BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI LỢI NHUẬN – RỦI RO VÀ MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TÀI CHÍNH (CAPM) MÔN HỌC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP LỚP HỌC PHẦN DHQ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: LỢI NHUẬN – RỦI RO VÀ MÔ HÌNH ĐỊNH
MÔN HỌC: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
LỚP HỌC PHẦN: DHQT16LTT
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths Thái Duy Tùng
NHÓM THỰC HIỆN: 04
THÀNH VIÊN CỦA NHÓM:
Tôn Trung Vũ
Đặng Thị Thu Hiền
Nguyễn Thành Phát Trần Thị Tuyết Trinh
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 Tính toán tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục đầu
tư dựa trên mô hình CAPM 3
1) Thu thập dữ liệu lịch sử về giá đóng cửa điều chỉnh của chứng khoán và chỉ số Vn-Index (đại diện cho danh mục thị trường) trong thời kỳ 5 năm gần nhất 3
2) tỷ suất sinh lợi theo ngày của từng cổ phiếu (Ri) và của danh mục thị trường (RM), tỷ suất sinh lợi trung binh và độ lệch chuẩn dựa trên dữ liệu lịch sử về giá chứng khoán và chỉ số VN-Index 3
2.1) Tỷ suất sinh lời theo ngày 3
2.2) Tỷ suất sinh lời trung bình 3
2.3) Độ lệch chuẩn của cổ phiếu tính theo TSSL 3
3) Hệ số beta của từng công ty theo dữ liệu tỷ suất sinh lời của từng cổ phiếu (Ri) và tỷ suất sinh lời của doanh mục đầu tư (Rm) 4
4) Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán và của doanh mục đầu tư 4
5) Dựa vào các kết quả tính toán trên file excel và đã cho ra các kết quả 4
PHẦN 2 Phân tích kết quả 5
1) Gỉai thích ý nghĩa của mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model – CAPM) 5
2) Nội dung của mô hình CAPM và mối quan hệ giữa lợi nhuận với rủi ro 5
3) Kết quả Beta của các chứng khoán và giải thích theo công thức 6
4) Ứng dụng mô hình CAPM trong thực tế và ảnh hưởng của CAPM tới quyết định của nhà đầu tư 7
5) So sánh với mô hình lý thuyết, xem xét những điều kiện giả định của mô hình 7
PHẦN 3 Kết quả thu hoạch sản phẩm 8
1) Các chứng khoán được nhóm lựa chọn và lí do chọn 8
2) Các phép tính nhóm đã thực hiện: 9
3) Các khó khăn và sai sót khi thực hiện của nhóm 9
4) So sánh tỉ suất sinh lời trung bình năm và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng theo CAPM: 9
5) Các điều nhóm cần cải thiện: 9
Trang 3PHẦN 1 Tính toán tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán và tỷ
suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục đầu tư dựa trên mô hình CAPM
1) Thu thập dữ liệu lịch sử về giá đóng cửa điều chỉnh của chứng khoán và chỉ số
Vn-Index (đại diện cho danh mục thị trường) trong thời kỳ 5 năm gần nhất
2) tỷ suất sinh lợi theo ngày của từng cổ phiếu (Ri) và của danh mục thị trường
(RM), tỷ suất sinh lợi trung binh và độ lệch chuẩn dựa trên dữ liệu lịch sử về giá
chứng khoán và chỉ số VN-Index.
2.1) Tỷ suất sinh lời theo ngày
* Để có thể có được số tỷ suất sinh lời theo ngày của danh mục thị trường (Rm) và doanh mục cổ phiếu (Ri) ta có công thức như sau:
Ri = (Pt – Pt-1)/Pt-1 ( Theo doanh mục cổ phiếu ) Trong đó:
Pt là giá cổ phiếu ở thời điểm t
Pt-1 là giá cổ phiếu ở thời điểm t-1
RM = (PVNt – PVNt-1)/PVN (Theo doanh mục đầu tư)
Trong đó:
PVNt là chỉ số VN-Index ở thời điểm t;
PVNt-1 là chỉ số VN-Index ở thời điểm t-1
Trang 42.2) Tỷ suất sinh lời trung bình
Rtb=
∑
i =1
n
Ri
n
Trong đó:
Ri: Tỷ suất sinh lời theo ngày
n: số mẫu quan sát
2.3) Độ lệch chuẩn của cổ phiếu tính theo TSSL
i=1
n
( Ri−Rtb )2
Trong đó:
n là số mũ quan sát
Ri: tỷ suất sinh lời theo ngày của cổ phiếu
Ritb: tỷ suất sinh lời trung bình của cổ phiếu
3) Hệ số beta của từng công ty theo dữ liệu tỷ suất sinh lời của từng cổ phiếu (Ri)
và tỷ suất sinh lời của doanh mục đầu tư (Rm)
βi =
COV (R i , R m)
σ2(R m)
Trong đó:
COV (Ri,Rm): hiệp phương sai tỷ suất sinh lời của 2 cổ phiếu
σ2(Rm): phương sai của doanh mục đầu tư
Trang 54) Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán và của doanh mục đầu tư
* Của chứng khoán: E(Ri) = Rf + (Rm – Rf)βi Trong đó:
Ri là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán i
Rf là lãi suất phi rủi ro, chú ý lấy lãi suất trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm (Số liệu lãi suất phi rủi ro phải là số liệu gần sát thời điểm phân tích nhất, nguồn số liệu từ Bộ Tài chính, hoặc Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội)
Rm là tỷ suất sinh lợi trung bình hàng năm của danh mục thị trường (lấy trung bình cộng)
* Của doanh mục đầu tư: E(R p ) = R f + (R m – R f )β p
Trong đó:
βp: Hệsố beta của danh mục đầu tư
5) Dựa vào các kết quả tính toán trên file excel và đã cho ra các kết quả
a) Kết quả về tỷ suất sinh lời trung bình của các chứng khoán và của doanh mục đầu tư
b) Độ lệch chuẩn ( mức rủi ro )
c) Phương sai
0,00060848289
1
0,0007095 0,00082359 0,0003150478 0,000154637
Trang 6d) Hiệp phương sai của các chứng khoán đối với doanh mục đầu tư
0,00017511 0,00020389 -0,00000026 0,00014578
e) Hệ số beta của các chứng khoán và của doanh mục đầu tư
f) tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán và của doanh mục đầu tư
PHẦN 2 Phân tích kết quả
1) Gỉai thích ý nghĩa của mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model
– CAPM)
Mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model – CAPM) là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán bằng lợi nhuận không rủi ro (risk – free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó Rủi ro không toàn hệ thống không được xem xét trong mô hình này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh muc đầu tư đa dạng hóa để loại bỏ loại rủi ro này
Trang 7Mô hình CAPM do William Sharpe phát triển từ những năm 1960 và được ứng dụng rất nhiều trong đầu tư chứng khoán Mặc dù còn có một số mô hình khác nỗ lực giải thích động thái thị trường nhưng mô hình CAPM là mô hình đơn giản và có khả năng ứng dụng sát thực với thực tiễn
Trong tài chính, mô hình CAPM được sử dụng để xác định tỷ suất sinh lời yêu cầu của một tài sản khi tài sản đó được thêm vào danh mục đã được đa dạng hóa tốt, với rủi ro không thể đa dạng hóa của tài sản
đó được cho trước Mô hình này đo lường độ nhạy cảm của tài sản với rủi ro không thể đa dạng hóa (cũng được gọi là rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường) mà thường được đại diện bởi hệ số beta trong ngành tài chính, cũng như với lợi tức kỳ vọng của thị trường và lợi tức kỳ vọng của một tài sản lý thuyết phi rủi ro
2) Nội dung của mô hình CAPM và mối quan hệ giữa lợi nhuận với rủi ro
Lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ tỷ lệ thuận với rủi ro của chứng khoán đó, nghĩa
là nhà đầu tư kỳ vọng chứng khoán có lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại
Hệ số beta chứng khoán (β) là hệ số đo lường mức độ rủi ro của một cổ phiếu cụ thể hay một danh mục đầu tư với mức độ rủi ro chung của thị trường chứng khoán Do đó, lợi nhuận kỳ vọng của một chứng khoán có quan hệ tỷ lệ thuận với hệ số β của nó Giả sử rằng thị trường tài chính hiệu quả và nhà đầu tư đa dạng hoá danh mục đầu tư sao cho rủi ro không toàn hệ thống không đáng kể Như vậy, chỉ còn rủi ro toàn hệ thống ảnh hưởng đến lợi nhuận của cổ phiếu
Theo mô hình CAPM mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro được thể hiện qua công thức:
E(Ri) = Rf + βi [E(Rm) – Rf]
Trong đó:
Trang 8 E(Ri): lợi nhuận kỳ vọng từ một chứng khoán i
E(Rm): lợi nhuận kỳ vọng của thị trường
Rf: lợi nhuận của tài sản phi rủi ro
βi (Hệ số beta): hệ số đo lường mức độ rủi ro của một chứng khoán cụ thể với mức độ rủi ro chung của thị trường chứng khoán
[E(Rm) – Rf]: phần bù đắp rủi ro thị trường
Đường thị trường chứng khoán trong tiếng Anh là Security Market Line, viết tắt: SML
Đường thị trường chứng khoán (SML) là
đường đóng vai trò biểu thị dạng hình học của mô
hình định giá tài sản vốn (CAPM), cho thấy rủi ro hệ
thống của chứng khoán so với lợi nhuận kì vọng của
toàn bộ thị trường tại một thời điểm nhất định
Được gọi là "đường đặc tính" (characteristic
line), SML là hình ảnh của mô hình định giá tài sản
vốn (CAPM), trong đó trục X của biểu đồ biểu thị rủi
ro theo hệ số beta và trục Y của biểu đồ thể hiện lợi
nhuận kì vọng
Về mặt hình học, mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng cổ phiếu và hệ số β được biểu diễn bằng đường thẳng có tên gọi là đường thị trường chứng khoán SML (security market line):
Từ công thức trên, nhà đầu tư cần lưu ý các điểm sau:
β = 1: Chứng khoán có rủi ro bằng rủi ro thị trường chung
β < 1: Chứng khoán có rủi ro nhỏ hơn rủi ro thị trường chung
Trang 9 β > 1: Chứng khoán có rủi ro lớn hơn rủi ro thị trường chung.
3) Kết quả Beta của các chứng khoán và giải thích theo công thức
Chỉ số β của AAA là 1,13 > 1: Chứng khoán có mức độ rủi ro lớn hơn mức chung của thị trường
Chỉ số β của CTG là 1,32 > 1: Chứng khoán có mức độ rủi ro lớn hơn mức chung của thị trường
Chỉ số β của BSI là -0,002 < 1: Chứng khoán có mức độ rủi ro nhỏ hơn mức chung của thị trường
Chỉ số β của FPT là 0,942 < 1: Chứng khoán có mức độ rủi ro nhỏ hơn mức chung của thị trường
4) Ứng dụng mô hình CAPM trong thực tế và ảnh hưởng của CAPM tới quyết định
của nhà đầu tư
Xem xét các phê bình về CAPM và các giả định đằng sau việc sử dụng nó trong việc xây dựng danh mục đầu tư, có thể khó thấy nó có thể hữu ích như thế nào Tuy nhiên, việc sử dụng CAPM như một công cụ
để đánh giá tính hợp lý của các kỳ vọng trong tương lai hoặc để tiến hành so sánh vẫn có thể có một số giá trị Một cố vấn đã đề xuất thêm một cổ phiếu vào danh mục đầu tư với giá cổ phiếu 100 đô la Cố vấn sử dụng CAPM để điều chỉnh giá với tỷ lệ chiết khấu là 13% Giám đốc đầu tư của cố vấn có thể lấy thông tin này và so sánh với kết quả hoạt động trong quá khứ của công ty và các công ty cùng ngành để xem liệu lợi nhuận 13% có phải là kỳ vọng hợp lý hay không
+ Giả sử rằng, danh mục đầu tư tối ưu này không bao gồm cổ phiếu của một công ty nào đó, ví dụ như cổ phiếu VCB (Ngân hàng TMCP Ngoại thương) Khi các nhà đầu tư không muốn nắm giữ cổ phiếu VCB, cầu đối với cổ phiếu này bằng không, khi đó giá của VCB sẽ giảm tự do Giá VCB càng giảm, cổ phiếu này càng trở nên hấp dẫn và các cổ phiếu khác có vẻ ít hấp dẫn hơn Cuối cùng, cổ phiếu VCB sẽ chạm đến một mức giá đủ hấp dẫn để lọt vào danh mục đầu tư tối ưu
Trang 10+ CAPM được xây dựng dựa trên quan điểm: Phần bù rủi ro hợp lý của một tài sản được xác định dựa trên phần rủi ro mà tài sản đó đóng góp vào rủi ro của toàn danh mục Rủi ro được chia thành rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Trong đó, rủi ro phi hệ thống có thể được giảm thiểu tới mức tối đa nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư, do đó nhà đầu tư không yêu cầu phần bù rủi ro cho rủi ro này Họ chỉ yêu cầu được bù đắp cho phần rủi ro hệ thống – phần rủi ro không thể loại trừ nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư Rủi ro mà một chứng khoán riêng lẻ đóng góp vào rủi ro của một danh mục đầu tư đã được đa dạng hóa phụ thuộc vào rủi ro hệ thống của tài sản đó, đo lường bằng hệ số beta Do đó, phần bù rủi ro của một tài sản sẽ tỷ lệ với beta, ví dụ, nếu rủi ro hệ thống của một chứng khoán tăng gấp đôi, phần bù rủi ro cho nhà đầu tư cũng phải tăng gấp đôi để đảm bảo nhà đầu tư sẽ nắm giữ chứng khoán đó Do vậy, tỷ số giữa phần bù rủi ro và beta là bằng nhau cho bất kỳ hai chứng khoán hoặc hai danh mục đầu tư nào
+ Nếu phần bù rủi ro thị trường là 2.5%, CAPM dự báo rằng phần bù rủi ro của mỗi cổ phiếu bằng 2.5% nhân với beta của cổ phiếu đó Và chẳng hạn như để tính phần bù rủi ro của danh mục 0.44* 2.5% = 1,1% Kết quả tương tự nếu chúng ta lấy bình quân gia quyền các phần bù rủi ro của mỗi phiếu
+ Nhà đầu tư có thể sử dụng quan sát này để đánh giá lại cách danh mục đầu tư của họ được xây dựng và những khoản nắm giữ nào có thể không nằm trong SML Điều này có thể giải thích tại sao danh mục đầu tư của nhà đầu tư nằm bên phải CML Nếu xác định được các khoản nắm giữ đang kéo lợi nhuận hoặc làm tăng rủi ro của danh mục đầu tư một cách không cân xứng, thì nhà đầu tư có thể thực hiện các thay đổi để cải thiện lợi nhuận
+ Ví dụ, mọi người đều biết doanh nghiệp hiện đang hoạt động rất tốt, giá cổ phiếu của doanh nghiệp
đó sẽ được đẩy lên cao, tỷ lệ lợi tức của những người nắm giữ cổ phiếu (những người đã mua cổ phiếu đó tại mức giá cao) sẽ không lớn Giá cổ phiếu phản ánh thông tin đại chúng về triển vọng của doanh nghiệp, nhưng
Trang 11chỉ rủi ro của doanh nghiệp (đo lường bằng hệ số beta) mới ảnh hưởng tới tỷ lệ lợi tức kỳ vọng Trong một thị trường hoàn hảo, nhà đầu tư chỉ nhận được tỷ lệ lợi tức kỳ vọng cao nếu như họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro
5) So sánh với mô hình lý thuyết, xem xét những điều kiện giả định của mô hình
Để xây dựng các mô hình kinh tế, các nhà kinh tế học luôn đặt ra những giả định Chúng có tác dụng làm đơn giản hoá nhưng vẫn đảm bảo không thay đổi tính chất của vấn đề Trong mô hình CAPM, chúng ta lưu ý có những giả định sau:
Thị trường vốn được coi là hiệu quả và hoàn hảo, theo đó nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy đủ, chi phí giao dịch không đáng kể, không có những hạn chế đầu tư, và không có nhà đầu tư nào đủ lớn để ảnh hưởng đến giá cả của một loại chứng khoán nào đó
Nhà đầu tư kỳ vọng nắm giữ chứng khoán trong thời kỳ 1 năm và có hai cơ hội đầu tư: đầu tư vào chứng khoán không rủi ro và đầu tư vào danh mục cổ phiếu thường trên thị trường Trước hết cần xem xét các giả định cơ bản để xây dựng mô hình CAPM Về cơ bản, các nhà đầu tư là hoàn toàn giống nhau ngoại trừ lượng vốn đầu tư ban đầu và mức độ chấp nhận rủi ro Các giả định của mô hình CAPM bao gồm:
1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Cụ thể, trên thị trường có rất nhiều nhà đầu tư, mỗi nhà đầu tư sở hữu một lượng vốn nhỏ tương đối so với tổng lượng vốn của toàn thị trường Do vậy, các giao dịch đơn lẻ của các nhà đầu tư không ảnh hưởng tới giá tài sản
2 Các nhà đầu tư có khoảng thời gian đầu tư giống nhau
3 Các nhà đầu tư sẽ thiết lập một danh mục từ các tài sản tài chính hiện đang được giao dịch công khai trên thị trường như cổ phiếu và trái phiếu, và có thể tiếp cận với các cơ hội vay và cho vay với lãi suất phi rủi ro
Trang 124 Các nhà đầu tư không phải chịu thuế đối với thu nhập từ tài sản và chi phí giao dịch (tiền hoa hồng và phí dịch vụ) Trên thực tế, chúng ta biết rằng mỗi nhà đầu tư nằm trong một khung thuế khác nhau và điều này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn tài sản của các nhà đầu tư
5 Các nhà đầu tư là nhà đầu tư lý trí và luôn cố gắng tối ưu hóa mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro, nghĩa
là tất cả các nhà đầu tư đều áp dụng lý thuyết Markowitz khi xây dựng danh mục đầu tư
6 Thông tin trên thị trường là hoàn hảo Các nhà đầu tư đều được tiếp cận thông tin như nhau, và họ phân tích các thông tin này một cách giống nhau
7 Kỳ vọng đồng nhất Các nhà đầu tư phân tích chứng khoán một cách giống nhau Họ có cùng kỳ vọng vào nền kinh tế tương lai Do đó, các ước lượng về về phân phối xác suất của dòng tiền tương lai khi đầu tư vào các chứng khoán là giống nhau Như vậy, nếu có một tập hợp giá các chứng khoán, và lãi suất phi rủi ro, các nhà đầu tư sẽ sử dụng cùng một tỷ lệ lợi tức và độ lệch chuẩn cũng như độ tương quan để xây dựng đường biên hiệu quả và danh mục đầu tư hiệu quả
Rõ ràng các giả định này đã đơn giản hóa rất nhiều so với thực tế phức tạp của thị trường tài chính Với các giả định này, chúng ta vẫn có thể có được một cái nhìn hợp lý về bản chất của sự cân bằng trong thị trường chứng khoán
PHẦN 3 Kết quả thu hoạch sản phẩm
1) Các chứng khoán được nhóm lựa chọn và lí do chọn
AAA: Là doanh nghiệp có quy mô lớn nhất với sản lượng sản xuất khoảng 3.000 tấn/tháng so với các doanh nghiệp cùng ngành và đã được khẳng định trong lĩnh vực xuất khẩu sản phẩm cho các thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ hay Châu Âu