình hình
Trang 4thành và phát triển của các dạng thức văn hóa là không thuần nhất, mà có sự đan cài phức tạp giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản địa và ngoại lai, giữa cưỡng bức và
tự nguyện
Đó cũng chính là quy luật của hình thành văn hóa tộc người Sự vận động về mặt vật chất và tinh thần của chủ thể tộc người luôn luôn gắn với thời gian và không gian cụ thể Quá trình quan hệ với tự nhiên và xã hội, các tộc người đã sáng tạo những sản phẩm có giá trị, đồng thời qua đó thể hiện mình trước tự nhiên và xã hội Văn hóa chính là sự thể hiện mình theo một cách riêng, trong điều kiện cụ thể của một chủ thể văn hóa Trong trường hợp này, một trong những định nghĩa văn hóa sau đây đáp ứng được các ý nghĩa khi tiếp cận nghiên cứu văn hóa tộc người:
“Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu-những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Trong mối liên hệ với văn hóa tộc người, văn hóa trước hết là những sáng
tạo giá trị mang tính nhân sinh, là yếu tố để phân biệt đặc tính riêng của các cộng đồng dân tộc
Trong quá trình vận động, trước cả khi nhà nước xuất hiện, các tộc người luôn
có ý thức xây dựng và bảo vệ tộc danh và ý thức tộc người cũng như kinh tế và văn hóa của cộng đồng mình Văn hóa chính vì vậy không những là yếu tố cấu thành tộc người, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, nghệ thuật, luật pháp, tập quán, sinh hoạt , mà còn thể hiện bản sắc của nhiều cộng đồng có chung tộc danh Những sáng tạo đó thể hiện năng lực con người với tính cách là thành viên của cộng đồng xã hội, nhằm đáp ứng những nhu cầu đời sống và những đòi hỏi của sự sinh tồn
Từ sự phân tích trên đây, khái niệm văn hóa tộc người được hiểu như sau:
Văn hóa tộc người là tổng thể sống động các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, thể hiện bản sắc tộc người, là bộ phận hữu cơ của văn hóa quốc gia
Trang 5Dù cách thức diễn đạt khác nhau, nhưng nói đến văn hóa tộc người là nói đến giá trị; các giá trị do cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử; là căn cứ quan trọng để phân biệt tộc người; là bộ phận cấu thành văn hóa quốc gia
Sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện trên ba cấp độ: văn hóa tộc người, văn hóa nhóm ngôn ngữ - tộc người và văn hóa nhóm địa phương của tộc người (Ngô Đức Thịnh) Văn hóa tộc người thể hiện sống động toàn bộ cuộc sống của một cộng đồng tộc người trong suốt quá trình lịch sử Trong mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố, ý thức
tự giác tộc người thể hiện sâu sắc bản sắc văn hóa tộc người, không chỉ ở tộc danh mà còn là những nét đặc thù về phong cách sống, sinh hoạt, ứng xử và quan niệm giá trị Nói đến văn hóa tộc người là nói đến những khía cạnh tiêu biểu của tộc người đó tạo những nét khác biệt với văn hóa tộc người khác Văn hóa tộc người vừa là cái bên ngoài vừa là cái bên trong của tiến trình vận động và phát triển tộc người
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ tầm quan trọng của vấn đề tộc người đối với mỗi quốc gia dân tộc và tác động của mối quan hệ tộc người trong sự phát triển chung của cả dân tộc Tại lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia vào ngày 26/12/2003, ông Đỗ Hoài Nam đã nhấn mạnh: "Sự hình thành dân tộc Việt Nam có liên quan đến vấn đề các tộc người cư trú trên dải đất Việt Nam tạo thành cộng đồng dân tộc Việt Nam" Việt Nam là một quốc gia, một cộng đồng dân tộc với 54 tộc người được chia theo các nhóm ngôn ngữ tộc người Điều dễ nhận thấy là các định nghĩa về tộc người thường nhấn mạnh yếu tố văn hóa như là dấu hiệu nhận diện quan trọng về tộc người Vào những năm 70 của thế kỷ trước, Iulian Vlađimirovich Bromlei (Nga) đã từng nhấn mạnh: trong cộng đồng tộc người, ngoài những đặc điểm bề ngoài về thể chất của con người mang những dấu hiệu chủng tộc
ra thì các tộc người còn được phân biệt bằng những đặc điểm khác còn quan trọng hơn nhiều, trước hết là những đặc điểm về văn hoá Ở Việt Nam, có lẽ cũng khoảng thời gian đó, khi nghiên cứu Quá trình tộc người và mối quan hệ dân tộc ở 3 nước ta, giáo sư Phan Hữu Dật đã định nghĩa như sau về tộc người: "Tộc người là một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử, mang ba tiêu chuẩn chủ yếu sau đây: cùng
Trang 6chung tiếng nói; cùng có chung một ý thức tự giác tộc người biểu hiện ở tên tự gọi chung; có những yếu tố văn hoá thống nhất.” Và “ Tộc người là một phạm trù lịch
sử, có phát sinh, phát triển và tiêu vong” Còn giáo sư Đặng Nghiêm Vạn lại diễn giải một cách cụ thể hơn: tộc người “là một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức có chung một khát vọng, được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những kí ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ…) Một tộc người không nhất thiết phải có cùng lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế”, nhưng tộc người thường là một bộ phận cấu thành một quốc gia, dân tộc Chính giáo sư Đặng Nghiêm Vạn cũng là người đã phân biệt rất rõ hai khái niệm dân tộc (nation) và tộc người (ethnic) Các nhà dân tộc học nói trên đều thống nhất nhấn mạnh ba tiêu chí căn bản xác định tộc người, đó là: ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác tộc người Văn hóa có vai trò vô cùng lớn lao đối với sự hình thành và phát triển các cộng đồng tộc người Còn theo chúng tôi: Tộc người là một chủ thể mang tính cộng đồng, sáng tạo nên ngôn ngữ và văn hóa mang đặc trưng của tộc người đó với ý thức tự giác tộc người Văn hoá tộc người được hiểu theo nghĩa rộng nhất là tập hợp những phương thức hoạt động riêng biệt với những kết quả cụ thể của một cá nhân cũng như của cả một cộng đồng tộc người Trên thực tế, trong vô số các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, ta có thể phân tích bản chất của văn hóa từ quan điểm dân tộc học Trong trường hợp này, văn hóa chính là văn hóa tộc người, văn hóa được hình thành cùng với quá trình hình thành tộc người Nguyễn Từ Chi đã có một cách hình dung rất dễ hiểu về tộc người và văn hóa tộc người Theo ông, trong ứng xử với môi trường, thiên nhiên xung quanh con người, con người với tính cách một cá nhân đơn lẻ không thể tồn tại được mà cần có sự hợp tác chặt chẽ của tất cả mọi thành viên của một cộng đồng Cộng đồng lớn nhỏ khác nhau tùy theo môi trường sống và lao động, như: cộng đồng ở dạng từng nhóm nhỏ cùng huyết thống trong điều kiện chật hẹp của từng vùng; thị tộc và bộ lạc trong môi trường rộng thoáng của đồng cỏ; công xã định cư khi chuyển sang trồng trọt Để giữ vững mối
Trang 7liên kết cộng đồng ấy, mỗi cộng đồng trong từng trường hợp cụ thể của mình phải đặt
ra những qui tắc tổ chức riêng biệt, vốn không có ngay từ đầu trong bản năng của con người Thế là văn hóa hình thành, bởi văn hóa hiểu một cách thật giản dị chính là cái
gì không phải là thiên nhiên Như vậy, cơ sở hình thành văn hóa chính là hoạt động sống, sinh hoạt, lao 4 động của cộng đồng người Các biểu hiện tinh thần của văn hóa (văn hóa phi vật thể) được hình thành, theo cách trình bày của Nguyễn Từ Chi, nhờ
áp lực của các “nghi thức xã hội hay tôn giáo” thực hành trong cộng đồng tộc người: nghi thức trong ăn uống, cách cư xử trong gia đình, ngoài xã hội, đám cưới, đám tang Tiếp đến là thơ ca, nhạc, họa và các loại hình nghệ thuật khác Tất cả đã tạo nên văn hoá tộc người Về vấn đề này, nhà Folklore học Ngô Đức Thịnh cũng đã khái quát: văn hoá tộc người là tổng thể các yếu tố văn hoá mang tính đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người kia Trong văn hoá tộc người, các yếu tố đầu tiên được nhận diện là ngôn ngữ, trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, vốn văn học dân gian, tri thức dân gian về tự nhiên xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc… Điều đó cũng có nghĩa, diện mạo chính của văn hóa tộc người là văn hóa dân gian Tất nhiên, các tộc người khác nhau sẽ có các nền văn hóa khác nhau Theo quan sát dân tộc học của Nguyễn Từ Chi, có hai diện mạo chính quyết định nền văn hóa của một tộc người Đó là: 1) môi trường tự nhiên mà tộc người đó định cư Chính môi trường định cư qui định sự hình thành các ứng xử văn hóa phù hợp với môi trường; 2) nguồn gốc văn hóa tộc người: các tộc người khác nhau trong môi trường khác nhau thì có nền văn hóa khác nhau; nhưng do nhiều lý do mà họ thiên di đến nơi khác, một loạt ứng xử văn hóa mới được hình thành để thích ứng với môi trường mới đồng thời các ứng xử văn hóa cũ vẫn được bảo lưu Trong quá trình di chuyển này của các tộc người, thực chất đã diễn ra sự giao lưu và tiếp biến văn hóa Quá trình giao lưu và tiếp biến tất nhiên diễn ra rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn đối với các nền văn hóa của những tộc người sống trên một địa bàn gần nhau, khả năng cư trú xen kẽ là một khả năng hiện thực Từ thực tế đó, các nhà khoa học nhân văn đã dùng hai khái niệm khác nhau văn hoá tộc người và văn hoá của tộc người Văn hóa tộc người dùng
Trang 8để chỉ văn hóa của riêng cộng đồng một tộc người trong ứng xử với thiên nhiên với những giá trị hằng số Còn văn hoá của tộc người lại là các yếu tố văn hoá hiện đại của một tộc người nào đó trong đó cả yếu tố văn hoá truyền thống - văn hoá tộc người và yếu tố văn hoá của tộc người khác được tiếp nhận qua quá trình giao lưu văn hoá Các yếu tố văn hoá của tộc người có thể đến một lúc nào đó sẽ trở thành yếu
tố văn hoá tộc người Chẳng phải ngẫu nhiên mà đã có học giả Pháp ví Việt Nam là ngã tư của các nền văn minh Hiếm thấy nơi nào trên thế giới các tôn giáo lớn đều được truyền vào như ở Việt Nam: từ đạo Phật, cho đến đạo của Nho giáo, Lão giáo,
Ấn Độ giáo đến cả đạo Cơ đốc, đạo Tin lành, đạo Hồi Cũng ít có nơi trên thế giới được chứng kiến sự tác động mạnh của các nền văn minh lớn như ở Việt Nam: từ văn minh Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập đến văn minh Âu, Mỹ… Người Việt có khả năng bản địa hoá các yếu tố văn hoá vốn không phải là của mình "để ứng dụng đắc lực" cho mình Nói một cách đơn giản nhất văn hoá tộc người là những cái ban đầu, cái gốc, còn văn hoá của tộc người là văn hoá thường được làm giàu thêm bởi sự tiếp xúc giao lưu với các tộc láng giềng
1.2 Các dạng thức cơ bản của văn hóa tộc người
Dạng thức chính là sự tồn tại của sự vật, hiện tượng bằng những hình thức, cách thức nhất định Sự phân biệt các dạng thức văn hóa thường căn cứ vào các góc độ tiếp cận về tính hệ thống, tính giá trị, hình thức tồn tại của văn hóa hay cơ sở của sáng tạo văn hóa Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh phân chia các dạng thức văn hóa ở Việt Nam như sau:
- Văn hóa cộng đồng (bao gồm văn hóa tộc người; văn hóa quốc gia; văn hóa làng; văn hóa gia đình, gia tộc và dòng họ; văn hóa tôn giáo tính ngưỡng; văn hóa nghề nghiệp);
- Văn hóa cá nhân;
- Văn hóa vùng lãnh thổ;
Trang 9- Văn hóa sinh thái
Theo quan điểm trên, văn tộc người là một trong sáu dạng thức quan trọng của văn hóa cộng đồng Quan điểm này cũng phân chia văn hóa tộc người Việt Nam thành các dạng thức dựa trên căn cứ chính là theo nhóm ngôn ngữ:
- Nhóm Việt - Mường
- Nhóm Môn-Khơme
- Nhóm Tày-Thái
- Nhóm Nam Đảo (Austronnésien)
- Nhóm Hmông-Dao
- Nhóm Tạng-Miến
- Nhóm ngôn ngữ Hán
Từ căn cứ phân chia này, biểu hiện cụ thể của dạng thức văn hóa tộc người sẽ
được nghiên cứu trên các phương diện: Chủ nhân văn hóa tộc người là ai? Không gian sinh sống và sinh hoạt kinh tế? Những sáng tạo thể hiện ở giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần? Văn hóa tộc người được nhìn nhận trong mối quan hệ
giữa chủng tộc - ngôn ngữ và văn hóa Những nội dung này sẽ được trình bày cụ thể trong phần nghiên cứu về văn hóa tộc người của Việt Nam
Cũng có thể phân chia các dạng thức văn hóa tộc người dựa trên căn cứ về nhu cầu và hình thức tồn tại của các sản phẩm sáng tạo Văn hóa tộc người sẽ được phân chia dưới hai dạng thức: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của tộc người Đây là những giá trị cơ bản của văn hóa tộc người, kết quả tư duy và lao động sáng tạo của các cộng đồng tộc người trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển
Về dạng thức văn hóa vật thể của tộc người, có thể đồng tình với quan niệm:
Trang 10Văn hóa vật thể được là những giá trị văn hóa do các cộng đồng tộc người sáng tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu ăn, ở, mặc, đi lại, lao động, sinh hoạt gia đình
và cộng đồng , có kết cấu vật chất không gian ba chiều mà chúng ta có thể cầm nắm, cân, đong, đo đếm được
Theo định nghĩa này, biểu hiện của dạng thức văn hóa vật thể trong đời sống của các cộng đồng tộc người rất đa dạng và phong phú, bao gồm các sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người và cộng đồng Về cơ bản, các giá trị sáng tạo là tương đồng, song có sự phân biệt bản sắc cá tính tộc người biểu hiện trong tư duy kỹ thuật canh tác, loại hình kinh tế-văn hóa, tư duy thẩm mỹ
Dạng thức văn hóa phi vật thể được quan niệm:
Văn hóa phi vật thể là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại trong không gian và thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa-nghệ thuật mà thể hiện ra khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó Văn
hóa phi vật thể của tộc người theo quan niệm này, bao gồm các giá trị về cơ cấu, tổ chức xã hội (gia đình, dòng họ, cộng đồng ); những giá trị tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh; những giá trị văn học, nghệ thuật; giá trị về tri thức dân gian
Sự phân chia các dạng thức văn hóa tộc người có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu giá trị, bản sắc văn hóa tộc người, đặc biệt nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa tộc người trong quá trình hình thành và phát triển nền văn hóa quốc gia dân tộc
II MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA TỘC NGƯỜI VÀ VĂN HÓA QUỐC GIA