Đối với quyền tác giả, thì việc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng được xem là vấn đề cần nhận được sự quan tâm và từ đó hoàn thiện quy định của pháp l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH HÃI
NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH HÃI
NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THÁI CƯỜNG
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin được cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” do chính tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thái Cường, giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Khóa luận này đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả thực hiện khóa luận
Nguyễn Thanh Hãi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Thái Cường,
giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh – người
thầy đã hướng dẫn tác giả thực hiện khóa luận này Dù rất bận rộn với công việc
nhưng thầy vẫn luôn dành thời gian để hỗ trợ, chỉ dẫn nhiệt tình và truyền đạt những
kinh nghiệm để giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình một cách tốt nhất
Em xin chúc thầy có nhiều sức khỏe, hoàn thành thật tốt công việc của mình và gặt
hái nhiều thành công hơn nữa trong thời gian tới
Tiếp theo, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến thầy Huỳnh Quang Thuận, giảng
viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh – người thầy
cố vấn học tập đã đồng hành với lớp Dân sự 43.1 trong suốt 04 năm qua Tác giả cũng
xin cảm ơn những Quý thầy, cô đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu
để chúng em có được hành trang vững chắc trên con đường sắp tới
Tác giả cũng xin cảm ơn Trung tâm thông tin – thư viện Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh đã luôn tạo những điều kiện thuận lợi để các bạn sinh viên
tiếp cận được nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập của mình
Và lời cuối, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn yêu thương
và hỗ trợ để tác giả hoàn thành trọn vẹn khóa học của mình Tác giả cũng xin cảm ơn
những người bạn đã luôn đồng hành với mình, xin chúc mọi người có nhiều sức khỏe
và thành công
Xin cảm ơn vì tất cả!
Tác giả thực hiện khóa luận
Nguyễn Thanh Hãi
Trang 5Hiệp định CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương
Hiệp định EVFTA Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu
Âu - Việt Nam
Hiệp định TRIPS 1994
Hiệp định TRIPS ngày 15 tháng 4 năm 1994
về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ
Hiệp ước WCT 1996 Hiệp ước về Quyền tác giả của Tổ chức Sở
hữu trí tuệ thế giới năm 1996
BLDS 1995 Bộ luật Dân sự số 44-L/CTN ngày 28 tháng
10 năm 1995 của Quốc hội Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung
2009, 2019
Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 9
4 Mục đích và phương pháp nghiên cứu của đề tài 10
5 Bố cục tổng quát của khóa luận 11
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG 12
1.1 Mối tương quan về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng 12
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả 12
1.1.2 Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả – chủ thể của quyền tác giả 14
1.1.3 Quyền nhân thân và quyền tài sản – hai quyền luật định thể hiện lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 19
1.1.4 Công chúng và lợi ích của công chúng trong khía cạnh quyền tác giả 25
1.1.5 Sự mâu thuẫn trong quan hệ về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng 27
1.2 Tổng quan về nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng 28
1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành của nguyên tắc 29
1.2.2 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc 30
1.2.3 Quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong việc cụ thể hóa nguyên tắc 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 60
Trang 7CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ THỰC THI NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG
VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT 61 2.1 Thực thi nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng thông qua các trường hợp sử dụng hợp pháp tác phẩm 61 2.1.1 Tiêu chí xác định việc sử dụng hợp pháp tác phẩm 61 2.1.2 Một số trường hợp minh họa cho việc thực thi nguyên tắc nhằm cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng 62 2.2 Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm hướng đến việc thực thi có hiệu quả nguyên tắc trên 73 2.2.1 Hoàn thiện quy định về các điều kiện chung cần đáp ứng đối với các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 74 2.2.2 Hoàn thiện quy định về trường hợp sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu tại điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 và khoản 2 Điều 22 Nghị định
số 22/2018/NĐ-CP 75 2.2.3 Hoàn thiện quy định về trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình tại điểm b khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009,
2019 78 2.2.4 Bổ sung ngoại lệ đối với quy định về hành vi hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình tại khoản 12 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 80 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84 KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển và văn minh hơn, thì con người cũng dần quan tâm nhiều đến nhu cầu tiếp cận các tác phẩm để phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập hay giải trí… của bản thân Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, các tác phẩm như các chương trình máy tính cũng hỗ trợ chúng ta giải quyết công việc trở nên nhanh chóng và về tính hiệu quả thì không cần phải bàn cãi Có thể nói, chính những ưu điểm nổi trội đó đã khẳng định được vai trò của các tác phẩm đối với đời sống của con người Khi một tác phẩm được pháp luật bảo hộ quyền tác giả, thì làm phát sinh mối quan hệ về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả – nhóm chủ thể tạo ra tác phẩm, và công chúng – chủ thể tiếp cận tác phẩm Xuất phát từ lý do tác phẩm có khả năng mang lại giá trị lớn, nên tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng đều mong muốn khai thác tác phẩm nhằm đạt được những lợi ích nhất định Tuy nhiên, nếu mỗi bên đều quá chú trọng lợi ích của mình đối với tác phẩm
mà không quan tâm đến lợi ích của bên còn lại, thì không sớm thì muộn cũng phát sinh sự mâu thuẫn trong quan hệ về lợi ích giữa các bên Khi đó, nhà nước với pháp luật là công cụ đắc lực để thực hiện quyền lực của mình, cần đề ra những quy định để giải quyết mâu thuẫn trên nhằm hướng đến sự hài hòa, cân bằng về lợi ích giữa các bên Và “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” được xem là cơ sở để nhà nước xây dựng, hoàn thiện những quy định của pháp luật cũng như đưa ra những chính sách, biện pháp nhằm cân bằng lợi ích giữa các bên Bởi nếu chúng ta chỉ nghiêng về lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và quy định nhiều độc quyền dành cho họ, thì công chúng sẽ gặp trở ngại trong việc tiếp cận tác phẩm Còn nếu quy định cho công chúng được tự do khai thác tác phẩm mà không có sự kiểm soát, thì quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bị ảnh hưởng và họ sẽ không còn động lực để tiếp tục tạo ra những tác phẩm cho xã hội
Đất nước Việt Nam đã và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế với nhiều
cơ hội nhưng cũng đầy thách thức ở phía trước Có thể kể đến một số điều ước quốc
tế có liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT) cũng như quyền tác giả mà Việt Nam đã gia nhập như Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (Công ước Berne 1886); Hiệp định TRIPS ngày 15 tháng 4 năm 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS 1994); Hiệp ước về Quyền tác giả của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới năm 1996 (Hiệp
Trang 9ước WCT 1996); và hai Hiệp định đã có hiệu lực ở nước ta trong thời gian gần đây
đó là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (Hiệp định EVFTA) Khi đã tham gia vào “sân chơi quốc tế”, thì việc thực hiện đúng các cam kết và tiến hành hoàn thiện pháp luật trong nước cho phù hợp với các điều ước quốc
tế là việc làm mang tính cấp thiết Tại Hội nghị góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tổ chức vào ngày 12/4/2022, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng đã khẳng định: “Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ lần này là yêu cầu cấp thiết đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, đáp ứng các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp và yêu cầu mới đề ra”1 Và mới đây, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã được Quốc hội biểu quyết thông qua vào ngày 16 tháng 6 năm 2022 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023) để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn ở nước ta Đối với quyền tác giả, thì việc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng được xem
là vấn đề cần nhận được sự quan tâm và từ đó hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm cân bằng lợi ích giữa các bên cũng như đáp ứng yêu cầu mà các điều ước quốc tế đã đặt ra Do đó, việc nghiên cứu “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” cũng mang ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở để hoàn thiện quy định của pháp luật và đưa ra các chính sách, giải pháp có liên quan Và khi đó, mong rằng chúng ta có thể đạt được mục tiêu kép đó là thúc đẩy hoạt động sáng tạo ra tác phẩm thông qua cơ chế bảo hộ quyền tác giả phù hợp, đồng thời cũng tạo điều kiện cho việc khai thác giá trị của tác phẩm nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đáp ứng nhu cầu tiếp cận tác phẩm của cộng đồng
Từ những lý do đã được nêu và phân tích ở trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
và công chúng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Tác giả cũng mong rằng khóa luận này sẽ trở thành một tài liệu có giá trị bổ ích nhằm phục vụ cho việc tham khảo, nghiên cứu và xa hơn là góp một phần nhỏ cho quá trình hoàn thiện pháp luật
1 Trịnh Dũng, “Sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ để phát triển và hội nhập”, doi-luat-so-huu-tri-tue-de-phat-trien-va-hoi-nhap-692888/ , truy cập ngày 17/4/2022
Trang 10https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/sua-Sở hữu trí tuệ ở nước ta liên quan đến vấn đề cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Với đề tài “Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng”, tác giả nhận thấy đây là một đề tài khá thú vị và cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Điều đó được thể hiện qua việc có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài trên đã được thực hiện trên thực
tế Trong bối cảnh nước ta bước vào thời kỳ hội nhập và gia nhập các điều ước quốc
tế, thì việc nghiên cứu vấn đề cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
và công chúng để thực hiện hoàn thiện pháp luật trong nước cho phù hợp với các điều ước quốc tế là điều mang tính cấp thiết
Về sách và giáo trình có liên quan:
Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (TP Hồ Chí Minh) do Nguyễn Hồ Bích Hằng và Nguyễn Xuân Quang làm chủ biên (xuất bản năm 2021) Liên quan đến quyền tác giả, quyển giáo trình này đã cung cấp những vấn đề mang tính cơ bản về lý luận cũng như quy định của pháp luật, để
từ đó có được nền tảng kiến thức chung phục vụ cho việc nghiên cứu sâu hơn về
“nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng”
Sách tình huống (Bình luận bản án) Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Hồ Bích Hằng, Nguyễn Ngọc Hồng Phượng và Nguyễn Phương Thảo (xuất bản năm 2019) Quyển sách này sẽ cung cấp cho chúng ta một cách nhìn tổng quan nhất về thực tiễn xét xử của Tòa án thông qua việc phân tích, bình luận các vấn
đề pháp lý có liên quan đến các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nói chung và đối tượng quyền tác giả nói riêng Những vấn đề được trình bày trong quyển sách trên sẽ giúp chúng ta nắm rõ hơn các quy định của pháp luật cũng như cách thức áp dụng các quy định đó trên thực tế thông qua hướng giải quyết của Tòa án
Sách Bình luận bản án Quyền tác giả của tác giả Nguyễn Thái Cường (xuất bản năm 2020) Đây là tài liệu cung cấp những bản án đã được chọn lọc có liên quan đến đối tượng quyền tác giả nhằm giúp chúng ta có cách tiếp cận gần hơn với thực tiễn xét xử về các tranh chấp điển hình về quyền tác giả Thông qua việc phân tích, bình luận theo quy định của pháp luật trong nước, thì tài liệu trên cũng có liên hệ với pháp luật của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm tạo cách nhìn toàn diện về các vấn đề pháp lý được đặt ra
Trang 11 Về khóa luận tốt nghiệp có liên quan:
Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh với đề tài “Cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu và người sử dụng tác phẩm trong quan
hệ quyền tác giả” của tác giả Võ Hoàng Yến, được thực hiện vào năm 2002 Có thể thấy, đề tài trên có nhiều điểm tương đồng với đề tài “Nguyên tắc cân bằng đối trọng
về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” mà chúng ta đang nghiên cứu Theo đó, tác giả Võ Hoàng Yến đã trình bày các vấn đề mang tính khái quát chung về quyền tác giả và sau đó là các cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của việc cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu và người sử dụng tác phẩm trong quan hệ quyền tác giả Về cơ sở pháp lý, tác giả đưa ra các quy định về trường hợp được sử dụng tác phẩm không phải xin phép và không phải trả tiền thù lao theo hướng liệt kê các trường hợp chứ chưa đi vào phân tích sâu hơn để làm rõ từng trường hợp cụ thể Trong khi vấn đề thời hạn bảo hộ quyền tác giả cũng thể hiện cho việc cân bằng lợi ích giữa chủ
sở hữu và người sử dụng tác phẩm, nhưng tác giả chưa đề cập đến vấn đề này Tiếp theo đó, tác giả đã nêu quan hệ giữa chủ sở hữu và người sử dụng tác phẩm trong quan hệ quyền tác giả trên thực tế thông qua tình hình sử dụng tác phẩm cũng như những vướng mắc còn tồn tại, và từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục vướng mắc, nâng cao hơn nữa hiệu quả bảo hộ quyền tác giả Ngoài ra, các quy định của pháp luật được viện dẫn trong khóa luận ở thời điểm hiện tại đã hết hiệu lực, nên một
số vấn đề có liên quan đến cơ sở pháp lý cần được cập nhật theo quy định của Luật
Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 (Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019)
Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh với đề tài “Nguyên tắc cân bằng - đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” của tác giả Dương Thị Hải Lê, được thực hiện vào năm 2007
Ở chương thứ nhất của khóa luận, tác giả Dương Thị Hải Lê đã nêu khái quát chung
về nguyên tắc trên thông qua các vấn đề như: Các khái niệm về quyền tác giả và sự
ra đời của nó, bảo hộ quyền tác giả và “nguyên tắc cân bằng – đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” Tiếp theo, tác giả đưa ra cơ
sở lý luận và thực tiễn hình thành nguyên tắc và ý nghĩa của nguyên tắc trên Ở chương thứ hai, khóa luận trình bày nội dung nguyên tắc trên theo quy định của pháp luật Cụ thể, khóa luận đề cập đến giới hạn quyền tác giả thông qua các quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả, trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép,
Trang 12không phải trả tiền bản quyền và trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản quyền Đối với trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, thì tác giả theo hướng liệt kê các trường hợp ở Điều 25 Luật SHTT năm 2005 và tập trung phân tích trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm mà chưa làm rõ các trường hợp còn lại Và sau đó, tác giả đề cập quy định đặc biệt dành cho các nước đang phát triển theo phụ lục II, Công ước Berne 1886 Còn ở chương thứ ba, khóa luận tập trung phân tích thực trạng thực hiện nguyên tắc và nguyên nhân của sự mất cân bằng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ở trên thế giới và Việt Nam, và từ đó đưa ra các giải pháp
Việc thực hiện lại đề tài đã được một tác giả khác nghiên cứu trước đó cũng tạo thuận lợi cho việc học hỏi, tiếp thu những kiến thức bổ ích, nhưng cũng đặt ra những thử thách nhất định trong việc cần tiếp cận theo hướng mới phù hợp với bối cảnh hiện tại và bổ sung những vấn đề mà công trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập Với khoảng thời gian gần 15 năm kể từ khi tác giả Dương Thị Hải Lê thực hiện
đề tài khóa luận tốt nghiệp này, thì việc nghiên cứu lại đề tài trên ở thời điểm hiện tại cũng mang ý nghĩa thiết thực Bởi đến nay, Luật SHTT năm 2005 đã được sửa đổi,
bổ sung đến hai lần (năm 2009 và 2019) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTTcũng vừa được Quốc hội biểu quyết thông qua mới đây vào ngày 16 tháng
6 năm 2022 Và kết hợp với thực tiễn Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua việc gia nhập các điều ước quốc tế, nổi bật là hai Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới CPTPP và EVFTA cũng đặt ra yêu cầu pháp luật SHTT nước ta cần có sự sửa đổi, bổ sung để tương thích với các điều ước quốc tế này, và trong đó cũng có vấn đề cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng trong lĩnh vực quyền tác giả Tác giả nghĩ rằng việc thực hiện lại đề tài này cũng là
cơ hội để bản thân tiếp cận theo hướng phù hợp với thực tiễn hiện tại và từ đó có thể hoàn thiện cũng như bổ sung những vấn đề mới nhằm giúp cho việc nghiên cứu đề tài trở nên toàn diện hơn
Về luận văn thạc sĩ có liên quan:
Luận văn thạc sĩ Luật học tại Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh với đề tài “Giới hạn quyền tác giả theo Hiệp định TRIPS và pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga, được thực hiện vào năm 2012 Trong luận văn, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga đã nêu cơ sở lý luận về giới hạn quyền tác giả thông qua một
Trang 13số vấn đề như quyền tác giả, bảo hộ quyền tác giả và giới hạn quyền tác giả Tiếp theo, tác giả đã tiếp cận quy định của Hiệp định TRIPS 1994 về giới hạn quyền tác giả, nổi bật là vấn đề “phép thử ba bước” đối với giới hạn quyền tác giả theo Hiệp định này Trên cơ sở đó, luận văn cũng đề cập đến thực trạng áp dụng giới hạn quyền tác giả theo Hiệp định trên và đưa ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam Đối với quy định của pháp luật Việt Nam về giới hạn quyền tác giả, luận văn đã nêu quy định về trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận
bút, thù lao
Luận văn thạc sĩ Luật học tại Trường Đại học Luật - Đại học Huế với đề tài
“Pháp luật về khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan trong những trường hợp ngoại lệ” của tác giả Đặng Hữu Tuấn, được thực hiện vào năm 2018 Liên quan đến quyền tác giả, luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận về quyền tác giả, và trong đó có đưa ra cơ sở lý luận quy định về khai thác quyền tác giả trong các trường hợp ngoại lệ Sau đó, tác giả đã đề cập quy định của pháp luật về khai thác, sử dụng quyền tác giả trong các trường hợp ngoại lệ như quy định trong Công ước Berne
1886, quy định trong pháp luật của một vài nước thành viên của Công ước Berne
1886 và quy định của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn cũng phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật và đưa ra các giải pháp thực hiện và thực thi pháp luật
về khai thác, sử dụng quyền tác giả trong các trường hợp ngoại lệ tại Việt Nam
Về luận án tiến sĩ có liên quan:
Luận án tiến sĩ Luật Kinh tế tại Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) với đề tài “Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet” của tác giả Võ Trung Hậu, được thực hiện vào năm 2020 Liên quan đến việc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng trong thời đại công nghệ phát triển, tác giả đề cập đến những vấn đề Internet đặt ra đối với ngoại
lệ quyền tác giả Tiếp đó, tác giả cũng nêu ra thực trạng pháp luật Việt Nam về ngoại
lệ quyền sao chép nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy trực tuyến cũng như mục đích lưu trữ thư viện điện tử, và từ đó đưa ra một số kiến nghị Ngoài những vấn đề trên, luận án cũng đề cập đến quyền tự bảo vệ tác phẩm bằng biện pháp công nghệ, trong đó có nêu thực trạng pháp luật Việt Nam về ngoại lệ quyền tự bảo vệ tác phẩm bằng biện pháp công nghệ và những đề xuất hoàn thiện pháp luật
Trang 14 Một số bài viết có liên quan trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp trường
“Sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 09/10/2021:
Bài viết “Quyền sử dụng tự do tác phẩm qua hành vi sao chép trong trường hợp học tập của cá nhân (Sửa đổi Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ)” của nhóm tác giả Nguyễn Thái Cường và Trần Thị Thu Thủy Có thể nói, vấn đề sử dụng tự do tác phẩm qua hành vi sao chép trong một số trường hợp luật định đã phần nào thể hiện
“nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” Trong bài viết này, các tác giả đã đưa ra các cơ sở lý luận và cơ sở pháp
lý về quyền sử dụng tự do tác phẩm qua hành vi sao chép Về cơ sở pháp lý, bài viết nêu ra giới hạn của khung pháp luật quốc tế (Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPS
1994, Hiệp ước WCT 1996) và pháp luật một số quốc gia về quyền sử dụng tự do tác phẩm Tiếp theo đó, các tác giả đề cập về thực tiễn quyền sử dụng tự do tác phẩm trong trường hợp phục vụ học tập của cá nhân qua hành vi sao chép và đưa ra một số
đề xuất hoàn thiện pháp luật
Bài viết “Bảo vệ quyền tiếp cận tác phẩm cho người khiếm thị theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Lê Nhật Hồng Tác giả
đã nêu khái quát quyền tiếp cận tác phẩm của người khiếm thị và sau đó tiếp cận vấn
đề này dưới góc độ luật quốc tế như Công ước Liên hợp quốc về Quyền của Người khuyết tật; Hiệp ước Marrakeshvề tạo điều kiện cho người khiếm thị, người khuyết tật về thị giác và người khuyết tật khác không có khả năng đọc tiếp cận với các tác phẩm đã công bố; Công ước Berne 1886; Hiệp định TRIPS 1994; Hiệp định CPTPP Tiếp đó, bài viết nêu ra phương thức bảo vệ quyền tiếp cận tác phẩm của người khiếm thị đó là việc cân bằng sự xung đột lợi ích giữa quyền sở hữu trí tuệ và quyền con người và phương thức thực hiện quyền tiếp cận tác phẩm có bản quyền của người khiếm thị, người khuyết tật đọc Và cuối cùng, bài viết đề cập đến quy định của pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận tác phẩm của người khiếm thị, người khuyết tật đọc, bên cạnh đó có liên hệ với pháp luật Hoa Kỳ và từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Một số bài viết có liên quan được đăng trên tạp chí:
Bài viết “Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội” của tác giả Lê Thị Nam Giang được đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý Việt
Trang 15Nam số 02 (51) năm 2009 Bài viết đã cung cấp cho chúng ta những vấn đề khái quát nhất về nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích của xã hội – nguyên tắc
cơ bản của hệ thống SHTT Liên quan đến quyền tác giả, bài viết đã nêu ra một số nội dung thể hiện cho nguyên tắc trên, đó là quy định giới hạn của chủ sở hữu quyền SHTT về thời hạn bảo hộ; quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, trả thù lao; quy định về trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao Ngoài ra, tác giả cũng đề cập những thách thức đối với Việt Nam trong việc thực hiện nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích xã hội
Bài viết “Giới hạn quyền tác giả trong việc sao chép và trích dẫn tác phẩm dưới góc nhìn luật so sánh” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tuyềnđược đăng trên Tạp chí Công thương số 10 năm 2018 Việc đặt ra giới hạn quyền tác giả thông qua việc sao chép và trích dẫn tác phẩm cũng là một cách thức thể hiện vấn đề cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng Tác giả đã nêu khái quát quy định về giới hạn quyền tác giả trong việc sao chép và trích dẫn tác phẩm thông qua một số vấn đề như: Điều kiện áp dụng giới hạn này; giới hạn quyền tác giả trong trường hợp sao chép tác phẩm đã công bố nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lưu trữ trong thư viện và giới hạn quyền tác giả trong việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích trích dẫn hợp lý tác phẩm Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra một số
đề xuất hoàn thiện pháp luật
Bài viết “Quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục” của tác giả Nguyễn Trọng Luận được đăng trên Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn số 46 năm 2021 Vấn đề quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục được đặt ra nhằm hướng đến lợi ích của người học như học sinh, sinh viên Tác giả
đã tiến hành phân tích các quy định trong Luật SHTT hiện hành liên quan đến quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm Cụ thể, đó là trường hợp “tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân”; trường hợp “sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu”, và trường hợp “trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình” Trong quá trình phân tích, tác giả cũng tham khảo kinh nghiệm trong pháp luật của một số quốc gia như Pháp, Hoa Kỳ… để đưa ra một số đề xuất khắc phục những bất cập đang tồn tại
Trang 16Trên đây là một số công trình nghiên cứu điển hình đã được thực hiện, và ngoài
ra cũng còn rất nhiều những bài viết có liên quan ít hoặc nhiều đến đề tài “Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến một hoặc một
số khía cạnh có liên quan đến nguyên tắc trên chứ chưa nghiên cứu một cách bao quát nhằm làm rõ nguyên tắc này Tác giả nghĩ rằng những công trình nghiên cứu trên sẽ
là nguồn tài liệu rất có giá trị để bản thân trên cơ sở kế thừa, học hỏi và tiếp thu thêm nhiều kiến thức nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài được hoàn thiện hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài: Khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” thông qua một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật SHTT Việt Nam đã
cụ thể hóa cho nguyên tắc này Bên cạnh đó, khóa luận cũng sẽ nghiên cứu vấn đề thực thi nguyên tắc trên thông qua việc tiếp cận thực tiễn xét xử của Tòa án về các tranh chấp phát sinh có liên quan đến việc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài: Có thể nói “Nguyên tắc cân bằng đối trọng
về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” là một đề tài khá thú
vị để nghiên cứu, nhưng đây cũng là đề tài có phạm vi rộng với nhiều vấn đề pháp lý cần được làm rõ Do có sự giới hạn về thời gian nên tác giả xin được nghiên cứu một
số vấn đề mang tính trọng tâm nhất liên quan đến đề tài trên Cụ thể, liên quan đến
"nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng", đầu tiên tác giả nêu ra những vấn đề lý luận cơ bản nhằm giúp chúng ta
có sự hiểu biết ban đầu về nguyên tắc trên, và từ đó phục vụ cho việc tìm hiểu các vấn đề tiếp theo Trên cơ sở các vấn đề lý luận, tác giả sẽ tập trung làm rõ một số quy định trong pháp luật SHTT Việt Nam, cụ thể là Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung
2009, 2019 và một số văn bản pháp luật có liên quan Khi nêu ra các quy định, tác giả sẽ cố gắng phân tích cụ thể từng trường hợp có liên quan đến nguyên tắc trên Do theo quy định thời gian thực hiện đề tài khóa luận diễn ra từ ngày 14/3/2022 đến ngày 24/6/2022, nên tác giả xin phép được tập trung nghiên cứu các quy định của Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, và do đó không đề cập quá nhiều đến các quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT đã được Quốc hội biểu quyết thông qua mới đây vào ngày 16 tháng 6 năm 2022 Bên cạnh việc nghiên
Trang 17cứu các vấn đề trên, tác giả cũng tiếp cận thêm hai vấn đề mới chưa được đề cập trong Luật SHTT hiện hành đó là vấn đề “cạn quyền” và cho phép “nhập khẩu song song” đối với quyền tác giả Tiếp theo đó, tác giả đề cập một cách tổng quan việc thực thi nguyên tắc thông qua việc nghiên cứu các bản án nhằm hiểu rõ hơn thực tiễn xét xử của Tòa án trong việc xem xét, đánh giá các vấn đề liên quan đến việc sử dụng hợp pháp tác phẩm cũng như vấn đề cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng trong các tranh chấp
4 Mục đích và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Về mục đích của việc nghiên cứu đề tài: Tác giả nghiên cứu đề tài này với mục đích làm rõ những vấn đề về lý luận, các quy định của pháp luật SHTT Việt Nam liên quan đến “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” cũng như phân tích, bình luận về thực tiễn xét xử của Tòa án
để có cách nhìn tổng quan nhất về nguyên tắc trên Trên cơ sở làm rõ những vấn đề
đã nêu, tác giả cũng mong muốn đưa ra những kiến nghị để góp phần hoàn thiện pháp luật nhằm giúp việc thực thi nguyên tắc đạt được hiệu quả trên thực tế Do đề tài trên cũng đã được tác giả Dương Thị Hải Lê thực hiện trong khóa luận tốt nghiệp vào năm
2007, nên việc nghiên cứu đề tài này cũng là cơ hội để tác giả tiếp cận theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn ở thời điểm hiện tại cũng như bổ sung một số vấn đề để việc nghiên cứu thêm hoàn thiện hơn
Về phương pháp nghiên cứu đề tài: Tác giả đã tiếp cận và áp dụng một số phương pháp dưới đây để phục vụ cho quá trình nghiên cứu của mình:
Thứ nhất, phương pháp lịch sử Phương pháp này được khóa luận sử dụng để
tìm hiểu những vấn đề liên quan đến lịch sử hình thành của “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng”
Thứ hai, phương pháp phân tích, tổng hợp Đây là phương pháp sẽ được tác
giả sử dụng thường xuyên trong quá trình nghiên cứu đề tài này Cụ thể, phương pháp
sẽ phục vụ cho việc phân tích những quy định trong pháp luật SHTT Việt Nam đã cụ thể hóa cho “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng”, để từ có cái nhìn tổng quát nhất về từng trường hợp thể hiện cho vấn đề cân bằng lợi ích giữa các bên Ngoài ra, phương pháp này cũng được áp dụng để phân tích một số vấn đề liên quan đến thực tiễn xét xử của Tòa án nhằm làm
rõ thực trạng của việc thực thi nguyên tắc trên thực tế Trên cơ sở phân tích, phương
Trang 18pháp này cũng giúp hệ thống lại những vấn đề pháp lý cơ bản về nguyên tắc trên đã được trình bày trước đó
Thứ ba, phương pháp so sánh Trong quá trình phân tích những quy định của
pháp luật SHTT Việt Nam biểu hiện cho nguyên tắc trên, tác giả sẽ dùng phương pháp này để so sánh, đối chiếu với quy định trong các điều ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia nhằm tạo cách nhìn rộng hơn về vấn đề đang nghiên cứu Qua việc so sánh như trên cũng giúp chúng ta học hỏi, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm
từ pháp luật nước ngoài nhằm phục vụ cho việc đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong nước
Thứ tư, phương pháp bình luận Bên cạnh những vấn đề lý luận và quy định
của pháp luật, thì việc nghiên cứu những bản án cũng cần được thực hiện để làm rõ hơn “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
và công chúng” Do đó, phương pháp trên sẽ phục vụ cho việc tìm hiểu, bình luận những vấn đề pháp lý được đặt ra trong bản án cũng như thực tiễn xét xử của Tòa án
về những vấn đề có liên quan đến nguyên tắc trên
5 Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài Lời cam đoan, Lời cảm ơn, Danh mục từ viết tắt, Phần mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, thì khóa luận này được tác giả trình bày với hai chương chính đó là:
Chương thứ nhất: Quy định của pháp luật về nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng
Chương thứ hai: Vấn đề thực thi nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật
Trang 19CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC
GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG 1.1 Mối tương quan về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả
Quyền tác giả là một trong các bộ phận của quyền SHTT, và việc tạo ra khung pháp lý cho vấn đề này đã được thể hiện trong các điều ước quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên quy định cụ thể về quyền tác giả là Nghị định số 142/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (hiện nay gọi là Chính phủ) được ban hành vào ngày 14 tháng 11 năm 1986 với những nội dung cơ bản như: Tác giả và đối tượng quyền tác giả; nội dung của quyền tác giả; công bố và
sử dụng tác phẩm; xử lý vi phạm Và sau đó là sự lần lượt ra đời của Pháp lệnh bảo
hộ quyền tác giả số 38-L/CTN ngày 02 tháng 12 năm 1994 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Bộ luật Dân sự số 44-L/CTN ngày 28 tháng 10 năm 1995 của Quốc hội (BLDS 1995); Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội; Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 và một số văn bản pháp luật có liên quan Có quan điểm cho rằng, việc ban hành Nghị định quy định quyền tác giả ngày 14/11/1986 đã bước đầu đặt cơ sở cho việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật
về quyền tác giả; bước đầu mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực quyền tác giả, được nhiều tổ chức quốc tế và khu vực quan tâm giúp đỡ, phối hợp cùng Việt Nam
tổ chức các cuộc hội thảo về quyền tác giả, quyền kề cận; giúp ta đào tạo cán bộ2 Có thể thấy, việc xây dựng và hoàn thiện những quy định về lĩnh vực quyền tác giả ở mỗi thời kỳ đều mang những ý nghĩa thiết thực, và trong thời kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay thì lại mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết Liên quan đến khái niệm, theo quy định của pháp luật hiện hành tại khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi,
bổ sung 2009, 2019 đã nêu quyền tác giả là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác
phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Qua khái niệm trên, có thể thấy được quyền
tác giả sẽ có phạm vi đó là: (i) Quyền đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc (ii) quyền đối với tác phẩm do mình sở hữu
Thông qua việc đưa ra khái niệm, chúng ta đã phần nào có cái nhìn bao quát về quyền tác giả, và tiếp theo chúng ta cùng làm rõ một số đặc điểm sau đây:
Trang 20
Thứ nhất, quyền tác giả bảo hộ hình thức sáng tạo Theo đó, chỉ khi tác phẩm
được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định thì quyền tác giả mới phát sinh Còn ý tưởng sẽ không được bảo hộ quyền tác giả bởi vẫn còn nằm trong suy nghĩ, nhận thức của con người nên dễ bị thay đổi theo thời gian, không gian Ví dụ, một nhà thơ đang ấp ủ ý tưởng sáng tác một bài thơ nhằm ca ngợi sự hy sinh thầm lặng của những lực lượng tuyến đầu chống dịch Covid-19 ở Việt Nam, thì bài thơ sẽ được bảo hộ quyền tác giả khi nhà thơ thể hiện ý tưởng đó dưới một hình thức vật chất nhất định, chẳng hạn như viết trên giấy Khi quyền tác giả bảo hộ hình thức sáng tạo thì việc các tác giả trùng ý tưởng sáng tạo là điều hoàn toàn có thể xảy
ra Do đó, những ý tưởng có thể tương tự nhau nhưng nếu khác nhau về cách thức thể hiện, sự sắp xếp ngôn từ để biểu đạt ý tưởng thì sẽ tạo nên những tác phẩm được bảo
hộ quyền tác giả3 Với cùng một ý tưởng, nhưng mỗi tác giả bằng tri thức, sự trải nghiệm của bản thân kết hợp với cách thức thể hiện riêng thì sẽ tạo ra những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân và được bảo hộ quyền tác giả
Thứ hai, quyền tác giả bảo hộ theo cơ chế tự động Theo đó, tại khoản 1 Điều
6 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, thì quyền tác giả phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà không phụ thuộc vào thủ tục đã đăng ký hay chưa đăng ký quyền tác giả Và việc nộp đơn
để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả sẽ không phải là thủ tục bắt buộc
để được hưởng quyền tác giả4 và điều này đã thể hiện pháp luật SHTT Việt Nam bảo
hộ quyền tác giả theo cơ chế tự động Việt Nam là thành viên của Công ước Berne
1886, nên việc ghi nhận cơ chế bảo hộ tự động quyền tác giả đã thể hiện sự cụ thể hóa pháp luật quốc tế vào pháp luật trong nước Có thể thấy, trong trường hợp không thực hiện thủ tục đăng ký, tác giả có thể gặp khó khăn trong việc chứng minh quyền của mình đối với tác phẩm5 Còn khi đã đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký quyền tác giả, thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ khi có chứng cứ ngược lại6 Ngoài ra, một lợi ích mà việc đăng ký quyền tác giả mang lại đó là tạo sự thuận lợi cho hoạt động chuyển giao quyền tác giả Cụ thể, việc đăng ký còn là một sự đảm
Nguyễn Xuân Quang, Nxb Hồng Đức, tr 63
luận bản án) Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb Hồng Đức, tr 120-121
Trang 21bảo về mặt hình thức cho các hoạt động chuyển giao quyền giữa chủ sở hữu với các
cá nhân, tổ chức khác7 Bởi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là cơ sở đảm bảo
về mặt hình thức, tạo lòng tin để các bên tiến đến việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hoặc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả
Thứ ba, quyền tác giả bảo hộ tác phẩm có tính nguyên gốc Tính nguyên gốc
của tác phẩm là một trong những đặc điểm quan trọng của quyền tác giả8 Cụ thể, tác phẩm được tạo ra phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác9 Như chúng ta đã phân tích về vấn đề cùng ý tưởng sáng tạo nhưng với cách thức thể hiện riêng của từng tác giả sẽ có thể tạo ra những tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, và tính nguyên gốc sẽ được bộc lộ qua cách thức thể hiện riêng biệt ấy Có thể nói, tính nguyên gốc cũng là một trong các điều kiện quan trọng để xem xét một tác phẩm có được bảo hộ quyền tác giả hay không trên thực tế
1.1.2 Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả – chủ thể của quyền tác giả
Về chủ thể có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, tại khoản 1 Điều 13 Luật
SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 có quy định “tổ chức, cá nhân có tác phẩm
được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả” Thông qua quy định này, chúng ta có thể suy ra chủ thể của quyền
tác giả sẽ bao gồm: Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả
1.1.2.1 Tác giả
Quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
đã nêu một chi tiết có liên quan đến tác giả đó là “người trực tiếp sáng tạo ra tác
phẩm” Và Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ
Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan (Nghị định số 22/2018/NĐ-CP) cũng đưa ra khái niệm tác giả, cụ thể
tác giả là “người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ
thuật và khoa học” (khoản 1 Điều 6) Từ khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra hai ý
chính về tác giả: (i) Là người trực tiếp tham gia lao động trí tuệ để sáng tạo ra tác phẩm và (ii) về định lượng của tác phẩm được tạo ra là một phần hoặc toàn bộ tác
7 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr 70
Trang 22phẩm Yếu tố “trực tiếp sáng tạo” đã thể hiện tính nguyên gốc của tác phẩm, một trong những điều kiện để tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả Có bao giờ chúng nghĩ rằng một ngày nào đó trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra tác phẩm bên cạnh những tác phẩm
do con người tạo ra? Vâng, với sự phát triển không ngừng của công nghệ số thì điều này hoàn toàn có thể xảy ra Có thể kể đến vào năm 2016, một cuốn tiểu thuyết do công nghệ trí tuệ nhân tạo viết ra đã lọt qua vòng đầu của giải thưởng văn chương quốc gia ở Nhật Bản10 Hay robot Aida tạo ra bức chân dung tự họa đầu tiên vào năm 201911 Trí tuệ nhân tạo làm ra tác phẩm dẫn đến việc bảo hộ tác phẩm này như thế nào cũng như việc xác định tác giả là ai đã phát sinh nhiều vấn đề cần phải bàn luận Có lẽ, để
có được quy định phù hợp điều chỉnh cho vấn đề này thì cần sự tập trung nghiên cứu cũng như sự cân nhắc kỹ lưỡng từ các nhà làm luật
Để một tác phẩm được ra đời là cả một quá trình lao động trí tuệ tốn nhiều công sức, cho nên việc các tác giả kết hợp với nhau cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm là một giải pháp tối ưu giúp rút ngắn thời gian cũng như nâng cao chất lượng tác phẩm Và đó chính là trường hợp tác phẩm được tạo ra bởi đồng tác giả Ở khoản
2 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP đã nêu đồng tác giả là “những tác giả cùng
trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học” Do đó, để được xem là đồng tác giả thì cần đáp ứng các điều kiện: (i) Về số
lượng phải từ hai tác giả trở lên và (ii) những tác giả này cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, tức có sự thống nhất ý chí với nhau từ ý tưởng sáng tạo ban đầu đến cách thức thể hiện ý tưởng đó dưới một hình thức vật chất nhất định Ví dụ, hai nhạc sĩ kết hợp cùng trực tiếp sáng tác một bài hát thì họ được xem là đồng tác giả và bài hát đó
đã thể hiện sự thống nhất của họ trong quá trình sáng tạo ra tác phẩm Về vấn đề đồng tác giả, có quan điểm cho rằng một tác phẩm đồng tác giả có từ hai người trở lên cùng thống nhất từ tư duy đến sự thể hiện tác phẩm, công trình mà tác phẩm là kết quả của quá trình sáng tạo thống nhất của các tác giả12 Có thể nói, yếu tố “cùng trực tiếp sáng tạo” để cho ra đời một tác phẩm có sự thống nhất từ ý tưởng đến cách thức thể hiện
đã tạo nên nét đặc trưng cho đồng tác giả
10 Kim Thoa, “Trí tuệ nhân tạo viết suýt đạt giải văn chương”, nhan-tao-viet-suyt-dat-giai-van-chuong-1232512.htm , truy cập ngày 21/4/2022
https://vtv.vn/cong-nghe/robot-aida-cong-bo-nhung-buc-chan-dung-tu-hoa-dau-tien-2021051919224588.htm , truy cập ngày 21/4/2022
Trang 23Ngoài tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm thì còn có những người hỗ trợ, cung cấp tư liệu, công cụ phương tiện để phục vụ cho quá trình tạo ra tác phẩm Vậy họ có được xem là đồng tác giả hay không? Theo đó, tại khoản 3 Điều 6 Nghị
định số 22/2018/NĐ-CP, thì “người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho
người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả” Do đó, trong trường hợp trên, người hỗ trợ, cung cấp công cụ phương tiện không
là tác giả, đồng tác giả bởi họ không trực tiếp tham gia sáng tạo ra tác phẩm Về vấn
đề này, có thể kể đến câu chuyện ông Hài đưa máy chụp ảnh kêu ông Tâm chụp giúp tấm ảnh, sau đó ông Hài cho ông Tri mang ảnh đi dự thi đứng tên ông Tri và đoạt giải dẫn đến gây ra vụ tranh cãi Ông Tâm cho rằng phải trả lại quyền tác giả cho ông vì ông là người bấm máy13 Có thể thấy, trong tình huống này, ông Tâm sẽ là tác giả của tấm ảnh do ông là người bấm máy, tức trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm nên ông có quyền nhân thân trong việc đứng tên trên tấm ảnh Còn ông Hài không được xem là tác giả, đồng tác giả vì chỉ là người cung cấp máy ảnh để ông Tâm sáng tạo ra tác phẩm (chụp ảnh)
Từ việc phân tích những vấn đề liên quan đến tác giả, có thể thấy rằng tác giả
sẽ nắm các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm, trừ những trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm Khi không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, tác giả chỉ nắm một số quyền nhân thân nhất định tại Điều 19 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 Và những trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả sẽ được phân tích ở phần tiếp theo
1.1.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả
Ở Điều 36 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 cũng đã nêu rõ chủ
sở hữu quyền tác giả là “tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các
quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này” Qua đây, chủ sở hữu quyền tác giả
có các đặc điểm sau: (i) Có thể là tổ chức hoặc cá nhân và (ii) chủ yếu nắm giữ các quyền tài sản Có thể thấy đặc điểm nắm giữ các quyền tài sản đã tạo nên nét khác biệt cơ bản của chủ sở hữu quyền tác giả so với tác giả (thường nắm giữ các quyền nhân thân) Dưới đây là một số trường hợp cụ thể về chủ sở hữu quyền tác giả:
13 Lam Điền và Thái Lộc, “Vui vẻ cho mượn máy chụp hình, ảnh đoạt giải rồi cãi nhau”, ve-cho-muon-may-chup-hinh-anh-doat-giai-roi-cai-nhau-550495.htm , truy cập ngày 23/4/2022
Trang 24https://tuoitre.vn/vui-Thứ nhất, chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả Trường hợp tác giả cũng đồng
thời là chủ sở hữu quyền tác giả, tức “tác giả đã sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở
vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm”14 Trường hợp này, tác giả đã trực tiếp lao động trí tuệ cũng như độc lập trong việc sử dụng tài chính, cơ sở vật chất
- kỹ thuật của mình để tạo ra tác phẩm Ví dụ, một họa sĩ dùng tiền của mình mua dụng cụ vẽ (giấy, màu, cọ vẽ, khung tranh…) để tiến hành vẽ ra một bức tranh thì họa sĩ này là tác giả và đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả Khi tác giả vừa là chủ
sở hữu quyền tác giả thì sẽ nắm giữ các quyền nhân thân (Điều 19 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) và các quyền tài sản (Điều 20 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019), và đây là trường hợp tác giả kiểm soát một cách tuyệt đối
hai nhóm quyền quan trọng đối với tác phẩm
Thứ hai, chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả Cũng tương tự, khi “các đồng tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng
sẽ nắm chung các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với tác phẩm Để tạo sự thuận tiện, các đồng tác giả cần có sự thỏa thuận trước với nhau trong việc thực hiện hai nhóm quyền trên Chính sự thỏa thuận này sẽ hạn chế việc phát sinh những tranh chấp không đáng có về sau Pháp luật vẫn có sự linh hoạt trong việc quy định các đồng tác giả có thể tách ra sử dụng độc lập phần riêng biệt của mình trong tác phẩm
mà không làm phương hại đến phần của các đồng tác giả khác16 Sau khi thực hiện việc tách ra sử dụng độc lập, đồng tác giả đó cũng có các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với phần riêng biệt đã tách Có thể nói quy định này giúp mỗi đồng tác giả trở nên độc lập hơn trong việc thực hiện các quyền đối với phần của mình trong tác phẩm, nhưng cần đáp ứng điều kiện không gây phương hại đến phần của các đồng tác giả khác
Thứ ba, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác
giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả Tại khoản 1 Điều 39 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả là người thuộc tổ chức mình sáng tạo tác phẩm sẽ trở thành chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm Về trường hợp giao kết hợp đồng với tác giả, theo khoản 2 Điều 39 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, tổ chức hoặc cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả để
Trang 25
sáng tạo ra tác phẩm thì trở thành chủ sở hữu quyền tác giả Và cả hai trường hợp, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ nắm quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm và các quyền tài sản (khoản 3 Điều 19 và Điều 20 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) Ví dụ, một công ty chuyên về thiết kế các bản vẽ kiến trúc của nhà ở đã giao nhiệm vụ cho nhân viên thuộc công ty (kiến trúc sư) làm bản
vẽ thiết kế kiến trúc, thì lúc này công ty là chủ sở hữu quyền tác giả còn nhân viên là tác giả của bản vẽ trên Hay một ca sĩ ký hợp đồng với nhạc sĩ để sáng tác một bài hát cho mình, thì nhạc sĩ là tác giả của bài hát và ca sĩ là chủ sở hữu quyền tác giả với các quyền nêu trên Trong điều kiện kinh tế thị trường, trường hợp chủ thể sở hữu tách biệt với chủ thể sáng tạo tài sản trí tuệ là rất phổ biến, nhất là đối với khu vực doanh nghiệp17 Chính sự tách biệt này sẽ thúc đẩy hoạt động sáng tạo và khai thác tác phẩm, tức chủ sở hữu quyền tác giả sẽ thực hiện các quyền nêu trên để đem lại lợi ích kinh tế, còn tác giả sẽ nhận được khoản thù lao cho quá trình lao động trí tuệ của mình
Thứ tư, chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế Theo quy định tại Điều 105
và Điều 115 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, quyền tài sản được xem là một loại tài sản và gồm có quyền tài sản đối với đối tượng quyền SHTT Cho nên quyền tài sản đối với đối tượng quyền tác giả cũng có thể trở thành di sản thừa kế Cụ thể, Điều 40 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009,
2019 đã nêu tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo quy định của pháp luật
về thừa kế sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả, và từ đó sẽ nắm quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm và các quyền tài sản (khoản 3 Điều 19
và Điều 20 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) Có thể thấy, tất cả các quyền tài sản đều được thừa kế, còn đối với quyền nhân thân thì chỉ có duy nhất quyền nhân thân gắn với tài sản tại khoản 3 Điều 19 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung
2009, 2019 mới được thừa kế Các quyền nhân thân còn lại sẽ không được thừa kế do gắn liền với yếu tố nhân thân của chính tác giả, kể cả sau khi tác giả chết
Thứ năm, chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền Theo
khoản 1 Điều 41 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, khi tổ chức, cá nhân được chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản tại Điều 20 và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm tại khoản 3 Điều 19
của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, tr 17
Trang 26Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 theo thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ trở thành chủ sở hữu quyền tác giả Có thể thấy, chủ thể nhận chuyển giao quyền tác giả cần phải bỏ ra một khoản chi phí để có thể nắm giữ, khai thác một số quyền nhất định đối với tác phẩm Và cũng tương tự, tác giả không được chuyển giao các quyền còn lại ở Điều 19 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 do đây là các quyền nhân thân không gắn với tài sản và không được chuyển giao
Thứ sáu, chủ sở hữu quyền tác giả là Nhà nước Theo đó, tại khoản 1 Điều 42
Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 đã nêu ra các trường hợp mà Nhà nước trở thành chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm:
Đối với tác phẩm khuyết danh, cụ thể theo khoản 2 Điều 3 Nghị định số
22/2018/NĐ-CP thì đây là “tác phẩm không hoặc chưa có tên tác giả (tên khai sinh
hoặc bút danh) trên tác phẩm khi công bố” Lúc này, Nhà nước sẽ là chủ sở hữu
quyền tác giả để thực hiện các quyền đối với tác phẩm này Tuy nhiên, có một ngoại
lệ đó là trường hợp tổ chức, cá nhân đang quản lý tác phẩm khuyết danh sẽ được hưởng các quyền của chủ sở hữu quyền tác giả cho đến khi danh tính của tác giả được xác định18
Nhà nước sẽ trở thành chủ sở hữu quyền tác giả trong trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả chết khi tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ nhưng không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản
Trường hợp tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền
sở hữu cho Nhà nước Về trường hợp này, chúng ta có thể nhắc đến bài hát “Tiến quân ca” của cố nhạc sĩ Văn Cao.Đại diện gia đình, nhà thơ, họa sĩ Nguyễn Văn Thao, con trưởng của nhạc sĩ Văn Cao công bố văn bản hiến tặng bài “Tiến quân ca”,
cả phần nhạc và lời cho nhân dân và Tổ quốc Việt Nam19 Khi đó, Nhà nước là chủ
sở hữu quyền tác giả bài hát trên thông qua việc những người thừa kế của cố nhạc sĩ (chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế) chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Ngoài ra, đây cũng là trường hợp tác phẩm thuộc về công chúng sẽ được chúng ta làm rõ trong các phần tiếp theo
1.1.3 Quyền nhân thân và quyền tài sản – hai quyền luật định thể hiện lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
http://www.cov.gov.vn/tin-tuc/le-tiep-nhan-bai-%E2%80%9Ctien-quan-ca%E2%80%9D-va-truy-tang-huan-chuong-ho-chi-minh-cua-chu-tich-nuoc-cho-co-nhac-si-van-cao , truy cập ngày 24/4/2022
Trang 27Về nội dung bảo hộ quyền tác giả sẽ bao gồm hai nhóm: Quyền nhân thân và quyền tài sản Quyền nhân thân và quyền tài sản là những quyền không thể tách rời nhau góp phần bảo vệ tác giả và thúc đẩy sự sáng tạo của các chủ thể20 Có thể nói đây là hai nhóm quyền quan trọng mà pháp luật đã trao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả để hưởng lợi ích từ tác phẩm thông qua việc thực hiện hai nhóm quyền trên
1.1.3.1 Quyền nhân thân
Quyền nhân thân đối với tác phẩm là các quyền mang yếu tố tinh thần của chủ thể đối với tác phẩm21 Theo đó, tại Điều 19 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009,
2019 quy định về quyền nhân thân, chúng ta có thể chia hai nhóm: Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản
Quyền nhân thân không gắn với tài sản sẽ gồm các quyền quy định tại khoản
1, khoản 2 và khoản 4 Điều 19 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 Theo
đó, tác giả sẽ được hưởng độc quyền trong việc thực hiện các quyền trên và không được chuyển giao (chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả) cho chủ thể khác
Thứ nhất, quyền đặt tên cho tác phẩm Quyền đặt tên cho tác phẩm là một
độc quyền mà chỉ có tác giả được thực hiện Bởi tác giả là người trực tiếp tham gia vào quá trình lao động trí tuệ để tạo ra tác phẩm và dấu ấn cá nhân của tác giả được thể hiện rõ nét trong tác phẩm, nên không ai khác ngoài tác giả sẽ thực hiện quyền đặt tên cho tác phẩm Khi nhà văn, nhà thơ tạo ra một tác phẩm vừa có nội dung hay
và tên tác phẩm ấn tượng sẽ giúp tác phẩm có sự lan tỏa mạnh đến công chúng Một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nam Cao, lần đầu ông gọi nó là “Cái lò gạch cũ”, khi in thành sách, nhà xuất bản tự ý đổi tên thành “Đôi lứa xứng đôi”, sau này in lại, ông đổi thành “Chí Phèo”22, và chính lần đổi tên này đã làm cho công chúng biết đến tác phẩm này nhiều hơn Bên cạnh đó, có một trường hợp ngoại lệ đối với quyền đặt tên cho tác phẩm được nêu tại khoản 1 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP
đó là quyền này không áp dụng đối với tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác
20 Nguyễn Thái Cường, tlđd (8), tr 24
an Nhân dân, tr 60-61
22 Uông Triều, “Đặt tên tác phẩm”, https://cand.com.vn/Ly-luan/Dat-ten-tac-pham-i573031 , truy cập ngày 24/4/2022
Trang 28Thứ hai, quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật
hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng Việc đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm mang ý nghĩa rất thiêng liêng đối với tác giả Khi công chúng tiếp cận tác phẩm thì không chỉ tiếp cận về mặt nội dung mà còn muốn biết được ai
là tác giả của tác phẩm đó Theo đó, tác giả có thể dùng tên thật hoặc bút danh của mình trên tác phẩm Ví dụ, một số nhà văn, nhà thơ đã sử dụng bút danh trên tác phẩm và được nhiều người nhớ đến như: Nhà thơ Xuân Diệu với tên thật Ngô Xuân Diệu, nhà thơ Chính Hữu với tên khai sinh Trần Đình Đắc Ngoài việc được đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, thì khi tác phẩm được công bố hay sử dụng thì cần phải nêu tên thật hoặc bút danh của tác giả nhằm cung cấp thông tin về tác giả
Thứ ba, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa
chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả Và khoản 3 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-
CP cũng đã quy định chi tiết nội dung của quyền trên, đó là “việc không cho người
khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc sửa chữa, nâng cấp chương trình máy tính trừ trường hợp có thỏa thuận của tác giả” Khi tác phẩm được bảo hộ quyền tác
giả, thì đã có sự hoàn chỉnh về tổng thể từ nội dung đến cách thức thể hiện Do đó, việc cắt xén, sửa chữa hoặc xuyên tạc tác phẩm rất có thể làm cho tác phẩm không giữ được giá trị ban đầu của nó Có thể nhận thấy, tác giả được quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm, bao gồm quyền bảo vệ tuyệt đối “đứa con tinh thần” của mình và ngăn cấm không cho chủ thể nào khác được làm thay đổi tác phẩm, kể cả trong trường hợp sự thay đổi đó, có thể làm tăng giá trị nghệ thuật hay thực tiễn của tác phẩm, trừ khi được tác giả đồng ý23 Như vậy, nếu không có sự đồng ý của tác giả, bất kể sự sửa chữa, cắt xén làm cho tác phẩm theo hướng hay hơn hay theo hướng ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của tác giả thì đều có thể là hành vi xâm phạm quyền tác giả
Quyền nhân thân gắn với tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Đó chính là quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm Trong thời hạn bảo hộ, tác giả có quyền chuyển giao (chuyển nhượng hoặc
sinh”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4 (349) - 2021, tr 26
Trang 29chuyển quyền sử dụng) quyền công bố tác phẩm cho chủ thể khác Theo đó, tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP có nêu quyền công bố tác phẩm là
“việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm” Có thể thấy, việc công
bố tác phẩm sẽ gắn liền với việc phát hành có hợp lý bản sao của tác phẩm đến công chúng Các bản sao này có thể được sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào24 Quyền công bố tác phẩm sẽ không mang tính độc quyền vì có thể do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc do cá nhân, tổ chức khác thực hiện dưới sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả25 Ngoài ra, còn có một số trường hợp không được xem là việc công bố tác phẩm được liệt kê tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-
CP, đó là: “Việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước
công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc” Về lý do, những
trường hợp này không là công bố tác phẩm vì các hành vi này là các hành vi mang tính chất phổ biến, truyền đạt tác phẩm không kèm theo bản sao tác phẩm26
1.1.3.2 Quyền tài sản
Nếu như quyền nhân thân thường gắn với yếu tố danh dự, uy tín của tác giả, thì quyền tài sản gắn với giá trị kinh tế có được từ tác phẩm Điều này được thể hiện qua việc khi có chủ thể khác tiến hành khai thác, sử dụng các quyền tài sản nêu trên thì phải thực hiện đồng thời hai nghĩa vụ: (i) Xin phép chủ sở hữu quyền tác giả và (ii) trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả27 Trong thời hạn bảo hộ tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả có thể thực hiện việc chuyển nhượng hoặc chuyển quyền sử dụng các quyền tài sản nêu trên cho chủ thể khác (Điều 45 và Điều 47 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) Và quyền tài sản không mang tính chất độc quyền tuyệt đối, bởi các quyền này do tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện28
Thứ nhất, quyền làm tác phẩm phái sinh Xuất phát từ tác phẩm ban đầu, việc
làm tác phẩm phái sinh như tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác
26 Trần Văn Nam (2014), Quyền tác giả ở Việt Nam: Pháp luật và thực thi, Nxb Tư pháp, tr 58
Trang 30phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn (khoản 8 Điều
4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019) có thể được thực hiện bởi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc cho phép người khác thực hiện Việc người khác tạo
ra tác phẩm phái sinh bằng việc thay đổi tác phẩm gốc có thể ảnh hưởng đến quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, khiến cho tác giả cảm thấy danh dự, uy tín của mình liên quan đến tác phẩm bị xâm phạm29 Do đó, một chủ thể muốn làm tác phẩm phái sinh thì cần phải có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, nếu không sẽ
có thể trở thành hành vi xâm phạm quyền tác giả Chủ thể này cũng cần lưu ý việc làm tác phẩm phái sinh không được làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín cũng như quyền lợi của người đã tạo ra tác phẩm gốc Bởi nếu tác phẩm phái sinh được tạo ra không giữ được nội dung cốt lõi của tác phẩm gốc cũng như bị sửa chữa, cắt xén không phù hợp sẽ xâm hại đến quyền nhân thân của tác giả, đó là quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
Thứ hai, quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng Theo đó, biểu diễn tác
phẩm là việc trình bày tác phẩm theo hình thức, phương tiện nhất định để chuyển tải tác phẩm cho công chúng có thể tiếp cận được30 Để tác phẩm trở nên phổ biến trong cộng đồng, thì việc biểu diễn tác phẩm trước công chúng là một việc làm cần thiết Việc biểu diễn tác phẩm trước công chúng có thể được thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được31 Ví dụ, một nhạc sĩ sáng tác một bài hát và cũng là chủ sở hữu quyền tác giả, thì việc biểu diễn bài hát có thể do nhạc sĩ trực tiếp thực hiện hoặc cho phép một ca sĩ thu âm thành bản ghi âm để mọi người có thể tiếp cận bài hát Về địa điểm, việc biểu diễn tác phẩm trước công chúng được thực hiện tại bất cứ nơi nào mà công chúng có thể tiếp cận được32 Như vậy, biểu diễn tác phẩm trong trường hợp này bao gồm việc biểu diễn tác phẩm tại bất cứ nơi nào ngoài trừ tại gia đình33, tức cần diễn ra ở khu vực công cộng mà công chúng có thể tiếp cận được tác phẩm
29 Nguyễn Huy Hoàng, tlđd (23), tr 30
30 Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd (21), tr 64
Tài chính, tr 108
Trang 31Thứ ba, quyền sao chép tác phẩm Theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật
SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, sao chép tác phẩm là “việc tạo ra một hoặc
nhiều bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử” Do có thể tạo ra nhiều bản sao của tác phẩm
nên quyền sao chép sẽ giúp tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khai thác lợi ích kinh tế
từ tác phẩm Quyền sao chép có giá trị kinh tế nhất định thể hiện qua việc chủ sở hữu quyền tác giả được quyền cho phép việc phân phối các bản sao được sản xuất theo sự cho phép của mình34 Ở thời đại kỹ thuật số phát triển không ngừng như hiện nay, việc sao chép tác phẩm không chỉ đơn thuần là các bản sao dưới dạng bản giấy mà còn xuất hiện bản sao lưu dưới dạng bản điện tử, và cũng chính điều này khiến cho việc sao chép tác phẩm trở nên khó kiểm soát và hành vi xâm phạm diễn ra phổ biến hơn Chính vì thế, một chủ thể khác thực hiện việc sao chép tác phẩm thì điều kiện tiên quyết cần đáp ứng là có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả để tránh trở thành hành vi xâm phạm quyền tác giả, trừ những trường hợp ngoại lệ do luật định
Thứ tư, quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm Bên cạnh
quyền sao chép tác phẩm, thì quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm cũng mang lại lợi ích kinh tế nhất định cho chủ sở hữu quyền tác giả Theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm được biểu hiện thông qua việc bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào mà công chúng có thể tiếp cận được Ngoài ra, chủ sở hữu quyền tác giả còn có quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, và chính quyền này giúp chủ sở hữu quyền tác giả có thể ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền phân phối tác phẩm ngay từ giai đoạn chuẩn bị35 Do đó, có thể thấy quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm và quyền phân phối tác phẩm có mối quan hệ với nhau
Thứ năm, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu
tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác
Để công chúng có thể tiếp cận được tác phẩm, ngoài việc biểu diễn tác phẩm trước công chúng thì còn một cách thức đó là truyền đạt tác phẩm đến công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật Theo đó, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng
được hiểu là “quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép
34 Trường Cao đẳng Tài chính - Hải quan, tlđd (33), tr.109
35 Trần Văn Nam, tlđd (26), tr 65-66
Trang 32người khác thực hiện việc đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng mà
Quy định này cũng khá tương đồng với quy định quyền truyền đạt tới công chúng
nêu tại Điều 8 Hiệp ước WCT 1996: “[…] tác giả của các tác phẩm văn học và nghệ
thuật được hưởng quyền độc quyền cho phép truyền đạt tới công chúng tác phẩm của
họ bằng phương tiện vô tuyến hay hữu tuyến, bao gồm cả việc phổ biến tác phẩm của
họ tới công chúng theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận các tác phẩm đó tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn”
Thứ sáu, quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương
trình máy tính Có thể thấy đây là một trong các hình thức phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, cụ thể đây là việc cho thuê để khai thác, sử dụng có thời hạn37nhằm có được lợi ích kinh tế Cần lưu ý không phải mọi chương trình máy tính đều thuộc đối tượng của việc cho thuê, theo đó tại khoản 6 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP đã nêu quyền cho thuê đối với chương trình máy tính không áp dụng trong trường hợp bản thân chương trình đó không phải là đối tượng chủ yếu để cho thuê (chương trình máy tính gắn với việc vận hành bình thường các loại phương tiện giao thông hoặc các máy móc, thiết bị kỹ thuật khác)
Thông qua việc tìm hiểu nội dung quyền tác giả (quyền nhân thân và quyền tài sản), chúng ta thấy được lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả biểu hiện qua việc thực hiện hai nhóm quyền năng này Đó là quyền nhân thân thể hiện lợi ích gắn với yếu tố danh dự, uy tín của chính tác giả hay quyền tài sản thể hiện lợi ích về kinh
tế từ việc khai thác tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Như vậy, chúng
ta đã phần nào làm rõ được vấn đề “lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”, và đây cũng chính là cơ sở để tìm hiểu những vấn đề có liên quan tiếp theo
1.1.4 Công chúng và lợi ích của công chúng trong khía cạnh quyền tác giả 1.1.4.1 Khái niệm công chúng
Theo Từ điển Tiếng Việt, công chúng được hiểu là đông đảo những người đọc, xem, nghe, trong quan hệ với tác giả, diễn viên… (nói tổng quát)38 Cũng có quan niệm cho rằng công chúng là đông đảo những người đọc, xem, nghe, trong quan hệ với tác giả, diễn viên… hoặc là một nhóm người cùng tham gia xem một buổi biểu
38 Hoàng Phê và các tác giả khác (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 207
Trang 33diễn hoặc cùng theo dõi một tác phẩm nghệ thuật, văn học, buổi biểu diễn ca nhạc, trò chơi hoặc họ là hội viên trong một tập thể…39 Có thể thấy, khi nhắc đến công chúng là nói đến số lượng nhiều người cùng tham gia chung một hoạt động nào đó diễn ra trong xã hội Vậy thuật ngữ “công chúng” nên được hiểu như thế nào trong khía cạnh quyền tác giả? Có quan điểm cho rằng thuật ngữ “công chúng” vừa nêu là con người, nhưng con người này khác biệt với người sáng tạo nên tác phẩm, trong một nghĩa nào đó còn khác biệt với người thân của người sáng tạo nên tác phẩm40 Còn ở khoản 6 Điều 2 Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2001 có nêu
cách hiểu “công chúng” đó là: “Bao gồm ít nhất bất kỳ tập hợp những cá nhân nào
được dự tính là đối tượng của sự truyền đạt hay biểu diễn tác phẩm đó và có khả năng cảm nhận được chúng, bất kể là những cá nhân này có thể thực hiện được điều
đó tại cùng một thời điểm hay tại nhiều thời điểm khác nhau, tại cùng một địa điểm hay tại nhiều địa điểm khác nhau, với điều kiện là tập hợp những cá nhân đó phải ở quy mô lớn hơn một gia đình cộng thêm những người có mối quan hệ thân thích trực tiếp của gia đình đó, hoặc không phải là một nhóm với số lượng người hạn chế có mối quan hệ gần gũi tương tự, được lập ra không phải với mục đích chính là thu nhận chương trình biểu diễn và sự truyền đạt tác phẩm đó” Như vậy, với cách tiếp cận
mang tính tương đối, thì “công chúng” sẽ được biểu hiện thông qua số lượng người đông đảo cùng tiếp cận tác phẩm và công chúng ở đây sẽ không gồm bản thân tác giả
và có thể không phải là người thân của tác giả
1.1.4.2 Lợi ích của công chúng trong khía cạnh quyền tác giả
Nhìn chung, lợi ích của công chúng được thể hiện qua việc họ tiếp cận và khai thác giá trị sử dụng của tác phẩm để phục vụ cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, nghiên cứu, học tập… cũng như những nhu cầu chính đáng khác Chính yếu tố tiếp cận và khai thác giá trị sử dụng của tác phẩm sẽ là “chất xúc tác” để tác phẩm bộc lộ những giá trị, ý nghĩa mà tác giả mong muốn truyền đạt Và từ đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng đạt được những lợi ích kinh tế nhất định khi có tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các quyền đối với tác phẩm Có thể nói, công chúng cũng đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ về lợi ích với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
39 Trần Thị Minh Hiền, “Quan hệ công chúng và phát triển quan hệ công chúng ở Việt Nam hiện nay”,
chung-o-viet-nam-hien-nay.html , truy cập ngày 28/4/2022
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien-dan/item/866-quan-he-cong-chung-va-phat-trien-quan-he-cong-40 Trần Văn Nam, tlđd (26), tr 26
Trang 34Ở góc độ pháp lý, pháp luật SHTT ở nước ta (như Luật SHTT 2005, sửa đổi,
bổ sung 2009, 2019) cũng đưa ra những quy định thể hiện chính sách của nhà nước trong việc công nhận và bảo hộ quyền tác giả trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với lợi ích công cộng Ngoại trừ quyền nhân thân không gắn với tài sản, pháp luật cũng đặt ra quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả để tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chỉ được thực hiện quyền của mình (các quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản) trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo luật định Khi đã kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tác giả thì mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội đều có quyền sử dụng tác phẩm với điều kiện tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả, và đây là quy định liên quan đến vấn đề tác phẩm thuộc về công chúng Ngoài ra, pháp luật cũng quy định hai nội dung thể hiện rất rõ nét về việc đảm bảo lợi ích của công chúng đối với tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, đó là các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao Có thể nói, những quy định vừa nêu là các trường hợp mang tính điển hình thể hiện vấn đề lợi ích của công chúng trong khía cạnh quyền tác giả Việc phân tích cụ thể từng trường hợp ở trên và những trường hợp có liên quan sẽ được chúng ta làm rõ ở những phần tiếp theo Có thể thấy rằng, nếu như lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả biểu hiện qua việc pháp luật trao cho họ những quyền năng cơ bản đối với tác phẩm (quyền nhân thân, quyền tài sản), thì song song đó pháp luật cũng đưa ra những quy định nhằm đảm bảo lợi ích của công chúng trong việc tiếp cận, khai thác giá trị của tác phẩm
1.1.5 Sự mâu thuẫn trong quan hệ về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng
Xoay quanh một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả sẽ phát sinh mối quan
hệ về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng Các bên trong quan hệ trên đều mong muốn nắm các quyền nhất định để khai thác lợi ích từ tác phẩm nhằm phục vụ cho nhu cầu của mình Lẽ dĩ nhiên, khi tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng chỉ quan tâm đến quyền lợi của mình mà không nghĩ đến sự san sẻ với lợi ích của đối phương thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn trong quan hệ về lợi ích giữa các bên Sự mâu thuẫn này được biểu hiện thông qua hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ mong muốn được bảo hộ quyền
tác giả theo hướng độc quyền trong việc thực hiện các quyền năng đối với tác phẩm
Cụ thể, bất cứ chủ thể nào muốn sử dụng, khai thác giá trị tác phẩm đều phải thể hiện
Trang 35sự tôn trọng trong việc xin phép và trả nhuận bút, thù lao theo hướng có lợi nhất cho nhóm chủ thể nắm quyền trên Ngoài ra, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng quan tâm đến vấn đề kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tác giả để họ có cơ hội khai thác tác phẩm một cách triệt để nhằm đem lại lợi ích kinh tế cho mình Ở đây, chúng ta loại trừ trường hợp tác giả tạo ra tác phẩm nhằm hướng đến phục vụ lợi ích của Nhà nước, cộng đồng mà không đặt mục tiêu lợi ích vật chất lên hàng đầu
Thứ hai, đối với công chúng thì họ lại mong muốn được tiếp cận và khai thác
giá trị của tác phẩm theo hướng sử dụng một cách tự do Cụ thể, họ cần sử dụng tác phẩm để phục vụ nhu cầu của mình nhưng lại không muốn bị ràng buộc trong việc xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc thực hiện trả tiền nhưng ở mức thấp Ví dụ như một sinh viên sao chép quyển giáo trình với số lượng nhiều để bản thân và bạn
bè cùng sử dụng mà không có sự cho phép từ tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hay một cá nhân muốn chuyển thể một tác phẩm văn học thành một bộ phim nhưng lại không muốn xin phép và trả tiền cho việc làm tác phẩm phái sinh này Ở đây, chúng
ta cũng loại trừ trường hợp các chủ thể tôn trọng quyền tác giả thông qua việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ khi sử dụng tác phẩm
Có thể nói rằng, quan hệ lợi ích trong lĩnh vực SHTT giữa các chủ thể sở hữu
và sử dụng tài sản trí tuệ không chỉ tác động đến đời sống vật chất của con người, mà còn tác động tới cả đời sống và nhu cầu thụ hưởng những giá trị tinh thần của mọi thành viên trong xã hội41 Và lĩnh vực quyền tác giả cũng vậy, tác phẩm được tạo ra không chỉ đem lại lợi ích vật chất cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mà còn đem lại lợi ích cho công chúng trong việc thụ hưởng những giá trị của tác phẩm Chính sự mâu thuẫn trong quan hệ về lợi ích giữa các bên đã khiến cho mục đích trên không đạt được một cách tuyệt đối Từ đó đặt ra yêu cầu cần có một cách thức để giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng Và chúng ta có thể kể đến việc đặt ra nguyên tắc pháp lý mang tên “Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” với mục tiêu hướng đến cân bằng lợi ích giữa các bên Ở phần tiếp theo dưới đây, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu sâu hơn về nguyên tắc này
1.2 Tổng quan về nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng
41 Ngô Tuấn Nghĩa, tlđd (17), tr 38
Trang 361.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành của nguyên tắc
Một trong những nguyên tắc cơ bản, được thể hiện xuyên suốt toàn bộ quá trình bảo hộ SHTT từ xác lập quyền, duy trì quyền cho đến bảo vệ quyền SHTT là nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích của xã hội42 Có thể nói, “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” được xem là một phần của nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích của
xã hội Về cơ sở lý luận, có lẽ vấn đề cân bằng lợi ích giữa chủ thể tạo ra tác phẩm
và cộng đồng cũng như “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” xuất phát từ lý thuyết “The fairness theory of copyright” (tác giả xin tạm dịch: Lý thuyết “công bằng về quyền tác giả”) và lý thuyết
“The welfare theory of copyright” (tác giả xin tạm dịch: Lý thuyết “phúc lợi của quyền tác giả” Theo đó, lý thuyết “công bằng về quyền tác giả” dựa trên tiền đề rằng luật pháp nên cung cấp cho các tác giả những gì họ xứng đáng; nói cách khác, công việc khó khăn nên được khen thưởng và các tác giả nên giữ quyền kiểm soát thành quả lao động của họ Còn lý thuyết “phúc lợi của quyền tác giả” thúc đẩy lợi ích của
xã hội nói chung và ủng hộ lợi ích lớn nhất cho số lượng người lớn nhất Hệ thống này cân bằng các ưu đãi để tạo ra với các cơ chế để làm cho các tác phẩm được phổ biến rộng rãi vì lợi ích của tất cả mọi người43 Như chúng ta đã thấy, lý thuyết “công bằng về quyền tác giả” chú trọng đến lợi ích của tác giả – người đã bỏ nhiều công sức
để tạo ra tác phẩm, thông qua việc trao cho họ quyền kiểm soát tác phẩm đó Còn lý thuyết “phúc lợi của quyền tác giả” quan tâm nhiều đến lợi ích của cộng đồng trong việc tiếp cận và được hưởng lợi ích từ tác phẩm Do đó, chính sự tác động qua lại và
có sự bổ sung cho nhau giữa hai lý thuyết trên đã góp phần tạo nền tảng để hình thành
“nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” Ở khía cạnh về cơ sở pháp lý, theo đạo luật đầu tiên về quyền tác giả ở Anh – Luật Nữ hoàng Anne được ra đời vào năm 1710, thì đạo luật này đưa ra hai quyền cơ bản: Tác giả có độc quyền những tác phẩm của mình và độc quyền đó được bảo vệ trong một khoảng thời gian nhất định Nữ hoàng Anne quy định dành 14 năm độc quyền cho việc in một cuốn sách và độc quyền này có thể được gia hạn thêm 14 năm nữa, nếu tác giả của cuốn sách vẫn còn sống khi thời hạn bảo hộ đầu tiên đã
42 Lê Thị Nam Giang (2009), “Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội”, Tạp
chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 02 (51)/2009, tr 26
43 Jessica Meindertsma, “Theories of copyright”, copyright/ , truy cập ngày 29/4/2022
Trang 37https://library.osu.edu/site/copyright/2014/05/09/theories-of-hết44 Có thể thấy rằng, đạo luật đầu tiên về quyền tác giả ghi nhận tác giả chỉ được hưởng những độc quyền đối với tác phẩm do mình tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định do luật quy định, tức đã phần nào thể hiện sự cân bằng về lợi ích giữa tác giả và cộng đồng Có lẽ chính điều này cũng đã đánh dấu sự ra đời về mặt pháp lý của “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
và công chúng”
“Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” đã có lịch sử hình thành, phát triển lâu dài và được ghi nhận trong các điều ước quốc tế Chúng ta có thể kể đến Công ước Berne 1886, cụ thể sau nhiều lần sửa đổi, Công ước đang đáp ứng được những điều kiện bảo hộ quyền tác giả trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay45 Trong các quy định liên quan đến bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước có đưa ra một số trường hợp sử dụng tự do tác phẩm cũng như nghĩa vụ của chủ thể sử dụng tác phẩm Ngoài ra, Hiệp định TRIPS 1994 và Hiệp ước WCT 1996 cũng có đề cập vấn đề giới hạn và ngoại lệ để các quốc gia thành viên có thể quy định trong pháp luật quốc gia mình những giới hạn và ngoại lệ trong lĩnh vực quyền tác giả nhằm cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả và công chúng
1.2.2 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc
Trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề “cân bằng đối trọng về lợi ích” để từ
đó đưa ra cách hiểu “cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” Đối với cùng một đối tượng nào đó, thì “cân bằng đối trọng về lợi ích” thể hiện qua việc các bên sẽ được hưởng lợi ích một cách độc lập từ đối tượng
đó và lợi ích giữa các bên sẽ chịu sự kiểm soát và tác động qua lại nhằm đảm bảo lợi ích giữa các bên luôn trong trạng thái cân bằng Từ đây, có thể hiểu “cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng được hưởng những lợi ích nhất định thông qua việc thực hiện các quyền đối với tác phẩm và lợi ích giữa các bên sẽ có sự kiềm chế, tác động lẫn nhau nhằm bảo đảm lợi ích giữa các bên được cân bằng, ổn định
tin – thư viện”, hoat-dong-thong-tin-thu-vien.html , truy cập ngày 29/4/2022
tri-tue-viet-nam , truy cập ngày 29/4/2022
Trang 38https://tapchitoaan.vn/bai-viet/cong-dan-va-phap-luat-2/cong-uoc-berne-va-su-tuong-thich-voi-luat-so-huu-Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm của “nguyên tắc cân bằng đối trọng
về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” đó là một trong các nguyên tắc định hướng cho quá trình xây dựng quy định của pháp luật cũng như thực thi vấn đề cân bằng lợi ích đối với quyền tác giả trên thực tế Cụ thể, nguyên tắc hướng đến việc sao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng đều được hưởng lợi ích từ tác phẩm một cách độc lập theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn đảm bảo lợi ích giữa các bên có sự kiềm chế lẫn nhau nhằm hướng đến sự hài hòa và cân bằng trong lợi ích, tức không có bên nào có lợi ích vượt trội hơn bên nào
Trong mối liên hệ với nguyên tắc độc quyền sử dụng của chủ sở hữu quyền SHTT, thoạt nhìn chúng ta sẽ nghĩ hai nguyên tắc trên có sự mâu thuẫn với nhau, nhưng khi đặt trong quan hệ về lợi ích giữa các bên, thì chúng có sự bổ sung cho nhau Có thể thấy, nguyên tắc độc quyền sử dụng của chủ sở hữu quyền SHTT sẽ tạo
ra sự độc quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trong việc thực hiện các quyền năng của mình đối với tác phẩm (quyền nhân thân, quyền tài sản) trong thời hạn bảo
hộ Do đó, các chủ thể khác muốn được sử dụng, khai thác các quyền đối với tác phẩm thì phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao cũng như các quyền lợi vật chất khác để các hành vi trên là hợp pháp Còn “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” không chỉ hướng đến lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mà còn quan tâm đến lợi ích của công chúng thông qua việc thụ hưởng những giá trị của tác phẩm Do đó, cả hai nguyên tắc trên
đã có sự tương hỗ, bổ sung cho nhau nhằm hướng đến mục đích cân bằng lợi ích giữa các bên
Từ đây, chúng ta có thể đưa ra một số ý nghĩa của nguyên tắc trên như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc trên có ý nghĩa trong hoạt động lập pháp về lĩnh vực
SHTT nói chung và quyền tác giả nói riêng Cụ thể, nguyên tắc này được xem là cơ
sở để định hướng trong quá trình xây dựng những quy định của pháp luật nhằm cụ thể hóa vấn đề cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng Và từ đó cũng góp phần thực thi những chủ trương, chính sách của nhà nước trong việc vừa khuyến khích hoạt động sáng tạo tác phẩm nhưng cũng khuyến khích khai thác tác phẩm nhằm phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đáp ứng nhu cầu thụ hưởng giá trị tác phẩm của người dân
Trang 39Thứ hai, nguyên tắc được đặt ra với mục đích cân bằng lợi ích nhằm tránh sự
lạm quyền của bất kỳ bên nào đối với tác phẩm Bởi khi lợi ích của một trong các bên vượt quá mức giới hạn thì sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của bên kia Như trường hợp tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ở thế độc quyền trong việc khai thác tác phẩm thì sẽ tạo
ra sự hạn chế trong việc tiếp cận, hưởng lợi ích từ tác phẩm của cộng đồng Còn trường hợp công chúng có sự lạm quyền trong việc sử dụng và khai thác giá trị tác phẩm, thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp về lợi ích Do đó, chính sự ra đời của nguyên tắc trên sẽ góp phần điều chỉnh lợi ích của các bên ở trong trạng thái cân bằng
Thứ ba, nguyên tắc trên cũng phần nào làm hạn chế hành vi xâm phạm quyền
tác giả xảy ra trên thực tế Bởi lẽ, khi nội dung nguyên tắc được cụ thể hóa thông qua các quy định pháp luật thì đây chính là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ về lợi ích sao cho các bên đều cảm thấy thỏa mãn với lợi ích mà mình có được từ tác phẩm Cụ thể, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cảm thấy yên tâm khi quyền tác giả của mình được pháp luật bảo hộ để họ có thể khai thác lợi ích từ tác phẩm trong thời hạn bảo
hộ Còn phía công chúng thì được đáp ứng về nhu cầu tiếp cận và thụ hưởng giá trị của tác phẩm trong những trường hợp luật định để không nghĩ đến việc thực hiện hành vi sử dụng, khai thác các quyền đối với tác phẩm một cách trái pháp luật Chính yếu tố này sẽ làm hài hòa, cân bằng lợi ích giữa các bên để từ đó hạn chế việc phát sinh mâu thuẫn cũng như hành vi xâm phạm quyền tác giả
1.2.3 Quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong việc cụ thể hóa nguyên tắc
Với ý nghĩa hướng đến việc cân bằng lợi ích giữa các bên, “nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” cũng đã được thể hiện trong pháp luật SHTT Việt Nam Theo đó, Luật SHTT 2005, sửa đổi,
bổ sung 2009, 2019 đã cụ thể hóa nguyên tắc thông qua một số quy định dưới đây nhằm mục đích đặt lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng ở trong trạng thái cân bằng
1.2.3.1 Quy định giới hạn quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ
2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Theo đó, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ được trao độc quyền trong việc thực hiện các quyền đối với tác phẩm nhưng tính chất độc quyền này chỉ mang tính
Trang 40tương đối Từ quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009,
2019, có thể thấy chủ thể của quyền tác giả “chỉ được thực hiện quyền của mình trong
phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định tại Luật này” Do đó, tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả được hưởng độc quyền trong giới hạn nhất định và chỉ thực hiện các quyền tài sản, quyền nhân thân gắn với tài sản trong thời hạn bảo hộ theo quy định
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện các quyền của mình, thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng cần đáp ứng điều kiện ở khoản 2 Điều 7 Luật SHTT 2005,
sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, đó là việc thực hiện các quyền “không được xâm phạm
lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác” Mặc dù pháp luật bảo hộ quyền tác giả nhằm bảo vệ quyền lợi của tác giả, chủ
sở hữu quyền tác giả, nhưng không vì thế mà các chủ thể này lại làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích cộng đồng và các chủ thể khác có liên quan Ngoài ra, việc thực hiện quyền tác giả không được vi phạm quy định của pháp luật có liên quan nhằm hướng đến tinh thần thượng tôn pháp luật trong đời sống
Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 7 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
cũng có nêu với mục đích “bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các
lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này”, thì phát sinh hai trường
hợp sau:
Một là, Nhà nước cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền SHTT nói chung và chủ
thể của quyền tác giả nói riêng thực hiện quyền của mình;
Hai là, Nhà nước buộc chủ thể quyền SHTT cũng như chủ thể của quyền tác
giả phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp
Có thể thấy rằng, chính những quy định về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ cũng như quyền tác giả nêu trên sẽ tạo cơ sở để tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả điều chỉnh việc thực hiện các quyền của mình sao cho hài hòa với lợi ích của cộng đồng, và không xâm phạm lợi ích của Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội Khi thực hiện được điều này sẽ tạo tiền đề cho việc thực thi vấn đề cân bằng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng trên thực tế
1.2.3.2 Một số chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019