Khái niệm tập đoàn kinh tế Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế hàng hóa, trước quy luật vận độngphát triển và quy luật cạnh tranh, các nhà kinh doanh đã phải triển khai những mô hình liê
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1
ĐỀ BÀI: 10 Trình bày những vấn đề lý luận về mô hình tập đoàn kinh
tế Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tập đoàn kinh tế trên cơ sở tìm hiểu một tập đoàn kinh tế cụ thể trên thực tế ở Việt Nam.
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I LÝ LUẬN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
Trang 3II.1.1.Tập đoàn kinh tế nhà nước
Trang 4là mắt xích mang vai trò chủ lực để đảm bảo sự thành công trong quá trìnhhội nhập Trước thực tế đó, Nhà nước đã và đang liên tục sửa đổi, bổ sung cácquy định pháp lý đối với mô hình tập đoàn kinh tế với mong muốn khuyếnkhích, thúc đẩy sự phát triển của mô hình này Trong thực tiễn áp dụng, ngoàinhững hiệu quả đáng khích lệ, vẫn tồn tại những thiếu sót, gây ra nhiều khókhăn cho các tập đoàn Vì lẽ đó, em quyết định lựa chọn đề bài số 10 này đểthực hiện nghiên cứu Do vốn kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trìnhnghiên cứu không thể tránh khỏi những sai sót, mong thầy/cô có thể cho emnhững đánh giá, lời khuyên chân thành nhất để bài làm được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ
I.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế
Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế hàng hóa, trước quy luật vận độngphát triển và quy luật cạnh tranh, các nhà kinh doanh đã phải triển khai những
mô hình liên kết phù hợp để có khả năng tích tụ vốn, phân tán rủi ro đồng thời
có thể quản lý và kinh doanh có hiệu quả Bởi vậy, liên kết góp vốn thành lậpcông ty kinh doanh đã trở thành xu hướng chủ đạo Tuy nhiên, quy luật vận
Trang 5động của nền kinh tế đang ngày càng phức tạp đi kèm với tác động mạnh từkhoa học công nghệ đòi hỏi nhà kinh doanh cần xây dựng mô hình liên kếtkiểu mới để hình thành tổ chức kinh doanh có quy mô lớn hơn, đem lại hiệuquả cao hơn, có sức cạnh tranh mạnh mẽ hơn – và mô hình tiêu biểu, phù hợpnhất được xem là tập đoàn kinh tế Xét từ góc độ quản trị, có thể có khái niệmtập đoàn kinh tế như sau:
“Tập đoàn kinh tế là một tổ tập hợp quy mô lớn, thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở liên kết hình thành từ hoạt động đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại các liên kết kinh doanh nhằm tích tụ tập trung nguồn lực để tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận.”
Xét về bản chất pháp lý, tập đoàn kinh tế được hình thành dựa trên sựliên kết từ các chủ thể kinh doanh, những liên kết này được hình thành từ hoạtđộng đầu tư và trong những hợp đồng liên kết Các hình thức liên kết trongtập đoàn kinh tế là rất phức tạp, tương ứng với mỗi hình thức liên kết là mộtloại hợp đồng khác nhau Đồng thời, quá trình hình thành tập đoàn kinh tế làmột quá trình tự nhiên trên cơ sở quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng.Bởi vậy, từ góc độ pháp lý, có thể rút ra khái niệm về tập đoàn kinh tế nhưsau”
“Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp liên kết giữa các pháp nhân độc lập trên cơ sở hoạt động đầu tư và thỏa thuận trong hợp đồng liên kết tạo lập quyền và nghĩa vụ cho mỗi thành viên trong tập đoàn, trong đó có những pháp nhân giữ quyền chi phối, những pháp nhân bị chi phối và những pháp nhân không bị chi phối”
1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Thứ nhất, tập đoàn kinh tế được hình thành từ liên kết giữa các chủ thể kinh doanh độc lập tạo thành một tổ hợp.
Trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể kinh doanh với nhau mà tập đoànkinh tế mới có thể hình thành Đồng thời, chủ thể kinh doanh trong tập đoàn
Trang 6là những pháp nhân kinh doanh độc lập và liên kết giữa các chủ thể kinhdoanh với nhau trong tập đoàn được quy định tại các hợp đồng liên kết.
Có sự khác nhau trong liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn sovới công ty Cụ thể, liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn được hìnhthành trên cơ sở đầu tư vốn trực tiếp từ thành viên này vào thành viên kháchoặc việc cùng sở hữu, sử dụng chung các đối tượng sở hữu công nghiệp haynằm trong một chuỗi kinh doanh Còn liên kết giữa các thành viên trong công
ty là liên kết hình thành từ quan hệ đầu tư góp vốn để trở thành đồng sở hữuchung của công ty, giữa các thành viên có mối quan hệ chặt chẽ, độc lập về tưcách pháp lý, quản lý và điều hành Trong khi tính trách nhiệm của các thànhviên trong công ty được cá biệt hóa, các thành viên được tham gia quản lý,điều hành công ty ở mức độ tương ứng với tỷ lệ đóng góp, thì vè mặt pháp lý,các thành viên trong tập đoàn độc lập với nhau, tự chịu trách nhiệm với hoạtđộng kinh doanh của mình nhưng có thể có sự chi phối lẫn nhau giữa cácthành viên trong hoạt động kinh doanh Đồng thời, các thành viên trong tậpđoàn có sự ràng buộc trực tiếp về trách nhiệm với nhau thông qua hợp đồngliên kết, và những mối liên kết đó có thể là chi phối hoặc không mang tính chiphối
Thứ hai, tập đoàn kinh tế là tổ hợp có danh tính và không có tư cách pháp nhân.
Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp có danh tính, danh tính đó dùng để chỉmột tập hợp các pháp nhân độc lập, hoạt động trên cơ sở liên kết chặt chẽ vìlợi ích kinh tế Đồng thời, danh tính của tập đoàn kinh tế phân biệt một tậphợp pháp nhân với các pháp nhân trong tập đoàn và phân biệt với tập hợppháp nhân khác Danh tính của tập đoàn là một quyền tài sản, được xác định
là một tên thương mại, là cơ sở để xây dựng hệ thống nhãn hiệu của tập đoàn
và các pháp nhân độc lập trong tập đoàn có quyền thụ hưởng giá trị tênthương mại, nhãn hiệu và phải trả phí
Trang 7Song, khi xem xét theo nhiều góc độ, theo học thuyết của các quốc giatheo truyền thống dân luật (civil law) hay thông luật (common law) thì tậpđoàn kinh tế đều không có tư cách pháp nhân Còn xét từ khía cạnh liên kết vàbản chất pháp lý của tập đoàn, có thể thấy tập đoàn kinh tế không có tư cáchpháp nhân vì những lý do sau:
- Tập đoàn kinh tế không có tài sản độc lập:
Đối với pháp nhân kinh doanh, đặc trưng của pháp nhân đó là phải sởhữu tài sản độc lập và sử dụng những lợi ích từ tài sản của mình để thực hiệncác mục đích sinh lời Tài sản của pháp nhân còn là cơ sở để pháp nhân gánhchịu rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các mục đích sinh lời đó.Đồng thời sản nghiệp của pháp nhân được thiết lập bằng những tài sản dothành viên của pháp nhân đóng góp thông qua việc thực hiện chuyển quyền sởhữu tài sản góp vốn cho pháp nhân Mặt khác, sự liên kết của các pháp nhânđộc lập hình thành nên tập đoàn kinh tế nhưng không xuất phát từ việc thựchiện góp vốn chung Tập đoàn kinh tế cũng không tiếp nhận sự chuyển bất kìquyền sở hữu tài sản góp vốn nào từ các pháp nhân là thành viên nên khônghình thành tài sản riêng
- Tập đoàn kinh tế không có năng lực pháp lý:
Tập đoàn kinh tế là tập hợp của nhiều pháp nhân là chủ thể pháp lý vớinăng lực pháp lý đầy đủ, thực hiện các quan hệ pháp luật nhân danh chínhmình Tuy vậy, sự tập hợp các pháp nhân của tập đoàn kinh tế là để tối đa hóalợi ích của từng pháp nhân kinh doanh độc lập chứ không hướng đến việchình thành một tổ chức kinh tế mới Bởi lẽ đó, tập đoàn kinh tế không có nănglực pháp lý của chủ thể pháp lý, cũng không cần đến sự thừa nhận của cơquan Nhà nước có thẩm quyền về sự ra đời nên không có năng lực hành vi đểthực hiện các hoạt động nhân danh tập đoàn
- Tập đoàn kinh tế không chịu trách nhiệm tài sản:
Tập đoàn kinh tế không có tài sản riêng, giao dịch của tập đoàn kinh tếđược thực hiện qua công ty chi phối, đồng thời, tập đoàn kinh tế không có
Trang 8năng lực pháp lý, không nhân danh chính mình để thực hiện các giao dịch Do
đó, tập đoàn kinh tế không chịu trách nhiệm tài sản đối với các nghĩa vụ pháp
lý phát sinh từ tài sản của mình, không chịu trách nhiệm pháp lý thay cho cácpháp nhân là thành viên Còn trong trường hợp có phát sinh về nghĩa vụ pháp
lý từ các giao dịch, tài sản độc lập của pháp nhân được sử dụng để chịu tráchnhiệm cho pháp nhân chi phối đó
Thứ ba, tập đoàn kinh tế có cơ cấu tổ chức phức tạp, nhiều cấp.
Tập đoàn kinh tế có nhiều cấp Cấp một gồm công ty chi phối ban đầu(công ty mẹ) có các công ty bị chi phối (các công ty con cấp một) Cấp haibao gồm công ty chi phối (là công ty con cấp một) có các công ty bị chi phối(các công ty con cấp hai) Đối với các tập đoàn lớn, việc không có giới hạn về
số cấp dẫn đến số lượng thành viên trong tập đoàn là rất lớn Đồng thời, vấn
đề quản lý hoạt động kinh doanh của các công ty cấp dưới là vấn đề khó khăn,
do đó đòi hỏi cần có những cơ chế kiểm soát thông suốt từ công ty mẹ đếncông ty con trong tập đoàn để có thể vận hành hiệu quả Từ thực tế đó, có ba
mô hình tập đoàn kinh tế khác nhau: cấu trúc đầu tư đơn cấp (cấu trúc đơngiản), cấu trúc đầu tư đa cấp đơn giản và cấu trúc đầu tư đa cấp sở hữu chéo.Mỗi mô hình có ưu, nhược điểm riêng và có ảnh hưởng lớn đến hoạt độngchung của tập đoàn
Thứ tư, tập đoàn kinh tế lớn về quy mô, sử dụng nhiều lao động, phạm
vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành.
Tập đoàn kinh tế có quy mô vốn được hình thành thông qua hoạt độngthu hút đầu tư và vận hành kinh doanh có hiệu quả trong một quá trình tích tụlâu dài Nguồn vốn ấy tạo nên năng lực cạnh tranh cho tập đoàn, phát triểnđầu tư vào chuyên môn hóa và công nghệ, từ đó giảm giá thành, tăng lợinhuận, tạo động lực thúc đẩy phát triển Đồng thời, tập đoàn là nơi tập trunglực lượng lao động quy mô lớn, phân hóa, gồm nhiều bậc trình độ chuyênmôn từ trung bình đến cao Đây cũng là điểm cộng khi việc đầu tư của tậpđoàn sẽ góp phần không nhỏ vào vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao trình
Trang 9độ lao động tại địa phương được đầu tư Mặt khác, hầu hết các tập đoàn kinh
tế đều kinh doanh đa nghành, đa lĩnh vực với một nghành nghề mũi nhọn.Ngoài ngành nghề mũi nhọn đó là những lĩnh vực đầu tư chiến lược mới, điềunày giúp tập đoàn có thể phân tán rủi ro, bảo đảm tính bền vững về lâu dàiđồng thời tận dụng được tối đa cơ sở vật chất và khả năng lao động của tậpđoàn
Ví dụ: Tập đoàn Samsung (Hàn Quốc) là tập đoàn đa quốc gia “khổnglồ” với rất nhiều công ty con, chuỗi hệ thống bán hàng toàn cầu Theo
“Samsung Financial Highlights”, đến hết năm năm 2017 , tổng giá trị tài sảncủa tập đoàn Samsung là 265 tỷ USD Cũng trong năm này, theo “SamsungGlobal Newsroom”, số nhân viên của tập đoàn đã lên đến 320.671 người.Ngoài lĩnh vực thế mạnh là điện tử với công ty con mang tên “SamsungElectronics”, tập đoàn này còn có 14 công ty con, hoạt động trên rất nhiềulĩnh vực, từ kỹ thuật (Samsung Engineering), hóa chất (Samsung FineChemicals), công nghiệp nặng (Samsung Heavy Industries), v.v cho tới y tế(Samsung Medical Center), bảo hiểm (Samsung Life Insurance)
1.3 Các hình thức liên kết trong tập đoàn kinh tế
Có hai hình thức liên kết chính là: liên kết về vốn và các hình thức liênkết khác Cụ thể bao gồm: liên kết về vốn trong tập đoàn, liên kết về quyền sởhữu công nghiệp trong tập đoàn, liên kết về thị trường trong tập đoàn, liên kếttạo thành tổ hợp kinh doanh trong tập đoàn và một số hình thức khác (liên kếtthông qua quyền khai thác tài nguyên, liên kết thông qua việc nắm giữ thịtrường của các công ty trong tập đoàn)
1.4 Vai trò của tập đoàn kinh tế
Nhằm đáp ứng những biến đổi không ngừng của nền kinh tế, các tậpđoàn kinh tế liên tục được ra đời và phát triển Đồng thời, chính các tập đoànkinh tế này đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển của thế giới nói chung vàViệt Nam nói riêng
Trang 10Thứ nhất, tập đoàn kinh tế là cơ sở hình thành và phát triển mô hình
liên kết kinh doanh quy mô lớn
Thứ hai, tập đoàn kinh tế là một trong những công cụ để Nhà nước thực
hiện việc điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế
Thứ ba, tập đoàn kinh tế tạo ra cơ sở nâng cao sức cạnh tranh, hội nhập
kinh tế, quốc tế
Thứ tư, tập đoàn kỹ thuật nâng cao hiệu quả khoa học – kỹ thuật.
Cuối cùng, tập đoàn kinh tế cũng góp phần lớn trong giải quyết việc
làm, đảm bảo an sinh xã hội
II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
2.1 Về thành lập tập đoàn kinh tế
2.1.1 Tập đoàn kinh tế nhà nước
Về điều kiện và tiêu chuẩn thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước, từ
những quy định mang tính chất rất chung trong Nghị định 101/2009/NĐ-CP
về điều kiện thành lập tập đoàn kinh tế, Nghị định 69/2014/NĐ-CP đã quyđịnh lại khá chi tiết về vấn đề này Thứ nhất, tổng công ty làm nòng cốt tậpđoàn phải đáp ứng điều kiện về tài chính trong 03 năm liền phải kinh doanh
có lãi, mức độ bảo đảm cao và đáp ứng các điều kiện về công nghệ, kỹ thuật,quản lý Quy định này tuy phù hợp nhưng lại có bất cập trong quan điểm vềtập đoàn kinh tế khi một nhóm công ty nhà nước phát triển trở thành tổngcông ty rồi trở thành tập đoàn kinh tế, hơn nữa, sự chuyển đổi mô hình lại là
từ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Thứ hai, điều kiện đối với công ty
mẹ chưa sát thực tế khi vẫn tồn tại việc nhiều tập đoàn có quy mô vốn dướimức tiêu chuẩn và Chính phủ vẫn chưa có giải pháp khắc phục hoàn toàn vấn
đề này Đồng thời, pháp luật về tập đoàn kinh tế cũng chưa có quy định về thủtục chứng minh vốn điều lệ và vì vậy, nếu không yêu cầu chứng minh thì việcđưa ra những điều kiện đó cũng không mang lại nhiều giá trị Còn về điềukiện hạn chế kinh doanh ngoài ngành, Nghị định 69/2014/NĐ-CP đã phần nàogiải quyết được tình trạng đầu tư tràn lan ngoài ngành thiếu hiệu quả của các
Trang 11tập đoàn kinh tế nhà nước khi quy định rằng công ty mẹ, công ty con trongtập đoàn kinh tế nhà nước không được đầu tư, kinh doanh những ngành nghềkhông liên quan.
Về quy trình thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước, theo quy định, quy
trình được triển khai gồm 5 bước: Thủ tướng Chính phủ quyết định các(i)
công ty mẹ trong tổng công ty được phép xây dựng đề án thành lập tập đoànkinh tế nhà nước; (ii) Xây dựng đề án thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước;
(iii) Thẩm định đề án thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước; (iv) Phê duyệt đề
án thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước; (v) Triển khai thực hiện đề án thành
lập TĐKT nhà nước So với Nghị định 101/2009/NĐ-CP Nghị định,
69/2014/NĐ-CP đã có những sửa đổi đáng kể trong việc quy định về thủ tục
thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước Các bước được quy định cụ thể và đãphân công rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước tham gia vào quá trìnhthành lập Tuy nhiên, về mặt bản chất, những quy định này chưa thực sự làmthay đổi được cách thức thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước Dù đã có quytrình cụ thể hơn với trách nhiệm rõ ràng nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ vềviệc thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước tự phát khi thẩm quyền thành lậpkhông thay đổi Ví dụ điển hình là sự thất bại trong việc thành lập hai tậpđoàn kinh tế thí điểm của nhà nước về xây dựng trong quá khứ
2.1.2 Tập đoàn kinh tế tư nhân
Theo Khoản 1 – Điều 194 – Luật Doanh nghiệp 2020, tập đoàn kinh tếkhông phải tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh, đây là quy định được đánhgiá là phù hợp với bản chất pháp lý của mô hình tập đoàn kinh tế và cả với
thông lệ quốc tế Trong quá khứ, tại Khoản 4 – Điều 38 – Nghị định
102/2010/NĐ-CP, công ty mẹ được tạo điều kiện để sử dụng cụm từ “tập
đoàn” trong tên riêng của công ty mẹ nhằm đáp ứng yêu cầu “chính danh”cho chủ sở hữu tập đoàn nhưng đồng thời lại tạo ra một số hệ lụy về mặt pháp
lý Thứ nhất, Nghị định này không đặt ra điều kiện pháp lý để công ty mẹ cóthể sử dụng cụm từ “tập đoàn” khi tiến hành đăng ký kinh doanh Trong thực
Trang 12tế, đã có không ít công ty với quy mô vốn nhỏ, hoạt động chỉ trên một lĩnhvực nhưng vẫn đăng ký kinh doanh dưới tên gọi là tập đoàn với hi vọng phầnnào đó cụm từ “tập đoàn” sẽ tạo được sự uy tín trên thị trường Trong thực tế,việc đưa cụm từ “tập đoàn” vào công ty hết sức đơn giản như việc thành lậpcông ty thông thường, hơn nữa, các công ty này không cần phải chứng minhvới Cơ quan đăng ký kinh doanh rằng mình có công ty con Bởi vậy, có hiệntượng xuất hiện một loạt những công ty mang danh “tập đoàn” nhưng nănglực tài chính thì hết sức yếu kém Thứ hai, quy định sử dụng cụm từ này cũngdẫn đến sự nhầm lẫn giữa tập đoàn và công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế.Cách đặt tên cho công ty mẹ trong tập đoàn vẫn phải có tiền tố xác định môhình quản lý (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, ) và cụm từ “tậpđoàn” chỉ là một cụm từ được sử dụng vào trong tên của các công ty.
Hiện nay đã có Nghị định 96/2015/NĐ-CP và mới nhất là Nghị định 47/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp Trong
nội dung của nghị định này không còn quy định về việc sử dụng cụm từ “tậpđoàn”, việc sử dụng cụm từ này cũng không còn cơ sở pháp lý để thực hiện.Đây là vướng mắc trong thực tế khi các tập đoàn kinh tế tư nhân muốn xâydựng tập đoàn
Quy định hiện hành về doanh nghiệp không quy định về thủ tục thôngbáo việc thành lập tập đoàn kinh tế tư nhân cho cơ quan đăng ký kinh doanhnhư tập đoàn kinh tế nhà nước Đây là vấn đề cần xem xét lại khi nhu cầuthực hiện thủ tục này của chủ sở hữu tập đoàn hiện nay là khá cao
2.2 Về liên kết trong tập đoàn kinh tế
2.2.1 Liên kết vốn
Đối với liên kết vốn trong tập đoàn kinh tế nhà nước, theo quy định
tại Nghị định 69/2014/NĐ-CP, tập đoàn kinh tế nhà nước bao gồm công ty
mẹ, các công ty thành viên và công ty liên kết Nguồn vốn đầu tư để thành lậpcông ty mẹ là nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ Ngân sách và các quỹ tập trungcủa Nhà nước khi doanh nghiệp thành lập và được bổ sung trong quá trình