1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 459,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN MÔN ASEAN_ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là một không gian kinh tế trên nền tảng của Khu vực mậu dịch tự do (AFTA) được mở rộng về phạm vi và nâng cao về mức độ tự do hóa, trong đó về cơ bản không còn thuế quan đối với hàng hóa và có sự lưu chuyển khá thuận lợi về dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; có mức độ hợp tác khá chặt chẽ trong các lĩnh vực kinh tế ngành; và đã kết nối với các nền kinh tế lớn trên thế giới. Nhằm tạo ra một thị trường duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu AEC đã thực hiên các hoạt động về tự do hóa, bài làm của em chủ yếu đi sâu vào yếu tố tự do hóa đầu tư, nêu ra những mục tiêu, phương thức thực hiện cũng như đánh giá sự hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong bối cảnh đại dịch Covid 19

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

V Những tác động của đại dịch Covid 19 tới hiệu quả hợp tác của các

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

ĐỀ BÀI

Anh/chị hãy nêu cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN và LỰA CHỌN 01 trong 05 yếu tố cơ bản của thị trường và cơ sở sản xuất

thống nhất trong Cộng đồng kinh tế ASEAN bao gồm: tự do di chuyển hàng hoá,

tự do di chuyển dịch vụ, tự do di chuyển đầu tư, tự do di chuyển vốn hơn và tự

do di chuyển lao động lành nghề và phân tích nội dung của 01 trong 05 yếu tố

đó dưới các góc độ sau:

- Cơ sở pháp lý

- Mục tiêu

- Phương thức thực hiện tự do hoá

- Đánh giá những tác động của đại dịch Covid 19 tới hiệu quả hợp tác của các quốc gia thành viên trong từng yếu tố mà anh/chị đã lựa chọn

Trang 3

MỞ ĐẦU

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là một không gian kinh tế trên nền tảng của Khu vực mậu dịch tự do (AFTA) được mở rộng về phạm vi và nâng cao về mức độ tự do hóa, trong đó về cơ bản không còn thuế quan đối với hàng hóa và

có sự lưu chuyển khá thuận lợi về dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề;

có mức độ hợp tác khá chặt chẽ trong các lĩnh vực kinh tế ngành; và đã kết nối với các nền kinh tế lớn trên thế giới Nhằm tạo ra một thị trường duy nhất và cơ

sở sản xuất thống nhất và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu AEC đã thực hiên các hoạt động về tự do hóa, bài làm của em chủ yếu đi sâu vào yếu tố

tự do hóa đầu tư, nêu ra những mục tiêu, phương thức thực hiện cũng như đánh giá sự hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong bối cảnh đại dịch Covid 19

Do kiến thức còn hạn chế và không tránh khỏi thiếu sót mong các thầy cô trong

tổ bộ môn góp ý để bài làm hoàn thiện hơn Em xin cảm ơn!

Trang 4

NỘI DUNG

I Cấu trúc của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN

Một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất của ASEAN bao gồm năm yếu tố cót lõi: (1) Tự do thương mại hàng hóa; (2) Tự do thương mại dịch vụ; (3) tự do đầu tư; (4) tự do dòng vốn và (5) tự do di chuyển lao động lành nghề Ngoài ra, thị trường và cơ sở sản xuất cũng bao gồm hai thành phần quan trọng là: các lĩnh vực hội nhập ưu tiên; thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp

Tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN được thực hiện thông qua tự do hóa thuế quan, các biện pháp phi thuế quan, thiết lập quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại, hợp tác hải quan, hài hòa hóa và nhất thể hóa hàng rào tiêu chuẩn và kĩ thuật trong thương mại

Tự do hóa thương mại dịch vụ được thực hiện thông qua xóa bỏ (có lộ trình) các hạn chế đối với thương mại dịch vụ, xây dựng các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA), tăng cường phát triển nguồn nhân lực và xây dựng năng lực trong lĩnh vực dịch vụ

Tự do hóa đầu tư được thực hiện thông qua việc mở cửa đầu tư, xóa bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư, dành chế độ đãi ngộ quốc gia và chế độ tối huệ quốc cho cả nhà đầu tư ASEAN và các nhà đầu tư bên ngoài; bảo hộ đầu tư, các chương trình và hoạt động xúc tiến và thuận lợi hóa đầu tư

Tự do hóa dòng vốn được thực hiện thông qua tăng cường hội nhập và phát triển thị trường vốn của khu vực (đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chứng khoán, thanh toán quốc tế, thị trường vay nợ) và cho phép di chuyển các khoản vốn lớn và có ý nghĩa kinh tế quan trọng

Trang 5

Tự do di chuyển lao động lành nghề, ASEAN sẽ tạo điều kiện cho sự tự do di chuyển của lao động có tay nghề cao thông qua: Cho phép nhập cảnh và tạo điều kiện thuận lợi cho cấp thị thực (visa) và di chuyển của các chuyên gia và lao động

có tay nghề cao tham gia vào thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư Tăng cường hợp tác giữa các thành viên Mạng lưới các trường đại học ASEAN (ASEAN University Network – AUN) để tạo thuận lợi cho sinh viên và cán bộ các trường đại học trong đi lại, học tập và làm việc trong khu vực Phát triển các năng lực cốt lõi, trình độ và kĩ năng của các giảng viên đại học trong nghề nghiệp liên quan đến các lĩnh vực ưu tiên hội nhập của ASEAN và các lĩnh vực dịch vụ khác Tăng cường khả năng nghiên cứu của các quốc gia thành viên về nâng cao trình độ và kĩ năng của người lao động Phát triển lưới thông tin thị trường lao động giữa các nước thành viên ASEAN1

Các lĩnh vực ưu tiên hội nhập (PIS Priority Integration Sectors): Nhằm tập trung nguồn lực cho các trọng tâm, trọng điểm trong hợp tác kinh tế ASEAN, đồng thời cũng để tạo ra các lĩnh vực hợp tác kinh tế mũi nhọn và là chất xúc tác để thúc đẩy nhanh hội nhập kinh tế ASEAN và quá trình xây dựng AEC, các nhà lãnh đạo ASEAN đã xác định 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập (dựa trên nhu cầu hội nhập khách quan, lợi thế cạnh tranh của từng lĩnh vực và các đặc thù của nền kinh tế ASEAN), bao gồm: sản phẩm nông nghiệp, cao su, gỗ, điện tử, xe hơi, dệt may và giày dép, e-ASEAN, đánh bắt cả, y tế, du lịch hàng không và dịch vụ hậu cần logistic2

Lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp: với đặc thù đại đa số kinh tế của các nước ASEAN đều là kinh tế nông nghiệp, AEC đã xác định xây dựng một "thị

1

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng Asean, Nxb CAND, 2020, tr 156

2

Xem thêm Hiệp định khung của ASEAN về các lĩnh vực ưu tiên năm 2004 và Nghị định thư về hội nhập ngành dịch vụ hậu cần năm 2007.

2

Trang 6

trường và cơ sở sản xuất chung" phải bao gồm và chú trọng đối với các ngành nông nghiệp và lâm nghiệp

II Khái niệm, mục tiêu của tự do hóa đầu tư trong AEC

Tự do hóa đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thị trường

và cơ sở sản xuất thống nhất trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), là một xu hướng đã được các quốc gia tiến hành từ lâu Xu hướng này đã được đề cập đến nhiều trong các nghiên cứu, tài liệu Có thể hiểu khái niệm tự do hóa đầu tư như sau:

"Tự do hóa đầu tư là quá trình trong đó các rào cản đối với hoạt động đầu

tư, các phân biệt đối xử trong đầu tư được từng bước dỡ bỏ các tiêu chuẩn đối xử tiến bộ dần dần được thiết lập và các yếu tố để đảm bảo sự hoạt động đúng đắn của thị trường được hình thành" 3

Theo đó, mục đích của quá trình tự do hóa đầu tư là hướng tới một chế độ đầu tư tự do trong đó không có bất cứ cản trở nào đối với các nhà đầu tư dù cho

họ mang quốc tịch gì Các nhà đầu tư trong chế độ đầu tư tự do có thể đầu tư vào bất cứ ngành, lĩnh vực, dự án nào và họ sẽ được đối xử công bằng bình đẳng Ngay

cả các ưu đãi, khuyến khích đầu tư vốn được coi là một nhân tố kích thích đầu tư cũng sẽ không được sử dụng trong chế độ đầu tư đã tự do hóa hoàn toàn vì những ưu đãi, khuyến khích này sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử Trên thực tế, chưa

có một chế độ đầu tư nào đạt đến mức độ tự do hoá hoàn toàn theo đúng khái niệm trên

III Cơ sở pháp lý

Hiện nay, các hoạt động về đầu tư trong ASEAN được điều chỉnh bởi Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), có hiệu lực từ ngày 29/3/2012 ACIA là sự kế

3 Nguyễn Thị Kim Dung, Tự do hóa đầu tư trong khuôn khổ cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và sự tham gia của Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội, 2017.

Trang 7

thừa và điều chỉnh từ Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN năm 1987 (AIGA) và Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) năm 1998 nhằm phù hợp với điều kiện mới và nhu cầu hội nhập trong tầm nhìn ASEAN 2020 Mục tiêu của ACIA là tạo ra một cơ chế đầu tư tự do, mở cửa trong ASEAN được thực hiện thông qua từng bước tự do hóa đầu tư; tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và các khoản đầu tư của họ; cải thiện tính minh bạch và khả năng dự đoán của các quy tắc, quy định và thủ tục đầu tư; xúc tiến, hợp tác tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và thống nhất

ACIA có một số điểm mới và tiến bộ so với hai hiệp định trước, đặc biệt ở phạm vi điều chỉnh được mở rộng ACIA ngay lập tức dành ưu đãi như nhau cho nhà đầu tư ASEAN và nhà đầu tư nước ngoài tại ASEAN; trong khi đó AIA dành ưu đãi cho nhà đầu tư ASEAN trước, sau đó mới đến nhà đầu tư nước ngoài tại ASEAN vào 2020 Các lĩnh vực, dịch vụ có thể phát sinh trong tương lai cũng nằm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp định Những nỗ lực của ASEAN để tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi, ưu đãi hơn được cho là sẽ giúp tăng hoạt động đầu

tư nội khối cũng nhưthu hút thêm luồng vốn đầu tư từ bên ngoài vào ASEAN Các nội dung về tự do hóa đầu tư được quy định trong các hiệp định theo 2 cách là chọn - cho hoặc chọn - bỏ Theo danh sách chọn - bỏ tất cả các ngành nghề đều được cam kết tự do hoá, trừ một số ngoại lệ đặc biệt được quy định riêng Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) là một ví dụ điển hình về hình thức này Đối với danh sách chọn - cho các bên tham gia sẽ lựa chọn và quy định các ngành nghề, lĩnh vực sẽ cam kết tự do hoá Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS) là một trong các hiệp định áp dụng hình thức này

4

Trang 8

IV Phương thức thực hiện tự do hoá

1 Mở cửa đầu tư

Theo Khoản 3 Điều 3 ACIA 2009, các quốc gia thành viên sẽ mở cửa và tự do hoá đầu tư trong các lĩnh vực sau: Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai khoảng và khai thác đá, các dịch vụ liên quan đi kèm của các lĩnh vực trên Ngoài ra, ACIA còn quy định cho phép tự do hoá đối với bất kì lĩnh vực nào được các quốc gia thành viên nhất trí, quy định này nhằm cho phép tự do hoá một số lĩnh vực, dịch vụ khác sẽ phát sinh trong tương lai4

2 Xóa bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư

Để tiến hành xóa bỏ rào cản đối với đầu tư là các biện pháp cấm đầu tư, Điều

7, Điều 8 của ACIA qui định xóa bỏ các biện pháp cấm đầu tư cụ thể cấm các yêu cầu đối với đầu tư nước ngoài (Performance Requirements) và biện pháp liên quan đến quản trị doanh nghiệp Đây là quy định hoàn toàn mới so với IGA và AIA Theo đó đối với các biện pháp yêu cầu đối với đầu tư nước ngoài các quốc gia không được áp dụng các nhóm biện pháp sau: các biện pháp về “yêu cầu tỉ lệ nội địa hóa”, các biện pháp “yêu cầu về cân bằng thương mại”

3 Áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) và nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)

Nguyên tắc về đối xử quốc gia: Yêu cầu nước thành viên đối xử với các nhà đầu tư của các nước thành viên khác và khoản đầu tư của họ không kém thuận lợi hơn những gì đã dành cho nhà đầu tư của nước mình, không chỉ giới hạn trong phạm vi tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mở rộng, quản lý, vận hành và định đoạt đầu tư So với các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết với các nước khác thì nội dung của nguyên tắc này vẫn được giữ nguyên, bởi việc áp dụng nguyên tắc này được coi là thông lệ quốc tế để bảo đảm cạnh tranh công bằng và ACIA cũng không là ngoại lệ

4

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Pháp luật cộng đồng Asean, sđd, tr 226.

Trang 9

Nguyên tắc tối huệ quốc, nhà đầu tư của một quốc gia thành viên khi đầu tư vào quốc gia thành viên khác và khoàn đầu tư của họ phải được hưởng chế độ đãi ngộ (nhưng không giới hạn trong) về tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mở rộng, quản

lí, vận hành và chuyển nhượng đầu tư như nhà đầu tư của quốc gia thứ ba bất kì được hưởng

4 Bảo hộ đầu tư

Một trong những hình thức bảo vệ đó là đối đãi ngang bằng và công bằng - có nghĩa là các nước chủ nhà phải đưa ra quyết định dựa trên luật pháp và không được phép hành độngtùy ý và phân biệt đối xử; cung cấp cho các nhà đầu tư quyền tự bảo vệ mình như cho phép tiếp cận với luật sư và quyền kháng cáo Ngoài việc bảo đảm đối xử ngang bằng và công bằng và điều khoản MFN cho các nhà đầu tư, các chính phủ chủ nhà cũng phải bảo vệ sự an toàn và an ninh cho các khoản đầu tư mọi lúc, kể cả trong các cuộc bạo loạn và xung đột trong nước Trong các trường hợp như vậy, chính phủ chủ nhà phải bồi thường các thiệt hại của nhà đầu tư do xung đột vũ trang, xung đột dân sự, hoặc tình trạng khẩn cấp ACIA cũng quy định rằng nước chủ nhà chỉ có thể trưng thu các khoản đầu tư trong điều kiện cụ thể, và phải bồi thường công bằng cho các nhà đầu tư Cuối cùng, các nhà đầu tư có quyền thực hiện các giao dịch tiền tệ tự do chuyển đổi trong và ngoài lãnh thổ của một quốc gia mà không có sự chậm trễ

5 Xúc tiến và thuận lợi hóa đầu tư

Xúc tiến đầu tư được tiến hành thông qua các hình thức như phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và các công ty xuyên quốc gia; bổ sung công nghiệp và mạng lưới sản xuất; tổ chức đoàn khảo sát đầu tư tập trung phát triển tổ hợp khu vực và mạng lưới sản xuất; tổ chức và hỗ trợ tổ chức hội thảo về cơ hội đầu tư, quy định, chính sách đầu tư và trao đổi những vấn đề có liên quan khác

6

Trang 10

Nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, ASEAN đã thông qua các biện pháp chủ yếu như tạo môi trường cần thiết cho tất cả các hình thức đầu tư; đơn giản hóa thủ tục đăng ký và cấp phép đầu tư; phổ biến thông tin liên quan đến đầu tư (bao gồm quy định, quy tắc, chính sách); thành lập cơ quan một cửa về đầu tư; củng cố

cơ sở dữ liệu trong tất cả hình thức đầu tư nhằm hoạch định chính sách cải thiện môi trường đầu tư nội khối; tham vấn với cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề đầu tư; cung cấp dịch vụ tư vấn cho cộng đồng doanh nghiệp5

Với việc mở cửa, xóa bỏ biện pháp hạn chế đầu tư, bảo hộ và xúc tiến thuận lợi hóa đầu tư, như luồng sinh khí mới cho khu vực đầu tư ASEAN còn non trẻ và tạo ra một môi trường đầu tư lành mạnh, có tính cạnh tranh cao, thúc đẩy hoạt động đầu tư mở rộng không chỉ trong nội khối mà đối với các nước và khu vực ngoại khối Tuy nhiên sự phát triển không đồng đều, đồng tiền không thống nhất, người lao động chưa có trình độ cao cùng hệ thống pháp luật vẫn còn những hạn chế khiến cho việc quản lý kinh doanh giữa các quốc gia còn gặp khó khăn đòi hỏi phải có sự điều chỉnh pháp luật cho phù hợp hơn với xu thế hiện nay

V Những tác động của đại dịch Covid 19 tới hiệu quả hợp tác của các quốc gia thành viên trong tự do hóa đầu tư

Sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 trên thế giới mà chưa có vắc-xin điều trị hàng loạt buộc các quốc gia phải sử dụng các biện pháp như giãn cách xã hội, nhiều hoạt động sản xuất tạm dừng lại Chuỗi cung ứng bị đứt đoạn ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu, từ đó làm suy giảm tăng trưởng nền kinh tế thế giới nói chung và nhiều quốc gia, khu vực nói riêng trong đó có ASEAN

Nền kinh tế chậm phát triển, các nhà đầu tư trong và ngoài khối cũng bị cản trở ảnh hưởng lớn tới dòng vốn Hoạt động đầu tư có thể bị ngắt quãng, dòng vốn

5

Xem: Các Điều 24, 25 ACIA năm 2009.

Trang 11

sụt giảm so với những năm trước, thậm chí là tạm dừng hoàn toàn Tuy nhiên, ASEAN là một khu vực đang đứng trước những thời cơ phát triển quan trọng Thứ nhất, ASEAN đang có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu Thứ hai, khủng hoảng do COVID-19 là nhân tố thúc đẩy tiến trình số hóa và sự phát triển của kinh tế không tiếp xúc

Ngày 9/9/2020, trong khuôn khổ chương trình Đại hội đồng AIPA 41 do Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức đã diễn ra Hội nghị của Ủy ban Kinh tế AIPA thảo luận về chủ đề “Vai trò của Nghị viện trong việc thúc đẩy gắn kết và phục hồi kinh

tế ASEAN sau đại dịch COVID-19”6 Các quốc gia ASEAN đã đưa ra các giải pháp, gắn kết cùng nhau vượt qua đại dịch, cùng nhau khôi phục và phát triển nền kinh

tế nói chung cũng như về lĩnh vực đầu tư nói riêng Với đề nghị xây dựng chính sách đầu tư thông thoáng, bền vững, có trách nhiệm trong khu vực Thúc đẩy nhanh việc phê chuẩn các hiệp định, thỏa thuận thương mại trong khu vực; ưu tiên tăng cường các nỗ lực để hoàn tất đàm phán và ký kết Hiệp định Đối tác Kinh

tế Toàn diện Khu vực (RCEP) trong năm 2020; tăng cường năng lực, sự tham gia và đẩy mạnh giám sát nghị viện đối với việc thực hiện các cam kết về đầu tư và thương mại trong khuôn khổ khu vực và quốc tế

Ngày 15/11/2020 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (tiếng Anh: Regional Comprehensive Economic Partnership, viết tắt RCEP) đã được 10 nước ASEAN cùng năm nước gồm: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia và New Zealand chính thức ký kết tại Hội nghị cấp cao các nước tham gia đàm phán RCEP lần thứ 4, diễn ra trực tuyến bên lề Hội nghị cấp cao ASEAN RCEP là một hiệp định hiện đại, toàn diện và cao cấp Hiệp định bao gồm nhiều lĩnh vực và quy định mà

6 Kim Thanh - Thu Lan, Thúc đẩy gắn kết và phục hồi kinh tế ASEAN sau đại dịch COVID-19

https://dangcongsan.vn/thoi-su/thuc-day-gan-ket-va-phuc-hoi-kinh-te-asean-sau-dai-dich-covid-19-563156.html , truy cập 10/7/2021.

8

Ngày đăng: 06/12/2022, 11:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w