ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẠI CƯƠNG CHỦ ĐỀ 1 ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015. bài tập lớn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐẠI CƯƠNG CHỦ ĐỀ 1: ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
LỚP: L00 NHÓM 00 - HK221 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Cao Hồng Quân
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Hiện nay, việc lập di chúc sau khi qua đời đã không còn xa lạ đối với chúng ta Mặc
dù số tài sản của người quá cố có thể được phân chia theo hình thức pháp luật thông quatòa án, song nó vẫn để lại rất nhiều tranh cãi không mong muốn xảy ra, cụ thể là trongnội bộ gia đình Thế nên việc để lại di chúc sau khi qua đời là một việc làm rất cần thiết
để dễ dàng xác định và phân chia tài sản theo mong nguyện của người quá cố
Trong luật pháp hiện nay, quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là một trong nhữngquyền cơ bản của công dân Pháp luật hiện hành đã tạo ra những hành lang pháp lý nhấtđịnh nhằm thực hiện và bảo vệ quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế Tuy nhiên, trênthực tế do nhiều lý do khác nhau mà không ít người đã bỏ qua việc đảm bảo thi hànhquyền thừa kế và quyền để lại thừa kế Bên cạnh đó đã không ít người lập di chúc nhưng
do thiếu hiểu biết pháp luật dẫn tới việc lập di chúc không phù hợp pháp luật khiếnnhững người được thừa kế phải giải quyết bằng pháp luật gây mất đi tình cảm vốn có Cuối cùng là phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự (BLDS) là vô cùng rộng, tácđộng đều hầu hết hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt trong cuộc sống Ngoài ra,BLDS cũng là nền tảng của pháp lý, quy định pháp lý chung để xây dựng các quy phạm,luật chuyên ngành.1
Vì thế, nhóm tác giả quyết định chọn đề tài “Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo
quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015” nhằm nghiên cứu, làm rõ các vấn đề liên quan
đến thừa kế cũng như những bất cập trong BLDS 2015 để từ đó có thể đưa ra kiến nghịhoàn thiện Bộ luật này trong tương lai
2 Nhiệm vụ của đề tài
Một là, làm rõ những vấn đề chung về di chúc và đặc điểm của di chúc.
1 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT, BỘ LUẬT DÂN SỰ, [https://clck.ru/329DmQ] Truy cập ngày 19/09/2022.
Trang 4
Hai là, làm rõ từng điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của BLDS 2015.
Ba là, phân tích làm sáng tỏ ý nghĩa của pháp luật khi quy định các điều kiện có
hiệu lực của di chúc
Bốn là, phân tích và nhận xét tình huống thực tiễn về hiệu lực của di chúc.
Năm là, nhận xét và đánh giá những hạn chế và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp
luật dân sự về điều kiện có hiệu lực của di chúc trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thựctiễn
3 Bố cục tổng quát của đề tài
Kết cấu đề tài: ngoại trừ phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì
bố cục của báo cáo sẽ được chia ra thành hai chương nhằm thuận lợi hơn trong việcnghiên cứu:
Chương 1: Những vấn đề chung về điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định
của Bộ luật Dân sự năm 2015
Chương 2: Điều kiện có hiệu lực của di chúc - từ thực tiễn giải quyết các tranh
chấp đến kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
Trang 5
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI
CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
1.1 Khái quát về di chúc
1.1.1 Định nghĩa di chúc
Hiện nay, có rất nhiều nguồn khác nhau định nghĩa về khái niệm của “di chúc” như:
Tiếng Việt.
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người
Đúc kết lại từ những khái niệm được nêu trên, nhóm tác giả đã đưa ra định nghĩa về
di chúc như sau: “Di chúc chính là một tài liệu pháp lý thể hiện ý chí cá nhân của một
người trước khi qua đời nhằm mục đích truyền đạt mong ước cuối cùng (tâm nguyện) hoặc chuyển giao tài sản cho một người khác theo quy định của pháp luật.”
1.1.2 Đặc điểm của di chúc
Một là, di chúc là giao dịch dân sự đơn phương, tự nguyện của cá nhân.
Theo nhóm tác giả thì di chúc là giao dịch dân sự đơn phương, tự nguyện của cánhân Vậy tại sao lại nói di chúc là giao dịch dân sự đơn phương và tự nguyện của cánhân? Trước tiên chúng ta phải tìm hiểu thế nào là giao dịch dân sự đơn phương và tựnguyện
Căn cứ theo Điều 116 BLDS 2015 thì khái niệm giao dịch dân sự được quy địnhnhư sau:
“Điều 116 Giao dịch dân sự
2 Từ điển Hán Nôm, [https://hvdic.thivien.net/hv/di+ch%C3%BAc] Truy cập từ 29/09/2022.
3 Di chúc, [http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Di_ch%C3%BAc] Truy cập từ 29/09/2022.
4 Phòng Tư pháp Kim Sơn (06/11/2022), Một số quy định về thừa kế trong BLDS 2015, [https://clck.ru/32BDFS] Truy cập ngày 21/09/2022.
Trang 6
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay
Một vài điều cần lưu ý về giao dịch dân sự:
Thứ nhất, Các hợp đồng được giao kết đều có thể được xem là một giao dịch dân
sự, tuy nhiên không phải mọi giao dịch được coi là hợp đồng Bởi vì, bản chất của hành
vi pháp lý đơn phương là thể hiện ý chí của một chủ thể, do vậy hành vi pháp lý đơnphương không được xem là hợp đồng
Ví dụ: Việc từ chối thừa kế là một giao dịch dân sự không phải hợp đồng vì bảnchất của việc từ chối thừa kế là thể hiện ý chí đơn phương của chủ thế không muốn thừa
kế chứ không phải là sự thỏa thuận giữa hai bên để xác lập các quyền và nghĩa vụ pháplý
Thứ hai, không phải hành vi pháp lý đơn phương nào cũng là một giao dịch dân sự.
Bởi vì, chỉ có những hành vi pháp lý đơn phương mà khi hành vi đó được tiến hành cómục đích làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của chủ thể thì đó mới được coi là mộtgiao dịch dân sự Còn những hành vi pháp lý đơn phương mà được tiến hành nhưngkhông làm phát sinh bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào ở chủ thể thì hành vi pháp lý đơnphương đó không phải là một giao dịch dân sự
Ví dụ: Việc từ bỏ quyền sở hữu, bạn vứt bỏ 1 chiếc điện thoại hành vi này khônglàm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền – nghĩa vụ của 1 chủ thể khác Vậy nên đây
là một hành vi pháp lý đơn phương chứ không phải là một giao dịch dân sự
Theo từ điển tiếng Việt thì tự nguyện chính là: “Tự mình muốn làm, tự mình muốn
Từ hai khái niệm trên nên nhóm tác giả có nhận xét về di chúc là giao dịch dân sự
đơn phương, tự nguyện của cá nhân như sau:
Thứ nhất, đây là hành vi pháp lí đơn phương thể hiện ý chí, nguyện vọng của cá
nhân và được hình thành duy nhất bằng ý chí đơn phương của chủ thể quyết định lập dichúc nhằm chuyển giao một phần tài sản hoặc tất cả tài sản của mình cho người thừa kế
mà họ đã xác định Đây là một giao dịch dân sự không phải hợp đồng
Thứ hai, việc lập di chúc hoàn toàn không có sự thoả thuận, cưỡng ép hay đe doạ từ
chủ thể khác do đó đây được coi là tự nguyện
5 CÔNG TY LUẬT TNHH THỊNH TRÍ, Giao dịch dân sự là gì? Điều kiện giao dịch dân sự, [https://clck.ru/329Dhc] Truy
cập ngày 18/09/2022.
6 Theo Wikipedia, Tự nguyện, [https://clck.ru/329DXR] Truy cập ngày 19/09/2022.
Trang 7
Chính vì vậy nên nhóm tác giả khẳng định: “Di chúc là một giao dịch dân sự đơn
phương và tự nguyện.”
Hai là, di chúc là một giao dịch dân sự xem trọng hình thức.
Căn cứ vào Điều 627 đến 629 của BLDS 2015 có quy định như sau:
Trang 8
cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thựcxác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”7
Thông qua những quy định về hình thức của di chúc trong BLDS 2015 thì nhóm tác
giả có nhận xét về hình thức của di chúc rất nghiêm ngặt, chặt chẽ Mục đích của việc
quy định như vậy là nhằm tránh nhầm lẫn hay tranh chấp giữa các cá thể trong gia đình,giữa các cá thể được chủ thể lựa chọn làm người thừa kế
Ba là, di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người lập di chúc chết
Có một vài bình luận về hiệu lực của di chúc theo BLDS 2015 như sau “Khi người
để lại di sản chưa chết thì di chúc mặc dù đã được lập nhưng vẫn chưa phát sinh hiệu lực,tất cả các định đoạt về tài sản của người đó chưa có hiệu lực thực hiện trên thực tế, chưaphát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể liên quan và người đó có quyềnhủy bỏ, thay đổi nội dung di chúc theo ý chỉ của mình.”8
Theo khoản 1 Điều 643 BLDS 2015:
Điều 643 Hiệu lực của di chúc
1 Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế
Vậy có nghĩa khi người để lại di chúc chết thì cũng chính là thời điểm mở thừa kế
Dựa khoản 1 trong Điều 643 cùng với Điều 630 trong BLDS 2015 cũng như dựa
vào một các bình luận trên thì nhóm tác giả nhận định rằng chỉ khi người để lại di chúc
chết và di chúc hợp pháp tại thời điểm mở thừa kế thì di chúc mới có hiệu lực.
Bốn là, người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di chúc trong bất kỳ lúc nào.
Theo Điều 640 trong BLDS 2015 có nói về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ
di chúc như sau:
“Điều 640 Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc
1 Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất
cứ lúc nào
7 THƯ VIỆN PHÁP LUẬT, BỘ LUẬT DÂN SỰ, [https://clck.ru/329DmQ] Truy cập ngày 19/09/2022.
8 Công ty luật Hoàng Sa, Hiệu lực của di chúc theo Bộ luật Dân sự, [https://clck.ru/329Ddw] Truy cập ngày 20/09/2022.
Trang 9
2 Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung
có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâuthuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật
3 Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước
bị hủy bỏ
Có một bài viết đã nói về việc thay đổi, chỉnh sửa, bổ sung di chúc như sau:
Theo quy định tại Điều 640 BLDS 2015 quy định về sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy
bỏ di chúc như sau: Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đãlập vào bất cứ lúc nào
Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung cóhiệu lực pháp luật như nhau Nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫnnhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật
Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bịhủy bỏ
Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 56 Luật Công chứng 2014 quy định: Di chúc đã đượccông chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ mộtphần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việcsửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó Trường hợp di chúc trước đó đang được lưugiữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổchức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy
9 Phạm Law, Di chúc đã lập có thay đổi được không?, [https://clck.ru/329Dqq] Truy cập ngày 20/09/2022.
Trang 10
bị sai sót, hoặc cách diễn đạt khó hiểu gây hiểu lầm khác với ý chí người viết lúc ban đầunên chủ sở hữu có quyền sửa đổi, thay thế di chúc.
Nhóm tác giả hoàn toàn đồng ý và nhận thấy trong BLDS 2015 các nhà làm luật quyđịnh rất đầy đủ và rõ ràng về Bộ luật Nhận thấy rằng BLDS 2015 vẫn rất phù hợp với đờisống hiện nay
1.2 Quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Khái niệm điều kiện có hiệu lực của di chúc là gì?
1.2.1 Người lập di chúc phải có đủ năng lực để lập di chúc
Điều kiện người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì có quyền tự mình lập dichúc
Theo Điều 625 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 630 trong BLDS 2015:
“Điều 625 Người lập di chúc
1 Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của
Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình
2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếuđược cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc
Điều 630 Di chúc hợp pháp
1 Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối,
đe doạ, cưỡng ép
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xãhội; hình thức di chúc không trái quy định của luật
2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lậpthành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc
3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phảiđược người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực
Pháp luật Việt Nam quy định rằng : “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mườitám tu/ổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập dichúc” bởi lẻ ở độ tuổi này thì chủ thể đã gần đủ (người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ
Trang 11
mười tám tuổi) hoặc đủ (Người từ đủ mười tám tuổi trở đi ) năng lực hành vi dân sự vàcũng đã đạt đến một ngưỡng nhất định về nhận thức hay nói cách khác là chủ thể có khảnăng tự điều chỉnh cũng như là chịu trách nhiệm về những hành vi mà mình gây ra.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào lứa tuổi, vào khả năng nhậnthức và điều khiển hành vi của cá nhân đó Căn cứ vào khả năng này pháp luật dân sựphân biệt: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (người thành niên, trừ người do bịbệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không làm chủ nhận thức, làm chủ được hành
vi của mình); người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có năng lực hành vì dân sự mộtphần; người do bị bệnh mà không thế nhận thức, làm chủ được hành vì của mình là ngườimất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người chưa đủ 06 tuổikhông có năng lực hành vi dân sự Những người có năng lực hành vi dân sự một phần,người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người không có năng lực hành vi dân
sự, muốn tham gia giao dịch dân sự phải thông qua người giám hộ hoặc được sự đồng ýcủa người đại diện theo pháp luật.”10
Vì thế nhóm tác giả cho rằng việc lập di chúc lúc này là đảm bảo được yếu tốtrưởng thành về nhận thức cá nhân, đảm bảo được tính đúng đắn, trung thực, khách quan
Điều kiện luật định khi người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi lập di chúc.
“Điều 625 Người lập di chúc
1 Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của
Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình
2 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếuđược cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc
Điều 630 Di chúc hợp pháp
2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lậpthành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”11
10 Luật sư Lê Kiều Hoa (10/07/2022), Năng lực hành vi dân sự là gì? Quy định về mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự,
[https://clck.ru/32BDRE] Truy cập ngày 28/9/2022.
11 Bộ luật dân sự 2015, [https://clck.ru/329DmQ] Truy cập ngày 27/9/2022.
Trang 12
Có một nhận định về vấn đề này như sau: “Đối với độ tuổi này, pháp luật không đặt
ra quy định trực tiếp đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Vì sự hình thành bản
di chúc của chủ thể này trên thực tế hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của cha, mẹ hoặc người giám hộ có đồng ý cho họ lập di chúc hay không Ở quy định này, chúng ta có thể hiểu rằng trách nhiệm của người làm cha, mẹ hoặc giám hộ cũng được xác định gián tiếp trong việc đánh giá khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người lập di chúc.”12
Nhóm tác giả hoàn toàn đồng tình với nhận định trên bởi lẽ nhóm tác giả cũng nhậnthấy việc lập di chúc của người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi trênthực tế hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của cha, mẹ hoặc người giám hộ Theo luật quyđịnh thì người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi chỉ có một phần năng lực hành vì dân sự
Mà năng lực hành vi dân sự chính là khả năng tự chịu trách nhiệm bằng tài sản về hành vicủa mình, bao gồm cả hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp Nhận thấy tại độ tuổi
này hầu như chủ thể chưa có đủ chính chắn về nhận thức.
Câu hỏi đặt ra: Theo quy định của BLDS 2015, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị khó khăn trong việc nhận thức và làm chủ hành vi thì có được lập di chúc hay không?
Nhóm tác giả nhận định về vấn đề trên như sau:
Thứ nhất, đối với người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật quy
đinh tại khoản 1 và khoản 2 Điều 22 BLDS 2015 như sau:
“Điều 22 Mất năng lực hành vi dân sự
1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơquan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lựchành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêucầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổchức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vidân sự
12 Người lập di chúc là gì? Điều kiện của người lập di chúc là gì?, [https://clck.ru/32BDvR] Truy cập ngày 28/9/2022.
Trang 13
2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diệntheo pháp luật xác lập, thực hiện ”13
Điều 22 trong BLDS 2015 chỉ ra cho ta thấy là người mất năng lực hành vi dân sựkhông thể tự mình xác lập bất cứ loại giao dịch nào và mọi nhu cầu lợi ích liên quan tớingười này sẽ phải thông qua người đại diện
Pháp luật đã quy định rằng: “Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trườnghợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủđược hành vi của mình.”14 Mà người mất năng lực hành vi dân sự không thể tự xác lậpgiao dịch, cũng không thể thông qua người khác để thỏa mãn nhu cầu lợi ích của mình vềviệc định đoạt tài sản bằng di chúc Do vậy, mọi “giao dịch dân sự của người mất nănglực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”
Thứ hai, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự:
Theo quy định tại Điều 24 BLDS 2015:
“Điều 24 Hạn chế năng lực hành vi dân sự
1 Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản củagia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chứchữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lựchành vi dân sự
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự và phạm vi đại diện
2 Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa ántuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo phápluật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quyđịnh khác
3 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thìtheo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ
13 BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015, [https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Bo-luat-dan-su-2015-296215.aspx] Truy cập
ngày 19/9/2022.
14 VĂN PHÒNG TƯ VẤN LUẬT THỪA KẾ, CÁCH LẬP DI CHÚC HỢP PHÁP, [https://clck.ru/32BE4G] Truy cập ngày
28/9/2022.
Trang 14
quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế nănglực hành vi dân sự.”15
Người hạn chế năng lực hành vi dân sự là người bị các chất kích thích tác động tới
hệ thần kinh trung ương khiến họ bị ảnh hưởng về khả năng nhận thức, điều khiển hành
vi dẫn đến phá hoại tài sản của gia đình Điều này vi phạm ngay khoản 1 Điều 630 BLDS
2015 về di chúc hợp pháp đó là “ Người này không có đủ minh mẫn, sáng suốt trong khilập di chúc”
Nhóm tác giả cho rằng, di chúc là loại giao dịch cần đến khả năng nhận thức, điềukhiển hành vi phù hợp với quy chuẩn đạo đức xã hội của chủ thế lập di chúc Vì vậy, việctuyên bố cá nhân hạn chế năng lực hành vi dân sự là nhằm hạn chế việc xác lập các giaodịch có thể làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích của các thành viên gia đình Chính vì thếviệc lập di chúc của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải thông qua ý chí củangười đại diện theo pháp luật
Thứ ba, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Khoản 1 Điều 23 BLDS năm 2015 quy định:
“Điều 23 Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
1 Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năngnhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theoyêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữuquan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố ngườinày là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ,xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ
2 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quanhoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bốngười có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”16
15 BỘ LUẬT DÂN SỰ,[ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Bo-luat-dan-su-2015-296215.aspx] Truy cập ngày 19/9/2022
16 BỘ LUẬT DÂN SỰ, [ https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Bo-luat-dan-su-2015-296215.aspx] Truy cập ngày
19/9/2022.
Trang 15
Dựa vào Điều 23 BLDS 2015 nhóm tác giả có nhận định rằng: “Người có khó khăntrong nhận thức, làm chủ hành vi giao dịch sẽ thông qua người giám hộ Nhưng việc lập
di chúc không thể thông qua cơ chế ủy quyền, nên thông qua giám hộ trong trường hợp
này có thể nói là không hợp lệ” Tại khoản 3 Điều 630 BLDS 2015 có quy định rằng “Di
chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.” mà người có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi tuy rằng họ thuộc vào người bị hạn chế về thể chấtnhưng xét về bản chất thì người không biết chữ hay là người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi của mình chỉ là do tình trạng thể chất hoặc tinh thần, hoặc dokhông biết chữ mà dẫn đến việc không đủ khả năng nhận thức, chứ không phải là do bịhạn chế về thể chất hay do không được học hành mà dẫn đến việc không đủ khả năngnhận thức Trong điều luật cũng không ghi rõ ràng về việc người có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi lập di chúc nên theo nhóm tác giả nhận định thì đây là một trongnhững bất cập trong BLDS 2015 về lập di chúc
Từ những nhận định trên thì nhóm tác giả khẳng định rằng vấn đề “Người bị mấtnăng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị khó khăntrong việc nhận thức và làm chủ hành vi” vẫn được lập di chúc nhưng phải phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó phải kể điến việc tuân thủ đúng những điều mà BLDS 2015 đưa ra
Những quyền của người lập di chúc theo Điều 626 BLDS 2015 gồm: quyền chỉ định người thừa kế, được truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người thừa kế, ngoài ra người để lại di sản có có những quyền khác:
Theo Điều 626 BLDS 2015 quy định như sau:
Điều 626 Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có quyền sau đây:
1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế
2 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế
3 Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng
4 Giao nghĩa vụ cho người thừa kế
5 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản
Nhóm tác giả có những nhận xét như sau:
Trang 16
Thứ nhất, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di
sản của người thừa kế
Bởi lẽ di chúc chính là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mìnhcho người khác sau khi chết vì vậy họ hoàn toàn có quyền chỉ định người thừa kế cũngnhư truất quyền hưởng di sản của người thừa kế Họ có thể để lại tài sản cho những ngườithân của mình bằng cách chỉ định tài sản của mình cho mỗi người dựa vào ý chí của họ.Thay vì họ để lại tài sản của mình cho người thân của mình thì họ cũng có thể để lại tàisản của mình cho các tổ chức từ thiện hay có thể chỉ là một tổ chức nào đó mà họ mongmuốn hoặc để lại di sản thừa kế cho Nhà nước miễn là có đủ điều kiện di chúc hợp pháp.Ngoài ra, quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc truấtquyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật mà không buộc phải nêu rõ lý do vàngười bị truất quyền thừa kế thì người thừa kế không còn quyền hưởng di sản theo dichúc và theo pháp luật Nếu người thừa kế không được chỉ định trong di chúc chưa hẳn
đã bị truất quyền hưởng di sản
Ví dụ: Ông A có vợ là B và 3 người con là C, D, E đều đã thành niên, di sản thừa kểcủa ông là 70 triệu đồng Trước khi qua đời ông lập di chúc như sau: Bà B hưởng 30 triệuđồng, C và D mỗi người hưởng 10 triệu đồng, E không được chỉ định trong di chúc Ông
A chỉ định đoạt 50 triệu đồng, còn 20 triệu không được ông định đoạt trong di chúc sẽchia theo quy định của pháp luật, lúc này 20 triệu được chia 4, E được hưởng 5 triệu đồngvới tư cách là người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.17
Thứ hai, phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
Có một bài viết nói về việc phân định tài sản cho từng người thừa kế như sau:
“Quyền này cho phép người lập di chúc có thể phân định phần di sản cho từng
người thừa kế trong nội dung di chúc Thực hiện quyền phân định tài sản trong di chúc chính là việc người để lại tài sản thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình cho từng người thừa kế khi nhiều người cùng được thừa kế Những phần di sản này có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau, từng hiện vật khác nhau phụ thuộc vào ý chí định đoạt của người lập chúc với tư cách là chủ sở hữu tài sản, không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố nào như đe dọa, cưỡng ép, lừa dối Nếu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đó thì
di chúc được lập sẽ không có hiệu lực thi hành Nếu không phân định phần của từng
17 Luật sư Lê Kiều Hoa (14/05/2021), Người lập di chúc có những quyền gì theo quy định của pháp luật?,
[https://clck.ru/32BEWV] Truy cập ngày 28/09/2022.
Trang 17
người mà chỉ nêu những người được hưởng, những người đó sẽ được hưởng các kỷ phần
Nhóm tác giả hoàn toàn đồng ý với nhận định trên Rằng đây chính là việc thể hiện
ý chí của người lập di chúc trước khi chết về quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu củamình cho từng người thừa kế
Thứ ba, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
Tại Điều 645 và Điều 646 BLDS 2015 quy định:
“Điều 645 Di sản dùng vào việc thờ cúng
1 Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong
di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện
đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa
kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ
cúng
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản
dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật
2 Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng
Điều 646 Di tặng
1 Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc
2 Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh
ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người được di tặng không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
18 BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015, [https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Bo-luat-dan-su-2015-296215.aspx] Truy cập
ngày 19/9/2022.
Trang 18
3 Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập
di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.19
Quy định trên cho phép người lập chúc có quyền định đoạt một phần di sản để ditặng cho người khác hưởng Thông thường là người có mối quan hệ thân quen, bạn bè,đồng nghiệp Họ được hưởng di sản của người chết để lại nhưng không với tư cách làngười thừa kế nhưng vẫn có quyền xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản di tặng kể từkhi nhận di sản Pháp luật không quy định rằng bắt buộc phải trích một phần di sản dànhcho việc thờ cúng, nhưng một khi người lập chúc đã thể hiện ý chí định đoạt phần di sảncho thờ cúng thì phải được pháp luật tôn trọng và bảo đảm thực hiện.”
Thứ tư, giao nghĩa vụ cho người thừa kế
Có bài viết nhận định về vấn đề “Giao nghĩa vụ cho người thừa kế” rằng: “Ngườithừa kế có quyền hưởng phần di sản được thừa kế và thực hiện nghĩa vụ của người để lại
di sản trong phạm vi di sản được hưởng Nghĩa vụ ở đây là những nghĩa vụ về tài sản,nhưng người thừa kế không phải thực hiện những nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhânthân của người để lại di sản Việc thực hiện nghĩa vụ của người thừa kế có thể này xảy racác trường hợp sau:
Một là, người để lại di sản có để lại một nghĩa vụ về tài sản nhưng trong di chúc
không nói rõ người thừa kế nào phải thực hiện nghĩa vụ đó thì theo quy định của phápluật, người nào hưởng thừa kế thì người đó phải thực hiện Tuy nhiên, người thừa kế chỉphải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản thừa kế đối vớitoàn bộ nghĩa vụ mà người chết để lại Nếu có nhiều người thừa kế theo di chúc thì tất cảnhững người đó phải thực hiện nghĩa vụ Khi di sản đã được chia cho từng người thì mỗingười thừa kế phải thực hiện một phần nghĩa vụ tương ứng với phần di sản mà mìnhđược nhận
Hai là, trong trường hợp người để lại thừa kế đã xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ mà từng
người thừa kế phải thực hiện thì mỗi người phải thực hiện phần đó trong phạm vi di sản
mà mình được hưởng Nếu nghĩa vụ vượt quá số di sản người này được hưởng sẽ chiađều cho những người thừa kế khác thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ đã nhận
19 BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015, [https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Bo-luat-dan-su-2015-296215.aspx] Truy cập
ngày19/9/2022.