1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

12 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật 'thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập' để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Hoàng Phương Thảo
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Triết học Mác - Lênin
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 317,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP HỌC KỲMÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN ĐỀ BÀI: SỐ 5 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI “ Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa cá

Trang 1

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

ĐỀ BÀI: SỐ 5

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

“ Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt

Nam hiện nay.”

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1 NỘI DUNG _2 CHƯƠNG 1 QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP _2

I Các khái niệm 2

1 Khái niệm quy luật 2

2 Khái niệm các mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập _2

3 Khái niệm mâu thuẫn 3

4 Khái niệm quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập 3

II Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển _4 III Ý nghĩa phương pháp luận _4 CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO TRONG THỰC TIỄN 5

I Các khái niệm: _5

1 Khái niệm “phát triển kinh tế” _5

2 Khái niệm “ Môi trường” và “bảo vệ môi trường” _5

II Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất

và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa nhu cầu phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay: _6

1 Lý giải vấn đề: 6

2 Giải quyết vấn đề: _9 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO _11

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay gọi là quy luật mâu thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác -Lênin, là hạt nhân của phép biện chứng Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển, , theo đó nguồn gốc của sự phát triển chính là mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng V.I.Lenin viết “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết

về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm” 1

Chính vì tầm quan trọng của nó cho nên em đã chọn đề “Vận dụng nội

dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài bài tập lớn học kì Trong quá trình thực

hiện đề tài, do chưa có nhận thức đầy đủ, đúng đắn nên bài làm của em sẽ có một số thiếu sót, khuyết điểm Em rất mong các thầy cô sẽ đọc kĩ và có sự góp

ý, hướng dẫn để bài làm của em ngày càng hoàn thiện hơn

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP

I Các khái niệma

1 Khái niệm quy luật

Trong đời sống hàng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiện tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật” Với tư cách là cái

tồn tại ngay trong hiện thực, quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ

1 V.I.Lenin: Toàn tập (1981), Nxb Tiến bộ, Moscow, t.29, tr.240.

Trang 4

biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự

vật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau2

2 Khái niệm các mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những

tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật

Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề

Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng

có những nhân tố giống nhau Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự đồng

nhất của các mặt đối lập Với ý nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập

còn bao hàm cả sự đồng nhất của các mặt đó Do có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khia mẫu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau

Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn đấu tranh với nhau

Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và

phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó

3 Khái niệm mâu thuẫn

Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau 3

Các tính chất chung của mâu thuẫn là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng Tính khách quan của mâu thuẫn được thê hiện ở việc mâu thuẫn tồn tại ở ngay trong các sự vật, hiện tượng, tự nảy sinh và tự giải quyết, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Tính phổ biến của mâu thuẫn là mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mâu thuẫn, cả trong tự nhiên, xã hội và

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình Triết học Mác-Lenin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lenin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Trang 5

tư duy Tính đa dạng của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau

4 Khái niệm quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thực chất là mọi sự

vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân nó; sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động và phát triển, làm cho cái cũ mất đi

và cái mới ra đời thay thế

II Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển

Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển và đi đến đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó

mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới Tuy nhiên không

có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển

III Ý nghĩa phương pháp luận

Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển, do vậy, trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn , phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động, phát triển V.I.Lenin cho rằng: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó… đó là thực chất… của phép biện chứng.”

Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vị trí, vai trò của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm

Trang 6

của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO TRONG THỰC TIỄN

I Các khái niệm:

1 Khái niệm “phát triển kinh tế”

Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế

Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống Phát triển nền kinh tế là một quá trình tiến hoá theo thời gian và do những nhân tố nội tại quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó

2 Khái niệm “ Môi trường” và “bảo vệ môi trường”

a, Môi trường:

Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo

có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên

b, Bảo vệ môi trường:

Bảo vệ môi trường là các hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác

sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường

II Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống

nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay:

Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau mà phép Biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập hay mâu thuẫn Quy

Trang 7

luật mâu thuẫn đã vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của bản thân sự vật và hiện tượng Khi cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội , Đảng ta

đã xác định mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta là mâu thuẫn giữa hai con đường: con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Đó là cơ sở khách quan để Đảng ta đề ra đường lối chung và đường lối kinh tế cho sự nghiệp đổi mới của đất nước Chính nhờ xác định được những mâu thuẫn ấy, nền kinh tế của nước ta đã đạt được những thành tựu bước đầu mang tính quyết định , quan trọng trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kinh tế thị trường luôn chứa đựng những mặt tiêu cực kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới Với mong muốn có thể có một cái nhìn đúng đắn hơn về nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, em xin đi vào phân tích Phép Biện chứng về mâu thuẫn và vận dụng phân tích mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với bảo vệ Môi trường sinh thái ở Việt Nam

Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội quan hệ khăng khít, chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong thế cân đối thống nhất: Môi trường tự nhiên (bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội Sự giàu nghèo của mỗi nước phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tài nguyên: Rất nhiều quốc gia phát triển chỉ trên cơ sở khai thác tài nguyên để xuất khẩu đổi lấy ngoại tệ, thiết bị công nghệ hiện đại… Có thể nói, tài nguyên nói riêng

và môi trường tự nhiên nói chung có vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững về kinh tế – xã hội (KT-XH) ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương vì:

Thứ nhất, môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng “đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống.

Quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa là hoạt động sản xuất Những dạng vật chất ở đây chính là các yếu tố môi trường

Các hoạt động sống như cũng vậy, con người ta cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết,… Tất cả những dạng vất chất đó đều là từ các yếu tố môi trường mà được hình thành

Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên – kể cả sức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người Hay nói khác đi: Môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời sống Tuy

Trang 8

nhiên, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên

Ngược lại môi trường tự nhiên cũng là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống Quá trình sản xuất, hoạt động này đã thải ra môi trường rất nhiều chất thải (cả khí thải, nước thải, chất thải rắn) Nhiều chất thải tạo ra rất loại chất độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của

xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải Những chất thải này nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đối với môi trường

Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về cả vật chất và tinh thần của con người thông qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài người trong quá trình sống và tồn tại Giữa

môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và

đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.

Trong hệ thống kinh tế - xã hội, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chất thải Các thành phần đó luôn luôn tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó

Như vậy, để phát triển, dù là giàu có hay nghèo đói sẽ đều tạo ra khả năng gây ô nhiễm môi trường Vấn đề ở đây là phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ môi trường Để xã hội phát triển bền vững, chúng ta không được khai thác quá mức dẫn tới hủy hoại tài nguyên, môi trường; thực hiện các giải pháp sản xuất sạch, phát triển sản xuất đi đôi với các giải pháp xử

lý môi trường; bảo tồn các nguồn gen động vật, thực vật; bảo tồn đa dạng sinh học; không ngừng nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo vệ môi trường…

Thứ ba, môi trường có liên quan tới tương lai của đất nước, dân tộc

Trang 9

Như đã nêu trên, bảo vệ môi trường chính là để giúp cho sự phát triển kinh

tế cũng như xã hội được bền vững Kinh tế - xã hội phát triển giúp chúng ta có

đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc Điều đó lại tạo điều kiện ổn định chính trị xã hội để kinh tế - xã hội phát triển Bảo vệ môi trường là việc làm không chỉ mang ý nghĩa cho thực tại,

mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai lâu dài Giả sử một sự phát triển có mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt nhưng lại khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều kiện để phát triển mọi mặt (cả về kinh tế, xã hội, thể chất, trí tuệ con người…), thì sự phát triển đó chẳng có ích gì thậm chí là đáng lên án! Nếu hôm nay thế hệ chúng ta không quan tâm tới, không làm tốt công tác bảo vệ môi trường mà làm cho môi trường bị hủy hoại thì trong tương lai, con cháu chúng ta chắc chắn sẽ phải gánh chịu những hậu quả tồi tệ

2 Giải quyết vấn đề:

Nhận thức rõ điều đó, trong bối cảnh chúng ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Ngay những dòng đầu tiên, Chỉ thị đã nêu rõ: “Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ trên phạm vi toàn thế giới” Như vậy bảo vệ môi trường có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự nghiệp phát triển của đất nước Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” không thể thực hiện được nếu chúng ta không làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ môi trường

Tuy còn có nhiều khó khăn về kinh tế, song Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách tích cực về công tác bảo vệ môi trường như: Xây dựng hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng hoàn thiện; xây dựng

hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến địa phương; tăng cường đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý về môi truờng; đầu tư nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội có ý nghĩa về bảo vệ môi trường, và 26/6/2002, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam

Trang 10

Song trên thực tế cũng phải thừa nhận rằng còn nhiều điều bất cập trong công tác bảo vệ môi trường mà chúng ta chưa làm được: Môi trường vẫn từng ngày, từng giờ bị chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của chúng ta làm cho ô nhiễm nghiêm trọng hơn, sự phát triển bền vững vẫn đứng trước những thách thức lớn lao Điều này đòi hỏi mọi người, mọi nhà, mọi địa phương trong

cả nước phải thường xuyên cùng nhau nỗ lực giải quyết, thực hiện nghiêm chỉnh Luật bảo vệ môi trường Có như vậy chúng ta mới có thể hy vọng vào một tương lai với môi trường sống ngày càng trong lành hơn

KẾT LUẬN

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập của phép biện chứng duy vật vừa nghiên cứu trên đây đề cập đến các phương diện khác nhau của quá trình vận động và phát triển của sự vật Trong thực tế, sự vận động và phát triển của bất cứ sự vật nào cũng là sự tác động tổng hợp của tất cả những quy luật cơ bản do phép biện chứng duy vật trừu tượng hóa và khái quát hóa Chính vì thế, trong hoạt động của bản thân, cả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, ta phải vận dụng tổng hợp tất cả những quy luật đó một cách đầy đủ, sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể Chỉ có như vậy, hoạt động của chính bản thân, kể cả hoạt động học tập, mới đạt được chất lượng và hiệu quả cao

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb.

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

2 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập (1994), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3 Phạm Văn Đức (1997), Phạm trù "quy luật" trong lịch sử triết học phương

Tây, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

4 Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa

học Mác Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình Triết học Mác

-Lê Nin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5 Bạch Đăng Minh (1997), Những nội dung cơ bản của triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Ngày đăng: 06/12/2022, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2004), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb.Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
2. C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập (1994), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Karl Marx, Friedrich Engels
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 1994
3. Phạm Văn Đức (1997), Phạm trù "quy luật" trong lịch sử triết học phương Tây, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm trù "quy luật" trong lịch sử triết học phương Tây
Tác giả: Phạm Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1997
4. Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình Triết học Mác - Lê Nin, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lê Nin
Tác giả: Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
5. Bạch Đăng Minh (1997), Những nội dung cơ bản của triết học Mác – Lênin , Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản của triết học Mác – Lênin
Tác giả: Bạch Đăng Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Năm: 1997

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w