Lôgí c và ngôn ng ữ tự nhiên là hai lĩnh vực khác nhau, song chúng không hoàn toàn tách bi ệt nhau mà b ên cạnh n h ững đi ểm dị bi ệt, chúng còn có nh ững điểm tươn g đồng.. Nói cách kh
Trang 1MỘT SỐ ĐIỂ M TƯ ƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮ A LÔGÍ C VÀ NG ÔN
NGỮ TỰ NHIÊ N
Ngôn ngữ kh ông ch ỉ có ch ức năng gi ao ti ếp, mà còn có ch ức năng l à công cụ tư duy, là cái “v ỏ v ật chất" củ a tư duy; còn l ôgí c ch ỉ mối li ên
hệ b ên trong của các y ếu tố cấu thành tư duy Lôgí c và ngôn ng ữ tự nhiên là hai lĩnh vực khác nhau, song chúng không hoàn toàn tách bi ệt nhau mà b ên cạnh n h ững đi ểm dị bi ệt, chúng còn có nh ững điểm tươn g đồng Trong bài viết này, tác giả tập trung luận giải nhằm làm rõ
những đi ểm tươn g đ ồng và dị bi ệt giữa l ôgí c và ngôn ng ữ tự nhiên
1 Dẫn nhập
Nhận t hức l à nhu cầu tất y ếu t rong quá t rì nh t ồ n t ại và phát tri ển củ a con người Khi nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, con người hình thành những khái niệm, phán đoán, suy luận, Để biểu đạt quá trình tư duy đó, con người phải sử dụng ngôn ngữ tự nhiên Mặt khác, nhờ ngôn ng ữ t ự nhi ên m à con ngư ời có t hể gi ao tiếp, t rao đổi với nhau C ho nên, ngôn ng ữ t ự nhi ên không ch ỉ có ch ức năng gi ao ti ếp, m à còn có ch ức năng là công cụ tư duy Khác với ngôn ngữ học, lôgíc học nghiên cứu ngôn ngữ tự nhi ên đ ể t ừ đó nghi ên cứu t ư duy Do v ậy, khi nghi ên c ứu ngôn ng ữ
tự nhi ên, lôgí c h ọ c t rừu t ượng hoá những yếu tố gi ao t iếp, yếu tố tình
huống nhằm hướng t ới cái ngôn ng ữ “hi ện th ực tr ực ti ếp của t ư duy” Nói cách khác, “Lôgíc học phi ngôn cảnh hoá các lời của ngôn ngữ tự nhiên để
có được những câu chỉ đơn giản có giá trị chân lý, những mệnh đề”(1) Chính vì vậy, l ôgí c có quan h ệ m ật thi ết v ới ngôn ng ữ t ự nhiên Theo đó, giữa l ôgí c và ngôn ng ữ t ự nhi ên vừa có những đi ểm dị biệt, v ừa có s ự
tương đồng với nhau
2 M ột s ố đi ểm tươn g đ ồn g và dị biệt gi ữ a lôgíc và ngôn ng ữ tự nhiên
2.1 M ột s ố điểm tư ơng đ ồng giữa lôgíc và ngôn ng ữ tự nhi ên
Chúng t a bi ết rằng, l ôgí c ch ỉ m ối l iên h ệ bên trong của các y ếu tố cấu thành của t ư duy, còn ngôn ng ữ t ự nhiên l à cái công c ụ - “vỏ vật ch ất" - t hể hi ện
Trang 2quá trình tư duy đó ra bên ngoài; cho nên, gi ữa lôgíc và ngôn ngữ tự nhiên
có nh ững đi ểm chung:
Thứ nh ất, ngôn ngữ t ự nhiên và lôgí c đ ều là những hệ th ống ký hi ệu, chúng
có một số điểm gi ống nhau, nhưng cũng có m ột số điểm khác bi ệt Ch ẳng hạn, ký hiệu lôgí c l à ký hi ệu nhân t ạo và hình th ức Do v ậy, nó gồm nh ững
ký hi ệu thuần nhất, đơn t rị và b ất bi ến C òn ký hi ệu ngôn ng ữ là những ký hiệu t ự nhiên Do v ậy, nó không t hu ần nh ất, không b ất biến(2) Bởi lẽ, nó chị u t ác động của nhiều y ếu t ố: s ự t hay đ ổi không gi an, th ời gian, phươ ng ngữ, thay đổ i theo gi ới tính, ngh ề nghi ệp, xã hộ i,
Thứ hai , lôgí c và ngôn ng ữ tự nhi ên đ ều có nh ững y ếu t ố, đơn vị cơ bản
chung Các đơn vị cơ bản của lôgíc học hình thức là khái niệm, phán đoán, suy l uận Tương ứ ng với các đơn v ị cơ b ản này củ a ngôn ngữ t ự nhiên l à t ừ, câu, chuỗi câu Ch ẳng h ạn, tương ứng với khái ni ệm l à t ừ, t ương ứng với phán đoán là câu, tương ứng với suy luận là chuỗi câu Ví dụ: “vật chất” là một t ừ t rong ngôn ng ữ t ự nhiên, tươ ng ứng với nó l à khái ni ệm “vật chất” trong lôgíc; “Hồ Chí Minh là một danh nhân văn hóa” là m ột câu tường thu ật t rong ngôn ng ữ tự nhi ên; trong lôgí c, đó là m ột phán đoán kh ẳng định Trong ngôn ngữ tự nhiên có chuỗi câu: mọi người đều phải chết; Xôcrát là người, Xôcrát phải chết, v.v Trong lôgíc h ọc người ta liên kết chu ỗi câu này t hành m ột t am đo ạn l uận
Thứ ba, n ếu như l ôgí c có các t ác t ử lôgíc, còn g ọi l à l iên t ừ lôgíc, thì t rong
ngôn ng ữ t ự nhi ên, các li ên t ừ này cũng có ch ức năng tương t ự Nếu các t ác
tử lôgí c dùng đ ể li ên kết một hay nhi ều phán đoán thành ph ần thì các liên
từ t rong ngôn ng ữ t ự nhi ên cũng có vai trò li ên k ết các câu l ại với nhau Chẳng h ạn, t rong l ôgíc có các t ác t ử hội, t uyển, kéo t heo, t ương đương,
là cơ sở cho cú pháp của lôgíc mệnh đề để liên kết các phán đoán thành phần Trong ngôn ng ữ t ự nhiên có các li ên t ừ và, ho ặc (hay l à), n ếu t hì , nếu không… t hì không…, n ếu và chỉ nếu l à cơ s ở cho cú pháp c ủa ngôn ngữ tự nhi ên đ ể li ên kết các câu
Như chúng ta đã biết, nhận thức của con người là một quá trình biện chứng Quá t rình này m ỗi ngày một t iến gần hơ n đến chân l ý tuy ệt đ ối Bên c ạnh
đó, ngôn ngữ tự nhiên cũng luôn phát tri ển theo thời gian, cái chuẩn ngày
Trang 3hôm nay có t h ể hì nh thành t ừ những cái phi chu ẩn ng ày hôm qua S ở dĩ có hiện t ượng đó l à vì b ản thân ngôn ng ữ tự nhi ên chị u t ác đ ộng củ a nhi ều yếu tố: không gi an, t h ời gian, s ự phát t ri ển của tư duy, củ a xã hội ,
2.2 M ột s ố điểm d ị b iệt giữa l ogi c và ngôn ng ữ tự nhiên
Ngoài nh ững đi ểm t ương đ ồng như đã t rình bày ở t rên, giữa lôgíc và ngôn ngữ tự nhi ên còn có s ự khác bi ệt:
Một là, ngôn ngữ tự nhi ên phong phú hơn lôgí c Ch ẳng h ạn, t rong l ôgí c,
phán đoán “Cô ấy không đẹp” có thể miêu tả thuộc tính “không đẹp” - thuộ c tí nh âm c ủa cô gái, m à cũng có th ể bác b ỏ, phủ đị nh phán đoán khác Trong ngôn ng ữ tự nhiên, có nhi ều phươ ng th ức khác nhau đ ể diễn đ ạt cùng nội dung đó:
1) C ô ấy mà đ ẹp à?
2) C ô ấy đâu có đ ẹp
3) C ô ấy đẹp t hế nào đượ c
4) C ô ấy đẹp đâu m à đ ẹp
5) C ô ấy mà đ ẹp cái nỗi gì?
6) C ô ấy đẹp s ao m ặt mày như th ế
7) Tr ời ơi ! C ô ấy mà đẹp!?
8) Ai m à nói cô ấy đ ẹp ?
9) Nói r ằng, cô ấy đ ẹp l à không đúng !
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Trang 4Ngoài nh ững câu này, các nhà ngôn ng ữ có th ể đưa ra nhi ều câu khác n ữa
có cùng nội dung Song, v ấn đề là ở ch ỗ, t rong lôgí c h ọc hình t h ức, ngư ời
ta quan t âm gi á t r ị đúng, s ai của phán đoán; còn t rong ngôn ng ữ t ự nhi ên, người ta không chỉ quan tâm cấu trúc câu có đúng ngữ pháp hay không mà còn chú ý đến cả mặt ngữ nghĩa của nó nữa Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu cho r ằng, các bi ểu thức lôgí c họ c hình th ức đơn t rị về cấu trúc, còn các biểu th ức ngôn ng ữ t ự nhiên đa trị về cấu trúc
Hai l à, tuy khái ni ệm và phán đoán l à đơn v ị cơ b ản của lôgí c h ọc, và
tương ứng với nó là từ và câu trong ngôn ngữ tự nhiên, nhưng không phải chúng hoàn toàn đồng nhất với nhau Vì, có khái niệm được thể hiện bởi một t ừ, nhưng có khái ni ệm đượ c t hể hi ện bằng cụ m t ừ, có nh ững t ừ - hư t ừ
- không bi ểu hi ện khái ni ệm nào c ả, và có nh ững từ khác nhau l ại cùng t h ể hiện một khái ni ệm (đồng nghĩ a khác âm ) Ví d ụ: khái ni ệm “chết ” Trong tiếng Việt có nhi ều t ừ khác nhau đ ể di ễn đạt khái ni ệm này: hy sinh, qua đời, quá cố, về chầu tiên tổ, xuống suối vàng, ngoẻo, ngủ với giun, củ rồi,
đi bán muối, quy tiên, tạ thế, tắt thở, băng hà, viên tịch, mãn phần, thăng
hà, ch ầu t rời , toi, v ề đất Chúa, Có nhi ều trường hợ p, cùng m ột từ nhưng thể hi ện nhi ều khái ni ệm (t ừ đ ồng âm khác nghĩ a) khác nhau Chẳng h ạn, t ừ
“ngu” Ở đây, từ ngu có thể có nhiều nghĩa khác nhau, tùy b ối cảnh Bởi
lẽ, ngu còn có nghĩ a ngu ý, ngu ki ến, chỉ sự nhún nhườ ng, có t h ể là s áng
kiến, s ự yên vui, hòa bình, ch ứ không phải là ngu xu ẩn, ngu đ ần như nhi ều người hiểu theo nghĩa thông thường Ví dụ: chữ “Ngu” trong từ “Đại
Ngu”(3) - quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ (1400 - 1407), được Hồ Quý
Ly đổi từ quốc hiệu “Đại Việt”
Phán đoán được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ tự nhiên bằng câu Nhưng không phải câu nào cũng l à phán đoán, đó là câu c ảm thán, câu h ỏi, câu mệnh l ệnh Ví d ụ: 1) Đau đ ớn thay, ph ận đàn bà! 2) Kh ủng bố là gì? 3) Đi khỏi đây đi! Ba câu này không l à phán đoán vì ta không xác đ ịnh đư ợc gi á trị chân lý c ủa nó
Ba l à, những quy lu ật, quy t ắc t rong l ôgí c h ọc đượ c khái quát t ừ quy l uật
và hình th ức t ư duy chí nh xác; cho nên, nó m ang tính ph ổ bi ến và b ất bi ến Còn những quy lu ật, quy t ắc của ngôn ng ữ t ự nhiên không ch ỉ tính đ ến
Trang 5những yếu tố đó, m à còn ph ụ t huộ c vào n ội dung, đi ều ki ện lị ch sử, nét đặc thù củ a t ừng ngôn ng ữ khác nhau )
Trong lôgí c h ọ c có quan hệ suy di ễn giữa một hay mộ t số phán đoán Trong
tiếng Việt cũng có quan h ệ này; tuy nhi ên, có nh ững suy di ễn trong lôgí c học không th ể áp dụ ng cho ngôn ng ữ t ự nhiên
Phán đoán hội trong lôgíc có tính chất giao hoán, nghĩa là có quan h ệ suy diễn: = Trong ti ếng Vi ệt, câu ph ức t ương ứng dùng từ “và” lại không có tính ch ất ấy Ví dụ: “Anh ấy l úng búng nói và mọi người cười ầm l ên” và “M ọi ngư ời cười ầm lên và anh ấy lúng búng nói” Chúng ta không th ể nói hai câu này tương đương nhau v ề mặt ngữ nghĩa, mặc dù chúng có cấu trúc lôgíc tương đương, d ạng:
Trong lôgí c có quan h ệ so sánh: a = b, b = a, ta k ết l uận a và b b ằng nhau Nói “Bình và Thư yêu nhau” có nghĩa là “Bình yêu Thư” và “Thư yêu
Bình”, nhưng trong ngôn ng ữ tự nhiên, không phải lúc nào từ “nhau” cũng được hiểu như vậy Từ câu “Hai mẹ con giống nhau như đúc”, ta không th ể suy ra câu này tương đương với câu “Con giống mẹ như đúc” và “Mẹ giống con như đúc” Mà câu “Hai m ẹ con giống nhau như đúc” chỉ tương đương với câu “Con gi ống mẹ như đúc”
Có nh ững phép s uy di ễn có th ể áp dụ ng được t rong lôgí c l ẫn t rong ngôn ngữ tự nhi ên Ch ẳng hạn, t ừ phán đoán “M ột s ố si nh vi ên m ê nh ạc Hiphop”,
ta có th ể s uy ra “Có m ột s ố người m ê nhạc Hiphop là sinh v i ên” Nhưng cũng có những suy diễn chỉ có trong ngôn ngữ tự nhiên, không áp dụng được trong lôgíc.(3
Trong ngôn ngữ tự nhiên, có nh ững câu:
1) “Anh ấy lại đến lớp trễ” Ta có thể suy diễn rằng, “Anh ấy đã từng đến lớp t rễ”;
2) “Hắn ta đâm ra huênh hoang” Ta có th ể suy diễn rằng, “Hắn trước đây không huênh hoang”
Trang 6Sở dĩ người t a suy di ễn đượ c như v ậy l à do d ựa vào hai t ừ: “l ại” và “đâm ”
Ta gọi đây l à ti ền gi ả đ ịnh
Trong ngôn ng ữ tự nhiên, có hình t h ức s uy lu ận suy ý, còn t rong lôgí c có hình thức suy lu ận s uy lý Suy ý thường đượ c áp dụ ng t rong đ ời s ống h ằng
ngày, do vậy, nó mang tí nh ph ổ bi ến trong m ọi ngôn ngữ tự nhiên Tuy
vậy, s uy ý l à một hì nh th ức suy lu ận g ần đúng, phụ t hu ộc nhi ều vào ngôn cảnh, nó thường không ch ặt ch ẽ như những quy t ắc suy l ý trong lôgí c
Ví d ụ s au đây đã t ừng l àm đau đ ầu các nhà l ôgí c h ọc “Có một thuy ền
trưởng trên một chiếc tàu là người thuộc phái ủng hộ luật cấm uống rượu (ở
Mỹ những năm 1920 - 1933) Nhưng, thuy ền phó l ại l à ngư ời t hường s ay rượu, vì thế, thuyền trưởng không ưa Một hôm, trong phiên trực của mình, nhận t hấy thuy ền phó s ay rư ợu, thuy ền t rưởng b ực mình, ghi vào s ổ nh ật ký hàng h ải nh ận xét:
“Hôm nay, ngày 25 tháng 3, thuy ền phó say rượu”
Hôm sau, đến phiên trực của mình, thuyền phó đọc thấy lời nhận xét đó, tức mình, ng ẫm nghĩ rồi ghi vào s ổ nh ật ký:
“Hôm nay, 26 tháng 3, thuy ền trưởng không say rượu”
Về lý, đây l à m ột nh ận xét đúng s ự thật, nhưng v ề ý thì nh ận xét ấy có t hể
hiểu l à: “Thuy ền trư ởng l à người t hư ờng uống rượu, t hườ ng s ay rượu, t rừ hôm nay không u ống rượu” Hi ểu như t hế là đúng về ý, nhưng không đúng
sự t hật Thuyền phó đã l ợi dụng quy t ắc s uy ý ( ở đây là một hàm ý h ội tho ại, t heo H.Gri ce): n ếu t hông báo m ột điều không có gì đáng thông báo
cả, t hì thườ ng ph ải hiểu là đi ều đó th ật ra là có gì đó không bì nh
thường”(4)
Ngoài đặc điểm chung của mọi ngôn ngữ tự nhiên, tiếng Việt còn có lôgíc đặc thù của nó Việc giải thích, phân tích các hi ện tượng ngôn ngữ tự nhiên trong m ột s ố t rườ ng hợp l à r ất khó khăn, ph ức t ạp, t hậm chí có trư ờ ng hợp không th ể phân tí ch, gi ải thí ch
Trang 7Trong ng ữ pháp, có nh ững câu m ang hình th ức nghi vấn nhưng n ội dung mang tính kh ẳng định “Ớt nào là ớt ch ẳng cay?” C âu này ai cũng hi ểu l à:
“Mọi loại ớt đều cay” Ngày nay, hi ện tượng này vẫn còn được dùng khá phổ bi ến ở mi ền B ắc nướ c t a Ch ẳng h ạn, khi xem truy ền hình, chúng t a thường nghe thấy người dẫn chương trình các cuộc thi đưa ra câu hỏi với các phương án trả lời khác nhau: a, b, c, d Ngư ời dự thi chọn câu b là đúng nhưng họ lại trả lời bằng câu: Có phải b không ạ? Rõ ràng, về hình thức, câu t r ả lời l à một câu hỏi , nhưng t hí sinh đã dùng nó đ ể k hẳng định
Lôgí c học khảo s át câu tư ờ ng t hu ật như l à m ột phán đoán, nhưng có nh ững trường hợp đặc biệt, lôgíc học không khảo sát dạng câu này
Xét câu: “Cấm không được hút thuốc” Theo quan điểm ngôn ngữ học, đây
là câu vắng ch ủ n gữ, th ể hi ện hành vi c ấm Nghĩ a l à không sai v ề hì nh t hức ngôn ng ữ Nhưng theo quan ni ệm củ a lôgí c h ọc, câu này không ch ặt chẽ; bởi l ẽ, “cấm ” nghĩ a l à “không”, m à “không không đư ợ c hút thu ốc” có nghĩ a
là “được hút thuốc” Cho nên, ở góc độ lôgíc học, phải viết lại câu này là:
“Cấm hút thuốc” Viết như vậy là đủ thông tin và chính xác.(4)
Trong ngôn ng ữ tự nhiên, chúng ta còn g ặp nhi ều hi ện tượ ng đặc t hù khác
Trên thực tế, ngườ i t a hay dùng các câu: “Thuy ền chạy tr ên s ông” hay
“Thuyền chạy dưới sông”; “Anh ấy đang đi ngoài mưa” hay “Anh ấy đang
đi trong mưa”; “Juan Martin del Potro đánh thắng Roger Federer trong trận chung kết U.S Open 2009” hay “Juan M artin del Pot ro đánh b ại Roger
Federer t rong t r ận chung k ết U.S Open 2009”; “Hôm qua, t ôi đi mua 1
chi ếc áo lạnh” hay “Hôm qua, tôi đi m ua 1 chi ếc áo ấm”,
Ta th ấy, các t ừ: t rên - dư ới, ngoài - trong, đánh t h ắng - đánh bại, áo lạnh -
áo ấm có nghĩa t rái ngư ợ c nhau khi đ ứng một mình, nhưng khi chúng đư ợ c
Trang 8đặt trong các câu nêu trên thì l ại có nghĩa như nhau và không th ể làm cho người đọc (hoặc nghe) hiểu sai Trong những câu trên, "áo lạnh" là áo
chống lạnh, "áo ấm" là áo m ặc cho ấm, v.v Ở đây, t a không nói câu này đúng, câu kia sai, bởi đó là hiện tượng chỉ có thể giải thích trên cơ sở của phong cách h ọc hay l ôgí c n ội t ại củ a tiếng Vi ệt
Ngoài nh ững trường hợp nêu t rên, trong đ ời số ng hằng ngày cũng như trong nghi ên c ứu khoa học còn có nhi ều trườ ng hợp ph ức t ạp và thú v ị khác về lôgí c và ngôn ng ữ tự nhi ên
3 K ết lu ận
Việc đi sâu nghi ên c ứu t ừng lĩnh v ực ngôn ng ữ t ự nhi ên và lôgíc, xem xét chúng trong m ối quan h ệ b iện ch ứng, ch ắc ch ắn sẽ p hát hi ện nhiều thông tin mới có giá trị C hính vì v ậy, vi ệc quan tâm nghiên c ứu hiện tượ ng này
sẽ giúp chúng t a t ư duy ch ặt ch ẽ, di ễn đ ạt rõ ràng, m ạch lạc, chính xác hơn những vấn đ ề t rong đ ời sống, trong công t ác cũng như nghiên c ứu khoa học Trong l ịch s ử phát tri ển củ a lôgí c h ọc đã có nhi ều t rường hợ p đượ c phát hi ện, b ổ s ung hoàn thi ện nh ờ vi ệc nghi ên cứu ngôn ng ữ t ự nhiên và ngược lại
(*) Ti ến sĩ , Phó Hi ệu trưởng t rườ ng Đ ại h ọc An Gi ang
(1) Hoàng Phê: Lôgí c ngôn ng ữ họ c, Nxb Khoa h ọ c xã hội, Tp H ồ Chí
Minh, 1989, t r.164
(2) Xem: Nguy ễn Đ ức Dân L ôgí c ti ếng Việt Nxb Gi áo d ụ c, Tp Hồ C hí
Minh, 1996, t r.16
(3) Quốc hiệu này, t heo truy ền thuyết, h ọ Hồ l à con cháu Ngu Thuấn (l à một t rong Ngũ Đ ế nổ i tiếng ở Trung Hoa t hời thượ ng cổ ); sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà C hu phong cho ở đất Trần gọi
là Hồ C ông, sau dùng ch ữ Hồ l àm t ên họ Hồ Quý Ly nh ận m ì nh l à dòng dõi
họ Hồ, con cháu Ngu Thu ấn, nên đ ặt quố c hi ệu l à Đ ại Ngu Ch ữ Ngu ở đây
Trang 9có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", chứ không có nghĩa là "ngu dốt", "ngu si"
(4) Hoàng Phê L ôgí c ngôn ng ữ học Sđd., tr.174 - 175