1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả vào nhận thức và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước ở việt nam hiện nay

20 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả vào nhận thức và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 331,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môi trường nước đóng vai trò mang tính quyết định đối với sự sống còn nhân loại thông qua việc tác động trực tiếp đến các thành phần của cấu trúc sinh quyển, điều hoà các yếu tố khí hậu,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

-BÀI TẬP NHÓM

MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I Sơ lược về cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả 3

1 Các khái niệm 3

2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 3

3 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả 4

II Vận dụng vào nhận thức và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam hiện nay 5

1 Đôi nét về hiện tượng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam 5

2 Nguyên nhân 7

3 Kết quả 11

4 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 13

5 Đề xuất một số giải pháp khắc phục 15

KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

MỞ ĐẦU

Tất cả các sự sống trên trái đất đều liên quan và phụ thuộc vào nước cũng như vòng tuần hoàn của nước Môi trường nước đóng vai trò mang tính quyết định đối với sự sống còn nhân loại thông qua việc tác động trực tiếp đến các thành phần của cấu trúc sinh quyển, điều hoà các yếu tố khí hậu, đất đai và sinh vật, cung cấp nguồn nước cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế của con người Tuy nhiên theo thời gian, cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống xã hội

và hoạt động sản xuất vật chất, con người đang vô tình tạo sức ép không nhỏ lên thành phần tự nhiên, đặc biệt là môi trường nước Ô nhiễm nước giờ đây đã trở thành vấn đề toàn cầu, đặt ra thách thức lớn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Muốn xử lí triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường nước, cần thiết phải phân tích các yếu tố nguyên nhân cũng như kết quả sự tác động của những yếu tố ấy đối với

Trang 3

chất lượng môi trường, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp thích hợp Đây cũng chính là

lí do nhóm chúng em chọn chủ đề “Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp

luận của cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả vào nhận thức và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.

NỘI DUNG

I Sơ lược về cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả

1 Các khái niệm

Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác lẫn nhau giữa các mặt

trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định

Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tương tác

giữa các yếu tố mang tính nguyên nhân gây nên

2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

Thứ nhất, nguyên nhân sản sinh ra kết quả.

- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động Tuy nhiên, không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng đều biểu hiện mối liên hệ nhân quả

- Cùng một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể Ngược lại, cùng một kết quả có thể được gây nên bởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hoặc cùng một lúc

- Nếu nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng một hướng thì sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều, đẩy nhanh sự hình thành kết quả Ngược lại, nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác nhau thì sẽ làm suy yếu, thậm chí triệt tiêu các tác dụng của nhau

Trang 4

- Căn cứ vào tính chất, vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, có thể phân loại nguyên nhân thành:

+ Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu

+ Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài

+ Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

Thứ hai, sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân.

Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò thụ động mà lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng đó có thể diễn ra theo hai hướng:

+ Thúc đấy sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tích cực)

+ Cản trở sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tiêu cực)

Thứ ba, nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau.

Điều này xảy ra khi ta xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối quan hệ khác nhau Một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan

hệ khác là kết quả và ngược lại

Một hiện tượng nào đó là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra, đến lượt mình sẽ trở thành nguyên nhân sinh ra hiện tượng thứ ba… Và quá trình này tiếp tục mãi không bao giờ kết thúc, tạo nên một chuỗi nhân quả vô cùng tận Trong chuỗi đó không có khâu nào là bắt đầy hay cuối cùng

3 Ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả

- Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhưng không phải con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân Nhiệm vụ của nhận thức khó học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Muốn tìm nguyên nhân phải

Trang 5

tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc con người, tách rời với thế giới hiện thực

- Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện tượng đó xuất hiện Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân khách quan,… Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân

có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực

- Kết quả tác động trở lại nguyên nhân Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thức đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích

II Vận dụng vào nhận thức và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam hiện nay

1 Đôi nét về hiện tượng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam

Ô nhiễm môi trường nước có tên gọi bằng tiếng Anh là Water pollution, dùng để chỉ hiện tượng nguồn nước (bao gồm cả nước mặt và nước ngầm) bị nhiễm bẩn, thay đổi thành phần và chất lượng theo chiều hướng xấu, trong nước có các chất độc hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe người và hệ sinh vật Biểu hiện ô nhiễm môi trường nước thường thấy nhất là nước có màu lạ (màu vàng, màu đen, màu nâu đỏ, ), mùi lạ (mùi tanh hôi, thối nồng nặc, mùi thum thủm,…)

và xuất hiện váng, nổi bọt khí, có nhiều sinh vật sống trong nước bị chết

Thực trạng ô nhiễm môi trường nước hiện nay ở Việt Nam rất đáng báo động Cụ thể:

- Ô nhiễm môi trường nước tại các đô thị và thành phố lớn:

Trang 6

Tại Thành phố Hà Nội: Khoảng 350 – 400 nghìn m3 nước thải và hơn 1.000m3 rác thải xả ra mỗi ngày, nhưng chỉ 10% được xử lý, số còn lại xả trực tiếp vào sông ngòi gây ô nhiễm nước khiến cá chết hàng loạt ở Hồ Tây, mức độ ô nhiễm rộng khắp 6 quận (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Cầu Giấy, Tây Hồ) Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ô nhiễm môi trường nước điển hình nhất là ở cụm công nghiệp Thanh Lương, có tới khoảng 500.000m3 nước thải/ngày từ các nhà máy bột giặt, giấy, nhuộm

Các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP)

- Ô nhiễm môi trường nước tại nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp:

Hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao

Hiện tượng thuỷ triều đỏ được ghi nhận ở một số vùng ven biển Việt Nam (Bình Thuận, Hà Tĩnh )

- Những con số rất đáng lo ngại về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở nước ta:

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường báo cáo có đến hơn 17 triệu người tại Việt Nam chưa được tiếp cận với nước sạch (2022)

Khoảng 9.000 người tử vong mỗi năm do nguồn nước và vệ sinh kém (theo thống

kê của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên & Môi trường)

Khoảng 21% dân số đang sử dụng nguồn nước bị nhiễm Asen (theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường)

44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻm em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại Việt Nam do thiếu nước sạch và vệ sinh kém (theo WHO)

Trang 7

2 Nguyên nhân

2.1 Phương hướng nghiên cứu

Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả, chúng ta rút ra được phương hướng nghiên cứu nguyên nhân ô nhiễm như sau: + Trước tiên phải dựa vào hiện thực xảy ra, không được suy đoán lung tung, phải

có căn cứ rõ ràng Sau khi đánh giá sơ bộ các chỉ tiêu vật lí của nước (màu sắc, mùi

vị, độ đục ), phải tiến hành lấy mẫu xét nghiệm, trên cơ sở những chỉ tiêu hóa học (độ cứng, độ axit, độ PH, các kim loại nặng, hàm lượng oxi hòa tan ) và cả chỉ tiêu

vi sinh để xác định được đúng mức độ ô nhiễm của nguồn nước

+ Nguyên nhân luôn có trước kết quả, nên muốn tìm nguyên nhân của hiện tượng, cần kiểm tra xác thực, nắm được rõ tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn nước trước khi bị ô nhiễm

+ Tiếp sau đó, cần phân loại được ra các nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân bên trong đồng thời nắm được chiều hướng tác động của chúng

2.2 Kết quả nghiên cứu

Nguyên nhân thứ yếu: Ô nhiễm do tác động của tự nhiên

- Sự sụt lở núi đồi, đất ven bờ sông làm dòng nuớc cuốn theo các chất cơ học như bùn, đất, cát, chất mùn…hòa vào nguồn nước gây ô nhiễm

- Sự phun trào của núi lửa làm bụi khói bốc lên cao theo nước mưa rơi xuống đất

- Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất bẩn, cáu cặn trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hóa chất trước đây đã được cất giữ

- Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ Một phần sẽ ngấm vào lòng đất sau đó theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn

Trang 8

- Có thể do đặc tính địa chất của nguồn nước ví dụ như nước trên đất phèn thường chứa nhiều sắt, nhôm; nước lấy từ lòng đất thường chứa nhiều canxi

Tuy nhiên, tự nhiên vốn luôn tồn tại sự cân bằng bởi các quá trình tuần hoàn Vậy nên chỉ sau một thời gian, môi trường nước bị ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên sẽ được trả lại nguyên vẹn như ban đầu

Nguyên nhân chủ yếu: Ô nhiễm do tác động của con người

- Hoạt động sản xuất công nghiệp: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hiện nay

ở Việt Nam có rất nhiều các nhà máy, khu công nghiệp, được xây dựng và đi vào hoạt động Tuy nhiên, chỉ có khoảng gần 40% trong số đó có xây dựng hệ thống xử

lý chất thải theo tiêu chuẩn Lượng chất thải từ các nhà máy, khu công nghiệp còn lại chưa qua xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường sẽ làm ô nhiễm nguồn nước, đất

và cả không khí

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp: Để đảm bảo cho năng suất vụ mùa, người nông

dân ở nước ta thường sử dụng các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật này chỉ được cây trồng hấp thụ một phần nhỏ, số còn lại sẽ ngấm vào đất, nước làm các môi trường này bị ô nhiễm Đặc biệt, sau khi làm ô nhiễm nước bề mặt, chúng còn thấm sâu xuống lòng đất làm ô nhiễm mạch nước ngầm Ngoài ra, phân, nước tiểu, thức ăn thừa, của gia súc, gia cầm trong chăn nuôi cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước

- Hoạt động khai thác khoáng sản: Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi

tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá Chất thải rắn bị đổ vào nguồn nước, bụi thải không được xử lý tham gia vào thành phần nước mưa và nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên sẽ gây ô nhiễm nặng nề

- Hoạt động giao thông đường thủy: Trong quá trình hoạt động, các phương tiện

đường thủy không lắp đặt hệ thống xử lí nước thải hoặc lắp đặt hệ thống đơn giản không đạt chuẩn thường xả dầu, nước dằn, nước làm mát chứa các chất độc hại vượt quá quy chuẩn cho phép ra môi trường Khi dầu tiếp xúc với môi trường nước

sẽ xuất hiện hiện tượng nhũ tương làm suy giảm chất lượng nước mặt Nguy hiểm

Trang 9

hơn, khi sự cố tràn dầu không may xảy ra sẽ khiến hàm lượng dầu trong nước tăng cao, các màng dầu làm ngăn sự trao đổi ôxy giữa không khí và nước, làm cán cân điều hòa oxy trong hệ sinh thái bị đảo lộn

- Chất thải sinh hoạt của con người: Hàng ngày, các hoạt động sinh hoạt của con

người thường tạo ra rất nhiều rác thải, chẳng hạn như: thức ăn thừa, bao bì ni lông, các loại chai lọ, Sau đó, do không được phân loại và vứt đúng nơi quy định, rác thải xuất hiện tràn lan ở khắp nơi, làm ô nhiễm môi trường nước và cả đất Các chất thải như: phân, nước tiểu, nước bẩn từ hoạt động giết mổ, chế biến thực phẩm, của con người cũng là nguyên nhân làm nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm

Nguyên nhân khách quan:

- Quy mô nền kinh tế và dân số nước ta ngày càng tăng, mức độ công nghiệp hoá

và đô thị hóa ngày càng cao, khai thác tài nguyên thiên nhiên ồ ạt và thiếu kiểm soát, phát sinh nhiều nguồn gây ô nhiễm, chất thải ngày càng tăng về thành phần và khối lượng, cơ sở hạ tầng thu gom và xử lý chất thải còn thiếu và không được đầu

tư đồng bộ, dẫn đến các áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ

- Môi trường sinh thái nước ta chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu toàn cầu Biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên nước mặt, giảm lưu lượng của dòng chảy do nguồn bổ cập là lượng mưa bị thiếu hụt trong thời kỳ kéo dài Thêm vào đó, lượng bốc hơi trung bình hàng năm tăng do nhiệt độ gia tăng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự điều chỉnh của sông suối, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do các lớp chất trầm tích tích tụ, đẩy mạnh sự phân hủy của các cacbon hữu

cơ tạo nên môi trường “phú dưỡng”, gia tăng hàm lượng các chất ô nhiễm trong hệ thống nước của khu vực

- Các hoạt động trong chiến tranh cũng để lại hậu quả lâu dài đối với môi trường: Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã rải hàng triệu tấn bom đạn, cùng với hàng triệu tấn chất độc hóa học, trong đó chủ yếu là: chất độc màu da cam, chất trắng dùng để phá hủy rừng, chất xanh dùng để phá hoại mùa màng Đây

là những chất độc hóa học có chứa hàm lượng lớn chất dioxin, khó phân hủy, gây

Trang 10

chết thực vật, làm ô nhiễm nguồn đất, nước, hủy hoại nghiêm trọng môi trường sinh thái ở đất nước ta, không những trong quá khứ mà vẫn duy trì đến hiện nay

Nguyên nhân chủ quan:

- Văn hóa, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cá nhân và tổ chức còn

nhiều hạn chế:

Người dân xả rác bừa bãi, đổ chất thải sinh hoạt trực tiếp ra ao hồ, sử dụng phân bón và hóa chất quá đà trong sản xuất, sử dụng nước hoang phí không hợp lí… Doanh nghiệp vì những lợi ích ngắn hạn mà bỏ qua vấn đề môi trường, thiếu quan tâm và e ngại về chi phí cho hệ thống xử lý nước Mức độ và tần suất các vụ vi phạm pháp luật, các sự cố trong sản xuất gây ra ô nhiễm môi trường tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng kinh tế Trong đó, vụ việc công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh vào tháng 4/2016 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường biển từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế là một ví dụ điển hình

- Sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường:

Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước

Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa

có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước)

Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý

và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn

Ngày đăng: 06/12/2022, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w