Phân 1: 1.1 Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học: Mất đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng của các loài thực vât hoặc động vât trên toàn thế giới, và cũng là sự suy giam hoặc biến mất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
(Học kỳ I, Năm học 2021-2022)
GVHD:
Lớp: (Ghi chú: Theo mã lớp học phần môi trường và phát triển)
Họ và tên sinh viên:
Mã số sinh viên:
, ngày tháng năm 2022
Trang 2MUC LUC NỘI DUNG:
I Phân 1:
1
1.1 Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học………trang 3.2 Nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học……….trang 3 1.3 Hâu qua của việc suy thoái đa dạng sinh học……… trang 6
II Phân 2:
2
2
.1 Đánh giá tác động tới môi trường trong quá trình hoạt động du lịch…… trang 7 2 Biện pháp giai quyết mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bao vệ môi
trường……… trang 10
Trang 3NỘI DUNG:
I Phân 1:
1.1 Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học:
Mất đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng của các loài (thực vât hoặc động vât) trên toàn thế giới, và cũng là sự suy giam hoặc biến mất của loài tại địa phương trong một môi trường sống nhất định Hiện tượng thứ hai có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn, tùy thuộc vào việc suy thoái môi trường dẫn đến mất mát
có thể đao ngược thông qua phục hồi sinh thái/kha năng phục hồi sinh thái hoặc
có hiệu qua vĩnh viễn (ví dụ như mất đất) Sự tuyệt chủng toàn cầu cho đến nay
đã được chứng minh là không thể đao ngược Mặc dù tuyệt chủng vĩnh viễn trên toàn cầu là một hiện tượng mạnh mẽ hơn so với thay đổi khu vực trong thành phần loài, ngay ca những thay đổi nhỏ từ trạng thái ổn định lành mạnh cũng có thể có anh hưởng đáng kể đến lưới thức ăn và chuỗi thức ăn trong trường hợp giam chỉ một loài có thể anh hưởng xấu đến toàn bộ chuỗi (cùng tuyệt chủng), dẫn đến giam tổng thể đa dạng sinh học, các trạng thái ổn định thay thế có thể có của một hệ sinh thái Các tác động sinh thái của đa dạng sinh học thường bị anh hưởng bởi sự mất mát của nó Gia đa dạng sinh học đặc biệt dẫn đến giam các dịch vụ hệ sinh thái và cuối cùng gây nguy hiểm ngay lâp tức cho an ninh lương thực, và cho nhân loại
1.2 Nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học:
Những nguyên nhân phổ biển toàn cầu của suy thoái đa dạng sinh học và biểu hiện của
chúng ở Việt Nam:
Việt Nam là một trong 16 quốc gia sở hữu sự đa dạng sinh học cao nhất thế giới Hơn 50.000 loài đã được xác định trong đó có 20.000 loài thực vât trên cạn và dưới nước, 10.500 động vât trên cạn, 2.000 loài động vât không xương sống và cá nước ngọt, cùng hơn 11.000 loài sinh vât biển Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam đang phai đối mặt với tình trạng suy thoái đa dạng sinh học đang diễn
ra ngày càng lớn Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực nhằm giai quyết vấn đề này thông qua các chính sách, chiến lược quốc và nhiều dự án, suy thoái đa dạng sinh học vẫn đang là một thách thức rất lớn, đòi hỏi sự chung tay giai quyết của ca cộng đồng, bao gồm nhà nước, các tổ chức xã hội dân sự và đặc biệt là các doanh nghiệp san xuất
Từ các dữ liệu phân tích, báo cáo cho thấy 21% các loài thú, 6,5% các loài chim, 19% các loài bò sát, 24% các loài lưỡng cư, 38% các loài cá và 2,5% các loài thực vât có mạch đã bị đe doạ Trong gần 20 năm trở lại đây, các khu vực có rừng là sinh canh bị anh hưởng nhiều nhất với hơn 10.544 km2 diện tích đất rừng đã bị mất, chủ yếu do chuyển đổi thành đất rừng trồng và đất trồng cây ăn qua Khoang 2,8 triệu ha rừng tự nhiên cũng đã bị mất do chuyển đổi sang phát triển các loài cây trồng thương mại khác
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam, bao gồm ca những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, như khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, khai thác gỗ trái phép, buôn bán trái phép các loài hoang dã, các hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng thâm canh nông nghiệp, cũng như các hoạt động san xuất kinh tế khác nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng gia tăng của con người
- Tác động của thương mại nông sản, lâm sản và hải sản:
Trang 4Khi các cộng đồng không cách biệt, không giao lưu với nhau thì các san phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp chỉ đóng khung trong cộng đồng Vì vây, nhu cầu khai thác hàng loạt để buôn bán, xuất khẩu quy mô lớn không xay ra Tuy nhiên, khi các quốc gia phát triển với với những lợi thế tương đối khác nhau, với sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng thì việc khai thác và mua bán các loại nông san, lâm san và hai san trở nên có quy mô lớn hơn Điều này đồng nghĩa với việc một số giống loài có thể bị hi sinh để nhường chỗ cho một vài giống loài có thể phục vụ cho nhu cầu phát triển thương mại của cộng đồng Các cộng đồng có thể hi sinh những giống lúa đặc hữu của mình để nhâp và trông những giống lúa lai tạo có năng suất cao hơn phục vụ thương mại Những cánh rừng đước ngâp mặn và những loài mà cuộc sống gắn liền với chúng có thể bị hi sinh để mang lại những san lượng tôm lớn đủ cho xuất khẩu thu ngoại tệ Những tác động như thế này của thương mại nông san, hai san, thuỷ san tác động xấu đến đa dạng sinh học Việc xuất khẩu cà phê với lợi nhuân cao
đã khiến cho diện tích đất trồng cà phê của Đắc Lắc tăng từ 52.418 ha năm 1993 lên 156.230 ha năm 1996 Phần lớn diện tích trồng cà phê là do phá rừng Việc hoạch định các chính sách kinh tế không thấy hết giá trị của môi trường và tài nguyên môi trường Đây là một thực tế dễ nhìn thấy ở các nước đang phát triển Do nhu cầu phát triển, nhiều quốc gia đang phát triển không thực sự chú trọng các khía cạnh môi trường trong các chính sách phát triển của mình Việc thực hiện chính sách mở cửa rừng cho các công ti xuyên quốc gia hay các công ti nội địa khai thác gỗ và lâm san rõ ràng không tính đến tác động xấu đối với môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng Đối với Việt Nam đây cũng là một trong những nguyên nhân anh hưởng xẩu tới đa dạng sinh học
Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu lâm thổ san của nước ta trong những năm 1976
- 1986 đã góp phần rất lớn trong việc giam diện tích rừng trong ca nước Từ năm 1976 đến 1980 Việt Nam đã khai thác và xuất khẩu 11.700m3 gỗ tròn Quy mô khai thác và xuất khẩu gỗ còn tăng mạnh trong giai đoạn 1986 - 1991 Trong giai đoạn này, 412 lâm trường đã khai thác gỗ xuất khẩu với số lượng tăng nhanh: Chỉ tính gỗ tròn, năm
1986 là 22.000m3, năm 1988 là 17.000m3, năm 1991 là 240.000m3 Một số chính sách khác như chính sách đất đai, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp, chính sách khai hoang mở rộng diện tích trồng lúa do thực hiện không tốt cũng đã góp phần thu hẹp diện tích rừng, tác động xấu đến đa dạng sinh học
- Sự bất bình đẳng trong việc sở hữu, quản lí và phân phối nguồn lợi :
Việc bao tồn và sử dụng các nguồn sinh học mang lại nhiều lợi ích kinh tế to lớn Tuy nhiên, phần lớn các lợi ích này lại nằm ttong tay những nhóm các nhà kinh doanh chứ không thuộc về những cộng đồng đang sống và bao tồn các nguồn sinh học Trên phạm vi quốc tế, nguồn lại của đa dạng sinh học thuộc về các nước phát triển chứ không phai các nước đang phát triển mặc dù phân lớn các nguồn lợi sinh học lại thuộc sở hữu của các nước phát triển Các nguồn sinh học được đưa từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển dưới dạng nguyên liệu thô, rất rẻ tiên song sau khi được chế biến, được chuyển sang các nước đang phát triển với giá cao hơn nhiều lần Chính sự bất cân bằng này trong phân phối các nguồn sinh học đã khiến cho các cộng đồng không còn quan tâm tói việc bao tồn đa dạng sinh học
- Tình trạng thiếu kiến thức và sử dụng kiến thức bảo vệ đa dạng môi trường sinh học:
Trang 5Đây là nguyên nhân phổ biến nhất đối với các nước nghèo, đang phát triển Sự kém hiểu biết của mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng về anh hưởng tiêu cực của suy thoái môi trường nói chung và và đa dạng sinh học nói riêng khiến họ khai thác hoặc huỷ diệt môi trường sinh thái một cách vô thức Việc đánh cá bằng chất nổ, bằng điện
là ví dụ sinh động cho tình trạng kém hiểu biết này Việc đốt ca cánh rừng chỉ vì khai thác một tổ ong mât cũng là ví dụ không xa lạ, nhất là đối với Việt Nam chúng ta Việc dùng hoá chất, điện, chất nổ để khai thác thuỷ san là hiện tượng hiếm thấy ở các nước trên thế giới song lại rất phổ biến ở nhiều địa phương nước ta Những sự khai thác mang tính huỷ diệt, thiếu kiến thức và thiếu ý thức đang đe doạ nghiêm trọng đến
hệ sinh thái đầm phá Tam Giang - một trong những hệ sinh thái lớn đầm phá lớn nhất khu vực Đông Nam Á Vói diện tích 248,7 km2 phá Tam Giang là noi sinh trưởng của nhiều loại động vât, thực vât quý hiếm của thế giới và của Việt Nam Tuy nhiên, tình trạng khai thác bừa bãi đang diễn ra ở vùng phá Tam Giang Riêng năm 2004, chỉ riêng các vụ vi phạm như dùng xung điện, chất nổ để khai thác đã được phát hiện và
xử lí là 200 vụ bằng khoang 1/10 số vụ vi phạm Chính vì tình trạng khai thác trái pháp luât, ưái quy hoạch như vây nên nhiều loài động thực vât quý hiếm này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Các hệ thống pháp lí và các định chế tạo điều kiện cho việc khai thác không bền vững: Pháp luât của nhiều quốc gia chưa thực thực chú
ý đến việc bao vệ môi trường, đến khía cạnh phát triển bền vững Các hành vi chống lại môi trường, chông lại đa dạng sinh học chưa được xử lí hoặc được xử lí không đủ sức răn đe.Việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng các công trình
hạ tầng chưa được gắn với những đánh giá tác động môi trường Nhiều công trình công nghiệp đã gây tổn hại nghiêm trọng đến đa dạng sinh học
- Nguyên nhân đặc trưng suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam ?
Bên cạnh những nguyên nhân nêu trên, suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam còn xay ra do các nguyên nhân đặc thù sau:
+ Hâu qua nặng nề mà chiến tranh để lại cho môi trường ở Việt Nam: Việc thiêu huỷ hàng triệu ha rừng bằng bom napan và chất độc màu da cam do Mỹ tiến hành
đã để lại di chứng nặng nề cho các hệ sinh thái ở nước ta Tính từ năm 1961 đến năm 1975, chiến ttanh do Mỹ thực hiện đã huỷ diệt 4,5 triệu ha rừng ở Việt Nam Khó có thể khắc phục được hâu qua này trong vài thâp kỉ Không có quốc gia nào trên thế giới lại chịu sự tàn phá nặng nề của các cuộc chiến tranh lâu dài như đất nước ta đã trai qua kể ca về tổn thất về tài san, con người và môi trường sinh thái + Tình trạng ô nhiễm nhanh chóng do sự phát triển các ngành công nghiệp chế biến mà không có những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn từ đầu: Các ngành công nghiệp giấy, rượu bia, thuộc da khai thác quặng đã làm cho hệ sinh thái tồn tại ở các vùng phụ cân bị tổn hại nặng nề Việc đổi lấy sự phát triển công nghiệp bằng sự đi xuống của môi trường là một trong những điểm dễ nhân thấy ở Việt Nam trong vài thâp kỉ vừa qua Đây cũng có thể coi là một trong những nguyên nhân đặc thù của suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam
+ Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc ít người mà nhiều nhóm trong số đó có tâp quán du canh, du cư: Trong số 54 dân tộc sinh sống ở Việt Nam thì có 50 dân tộc với khoang 9 triệu người có tâp quán du canh, du cư Các cộng đồng này thường sống ở vùng rừng núi Việc di chuyển của họ từ nơi đang sống sang nơi khác kéo theo sự mất đi của một diện tích rừng nhất định mà họ chặt đốt để làm nương rẫy
Trang 6Cứ vài ba năm, họ lại di chuyển một lần như vây Chính tâp quán này cũng gây tác động không nhỏ đến việc chặt phá rừng, tác động xấu đến đa dạng sinh học ở nước
ta Chỉ riêng hình thức du canh, du cư đã biến 15 triệu ha rừng thành đồi trọc + Nhu cầu thưởng thức các món ăn, đồ uống chế biến từ động thực vât hoang dã
đã phát triển mạnh ở nước ta: Nhà hàng đặc san thú rừng mọc lên khắp nơi và trở thành nguồn tiêu thụ mạnh các loài động vât hoang dã Nhiều người dân đã tìm mọi cách săn thú rừng quý hiếm để bán cho các nhà hàng đặc san hoặc bán cho các tổ chức xuất khẩu bất hợp pháp sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các nước trong khu vực Điều này dẫn tới nguy cơ là một số loài thú quý hiếm của nước ta đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng
+ Sự thoái hoá nguồn gen do nhu cầu: Thực ttạng vấn đề nguồn gen trong san xuất nông nghiệp tại Việt Nam là một nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học Đây cũng là nguyên nhân phổ biến toàn cầu song biểu hiện ở Việt Nam với những đặc thù riêng Việt Nam vào những năm 1970 - 1976, san xuất 15 triệu tấn lương thực là mục tiêu xa vời Để đam bao an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, nền nông nghiệp nước ta đã sử dụng các giống mới có biến đổi gen hay lai tạo khoa học, các giống nhâp nội có năng suất cao, chất lượng tốt Hiện nay có tới 70% giống dùng trong nông nghiệp nước ta là những giống có áp dụng tiến bộ khoa học
và biến đổi gen Tuy nhiên, thực tế này cũng dẫn đến sự biến mất hoặc suy thoái các giống ban địa truyền thống Những giống ban địa này có nhiều thuộc tính quý giá như kha năng thích nghi với khí hâu nhiệt đới, kha năng chống chịu sâu bệnh đặc thù của khí hâu và môi trường nhiệt đới gió mùa
+ Sự xâm nhâp các loài lạ vào môi trường sinh thái Việt Nam Sự xâm nhâp các loài lạ vào môi trường của Việt Nam có vẻ như tạo thêm sự đa dạng sinh học vì có thêm những loài mới Loài lạ được hiểu là loài tồn tại bên ngoài môi trường của các loài ban địa Tuy nhiên, sự xuất hiện của loài lạ nếu không được kiểm soát sẽ gây hâu qua nghiêm trọng đến đa dạng sinh học Sự phát triển quá nhanh của loài lạ này trong môi trường mới tạo ra nguy cơ đối với các giống loài khác vốn tồn tại trong khu vực ban địa của chúng Ở Việt Nam, việc kiểm soát loài lạ xâm nhâp chưa được chú trọng đúng mức Người ta có thể đem vào môi trường bất kì động thực vât hay
vi sinh vât nào, miễn là nó không phai là loài gây bệnh dịch hoặc đang trong tình trạng bị bệnh Song trên thực tế, ngay ca khi một loài lạ không hề có kha năng gây bệnh dịch khi xâm nhâp vào các hệ sinh thái ở nước ta thì cũng không thể coi là an toàn Tác động của các loài lạ không dễ thấy trước Trong những năm 1994 - 1995, nạn dịch ốc bươu vàng trên miền Bắc Việt Nam là một minh chứng cho vấn đề này
Sự xâm nhâp và tác hại của ốc bươu vàng ở nước ta trong những năm đó là ví dụ điển hình Nó được nhâp vào Việt Nam với mục đích kinh tế, được nhân giống và phổ biến khắp ca nước Do sự sinh san nhanh và tạp ăn, ốc bươu vàng đã lan rộng với tốc độ vô cùng nhanh, không thể kiểm soát Thực tế, nó trở thành loài côn trùng gây hại vô cùng nguy hiểm đối vói cây lúa nước Hàng chục ngàn ha lúa nước trên nhiều tỉnh có nguy cơ mất ttắng Sự xuất hiện các loài lạ rõ ràng đang là một trong những nguyên nhân đáng lo ngại cho tình trạng suy thoái môi trường ở nước ta
1.3 H â u qua của việc suy thoái đa dạng sinh học:
Đa dạng sinh học không những cung cấp trực tiếp những phúc lợi cho xã hội như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vât liệu xây dựng, năng lượng, mà còn
Trang 7có giá trị đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trong ứng dụng thực tiễn san xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy san, công nghiệp, y tế, du lịch…nó còn là một cấu thành quan trọng trong chiến lược bao đam an ninh lương thực, xóa đói giam nghèo của ca nước Tuy nhiên việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên và quy hoạch phát triển chưa hợp lý đã tác động lớn tới đa dạng sinh học, gây suy thoái đa dạng sinh học Không những thế, đa dạng sinh học đã gây ra một số vấn đề nghiêm trọng như mất cân bằng sinh thái, anh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của trái đất, anh hưởng đến an ninh lương thực khiến con người phai đối mặt với rủi ro và đói nghèo Vì vây, chúng ta cần nâng cao nhân thức và thay đổi hành vi của con người (Khuc, 2022; Van Khuc et al., 2021; Q Vuong, 2020; Q H Vuong, 2021) đối với việc bao tồn đa dạng sinh học
Trong thế kỉ qua, thế giới đã hiện thực hóa nỗ lực bằng cách thành lâp các tổ chức phi lợi nhuân, mở nhiều cuộc hội nghị, kí kết công ước bao tồn động thực vât:
Tổ chức bao tồn Động thực vât thế giới Fauna & Flora International (Unknown, n.d.) (Andy Coghlan, 2016), Tổ chức động vât châu Á (Animals Asia Foundation) (hongkongvolunteer, 2017), Hiệp hội bao tồn Động vât hoang dã (WCS) (Thang Nguyen, 2021), Tổ chức bao vệ động vât quốc tế - Animal Defenders International (ADI) (ADI, 2021), Ngày quốc tế Đa dạng sinh học vào ngày 22 tháng 5 hàng năm (Phương Dung, 2020), Công ước CITES (Đinh Thùy Dung, 2021)…
Từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2021, Cuộc họp lần thứ 15 của các bên tham gia Công ước về đa dạng sinh học hay còn gọi là COP15 đã kêu gọi thế giới nhất trí về việc ngăn can các cuộc khủng hoang; hành động “khẩn cấp và phối hợp” của tất ca các bên Hơn nữa để giam thiểu tình trạng mất đa dạng sinh học ngày càng nghiêm trọng, các quốc gia cam kết bao đam tham gia “Khung đa dạng sinh học toàn cầu sau năm 2020” một cách tích cực có hiệu qua Với tư cách là nước chủ nhà, Trung Quốc đã đi đầu trong việc phát động quỹ bao vệ sinh học cho các nước đang phát triển và công bố khoan đóng góp 1,5 tỷ nhân dân tệ cho quỹ này (United Nations System Chief Executives Board For Coordination, 2021)
Chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững về đa dạng sinh học:
-Ưu tiên bao tồn hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái, bao tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bao vệ; bao đam kiểm soát việc tiếp cân nguồn gen
- Bao đam kinh phí cho hoạt động điều tra cơ ban, quan trắc, thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học và quy hoạch bao tồn đa dạng sinh học; đầu tư
cơ sở vât chất kỹ thuât cho khu bao tồn, cơ sở bao tồn đa dạng sinh học của Nhà nước; bao đam sự tham gia của Nhân dân địa phương trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch bao tồn đa dạng sinh học
- Khuyến khích và bao đam quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đầu
tư, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức truyền thống vào việc bao tồn, phát triển bền vững đa dạng học
- Phát triển du lịch sinh thái gắn với việc xóa đói, giam nghèo, bao đam ổn định cuộc sống của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bao tồn; phát triển bền vững vùng đệm của khu bao tồn
Trang 8- Phát huy nguồn lực trong nước, ngoài nước để bao tồn và phát triển bền vững
đa dạng sinh học
II Phân 2 (5 điểm).
Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, có sự tham gia của nhiều ngành Hoạt động du lịch được diễn ra tại một số nơi, khu vực, nơi đó có tiềm năng tài nguyên du lịch đặc biệt rất nhạy cam khi bị tác động của con người như tài nguyên tự nhiên, hệ sinh thái, môi trường và tài nguyên phi vât thể…Tuy nhiên, du lịch cũng mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế, xã hội và môi trường Dưới đây, đánh giá tác động môi trường của quá trình triển khai thực hiện đề án quy hoạch phát triển du lịch
2.1 Đánh giá tác động tới môi trường trong quá trình hoạt động du lịch:
Tác
động đến môi trường xã hội:
Làm tăng sự phân hóa xã hội trong cộng đồng khi không có sự phân phối công bằng trong việc tạo ra nguồn thu nhâp
Các giá trị tài san và giá ca sinh hoạt tăng lên nhanh chóng trong phạm vi địa phương, anh hưởng đến cuộc sống của cộng đồng
Giam sức san xuất lương thực của địa phương (do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, lao động và ngành nghề)
Gây sức ép lên các truyền thống và làm mất đi một số giá trị văn hóa của địa phương
- Tiếp cân với các khó khăn về tắc nghẽn giao thông, tiếng ồn, ô nhiễm không khí, quá tai trong dịch vụ giao thông
- Mâu thuẫn trong việc sử dụng tài nguyên (nguồn nước, rừng cây, vùng biển…) trong sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch vụ (hệ thống cống, các nơi chứa chất thai, giao thông, trung tâm y tế) với các cơ sở khác
Trang 9thành các lễ hội du lịch, thu hút số lượng lớn khách từ các vùng miền khác cùng tham gia
Tác
động về văn hóa:
Hoạt động du lịch tác động đến văn hóa theo hai hướng Hướng thứ nhất, du lịch có thể là phương tiện bao tồn nền văn hóa truyền thống, trong khi hướng thứ hai lại tác động ngược lại Du lịch đam bao cho du khách có cơ hội tốt để gặp gỡ và tiếp xúc với dân địa phương mà có tiếng nói, cách nghĩ và nếp sống khác hẳn Du lịch cũng chấp nhân các hình thức giao lưu văn hóa khác nhau, kể ca trao đổi quan điểm
và luyện tâp các thứ tiếng khác Ngoài ra, anh hưởng của hoạt động phát triển du lịch đến văn hóa còn bao gồm:
-Kiến trúc truyền thống thay đổi để thu hút du khách
Thay đổi cách nghĩ, quan niệm truyền thống để làm cho nền văn hóa địa phương thích nghi với khẩu vị, đáp ứng lòng mong đơi của du khách
-Thương mại hóa các hoạt động văn hóa truyền thống
Tạo ra tình trạng chât chội, mất vệ sinh và có thể làm mất tính trang trọng đối với các nghi thức tôn giáo thiêng liêng truyền thống trong các lễ hội
Nhu cầu của du khách về vât kỷ niệm, các đồ thủ công mỹ nghệ, các văn hóa
-phẩm đều có tác dụng tích cực và tiêu cực đối với văn hóa truyền thống
Ví dụ như, tác động tiêu cực là tạo cho người thợ thủ công thói quen thay đổi kiểm cách, mẫu mã san phẩm truyền thống của mình để phù hợp hơn với nhu cầu của
du khách vì mục tiêu lợi nhuân Tác động tích cực là làm sống lại những truyền thống
và nghề thủ công cũ hoặc đã biến mất, tạo ra những vât kỷ niệm và mỹ nghệ phẩm để đáp ứng thị trường được mở rộng, từ đó bao tồn và quang bá truyền thống văn hóa ban địa
Tác
động đến các thành phần của môi trường tự nhiên:
Trong quá trình hoạt động du lịch diễn ra sẽ xay ra một số vấn đề sau:
- Tăng áp lực ô nhiễm môi trường do lượng chất thai từ hoạt động của khách du lịch trong quá trình tham quan du lịch và từ các cơ sở dịch vụ du lịch
Tăng kha năng ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất và các hệ sinh thái từ các phương tiện dịch vụ vân chuyển, vui chơi giai trí, các cơ sở lưu trú…
Tăng nguy cơ suy giam đa dạng sinh học do có nhu cầu về thực phẩm (đặc
-biệt là đặc san), hàng lưu niệm (được làm từ các loài sinh vât quý hiếm) của du khách;
do sự tâp trung lượng lớn du khách trong mùa giao phối…
- Tăng nguy cơ xói mòn vùng cát ven biển do phát triển các khu du lịch biển Như vây, các thành phần của môi trường tự nhiên: đất, nước, không khí, đa dạng sinh học, canh quan môi trường cũng sẽ anh hưởng
Môi trường đất:
- Tăng hiệu qua sử dụng đất Việc xây dựng khách sạn, các dịch vụ du lịch rất
Trang 10- Ảnh hưởng đến chất lượng và lưu lượng nước ngầm Do khai thác nguồn nước ngầm bừa bãi, do nạo vét, san lấp đất anh hưởng đến chất lượng nguồn nước ngầm
Ô nhiễm hóa chất bao vệ thực vât
Môi trường- không khí:
-du lịch
-Tăng ô nhiễm không khí từ các phương tiện giao thông vân tai, từ các dịch vụ
Ô nhiễm không khí gia tăng do hoạt động vân chuyển hành khách sẽ tác động đến bầu khí quyển, đến đời sống của sinh vât và thâm chí còn là nguyên nhân gây ra
sự di cư đối với nhiều động vât nhạy cam với sự thay đổi của môi trường không khí
- Nhu cầu đi lại gia tăng các loại phương tiện không đam bao chất lượng môi trường các loại khí thai có hại cho sức khỏe CO2, NO2, SO2…
-Gia tăng tiếng ồn
Tác động của tiếng ồn gây mệt mỏi, ức chế thần kinh, tạo cam giác khó chịu với đối tượng chịu tác động, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ Độ ồn cao sẽ anh hưởng xấu đến sức khỏe của con người như gây mất ngủ, tạo cam giác bồn chồn làm giam nhu cầu du lịch
- Ô nhiễm không khí từ chất thai sinh hoạt của hoạt động du lịch: rác thai tại các khu du lịch không được thu gom và xử lý triệt để thường xuyên mà chủ yếu là xử
lý cục bộ nên dễ gây mùi khó chịu Bên cạnh đó, việc sử dụng ngày càng gia tăng các chất đốt rắn để đáp ứng nhu cầu về năng lượng của các cơ sở dịch vụ phục vụ du lịch gây nên những ô nhiễm không nhỏ bởi các loại khí độc hại thoát ra như CO, CO2, SO2…
Tài
nguyên đa dạng sinh học:
Tác động các loại phương tiện như ô tô, xe máy và các hoạt động khác cũng tác động không nhỏ đến hoàn canh sống, nhịp điệu sống của các loài động vât đặc biệt là các loài thú, đã đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của nhiều loài động vât Các hoạt động
du lịch như đi thuyền tham quan… là nguy cơ đe dọa đến nhiều loài sinh vât dưới nước do khuấy động và ngẫu nhiên bị vướng vào động cơ
Canh quan môi trường :