ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN VẬT LÝ 2 ĐỀ TÀI 28 VẬT CHẤT TỐI VÀ NĂNG LƯỢNG TỐI GVHD Nguyễn Thị Thúy Hằng LỚP L10 NHÓM 2 Thành phố Hồ Chí Minh bài tập lớn bách khoa tphcm môn vật lý 2
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Thành phố Hồ Chí Minh, 25/03/2022
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Thành phố Hồ Chí Minh, 25/03/2022
Trang 3
MỤC LỤC DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA: 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
NỘI DUNG BÁO CÁO 7
Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU 7
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
2.1 Lịch sử nghiên cứu/quan niệm vũ trụ của các nhà khoa học từ trước đến nay? 8
2.1.1 Quan niệm 8
2.1.2 Khái quát lịch sử nghiên cứu vũ trụ theo thuyết Vụ Nổ Lớn 8
2.2 Vật chất tối (Dark Matter) là gì? 9
2.3 Năng lượng tối (Dark Energy) là gì? 12
2.4 Sự khác nhau giữa Vật chất tối và Năng lượng tối 14
2.5 Những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của Vật chất tối và Năng lượng tối.15 Chương 3: QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC 17
3.1 Một vài phương pháp/quá trình nghiên cứu về Vật chất tối 17
3.2 Một vài phương pháp/quá trình nghiên cứu về Năng lượng tối 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25
Trang 4
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 2.1 Bức xạ nền vi sóng của vũ trụ 10
Hình 2.2 Ảnh minh họa Vật chất tối 11
Hình 2.3 Vật chất tối ở trung tâm thiên hà 11
Hình 2.4 Ảnh minh họa 13
Hình 2.5 Ảnh minh họa 14
Hình 2.6 Fritz Zwicky (1898-1974) 15
Hình 3.1 Vật chất tối được phân bố trong vũ trụ theo mô hình giống như mạng lưới (NASA/JPL-Caltech) 17
Hình 3.2 Neutrino không mang điện và khối lượng gần như bằng 0 19
Hình 3.3 Bầu trời vi sóng do phi thuyền Planck cung cấp 20
Hình 3.4 Kính viễn vọng James Webb 21
Hình 3.5 Ảnh minh họa 21
Hình 3.6 Ảnh minh họa Năng lượng tối 22
Hình 3.7 Ảnh mô phỏng 23
Hình 3.8 Bản đồ Khảo sát Bầu trời Kỹ thuật số của Sloan 24
Hình 3.9 Thiết kế tổng thể của LSST khi được hoàn thành (thiết kế bởi Michael Mullen / công ty LSST) 24
Trang 5
LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi lần ngước lên bầu trời đêm rộng lớn, người ta luôn tự hỏi vũ trụ ngoài kia còn
có bao nhiêu điều bí ẩn mà con người chưa từng biết tới Bạn có bao giờ tò mò về bên
ngoài vũ trụ rộng lớn kia là gì hay không? Thực tế cho tới nay những gì chúng ta biết
về vũ trụ vẫn còn quá ít Những thiên hà lạ lùng, những hành tinh với các đặc điểm
chưa từng biết tới, những vệ tinh bí ẩn và những hiện tượng độc đáo chỉ là một vài
trong vô vàn những điều kỳ lạ của vũ trụ khiến các nhà khoa học đau đầu lý giải
Vật chất và năng lượng là một trong những chủ đề rất được các nhà khoa học quan
tâm, chúng là những thuật ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau, giữ một vị trí rất
quan trọng trong các lĩnh vực Vật lý, Thuyết tương đối, Thiên văn học, Vũ trụ học, Vật
lý thiên văn và Tiến hóa sao Hiện nay, Vật chất tối (Dark Matter) và Năng lượng tối
(Dark Energy) là hai thứ vẫn còn đang là ẩn số đối với các nhà khoa học đồng thời
chiếm tới hơn một nửa vũ trụ
Ở bài báo cáo này, chúng ta chỉ tập trung tìm hiểu và nghiên cứu về Vật chất tối
(Dark Matter) và Năng lượng tối (Dark Energy)
Trang 6
Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU
- Vật lí – một từ được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp mang nghĩa là “kiến thức tự nhiên”
mô tả và giải thích bản chất của các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên với một số ít các
định luật cơ bản nhất Chẳng hạn như: “tại sao bầu trời lại có màu xanh?”; “vì sao
cầu vồng lại có sắc màu?”; Từ xa xưa, con người đã không ngừng tò mò với mong
muốn trả lời được những câu hỏi tưởng chừng như là điều hiển nhiên nhưng lại không
hề đơn giản Một vài thuyết đã được đưa ra, nhưng đa phần đều không chính xác
Những thuyết này mang đậm nét triết lý và chưa từng qua các bước kiểm chứng như
các thuyết hiện đại Một số ít được công nhận, số còn lại đã lỗi thời, ví dụ như nhà tư
tưởng người Hy Lạp, Archimedes, đưa ra nhiều miêu tả định lượng chính xác về cơ
học và thủy tĩnh học Qua nhiều thập kỉ, cùng với đó là sự tìm tòi khám phá không
ngừng nghỉ của các nhà khoa học thì một trong những mảng nghiên cứu đang được
quan tâm nhất hiện nay chính là Vũ trụ học Vật lí (Cosmology) đây là ngành khoa học
nghiên cứu tổng thể về vũ trụ, bao gồm các nghiên cứu về sự hình thành, tiến hóa và
tương lai của vũ trụ
- Theo kết quả nghiên cứu của nhà khoa học người Mỹ gốc Canada James Peebles
được trao giải Nobel Vật Lí năm 2019 cho "các khám phá lý thuyết về Vũ trụ học vật lí"
đã được Viện hàn lâm Khoa học hoàng gia Thụy Điển (RSAS) đánh giá rằng “Những
khám phá của họ đã thay đổi mãi mãi nhận thức của chúng ta về thế giới” Theo
James Peebles, chúng ta chỉ mới biết được 5% của vũ trụ với các vật chất tạo nên các
hình tinh, ngôi sao, cây cối và con người Phần còn lại là Vật chất tối chiếm 20% và
Năng lượng tối chiếm 75% Đây là một bí ẩn và là một thách thức đối với vật lý hiện
đại [1]
Trang 7
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT2.1 Lịch sử nghiên cứu/quan niệm vũ trụ của các nhà khoa học từ trước đến nay?
2.1.1 Quan niệm:
Trong quan niệm về vũ trụ, có ít nhất là bốn quan điểm khác nhau trong ngành Vũ
trụ học (Cosmology) Thuyết thứ nhất cho rằng, vũ trụ này có một khởi điểm, bắt đầu
bằng một Vụ Nổ Lớn (Big Bang) từ một hạt nhân nguyên thủy Tuy nhiên, sự phát nổ
đó không có tính cách vô hạn Nói cách khác, theo thuyết thứ nhất, vũ trụ này có cùng
tận Sự tận cùng được diễn tả như là “The Big Crunch” (Vụ Co Lớn) Thuyết thứ hai
thì cho rằng, vũ trụ này có một khởi điểm đó là Vũ Nổ Lớn nhưng với sự phát triển vô
hạn định Thuyết thứ ba thì cho rằng, vũ trụ này không phải chỉ có một khởi điểm mà
có nhiều khởi điểm và cùng tận tiếp nối nhau Thuyết thứ tư thì cho rằng, vũ trụ này ở
trong trạng thái bền vững, chẳng có bùng nổ cũng chẳng có cùng tận Ngày nay, chủ
trương thứ tư coi như đã bị bác bỏ, vì nó trái ngược với những quan sát của Vật lý học
thiên văn (Astrophysics) và Vũ trụ học (Cosmology) Còn ba thuyết trước, tuy với
những dạng thức khác biệt, nhưng đều chấp nhận rằng vũ trụ này có một khởi điểm
2.1.2 Khái quát lịch sử nghiên cứu vũ trụ theo thuyết Vụ Nổ Lớn:
- Vũ trụ rất sơ khai: từ thời kỳ Planck đến thời kỳ phình to vũ trụ, tương ứng với
những pico giây đầu tiên của thời gian vũ trụ; thời kỳ này được nghiên cứu bởi nhiều
lý thuyết vật lý, nhưng các lý thuyết này chưa có được các thí nghiệm của vật lý hạt
kiểm chứng [4]
- Vũ trụ sơ khai: từ Kỷ nguyên quark đến hết Kỷ nguyên photon, khoảng 377.000 năm
đầu của thời gian vũ trụ, khi các lực cơ bản và hạt cơ bản bắt đầu xuất hiện, nhưng vũ
trụ vẫn còn đang ở trạng thái plasma [4]
- Thời kỳ tối và xuất hiện các cấu trúc cô đặc lớn trong vũ trụ: từ 377.000 năm đến
khoảng 150 triệu năm của thời gian vũ trụ, ở cuối giai đoạn này, vũ trụ đã bắt đầu
trong suốt nhưng chưa có cấu trúc vật chất cô đặc lớn nào xuất hiện Các cấu trúc vật
chất cô đặc lớn bao gồm sự tiến hóa của sao, sự hình thành và tiến hóa của thiên hà sự
hình thành các quần tụ thiên hà và siêu đám thiên hà, từ khoảng 150 triệu năm của thời
gian vũ trụ đến hiện tại, và còn tiếp tục đến khoảng 100 tỷ năm trong thời gian vũ trụ;
Trang 8
Ngân Hà, thiên hà chứa loài người, bắt đầu hình thành vào khoảng 5 tỷ năm trong thời
gian vũ trụ [4]
- Vũ trụ hiện nay: từ 1 tỷ năm đến 12.8 tỷ năm, vũ trụ giống như nó bây giờ Nó sẽ tiếp
tục nhìn giống như thế này trong vài tỷ năm tới Hệ Mặt Trời hình thành khoảng 4,6 tỷ
năm trước, và sự sống xuất hiện trên Trái Đất khoảng 3,5 tỷ năm trước [4]
- Tương lai xa: khi các vì sao ngừng hình thành, có nhiều giả thuyết về số phận sau
cùng của vũ trụ [4]
2.2 Vật chất tối (Dark Matter) là gì?
- Vũ trụ của chúng ta được tạo thành từ vật chất và năng lượng Tuy nhiên, vũ trụ của
chúng ta không hoàn toàn tạo thành từ vật chất thông thường bởi nó chỉ chiếm khoảng
5% của vũ trụ Trong khoảng 95% còn lại thì Vật chất tối chiếm khoảng 20% Vậy Vật
chất tối là gì?
- Vật chất tối này không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng nó là thứ mang lại
động lực cho toàn vũ trụ Các thiên hà trong vũ trụ đang quay với tốc độ lớn đến nỗi
là thứ đang làm cho các thiên hà này tăng thêm khối lượng, tạo ra lực hấp dẫn bổ sung
- Vật chất tối không phát ra đủ bức xạ để có thể nhìn thấy, nhưng nó đang được phân
tích bằng các công cụ và phân tích thống kê để xem nó hoạt động như thế nào Không
giống như vật chất thông thường, Vật chất tối rất lạnh và đen đến nỗi nó không phát ra
bất cứ thứ gì, không tương tác với lực điện từ Điều này có nghĩa là nó không hấp thụ,
phản xạ hoặc phát ra bức xạ điện từ, khiến nó cực kỳ khó phát hiện
- Bởi vì không thể phân tích được và không biết Vật chất tối được tạo nên từ gì, nên đã
có nhiều giả thuyết cho sự tạo thành của nó Theo đó, nó có thể được tạo từ các hạt
Neutrino, các hạt WIMPS, hạt Neutralinos, các đám mây không khí phát sáng, hoặc
thậm chí là các ngôi sao lùn
Trang 9
- Một nghiên cứu được công bố vào tháng 12 năm 2021 trên Tạp chí Vật lý Thiên văn
lập luận rằng Vật chất tối có thể tập trung trong các lỗ đen , cánh cổng mạnh mẽ dẫn
đến hư vô do lực hấp dẫn cực lớn của chúng nuốt chửng mọi thứ xung quanh
chúng Như vậy, Vật chất tối sẽ được tạo ra trong Vụ Nổ Lớn cùng với tất cả các yếu
tố cấu thành khác của vũ trụ như chúng ta thấy ngày nay
- Nếu vật chất tối không thể được nhìn thấy, chạm vào hoặc phát hiện theo bất kỳ cách
nào, tại sao chúng ta lại muốn biết về vật chất tối? Về cơ bản, các nhà khoa học cố
gắng
tìm ra những lời giải thích về động lực học của vũ trụ Chuyển động của các thiên thể,
quán tính, vụ nổ lớn mọi thứ đều có lời giải thích của nó nếu chúng ta giới thiệu sự
hiện diện của vật chất tối
- Vật chất tối thực sự chỉ phục vụ cho việc hiểu biết vũ trụ một cách
một sự cân nhắc, một thực thể, cho phép ta hiểu rõ hơn về vấn đề
như tiết lộ những gì chúng ta chưa biết Nghiên cứu các hạt có tương
phép chúng ta khám phá ra các khía cạnh khác của vũ trụ Dù Vật
là rất quan trọng vì hầu hết vũ trụ mà chúng ta biết đều tạo thành từ
nó.[5]
Trang 10Hình 2.1: Bức xạ nền vi sóng của vũ trụ [Nguồn Internet]
Trang 11
Hình 2.3: Vật chất tối ở trung tâm thiên hà [Nguồn Internet]
Hình 2.2: Ảnh minh họa Vật chất tối [Nguồn Internet]
Trang 12
2.3 Năng lượng tối (Dark Energy) là gì?
- Nhiều thế kỉ trước các nhà khoa học cho rằng vũ trụ của chúng ta là một vũ trụ tĩnh,
mọi thứ sinh ra đã như vậy và sẽ mãi như vậy, không lớn lên, không nhỏ lại và cũng
không mất đi, đó là một vũ trụ hoàn hảo thế nhưng suy nghĩ về vũ trụ hoàn hảo ấy
nhanh chóng bị lung lay, cho thấy những sự bất hợp lí khi con người ta khám phá ra
khái niệm hố đen và lực hấp dẫn vô hạn của nó, nếu vũ trụ không có sự giãn nở thì
chẳng mấy chốc các hố đen cực lớn sẽ sáp nhập với nhau kéo theo các ngôi sao và
thiên hà, một vũ trụ tĩnh sẽ chỉ còn lại một hố đen duy nhất Nhiều lí thuyết khác nhau
được đưa ra giải thích cho vấn đề này, người ta cho rằng có một loại lực nào đó mạnh
hơn rất nhiều đang kiềm tỏa lực hấp dẫn để giữ cho vũ trụ tồn tại mãi mãi – đó là Năng
lượng tối
- Trong Vũ trụ học vật lí và thiên văn học, Năng lượng tối là một dạng năng lượng
chưa biết rõ chiếm phần lớn vũ trụ và có khuynh hướng tăng tốc độ giãn nở của vũ trụ
Năng lượng tối là thuyết được chấp nhận nhiều nhất kể từ những năm 1990, chỉ ra rằng
vũ trụ đang giãn nở với vận tốc tăng dần [3]
- Về cơ bản “Năng lượng tối” là một thuật ngữ thiên văn chỉ một loại năng lượng trong
không gian chi phối sự vận hành của vũ trụ Phần vũ trụ quan sát được (Observable
Universe) là một vùng hình cầu chưa tất cả các vật chất có thể quan sát được từ trái đất
hoặc các kính viễn vọng trong không gian và các tàu thăm dò được gửi đi bởi con
người ở thời điểm hiện tại, các nhà khoa học tính toán được rằng vũ trụ quan sát được
chứa khoảng vài trăm tỉ thiên hà và có đường kính khoảng 93 tỉ năm ánh sáng Tuy
nhiên những gì mà chúng ta biết về cấu trúc của vũ trụ chỉ bắt nguồn từ 5% của những
con số khổng lồ phía trên, khoảng 95% còn lại bao gồm cỡ 75% Năng lượng tối và cỡ
20% Vật chất tối, đơn giản là không hiện hữu, là thứ chúng ta vẫn gọi là thành phần tối
cả vũ trụ
Trang 13
- Sau này thuyết tương đối của Albert Einstein và những quan sát về sự dịch chuyển đỏ
của Hubble đã thực sự định hình lại vũ trụ Theo Albert Einstein, Năng lượng tối chính
là một loại năng lượng của không gian trống, năng lượng này làm cho không gian nở
rộng nhưng bản chất của không gian lại không bị loãng ra, sự nở ra của không gian tỉ
lệ thuận với lượng Năng lượng tối được tạo ra, kết quả là vũ trụ đang giãn nở với vận
tốc ngày càng nhanh thậm chí là vượt qua vận tốc ánh sáng, đây được gọi là “hằng số
vũ trụ” Một giải thích khác về Năng lượng tối là dựa theo lí thuyết lượng tử Theo đó
không gian chứa đầy các hạt ảo tạm thời, liện tục hình thành và sau đó biến mất
- Cũng có lí thuyết cho rằng ngoài 4 loại lực cơ bản của vũ trụ mà con người đã biết
đến bao gồm lực hạt nhân mạnh, lực hạt nhân yếu, trọng lực và lực điện từ thì vẫn còn
tộn tại một loại “lực thứ 5” - đó là Năng lượng tối.
Hình 2.4: Ảnh minh họa [Nguồn Internet]
Trang 14Hình 2.5: Ảnh minh họa [Nguồn Internet]
- Loại lực thứ 5 này cực kì khó nhận biết và chỉ có thể quan sát được ở quy mô toàn vũ
trụ, nó hoạt động chống lại lực hấp dẫn, làm cho các thiên hà ngày càng rời xa nhau
hơn, theo lí thuyết này thì vũ trụ sẽ không nở rộng mãi mãi mà đến một lúc nào đó nó
sẽ co lại và tiếp tục nở ra theo một chu kì Thế nhưng đến nay con người vẫn chưa thể
tìm ra bằng chứng về việc vũ trụ đã trải qua chu kì này, hoặc có lẽ vũ trụ vẫn chưa tồn
tạo đủ lâu để kết thúc một nửa chu kì này
2.4 Sự khác nhau giữa Vật chất tối và Năng lượng tối
- Vũ Trụ của chúng ta bị chi phối bởi các dạng vật chất, năng lượng bí ẩn và vô hình
mà vẫn chưa được hiểu hết một cách đầy đủ
- Hầu hết vũ trụ của chúng ta bị che khuất trong tầm nhìn khả kiến, mặc dù chúng ta
không thể nhìn thấy hay chạm vào nó, tuy nhiên các nhà thiên văn học cho rằng phần
lớn Vũ trụ bao gồm Vật chất tối và Năng lượng tối Nhưng thức bí ẩn và vô hình bao
quanh chúng ta là gì? Và đâu là sự khác biệt giữa Vật chất tối và Năng lượng tối? Một
cách ngắn gọn thì Vật chất tối làm chậm quá trình giãn nở của Vũ trụ còn Năng lượng
Trang 15Hình 2.6: Fritz Zwicky (1898-1974).
- Vật chất tối hoạt động giống như một lực hấp dẫn - một loại xi măng vũ trụ giữ vũ
trụ của chúng ta gần nhau Điều này là do Vật chất tối tương tác với lực hấp dẫn, song
nó không phản xạ hay hấp thụ hoặc phát ra ánh sáng Trong khi đó, Năng lượng tối
như một lực đẩy - một dạng phản lực - thúc đẩy sự giãn nở nhanh của Vũ trụ
- Năng lượng tối là một dạng năng lượng, không thể phát hiện được bởi các máy dò
thông thường, trong khi Vật chất tối là một dạng vật chất, không phát ra, phản xạ hoặc
tán xạ sóng điện từ [8]
2.5 Những bằng chứng cho thấy sự tồn tại của Vật chất tối và Năng lượng tối
- Những bằng chứng đầu tiên về sự tồn tại của Vật chất tối đã tồn tại hơn 8 thập kỷ trở
lại đây, từ những quan sát tiên phong ban đầu của Fritz Zwicky vào năm 1933, Ông sử
dụng định lý Virial, một phương trình liên hệ giữa động năng trung bình của một hệ với
tổng thế năng của nó, để suy ra khối lượng hấp dẫn của đám Kết quả nghiên cứu cho
thấy sự tồn tại của một vật chất mà chúng ta chưa từng phát hiện Do đó, ông đã đặt ra
thuật ngữ "Vật chất tối" cho vật chất bí ẩn này.[6]
Trang 16
- Trong suốt những năm 1970, những quan sát về các thiên hà bị chi phối bởi một
vòng xoắn lớn gồm các ngôi sao và khí đã cung cấp bằng chứng đầu tiên về sự mâu
thuẫn đáng kể với Lý thuyết Hấp dẫn (Theory of Gravity) của Einstein Bằng cách
quan sát cẩn thận tốc độ quay của các đám mây khí trong các thiên hà này, các nhà
thiên văn học đã xác định được cường độ lực hút của các thiên hà ở các khoảng cách
khác nhau từ tâm của chúng Họ đã sử dụng những kết quả này và lý thuyết tiêu chuẩn
về lực hấp dẫn, mô tả mối quan hệ giữa khối lượng mà một thiên hà có thể chứa và lực
hấp dẫn của nó mạnh như thế nào, để dự đoán xem khối lượng các thiên hà này phải
chứa để tạo ra lực hấp dẫn mà họ quan sát được Bất ngờ là, họ phát hiện ra rằng khối
lượng dự đoán của mỗi thiên hà vượt quá đáng kể tổng khối lượng của tất cả các vật
thể có thể nhìn thấy trong thiên hà đó
- Các quan sát thiên văn khác đã xác nhận sự mâu thuẫn này Các phép đo chuyển
động của các ngôi sao trong các loại thiên hà khác luôn cho thấy rằng các thiên hà
thuộc mọi loại đều chứa một lượng đáng kể khối lượng bí ẩn không nhìn thấy
được Hơn nữa, những quan sát về các cụm thiên hà chỉ ra rằng các cụm thiên hà đang
di chuyển với một tốc độ nhanh đến mức chúng sẽ bay tách xa nhau ra trừ khi được
bao quanh bởi một đám mây vật chất vô hình lần đầu tiên diễn ra vào những năm
1930, chỉ bản than những quan sát này không đủ để thuyết phục cộng đồng vật lý thiên
văn rằng có một vấn đề đáng kể với lý thuyết chuẩn về chuyển động của thiên hà Tuy
nhiên, vào cuối những năm 1970, bằng chứng tổng hợp về chuyển động bất thường
của các thiên hà và các cụm thiên hà chỉ ra cùng một thực tế đáng ngạc nhiên: nếu lý
thuyết tiêu chuẩn về lực hấp dẫn là đúng, các thiên hà và cụm thiên hà chứa rất nhiều
phần khối lượng bị thiếu từ những quan sát.” [7]