TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÁO CÁO THỰC HÀNH MÔN KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN LỚP D15B3 CHỦ ĐỀ CÁC TAI NẠN TAI NẠN NGHỀ NGHIỆP THƯỜNG GẶP LIÊN QUAN ĐẾN PHƠI NHIỄM MÁU VÀ DỊCH TIẾT CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO THỰC HÀNH
MÔN : KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN
LỚP : D15B3
CHỦ ĐỀ
CÁC TAI NẠN TAI NẠN NGHỀ NGHIỆP THƯỜNG GẶP LIÊN QUAN ĐẾN PHƠI NHIỄM MÁU VÀ DỊCH TIẾT CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN VIỆT ĐỨC KHI TIẾN HÀNH CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CÁCH XỬ TRÍ KHI BỊ TAI NẠN NGHỀ NGHIỆP LIÊN QUAN ĐẾN PHƠI NHIỄM MÁU VÀ DỊCH TIẾT
Họ và tên : Lê Thùy Linh STT : 26
Mã sinh viên : B1977203010070
Hà Nội , ngày 22 tháng 3 năm 2020
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Phơi nhiễm nghề nghiệp
Trang 21. Định nghĩa
- Trong môi trường lao động , NVYT phải đối mặt với các nguy cơ nhiễm khuẩn , đặc biệt là nguy cơ phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh truyền qua đường máu thông qua các tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) ,trong số 35 triệu nhân viên y tế trên thế giới thì hàng năm có 3 triệu người phải tiếp xúc với tác nhân gây bệnh qua đường máu ,2 triệu trong số này tiếp xúc với HBV, 0.9 triệu tiếp xúc với HCV và 17000 tiếp xúc với HIV Các tổn thương nghề nghiệp có thể gấy 15000 ca nhiễm HCV, 70.000 ca nhiễm HBV, 1000 ca nhiễm HIV Trên 90% các trường hợp nhiễm khuẩn này xảy
ra tại các nước đang phát triển
- Phơi nhiễm nghề nghiệp ( đối với nhân viên y tế) : là thuật ngữ để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp niêm mạc hay
da không nguyên vẹn với máu , mô hay dịch cơ thể có chứa nguồn lây nhiễm hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn hóa chất , các tia có hại cho cơ thể trong quá trình làm việc của nhân viên y tế
- Phơi nhiễm máu , dịch cơ thể là tai nạn, sự cố xảy ra vơi nhân viên y tế trong thực hành lâm sàng , tiếp xúc với dịch máu cơ thể có thể nhiễm tác nhân gây bệnh dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh Tất cả nguy cơ phơi nhiễm máu , dịch tiết cơ thể bao gồm máu, dịch não tủy, dịch màng phổi, dịch màng bụng ,bất kỳ dịch tiết cơ thể
có lẫn máu
- Theo thống kê của CDC 2000, trên thế giới có 384.000 thương tổn qua da xảy ra trên nhân viên y tế trong bệnh viện hàng năm Khoảng 1% nhân viên y tế làm việc tại bệnh viện có bằng chứng của nhiễm VGSV C, hằng năm có vào khoảng 800 nhân viên y tế bị nhiễm VGSV B sau khi bị phơi nhiễm do nghề nghiệp Theo thống kê của WHO, toàn thế giới năm 2000 trong nhân viên y tế có khoảng 16.000 người nhiễm VGSV C, 66.000 nhiễm VGSVC, và 1.000 nhiễm HIV do phơi nhiễm nghề nghiệp từ những thương tổn qua da
-Tại Việt Nam Tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Văn Sơn, Phó Viện trưởng Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường (Bộ Y tế), cho biết hiện chưa thực hiện nghiên cứu quy mô lớn nào về tai nạn rủi ro nghề nghiệp của nhân viên y tế Tuy nhiên, một nghiên cứu cách đây 10 năm tại 3 BV trên địa bàn TP Hà Nội cho thấy có một tỉ lệ lớn nhân viên y tế nói rằng họ từng bị tai nạn rủi ro do vật sắc nhọn trong khi làm việc Số trường hợp rủi ro xảy ra khi tiến hành tiêm chiếm nhiều nhất, tiếp đó là phẫu thuật, truyền dịch và làm các thủ thuật khác Nguy cơ nhiễm HIV, viêm gan B và C là những tai nạn nghề nghiệp mà các nhân viên y tế luôn phải đương đầu Các dạng phơi nhiễm thường là do kim đâm khi làm các thủ thuật, tiêm truyền, lấy máu làm xét nghiệm, chọc dò Vết thương
do dao mổ và các dụng cụ sắc nhọn khác có dính máu hoặc dịch cơ thể của người bệnh Tổn thương qua da do các ống đựng máu hoặc dịch của người bệnh bị vỡ đâm vào Máu, chất dịch của người bệnh bắn vào các vùng da
bị tổn thương hoặc niêm mạc (mắt, mũi, họng)
- Phơi nhiễm với các bệnh truyền nhiễm qua đường máu liên quan đến tổn thương (TT) do vật sắc nhọn (VSN) đang là một vấn đề phổ biến và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng với điều dưỡng Nghiên cứu phân tích tổng hợp các bài báo của Cooke và Stephens (2017) cho thấy có14,9% - 69,4% nhân viên y tế (NVYT) bị TT do VSN với phạm vi rộng do sự khác biệt về quốc gia NVYT có thể gặp các ảnh hưởng nghiêm trọng về cảm xúc
và rối loạn sức khỏe tâm thần sau khi gặp TT do VSN, dẫn đến mất việc và căng thẳng [1] Kiến thức về TT do VSN và thực hành đầy đủ về các biện pháp dự phòng tránh bị TT do VSN được xem là một yếu tố quan trọng giúp điều dưỡng giảm nguy cơ phơi nhiễm các mầm bệnh lây lan qua máu Một số nghiên cứu chỉ ra điều dưỡng vẫn còn những lỗ hổng về kiến thức và thực hành thiếu an toàn như trong nghiên cứu của Hoàng Văn Khuê
Trang 3(2015) kiến thức đạt 62,7%, chỉ có 16,2% hiểu biết đúng về việc đóng nắp sau tiêm [3], kết quả thực hành đạt chỉ 5,4% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu chỉ ra 41,8% dùng gạc bẻ ống thuốc, có 37,7% cô lập kim tiêm ngay vào hộp an toàn, 44,5% không dùng hai tay để đậy nắp kim tiêm hoặc tháo kim tiêm ra khỏi bơm tiêm [2] Trong nghiên cứu bệnh viện Chợ Rẫy năm 2001,
- Theo một nghiên cứu đa quốc gia nguy cơ mắc bệnh khi bị kim đâm hay vết đứt từ nguồn NB có viêm gan B có cả hai kháng nguyên bề mặt HBsAg và kháng nguyên e (HBeAg) là 22%-31% từ nguồn máu chỉ có HBsAg đơn thuần là 1%-6% từ nguồn viêm gan C là 1.8% (khoảng: 0%-7%) từ nguồn nhiễm HIV là 0.3% (bảng 1&2)
2. Các phương thức phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể:
- Vật sắc nhọn nhiễm khuẩn xuyên thấu da (kim tiêm – truyền, kim chọc dò, kim khâu, dao mổ…)
- Máu, dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da bị tổn thuouowng của NVTT khi làm thủ thuật (vết bóc, viêm da, loét từ trước; niềm mạc mắt, mũi họng)
- Da của NVYT bị xây xước tiếp xúc với máu và dịch sinh học của người bệnh
- Tiếp xúc trên vùng da lành nhưng thời gian giếp xúc lâu vài phút trở lên hoặc tiếp xúc trên diện rộng với máu, mô Dịch cơ thể của người bệnh nhiễm MERS-CoV, viêm gan B, C, HIV
- Hoặc bất kỳ tiếp xúc trực tiếp nào với nồng độ MERS-CoV, viêm gan B, C, HIV cao trong phòng thí nghiệm hay cơ sở sinh đẻ cũng được xem như là một “Phơi nhiễm”
II Xử trí tai nạn rủi ro nghề nghiệp do phơi nhiễm máu và dịch cơ thể
1. Mục đích quản lý phơi nhiễm
- Quản lý, theo dõi và điều tị dự phòng cho NVYT khi phơi nhiễm
Trang 4TƯ VẤN VÀ ĐIỀU TRỊ SAU PN XÁC NHẬN TÌNH
TRẠNG NHIỄM BỆNH CỦA NGƯỜI BỊ PN
XÁC ĐỊNH TÌNH TRẠNG TÁC NHÂN CỦA NGUỒN PN ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ
PHƠI NHIỄM (PN) BÁO CÁO NGƯỜI PHỤ
TRÁCH
SƠ CỨU
- NVYT khi có phơi nhiễm cần biết xử lý ngay lập tức và biết quy trình quản lý phơi nhiễm do nghề nghiệp nói chung và phòng phơi nhiễm MERS -CoV có khả năng gây dịch nói riêng
- Giảm tới mức thấp nhất nguy cơ lây nhiễm cho NVYT và cộng đồng
2. Quy trình xử lý phơi nhiễm
2.1 Sơ cứu ngay sau phơi nhiễm
Tổn thương do kim tiêm hay vật
sắc nhọn
1. Rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng và nước, dưới vòi nước chảy
2. Để máu ở vết thương tự chảy, KHÔNG nặn bóp vết thương
3. Băng vết thương lại Bắn máu và / hoặc dịch cơ thể lên
da bị tổn thương 1. Rửa khu vực bị tổn thương ngay bằng xà phòng và nước dưới vòi
nước
2. Băng vết thương lại
3. KHÔNG sử dụng thuốc khử khuẩn trên da
4. KHÔNG cọ hoặc chà khu vực bị tổn thương
Bắn máu hoặc dịch cơ thể lên mắt 1. Xả nước nhẹ nhàng nhưng thật kỹ
dưới dòng nước chảy hoặc nước muối sinh lý 0,9% vô khuẩn trong
ít nhất 5 phút trong lúc mở mắt và lộn nhẹ mi mắt
Trang 52. KHÔNG dụi mắt
Bắn máu và hoặc dịch cơ thể lên
miệng hoặc mũi 1. Khạc nhổ ngay máu hoặc dịch cơ thể và xúc miệng bằng nước nhiều
lần
2. Xỉ mũi hoặc rửa sạch vùng bị ảnh hưởng bằng nước hoặc nước muối 0,9% vô khuẩn
3. KHÔNG sử dụng thuốc khử khuẩn
4. KHÔNG đánh răng
Bắn máu hoặc và dịch cơ thể lên
da nguyên vẹn 1. Rửa khu vực vấy máu hoặc dịch cơ thể ngay bằng xà phòng và
nước dưới vòi chảy
2. KHÔNG chà sát khu vực bị vấy máu hoặc dịch
2.2 Báo cáo người phụ trách và làm biên bản
• NVYT bị phơi nhiễm cần báo cáo ngay cho người chịu trách nhiệm để xử trí và thực hiện
dự phòng sau phơi nhiễm
• Ghi đầy đủ thông tin : ngày , giờ , hoàn cảnh, đnahs giá vết thương , mức độ nguy cơ phơi nhiễm
• Lấy chữ ký của người chứng kiến và chữ ký người phụ trách
2.3 Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm
• Xác định nguy cơ liên quan đến tình huống PN các yếu tố sau:
o Loại dịch thể : máu dịch nhìn thấy có chứa máu; dịch hoặc mô có nguy cơ nhiễm khuẩn, virus
o Loại phoi nhiễm : tổn thương dưới da, phơi nhiễm đối với da , niêm mạc bị tổn thương và vết cắn dẫn đến phơi nhiễm với máu
o Đánh giá nguy cơ liên quan đến nguồn phơi nhiễm bằng cách đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn với tất cả các tác nhân đường máu bằng cách sử dụng thông tin sẵn có như phỏng vấn , hồ sơ bệnh án
o Thực hiện các xét nghiệm trên đối tượng nguồn với sự đồng thuận trên cơ sở được cung cấp đầy đủ thông tin( Không xét nghiệm virus với kim tiêm đã thải bỏ
• Kết hợp các kết quả đánh giá nguy cơ đối với đối tượng phơi nhiễm
o Bảo đảm rằng chỉ có nhân viên y tế được đào tạo mới được thực hiện đánh giá nguy
cơ và chỉ định điều trị phòng bệnh sau phơi nhiễm
Trang 6o Trong trường hợp các lý do về hậu cần dẫn đến việc khó có thể đánh giá được trạng thái miễn dịch của người bị phơi nhiễm thì có thể lấy và lưu trữ mẫu máu để thu thập thông tin ban đầu Tuy nhiên chỉ thực hiện việc này nếu người bị phơi nhiễm đồng thuận sau khi đã tư vấn
o Áp dụng điều trị phòng bệnh sau phơi nhiễm ngay cả khi chưa có kết quả xét nghiệm
• Kết quả đánh giá nguy cơ :
o Có nguy cơ :
Tổn thương do kim dính máu đâm xuyên qua da gây chảy máu : kim nòng rộng , cỡ to, chứa nhiều máu , đâm sâu thì nguy cơ cao hơn kim nòng nhỏ ,chứa ít máu và đâm xuyên nông
Tổn thương sâu da do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch
cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải
Máu và dịch cơ thể của người bệnh bắn vào da , niêm mạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây xát từ trước rộng thì có nguy cơ cao hơn
o Không có nguy cơ:
Máu dịch cơ thể của người bệnh bắn vào da lành
2.4 Xác định tình trạng tác nhân của nguồn lây phơi nhiễm
• Đánh giá nguy cơ dựa vào triệu chứng lâm sàng của người bệnh nguồn
• Người bệnh đã được xác định nhiễm HIV ,HBV,HCV : tìm hiểu về các thông tin về tiền
sử bệnh và tình trạng sức khỏe
• Nếu chưa biết về tình trạng tác nhân của nguồn gây phơi nhiễm : tư vấn và lấy máu xét nghiệm HIV, HCV,HBV
• Trường hợp không thể xác định được
2.5 Xác định tình trạng nhiễm bệnh của người bị phơi nhiễm
• Tư vấn trước và sau xét nghiệm HIV,HCV.HBV theo quy định
• Nếu ngay sau khi phơi nhiễm , người bị phơi nhiễm có kết quả với tác nhân dương tính ,
đã bị nhiễm tác nhân gây bệnh qua đường máu / dịch tiết từ trước không phải do phơi nhiễm
• Nếu kết quả âm tính : kiểm tra sau 3thangs, 6 tháng xét nghiệm công thức máu và chức năng gan (ALT) khi bắt đầu điều trị sau 2-4 tuần Hỗ trợ tâm lý nếu cần
2.6 Tư vấn và điều trị sau phơi nhiễm
• Người xác định là phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể và vật sắc nhọn từ nguồn chứa HIV,HCV,HBV cần tới gặp bác sỹ để KSNK hoặc chuyên khoa truyền nhiễm để được tư vấn và điều trị
- Đối với trường hợp đã xác nhận nguồn lây , tùy từng phơi nhiễm sẽ có cách xử lý khác nhau của trường hợp cụ thể
III.Xử trí phơi nhiễm
1. XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VIÊM GAN B
Người bị phơi
nhiễm
Khi nguồn máu tiếp xúc có HbsAg + HbsAg - Không rõ/ không
xn Chưa tiêm chủng
HBV
HBIg 0,06ml/kg , chủng ngừa liều viêm gan B đầu tiên
Chủng ngừa viêm gan B đầu tiên
Chủng ngừa liều viêm gan B đầu tiên
Đã có chủng ngừa
HBV
Không cần điều trị Không cần điều trị Không cần điều trị
Biết có đáp ứng
kháng thể anti
HBIg 2 liều hoặc HBIg 1 liều tái
Không cần điều trị Nếu có nguồn
nhiễm có nguy cơ
Trang 7HBs+ >100UI/ml chủng lại cao điều trị như
HbsAg+
Biết không đáp ứng
kháng thể Anti
HBs- hoặc không
biết
Xét nghiệm tìm anti HBs người bị phơi nhiễm
+ Nếu nồng độ anti HBs không đủ : 1 liều HBIg
0,06ml/kg, và tái chủng
+ Nếu nồng độ anti HBs đủ : không cần điều trị
Không cần điều trị + Xét nghiệm tìm
anti HBs người bị phơi nhiễm có thể đáp ứng kháng thể
>100UI/ml + Nếu nồng độ anti HBs không đủ : tái chủng
+ Nếu nồng độ anti HBs đủ: không cần điều trị
- Trị liệu sau phơi nhiễm nên bắt đầu càng sớm càng tốt , tốt nhất là sau 24h và không trễ hơn 7 ngày
2. XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM VIÊM GAN C
Chưa có thuốc tiêm phòng đối với HCV
Immunoglobin Ig và thuốc kháng virus không được khuyến cáo cho phòng ngừa sau khi bị phơi nhiễm
Trị liệu sớm HCV bằng interferon có liên quan với một tỷ lệ khỏi cao hơn
3. XỬ TRÍ PHƠI NHIỄM HIV
Chưa có thuốc tiêm phòng đối với HIV
Phơi nhiễm với máu dịch cơ thể có chứa virus HIV do rủi ro nghề nghiệp được xem là 1 vấn đề cấp cứu nội khoa và cần điều trị phòng ngừa sau phơi nhiễm kịp thời ,tốt nhất trong 2 giờ đầu
Nếu phơi nhiễm cần phải được xử lý , vẫn bắt đầu phòng ngừa sau phơi nhiễm ngay cả thời gian phơi nhiễm vượt quá 36 giờ
1. Phác đồ dự phòng sau phơi nhiễm (DTSPN) cơ bản 2 thuốc:
- Zidovudine 60mg/ngày ( 300 mg, 2 lần/ ngày ,hoặc 200mg ,3 lần/ngày , hoặc 100mg mỗi 4 giờ
- Lamivudine 150mg ,2 lần/ngày
- COMBIVIR hoặc LAMZIDIVIR là dạng thuốc phối hợp hai thuốc trên , liều dùng 2 viên/ ngày
2. Phác đồ DTSPN mở rộng 3 thuốc
- Phác đồ cơ bản cộng indinavir 800mg mỗi 8 giờ hoặc nelfinavir 750mg , 3 lần/ngày
3. Bảng phác đồ điều trị sau phơi nhiễm đối với tổn thương xuyên
Tình trạng nhiễm trùng của nguồn
Loại phơi
nhiễm
HIV (+) Nhóm 1
HIV (+) Nhóm 2
HIV không xác định
Nguồn HIV không rõ HIV( -)
Ít trầm
trọng
Khuyến cáo phác đồ 2 thuốc
Khuyến cáo phác đồ 3 thuốc
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét
Không cần DTSPN
Trang 8nguồn HIV nguồn HIV
Trầm trọng
Khuyến cáo phác đồ mở rộng 3 thuốc
Khuyến cáo phác đồ mở rộng 3 thuốc
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét nguồn HIV
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét nguồn HIV
Không cần DTSPN
- HIV (+) nhóm 1 : nhiễm HIV chưa có triệu chứng hoặc tải virus thấp (<1500RNA/ml)
- HIV(+) nhóm 2 : nhiễm HIV có triệu chứng , AIDS, chuyển huyết thanh cấp , tải virus cao hoặc không rõ
- HIV không xác định : ví dụ không thử được HIV cho nguồn
- Nguồn HIV không rõ : ví dụ kim ở thùng vật sắc nhọn
- Ít trầm trọng: ví dụ kim đặc , tổn thương nông
- Trầm trọng hơn : ví dụ kim rỗng ,đâm sâu, dụng cụ vấy máu rõ, kim tiêm động tĩnh mạch
4. Bảng phác đồ điều trị sau phơi nhiễm ở niêm mạc hoặc da không lành lặn
Tình trạng nhiễm trùng của nguồn
Loại phơi
nhiễm
HIV (+) Nhóm 1
HIV (+) Nhóm 2
HIV không xác định
Nguồn HIV không rõ HIV( -)
Thể tích ít phác đồ 2Xem xét
thuôc
Khuyến cáo phác đồ 2 thuốc
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét nguồn HIV
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét khi đơn vị
có nguồn
nb nhiễm HIV
Không cần DTSPN
Thể tích
nhiều
Khuyến cáo phác đồ 2 thuốc
Khuyến cáo phác đồ mở rộng 3 thuốc
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét nghi ngờ nguồn có HIV
Nhìn chung không cần DTSPN tuy nhiêm có thể xem xét khi đơn vị
có nguồn
nb nhiễm HIV
Không cần DTSPN
- Đối với tiếp xúc qua da , theo dõi chỉ khi có bằng chứng da không lành lặn ( viêm da, da có vết thương)
- HIV (+) nhóm 1 : nhiễm HIV chưa có triệu chứng hoặc tải virus thấp (<1500RNA/ml)
- HIV(+) nhóm 2 : nhiễm HIV có triệu chứng , AIDS, chuyển huyết thanh cấp , tải virus cao hoặc không rõ
- HIV không xác định : ví dụ không thử được HIV cho nguồn
- Nguồn HIV không rõ : ví dụ bắn máu đã thải ko thích hợp
- Thể tích ít : ví dụ bắn vài giọt máu
- Thể tích nhiều : ví dụ bắn cả mảng máu
Trang 9A.THỰC TRẠNG
1. Tỷ lệ phơi nhiễm tại bệnh viện Việt Đức năm 2019
- Có tổng 31 ca phơi nhiễm với máu và dịch tiết của bệnh nhân
- Có 23/31 NVYT phơi nhiễm do kim tiêm, vật sắc nhọn đâm vào tay
- Có 6/31 NVYT phơi nhiễm do dịch, máu của bệnh nhân bắn vào mắt
- Có 2/31 NVYT phơi nhiễm do da không lành bị dính máu của người bệnh
Tỷ lệ phơi nhiễm do kim tiêm, vật sắc nhọn chiếm 74% do Việt Đức là bệnh viện ngoại khoa nên số
lượng vật sắc nhọn dùng trong phẫu thuật, chuyên môn nhiều
2. Tỉ lệ giới trong số NVYT phơi nhiễm máu/ dịch cơ thể
Số lượng nữ giới phơi nhiễm : 10 NVYT
Số lượng nam giới phơi nhiễm : 21 NVYT
số lượng NVYT nam bị phơi nhiễm nhiều hơn lý do nam giới không cẩn thận như NVYT nữ
3. Nguồn gây phơi nhiễm
- 14/31 bệnh nhân HbsAg (+)
- 08/31 bệnh nhân HCV (+)
- 04/31 bệnh nhân HIV (+)
- 05/31 không xác định
4. Loại dụng cụ gây TTNN
Dụng cụ : kim tiêm dưới da và kim lấy máu gây ra nhiều thương tổn nghề nghiệp hơn do số lượng bệnh
nhân đông dẫn đến nhiều mũi tiêm, lấy máu nhiều
5. Các thao tác thường xảy ra TTNN do VSN
Thao tác gây ra phơi nhiễm chủ yếu là tiêm truyền vì số lượng bệnh nhân đông, mũi tiêm nhiều
6. Biện pháp xử lý sau VSN đâm vào tay
- Sau 3 tháng , NVYT đều âm tính với HBV, HCV, HIV
7. Quy định về phơi nhiễm máu dịch của bệnh viện Việt Đức
Khi công chức , viên chức , NVYT bị VSN đâm vào tay hoặc dịch tiết bắn vào da, niêm mạc trên bệnh nhân
đã xác nhận nguồn lây như HIV/HCV/HbsAg hoặc chưa được xác định nguồn lây nhiễm thì tiến hành các bước sau
a. Sơ cứu ngay sau PN
b. Lập phiếu thông báo rủi ro nghề nghiệp,biên bản ( kèm phụ lục 1)
Trang 10c. Gửi về y tế cơ quan
d. Phòng y tế cơ quan có trách nhiệm làm xét nghiệm cho NVYT phơi nhiễm theo thời gian sau
BN /NVYT
xét nghiệm BN HbsAg (+) BN HCV(+) BN HIV(+) BN chưa xác định nguồn
lây
24h đầu XN HbsAg XN HCV XN HIV,công
thức máu, sinh hóa máu
XN : HbsAg, HCV, HIV
thức máu, sinh hóa máu
3 tháng sau XN HbsAg XN HCV XN HIV,công
thức máu, sinh hóa máu
XN : HbsAg, HCV, HIV
6 tháng sau XN HbsAg XN HCV XN HIV XN : HbsAg,
HCV, HIV Bệnh nhân mang virus HIV (+) thì được làm xét nghiệm miễn dịch HIV , công thức máu, sinh hóa máu và phòng y tế cơ quan viết giấy giới thiệu sang viện LSNĐ TW trong 24h để uống thuốc kháng virus
e. Sau 6 tháng , nếu NVYT nào bị lây nhiễm thì phòng y tế cơ quan sẽ làm thủ tục HS bệnh nghề nghiệp
B.NGUYÊN NHÂN
Các cơ chế có thể gây tổn thương
1. Trong khi thao tác trên bệnh nhân hay thao tác trên kim/vật sắc nhọn
- Bệnh nhân di chuyển và dụng cụ không phù hợp
- Trong khi tiêm truyền, hay rút kim khỏi đường truyền tĩnh mạch
- Đưa hay chuyền dụng cụ trong khi sử dụng
- Bệnh nhân giãy dụa
- Chưa thực hiện tiêm an toàn
- Không băng vết đứt tay
2. Thao tác với các dụng cụ hay bệnh phẩm
- Thao tác với các vật dụng trên giá hoặc khay
- Bỏ bệnh phẩm vào thùng chứa
- Đóng nắp kim
- Tháo dụng cụ
- Chùi rửa dụng cụ
- Trong khi vận chuyển rác
- Thiếu chú ý khi thao tác
3. Va chạm với người hay vật bén nhọn khác
4. Liên quan đến việc xử lý rác
- Bỏ kim vào thùng rác đựng vật sắc nhọn
- Tổn thương do kim đâm ra khỏi thùng rác đựng kim
- Thùng rác đựng vật sắc nhọn quá đầy hay bị thủng
5. Vật sắc nhọn ở những vị trí không an toàn
- Ở trong bao rác, trong quần áo giặt
- Để trên bàn/khay