Từ khoa Ắt Mão năm Thái Ninh thứ tư 1075 cùa vua Nhân tông triều Lý, dùng thi Tam trường, tuyển “bác học minh kinh”, lấy Lê Văn Thịnh đồ đầu danh sách.. nhà, điển lộ lịch triều, tham khả
Trang 1Chương IV
VỀ MỘT THỜI KHOA c ử (NGHĨA VIÊN NGUYÊN VĂN DÀO VÀ HOÀNG VIỆT KHOA c ử KÍNH)
1 NGUYỄN VĂN ĐÀO VÀ BỘ HOÀNG VIỆT KHOA c ử KÍNH
Hoàng Việt Khoa cử kính - Gương soi khoa cử nước Hoàng Việt
là một khảo cứu về lịch sừ khoa cừ nước Hoàng Việt do Nghĩa viên Nguyễn Văn Đào biên soạn
Nguyễn Văn Đào (1888 - 1947) người xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, tinh Sơn Tây (nay thuộc Thành phố Hà Nội), đỗ cử nhân khoa Đinh Dậu, Duy Tân 3 (1909) ô n g là con trai của tiến sĩ Nguyễn Văn Bân (1868 - 1945)
Năm 1911, Nguyễn Văn Đào được chọn đi học ở Pháp với thời
hạn 2 năm Ông có tập Âu học hành trình ký Sau khi học xong ở
Pháp, ông lại trở về thi Hội khoa Quý Sửu năm Duy Tân thứ 7 (1913) nhưng không đồ Tháng 12 năm ấy, ông được bổ làm Tri huyện Hưng Nhân Thái Bình, Tri phủ Yên Thế (Bắc Giang), Bố chánh Nam Định, Chánh án tinh Hà Đông (1934), Tuần phù Quảng Yên (1935) v ề hưu năm 1937, thăng Thượng Thư Bộ Lễ
Hoàng Việt Khoa cử kính được Nguyễn Văn Đào soạn xong vào
mùa đông Kỷ Mùi Khải Định thứ tư (1919) Chính thời điểm hoàn thành công trình này của ông đã có ý nghĩa đặc biệt vì tháng 4 năm
1919 ấy là khoa thi Hội cuối cùng, tháng 5 là kỳ thi Đình cuối cùng của lịch sừ khoa cử nước ta
Trang 2Lời tiểu dẫn cùa công trình đã phản ánh cái nhìn cùa ông về khoa
cừ cũng như động cơ khiến ông dồn tâm lực cho sự hoàn thành nó vào cuối năm cùa năm khoa cừ lụi tàn
“Nước Việt ta lập quốc đã hơn 4.000 năm Từ Hồng Bàng trở về sau, vốn xưng là nước có văn hiến Song con đường khoa cừ trước
đó chưa có Từ khoa Ắt Mão năm Thái Ninh thứ tư (1075) cùa vua Nhân tông triều Lý, dùng thi Tam trường, tuyển “bác học minh kinh”, lấy Lê Văn Thịnh đồ đầu danh sách Đó là đầu nguồn của khoa mục nước ta Đến khoa Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư (1919) cùa bản triều, thi Hội cho cống sĩ, dùng cả quốc văn, Pháp văn, Hán ván, ấy là khoa kết cục khoa cừ nước ta Kể tniớc đến sau, gồm 844 năm cả thảy Trong khoảng thời gian đó, vân thức phép thi, có cái theo, có cái đổi, chồ tường chỗ lược, xưa sau thực có khác nhau Hoặc đắc hoặc thất, hoặc thịnh, hoặc suy cùng với tiếng thơm của những tiến sĩ, cống sĩ
mà các triều nối nhau lấy được, đều chép đù trong sử sách và khoa phả của các nhà danh nho lịch đại, đại khái đã từng bình luận tường minh đủ cả Đó vốn không phải là điều mà kẻ mạt học, kiến thức nông cạn có thể dám dự bàn
Những nghĩ, bây giờ học giới canh tân, khoa cử đình bãi Các thể văn bát cổ, thơ phú, chiếu biểu, sách luận cũng như các cách thức lúc đi thi vác lều, mang tráp, vào trường, phân vi giờ đây khác nào như chiếc mũ miện cũ của thời Đường Ngu, mảnh quần rách nơi sông Thù Tứ
Từ nay về sau, người ta, miệng không còn nhắc lại, mắt không còn nhìn qua, tai không còn nghe chuyện khoa cừ nữa Nếu không sưu tầm ghi chép thành sách mà biên tập lại, lưu lại kỷ niệm của một thời khoa cừ thì e rằng nhừng người nghiên cứu khảo cổ đời sau lại thở than ràng “tư liệu văn hiến chẳng đủ minh trưng”, người nước Nam
mà chẳng tường việc nước Nam Khi ấy, liệu có thể tránh khỏi chuyện người ta chê cười cho rằng đó là đồ “Tịch Đàm vong tổ” hay không?
Vì thế cho nên, tôi đã nhân những lúc việc công rảnh rồi, tường tra chính sử, dã sử cả Nam lẫn Bắc, cũng như sách đăng khoa lục của các
Trang 3nhà, điển lộ lịch triều, tham khảo sự đồng dị, diên cách cùa phép thi trong lịch đại, trên từ khoa Át Mão năm Thái Ninh triều Lý, dưới đến khoa Kỷ Mùi cùa niên hiệu Khải Định bản triều, biên tập thành sách,
phân chia làm thành các phần như: Khoa cừ tầm nguyên, Khoa thứ thí pháp thông kháo, đặt tên là “Hoàng Việt Khoa cừ kính - Tấm gương
soi khoa cử nước Hoàng Việt” Tôi cũng không dám nói bừa rằng đây
là trước tác cùa tôi mà chẳng qua đó chi là sự hỏi han, sao lục, làm chồ dựa cho người sau khi khảo cổ mà thôi Người nào khen, hay có ai bắt tội, tôi cũng đành chịu theo công luận mà thôi”
Hoàng Việt Khoa cử kinh với dung lượng 100 trang nguyên văn
có kết cấu như sau:
- Tiểu dẫn
- Khoa cử tầm nguvên (Tìm về nguồn gốc của khoa cử ở nước ta).
- Lịch đại khoa thứ thí pháp thông khảo (Thông khảo về phép thi
cùa khoa cử các đời) Phần này đi vào lịch sừ khoa cử của các triều như: Lý, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê trung hung, quốc triều (triều Nguyễn) gồm cả thời các chúa Nguyễn cho đến thời các vua Nguyễn
- Tổng luận nhìn nhận những đắc thất của khoa cử.
Hoàng Việt Khoa cừ kính đã được đăng trên phần chừ Nho cùa Nam Phong Tạp chí vào các số 44, 45, 46, 48 của năm 1921 và các số
83, 84, 85 cùa năm 1924
Hiện nay, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm có một bản viết tay, chừ đẹp, ký hiệu VHv 1277 Chúng tôi dịch trọn vẹn bộ sách trên
và đặt nó thành một chương trong tập sách này như là một sự thể hiện cho cái nhìn của người đương thời và cùng là người trong cuộc về khoa cử Đồng thời cũng dựa vào đó để chủng tôi hệ thống hóa lịch sử khoa cử nói chung và lịch sử khoa cử Việt Nam nói riêng Vì thế, chúng tôi đặt nó thành một chương trong tập sách này
Cũng cần lưu ý ràng Nguyễn Văn Đào khi viết Hoàng Việt Khoa
cừ kính đã chịu ảnh hường các quan điểm chính trị đương thời Chẳng
hạn như trường hợp ông khi viết về nhà Hồ, nhà Mạc Vì vậy, khi sử dụng, mong độc giả lưu ý
Trang 42 BÀN DỊCH HOÀNG VIỆT KHOA c ừ KÍNH
HOÀNG VIỆT KHOA c ừ KÍNH
Nghĩa viên Nguyễn Văn Đào biên tập
rp* Ả 1X Tiêu dân Trộm nghe, khí trong lành của trời đất hun đúc lên nhân tài Con đường vinh tiến cùa sĩ phu chẳng gì hơn khoa mục Đại khái, nhân tài
là nguyên khí cùa quốc gia, khoa mục là con đường rộng cho sĩ tử Nửa đời chăm học, một sớm quang vinh Bảng vàng treo trước ccng trường, bia đá khắc nhà Thái Học Mũ áo cờ biển vua ban, vinh dự ngắm hoa ban yến Hân hạnh biết chừng nào'
Bởi vậy, “Ngao đầu trúng tuyển” ấy cái người đời quý trọng
“Bảng hổ khôi danh”, nọ chồ học giả tôn vinh Thời Hán sắp đặt tứ khoa Thời Tống phân ra tam giáp Người xưa chưa từng bao giờ không lấy khoa cử Nho học như là thịnh điển cầu người tài giỏi
Nước Việt ta lập quốc đã hơn 4.000 năm Từ Hồng Bàng trờ về sau, vốn xưng là nước có văn hiến Song con đường khoa cử trước đó chưa có Từ khoa Ắt Mão năm Thái Ninh thứ tư (1075) của vua Nhân Tông triều Lý, dùng thi Tam trường, (t.lb ) tuyển “Bác học minh kinh”, lấy Lê Văn Thịnh đỗ đầu danh sách Đỏ là đầu nguồn của khoa mục nước ta Đến khoa Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư (1919) của bản triều, thi Hội cho cống sĩ, dùng cả quốc văn, Pháp văn, Hán văn, ấy là khoa kết cục khoa cừ nước ta Kể trước đến sau, gồm 844 năm cả thảy Trong khoảng thời gian đó, văn thức phép thi, có cái theo, có cái đổi, chỗ tường chồ lược, xưa sau thực có khác nhau Hoặc đấc hoặc thất, hoặc thịnh, hoặc suy cùng với tiếng thơm của những tiến sĩ, cống
sĩ mà các triều nối nhau lấy được, đều chép đù trong sử sách và khoa phả của các nhà danh nho lịch đại, đại khái đã từng bình luận tường minh đù cả Đó vốn không phải là điều mà kẻ mạt học, kiến thức nông cạn có thể dám dự bàn
Nhừng nghĩ, bây giờ học giới canh tân, khoa cử đình bãi Các thê văn bát cổ, thơ phú, chiếu biểu, sách luận cùng như các cách thức lúc
đi thi: vác lều, mang tráp, vào trường, phân vi giờ đây khác nào như
Trang 5chiếc mũ miện cũ của thời Đường Ngu, mảnh quần rách nơi sông Thù Tứ.(t.2a)
Từ nay về sau, người ta miệng không còn nhắc lại mắt không còn nhìn qua, tai không còn nghe chuyện khoa cử nữa Neu không sưu tầm ghi chép thành sách mà biên tập lại lưu lại kỷ niệm cùa một thời khoa cử thì e rằng những người nghiên cứu khảo cổ đời sau lại thở than ràng “tư liệu văn hiến chảng đủ minh trưng”, người nước Nam
mà chảng tường việc nước Nam Khi ấy, liệu có thể tránh khỏi chuyện người ta chê cười cho rằng đó là đồ “Tịch Đàm vong tổ” hay không?
Vi thế cho nên, tôi đã nhân những lúc việc công rành rồi, tường tra chính sử, dã sừ cả Nam lẫn Bắc, cũne như sách đăng khoa lục của các nhà, điền lệ lịch triều, tham khảo sự đồng dị, diên cách của phép thi trong lịch đại, trên từ khoa Át Mão năm Thái Ninh triều Lý, dưới đến khoa Kỷ Mùi của niên hiệu Khải Định bản triều, biên tập thành sách,
phan chia làm thành các phần như: Khoa cử tầm nguvên, Khoa thứ thí pháp thông khảo, đặt tên là "Hoàng Việt Khoa cừ kính - Tấm gương
soi khoa cử nước Hoàng Việt” Tôi cũng không dám nói bừa rằng đây
là trước tác của tôi mà chẳng qua đó chỉ là sự hỏi han, sao lục, làm cho dựa cho người sau khi khảo cổ mà thôi Người nào khen, hay có ai bất tội, tôi cũng đành (t.2b) chịu theo công luận mà thôi
Khải Định năm thứ tư, Kỷ Mùi, mùa đông, Sơn Thạch Bằng Giang Nghĩa viên Nguyễn Văn Đào cẩn thư
(t.3a) KHOA CỪTẢM NGUYÊN
(Nguồn gốc klioa cử)
Khoa cử đã có từ lâu rồi, lưu hành qua các đời, lấy được người tài cũng nhiều Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn chảy đến
Kẻ hưởng kết quả cùa khoa cử, không thể không ngược dòng tìm đến nguyên nhân nảy sinh khoa cử
Khảo xét khoa cử ở Trung Quốc, từ thời Tam Đại trở về trước, vần còn chưa đặt Vua Văn đế nhà Hán, đặt ra hai khoa: Hiếu liêm và Hiền lương đề chọn kè sĩ Khoa mục nảy sinh, thực là từ đó Danh
hiệu trạng nguyên, bắt đầu từ thời Vũ hậu nhà Đường Danh hiệu giải
Trang 6nguyên, bắt đầu từ thời Tống Cao tông Danh hiệu cử nhân thấy ghi ở
thời Tống Thái tông, niên hiệu Hưng quốc năm đầu (năm 976) Danh
hiệu tú tài thấy ở triều Hán Văn đế để gọi cho Giả Nghị Các danh hiệu bảng nhãn, thám hoa thấy ờ thời Nguyên (Theo Âu Dương thi tự) Các danh hiệu sinh đồ, cống cử thấy ở thời Đường Danh hiệu Hoàng giáp thấy ở thời Tống (Theo Phạm Thành Đại thi tự) Danh hiệu tiến s ĩ thấy ở đời Chu (649 - 674) Danh hiệu “đồng niên” (t.3 b) thấy ở thời Đường Lối gọi “thủ khoa” thấy ở thời Tổng Đặt các khoa
tiến sĩ, hoành từ, thực bắt đầu từ thời Tuỳ Đặt ra chế khoa và khoa tú tài, thực bắt đầu từ thời Đường Phép thi điện thí cho các cống sĩ thực bắt đầu từ đời Đường Vũ hậu
Phép thi “đại ti” ba năm một lần, bắt đầu từ thời Thành Chu Phân chia ra ba giốp: nhất giáp, nhị giáp, tam giáp và cấp độ với thịnh điển xướng danh, gia ân truyền lô, ban yến bắt đầu từ thời Tống Thái tông Phân ra thi hương, thi Hội, thi Đình; các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; thi hương; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội bắt đầu từ năm Hồng Vũ thời Minh Thi văn sách bắt đầu từ thời Hán Thi thơ phú bắt đầu từ thời Tuỳ Thi bằng kinh nghĩa, tứ lục và định 3 năm mở một khoa đều bắt đầu từ thời Tống Đặt ra “cức vi tuyển sĩ - rào vây tuyển sĩ” và đặt ra
lệ “hồ danh - dán tên”, “di phong - gói bài” đều bắt đầu từ thời Đường Lệ mùa xuân thỉ Hội, thấy ở thời Đường Huyền tông Sĩ tử được vào thi Đình thì không bị truất trượt, có lệ từ niên hiệu Gia Bình nhà Tống Uỷ thác cho quan chù trì thi cử, thấy từ đời Vĩnh Lạc(t.4a) nhà Minh Sai quan ở kinh đô chủ trì thi cử, bắt đầu thấy ở năm Gia Tĩnh thời Minh
Còn như ở nước ta thì từ thời Đinh, Tiền Lê trở về trước chưa có
mờ khoa thi tuyển sĩ Từ năm Át Mão, niên hiệu Thái Ninh thứ tư (1075), tuyển minh kinh bác học, thi theo tam trường Khoa mục nước
ta thực bát đầu từ đây Các danh hiệu - trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa thấy ờ năm thứ 16 niên hiệu Thiên ứ n g Chính Bình của vua Trần Thái tông (1247) Danh hiệu hoàng giáp thấy ở năm Hưng Long thứ
20 (1304) đời Trần Anh tông Danh hiệu tiến s ĩ thấy ờ năm Long Khánh thứ 2 (1375) đời Trần Duệ tông Danh hiệu cử nhân thấy ở
năm Quang Thái thứ 9 (1396) đời Trần Thuận tông Các danh hiệu
sinh đồ, hương cống thấy có ở năm Quang Thuận thứ 3 (1462) đời vua
Trang 7Lê Thánh tông Danh hiệu phó bâng thấy ở khoa Kỷ Sửu năm Minh
Mệnh thứ 10 (1829) của bàn triều Danh hiệu tú tài thấy ở khoa Mậu
Tý niên hiệu Minh Mệnh thứ 9 ( 1828) của bản triều Thi Hương đặt ra vào năm Quang Thái thứ 9 (1396) đời vua Trần Thuận tông Thi Hội đặt ra vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời vua Trần Thuận tông Thi điện đặt ra vào năm Đại Định thử 13 ( 1151 ) đời vua Lý Anh tông (t.4b) Thi tiến sĩ bắt đầu từ năm Long Khánh thứ 2 (1375) đời Trần Duệ tông Ban cho chữ “xuất thân” mới thấy ở năm thứ 10 năm Thiên
Tư Gia Thuỵ (1196) đời Lý Cao tông Phân ra giáp đệ mới bắt đầu ở năm thứ 8 niên hiệu Kiến Trung (1232) đời vua Trần Thái tông Ban cho tam khôi và định niên hạn bắt đầu từ năm thứ 16 niên hiệu Thiên
ứ n g Chính Bình (1247) đời vua Trần Thái tông Phân ra trạng nguyên kinh, trạng nguvên trại bắt đầu thấy ở năm thứ 6 niên hiệu Nguyên Phong (1256) đời vua Trần Thái tỏng Phép thi tuyển sĩ mới thấy ờ năm thứ 12 niên hiệu Hưng Long (1304) đời vua Trân Anh tông Cách cho người đồ tiến sĩ được du chơi trên phố cũng đến năm này mới thấy Phân ra cập đệ và đồng cập đệ bắt đầu từ năm thứ 3 niên hiệu Long Khánh (1375) đời Trần Duệ tông Định ra chế độ, năm trước thi Hương năm sau khi hội bất đầu thấy từ năm thứ 9 niên hiệu Quang Thái (1396) đời Trần Thuận tông Lệ treo bảng mới bắt đầu khoảng những năm Thiệu Binh đời vua Lê Thái tông Lễ truyền lô mới bắt đầu
từ năm thứ 4 niên hiệu Quang Thuận (1463) đời Lê Thánh tông Lệ ứng điểm (điểm diện thí sinh và những người có thể làm bài thi được, gom họ lại một chỗ trong thời gian diễn ra thi để tránh thi hộ) mới bắt đầu ở năm thứ hai niên hiệu Cảnh Thống (1499) đời vua Lê Hiến tông Khấc bia đề danh tiến sĩ mới thấy ở năm thứ 3 niên hiệu Đại Bảo (1442) triều Lê Thái tông (t.5a) Lệ ban cho tiến sĩ vinh quy thấy ở năm Quang Thuận thứ 7 (1466) triều Lê Thánh tông Cho ăn yến, ban
mũ áo thấy ở năm thứ 24 niên hiệu Hồng Đức (1493) triều Lê Thánh tông Lệ 3 năm có một lần thi thấy ở năm Quang Thuận thứ 7 triều Lê Thánh tông Lệ đặt ra chức quan Tri cống cừ (coi việc thi cử) thấy ở khoảng những năm cùa niên hiệu Hồng Thuận đời vua Lê Tương Dực
Lệ phân ra chính bảng (đệ nhị giáp, tiến sĩ xuất thân), phụ bảng (đệ tam giáp, đồng tiến sĩ xuất thân) và định chế độ trúng cách mới có từ năm thứ 5 niên hiệu Thái Hoà đời vua Lê Thái tông (1447) Lê phân ra
“cập đệ xuất thân” và “đồng xuất thân” bắt đầu có từ năm Hồng Đức
Trang 8thứ 15 triều Lê Thánh tông (1480) Lệ đưa rước trạng nguyên về phù
đệ và đặt quan trường thi đều mới ở triều Lê Thánh tông Lệ cấm mang sách vào trường thi, thi thay thi hộ, kiểm soát chặt lúc vào cừa trường thi đều mới ở triều Lê Hiến tông (1497 - 1504) Việc đổì danh hiệu phụ bảng thành đồng tiến sĩ có từ năm 15 niên hiệu Hồng Đức triều vua Lê Thánh tông (1485) Chế độ người đỗ đồng tiến sĩ được viết ở bảng hội có từ năm thứ 2 niên hiệu Bảo Thái (1721) đời Lê Dụ tông Đặt ra chế khoa thấy có ở năm thứ 6 niên hiệu Thuận Bình
0 5 4 4 ) đời vua Lê Trung tông Đặt ra các Khoa sĩ vọng, đông các thấy
ở khoảng thời gian các năm của niên hiệu Vĩnh Thọ triều vua Lê Thần tông Đặt (t.5b) ra khoa hoành từ thấy ở năm thứ hai niên hiệu Thuận Thiên của triều vua Lê Thái tổ (1429) Lệ những người đã vào thi Đình thì không đánh traợt mới cỏ ở năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Tộ (1623) cùa vua Lê Thần tông Đặt ra chế độ khai hồ sơ thi Hương (hương bạ loại khai) mới ở năm thứ 3 niên hiệu Quang Thuận (1462) triều Lê Thánh tông
Chọn người làm giám thị, đặt viên đọc quyển thi, các năm Tý Ngọ Mão Dậu thi hương, Thìn Tuất Sửu Mùi thi Hội, trước buộc phải trúng hương cống mới được vào thi Hội; phải xuất thân từ hạng hàn lâm mới được sung vào làm khảo quan, các chế độ ấy đều bắt đầu từ
Lê Thánh tông Trường thi chia ra các vi, đặt chòi canh, thí sinh phải qua khảo hạch trước cũng như chuyện vị quan trường nào nếu có người thân thích đi thi thì họ phải “hồi tị” (tránh đi) đều bắt đầu từ thời vua Lê Hiến tông
Lại xét đến bản triều (triều Nguyễn) Thi Hương bắt đầu đặt ra từ khoa Đinh Mão năm Gia Long thứ 6 (1807) Thi Hội bắt đầu đặt ra từ khoa Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ ba (1822) Đặt ra phó bảng mới từ khoa Kỷ Sửu năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) Đặt ra thi Hương ân khoa thấy ở năm Tân Tỵ Minh Mệnh năm thứ 2 (1821) Đặt
ra thi Hội ân khoa mới (t.6 a)ở năm Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị thứ hai (1842) Chế độ thi cứ 6 năm mới có 1 khoa mới có từ Gia Long Ba năm một khoa mới từ Minh Mệnh Đặt ra khoa hoành từ thấy ở Tự Đức năm thứ 4 (1851) Đặt ra nhã sĩ thấy ở Tự Đức năm thứ
18 (1865) Chế độ chấm ở thi Hội theo phân số mới từ Minh Mệnh năm thứ 10 (1829) Tăng thêm kỳ phúc hạch trong thi Hưcmg thấy ở
Trang 9năm Kiến Phúc nguyên niên (1884) Quv định các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi ỉ ỉương thấy ở Minh Mệnh năm thứ 6 (1825); Thìn, Tuất, Sừu, Mùi thi Hội thấy ở Minh Mệnh năm thứ 7 (1826) Việc đổi hương cống thành cừ nhân, sinh đồ thành tú tài và đặt chánh phó chù khảo và
dồ điệu, phân khao đều áp dụng từ khoa Mậu Tý năm Minh Mệnh thứ
9 (1828) Lệ cho những neười thi Hương đồ 3 trường là tú tài, 4 trường là cử nhàn được định ra ở năm Tự Đức thứ 5 (1852) Lệ cho trong kỳ thi Hội, quyển được 4 phân là chánh bảng, 2 phân là phó bàng thấy ờ năm Tự Đức thứ 6 (1853) Định chế độ giải ngạch (hạn ngạch, chi tiêu) thấy ở nãm đầu niên hiệu Thiệu Trị (1841) Đặt ra danh hiệu “hội thí cống cử” thấy ở năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) Đặt ra
lệ (t.6b) không yết bảng tên nhũn? người có quyển thi bị hai bài liệt
thấy ở Tự Đức năm đâu (1848) Lệ phân ra 7 hạng chấm điểm thấy ở
Tự Đức nám thứ 3 (1850) Chế độ quy định khảo quan phải có kỳ bài bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) Đặt ra chế độ giám sát trong ngoài trường thi có từ năm Minh Mệnh thứ 15 (1834) Cho phép huấn đạo, giáo thụ đã bổ quan vẫn được thi Hội có từ Thiệu Trị năm thứ 3 (1842) Chế độ cho phép giám sinh tú tài qua sát hạch để vào thi Hội
có từ năm Thiệu Trị thứ tư (1844) Lệ cho phó bảng vào thi Đình thấy
ờ khoa Tân Hợi, năm Tự Đức thứ 4 (1851) Chế độ giải ngạch một cử nhân lấy 3 tủ tài thấy ở khoa Giáp Thân năm Kiến Phúc nguyên niên (1884) Đề sách vấn đổi sang làm 10 đạo, phê duyệt đổi làm ưu, bình, thứ, liệt thấy ở nám Tự Đức năm thứ 11 (1858) Thể văn tứ lục đổi thành thơ phú; sách đạo đồi thành đề án trường thiên thấy ở năm Tự Đức năm 29 (1876) Ọuy định Bộ Lễ duyệt lại kết quả của kỳ thi Hương và đánh trượt thấy ở năm Minh Mệnh thứ 6, khoa Át Dậu (1825) Việc chia phân vi trong trường thi thành Nam, Bắc, Giáp, Át thấy ở năm Minh Mệnh thứ 16, khoa Ẩt Mùi (1835) Quy định ràng ở
kỳ thi điện, thi sách vấn thì được miễn (t.7 a)không phải chép đề; quy định ở 3 trường thi hương, mặt quvển thi phải khác nhau dễ phân biệt, đều bất đầu từ năm Minh Mệnh thứ 16 Việc trường Hà Nam (Hà Nội
- Num Định) đồi sang thi vào tháng 10, lệ ấy có từ năm Minh Mệnh năm thứ 18 (1837) Trường thi Gia Định đình bãi thi Hương từ năm
Tự Đức thứ 14 (1861) Lập trường thi Hương Bình Định thấy ở năm
Tự Đức thứ 5 (1852) Dụng đường thi Hương và thi Hội Thừa Thiên
Trang 10thấy ở năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) Lập trường thi Hương An Giang ở khoa Giáp Tý, năm Tự Đức 17 (1864) Bãi trường thi Hương Hà Nội
từ khoa Nhâm Ngọ Tự Đức thứ 35 (1882) Hà Nội, Nam Định hai trường thi chung tại Nam Định từ khoa Bính Tuất, Đồng Khánh nguyên niên (1886)
Phát khoa của nước ta bẳt đầu tù Lê Văn Thịnh Đồ nhất giáp bất đầu từ Phạm Công Bình Đỗ nhị giáp bắt đầu từ Dương Chính Đồ tam giáp bắt đầu từ Phạm Tù Hư
Đồ trạng nguyên bắt đầu từ Nguyễn Hiền Bảng nhãn bắt đầu từ
Lê Văn Hưu Thám hoa bắt đầu từ Đặng Ma La Hoàng giáp bất đau
từ Nguyễn Trung Ngạn Đồng tiến sĩ bắt đầu từ Ngô Sĩ Liên Trúng cừ nhân bắt đầu (t.7b) từ Hồ Ngạn Thần Trúng khoa hoành từ bắt đầu từ Nguyễn Thiên Tích Trúng chế khoa bắt đầu từ Đinh Bạt Tuỵ
Khai khoa thi Hội của bản triều bắt đầu từ đình nguyên nhị giáp Nguyễn Ý Nhất giáp bắt đầu từ thám hoa Mai Anh Tuấn Tam giáp bắt đầu từ Lê Quang Phó bảng bắt đầu từ Phạm Văn Hợp Hội nguyên bắt đầu từ Hà Tông Quyền Tam nguyên bắt đầu từ Trần Bích San Hương, đình song nguyên bắt đầu từ hoàng giáp Hoàng Tế Mỹ Hội, đỉnh song nguyên bắt đầu từ hoàng giáp Nguyễn Cửu Truờng
Khai khoa cho thi Hội ân khoa bắt đầu từ hoàng giáp Hoàng Đình Tá Khai khoa thi Hương của bản triều:
+ Trường Nghệ An bắt đầu từ Hỗ Sĩ Đề
+ Trường Thanh Hoá bắt đầu từ Ngô Văn Luyện
+ Trường Kinh Bắc bắt đầu từ Cao Huy Diệu
+ Trường Hải Dương bẳt đầu từ Lê Huy Triện
+ Trường Sơn Tây bắt đầu từ Trần Bá Kiên
+ Trường Sơn Nam bắt đầu từ Vũ Huy Đạt
* Khai khoa thi Mương ân khoa:
+Trường Trực Lệ bất đầu từ Bùi Văn Lý
+Trường Nghệ An bắt đầu từ Phan Hữu Tính