Khoa cử những thập niên cuối thế kỳ X IX - đầu thế kỷ X X nhàm điểm lại nhữna điều chính YCU về khoa cử và giáo dục khoa cử giai đoạn này qua những kỳ thi, áp lực c ủa khoa cử đối với s
Trang 1ĐẠI HỌC QUÒC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÀN
PHẠM VĂN KHOẢI
KHOA C ư VIÊT NAM
Trang 2PHẠM VĂN KHOÁI
KHOA THI TIẾN s ĩ CƯÓI CỪNG TRONG LỊCH s ử
KHOA CỬ VIỆT NAM
(Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư, 1919)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lòi nói đ ầ u 5
Chương I: KHOA cử NHỮNG THẬP NIÊN CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ X X 9
1 Điểm lọi những điểm chính yêu vẻ khoa cử những thập niên cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ( 1884 - 1919) 10
2 Chính sách của chính quyền thực dân - phong kiến đối với khoa c ử 22
3 Sì tủ và khoa cừ trong giai đoạn n à y 31
4 Thái độ phê phán khoa cử tù phía xã hội và cùa cá c sĩ phu duy tân yêu nước đâu thế kỷ XX 47
Chương II: CẢI LƯƠNG GIÁO DỤC KHOA cử NHỮNG NẪM ĐẨU THẾ KỶ XX (1906- 1918) 59
1 Cài lưong giáo dục khoa cử chữ Hán (1906) ! 59
2 Cỏi đổi phép thi Hương (1909) 62
3 Cài đổi phép thi Hội và thi Đình (1910) 66
4 Tái cấu trúc hệ thống sách giáo khoa chữ Hán phục vụ cởi lương giáo d ụ c 70
5 Sách giáo khoa chữ Hón cùa Đông Kinh Nghĩa Thục -sách giáo khoa nhà trường đại chúng yêu nước 79
ó Chữ Nôm trong khoa cù cài lương qua Tiểu học Cớch trí của Trấn Võn Khánh 83
7 Học chính Tổng quy - sụ kết cho giáo dục khoa củ cài lương 93
8 Dụ bãi khoa cử ngày 4 tháng 11 nõm Khái Định thứ 3 (1918) 94
9 “G ồng nào gánh nấy đã vợi cà rồi
buổi chợ này là buổi chợ chiều" 97
3
Trang 4Chương III: VẢN BÀI KHOA THI TIẾN sĩ CUỐI CÙNG
TRONG LỊCH sử KHOA cử VIỆT NAM (Kỷ Mùi, khải Định năm thứ tư - 1919) 101
1 Khoa thi Hội cuối cùng (Kỷ Mùi, Khái Định năm thù tư - 1919) 101
2 Vãn bài thi Hôi khoa Kỷ Mùi (1919) 104
3 Vân sách thi Đinh khoa Kỷ Mùi (1919) 130
Chuong IV: CÁI NHÌN CỦA MỘT NGƯÒI TRONG c u ộ c VỂ MỘT THÒI KHOA cử (Nghĩa Viên Nguyẽn Ván Đào và Hoàng Việt Khoa củ kính) 137
1 Nguyễn Vân Đào và bộ Hoàng Việt Khoa c ủ kính 137
2 Bàn dịch Hoàng Việt Khoa củ kính 140
Tiểu d ẫ n 140
Khoa củ tám nguyên 141
Lịch đại khoa thứ thí pháp thông khào >48 Triều Lý 148
Triều Trần 149
Phụ nhà H ổ 151
Triều Lê ' 152
Phụ Ngụy M ọ c 160
Lê trung h u n g 163
Quốc Triều 179
Tổng luận 219
Chương V: KINH SƯ ĐẠI HỌC ĐƯÒNG / NAM TRIỀU CAO ĐANG HỌC ĐƯÒNG) TRUỜNG Bổ TÚC KIẾN THỨC CỔ HỌC CHO NHỮNG NGƯÒI LÀM QUAN TRẼN ĐẤT TRUNG KỲ SAU KHI BÃI KHOA c ử 225
1 Hệ thống trường đào tạo quan lại tổn tại song song với hệ thống khoa củ tử chương những thâp niên cuối thế kỷ XIX - đáu thế kỷ XX 226
2 Kinh sư Đại học đường (Nam triều Cao đắng học đường) - trưòng bổ túc cổ học cho những người tân học sè được bổ làm quan ỏ Trung Kỳ 228
Thay cho lòi kết 247
Tài liệu tham khào chính 249
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Thế là đã 90 năm kê từ khoa thi tiên sĩ cuối cùna trong lịch sử khoa
cư Việt Nam - Khoa Ký Mùi Khải Định năm thứ tư, 1919 Lễ truyền
lô, vinh danh tiến sĩ từ dây khỏng còn nữa "Noao đầu trúng tuyên, Nhạn Tháp đề danh” chi còn là chuyện cũ ngày xưa Kỷ thi cuối cùng
ấy diễn ra trong khung cành giáo dục khoa cừ thế nào, hệ thống vàn bài
của nó ra sao, người lúc bay giờ II Li hì ve kết cục của khoa cử nói chung
thê nào, sẽ là những câu hoi của nhiều người chúng ta bây giờ
Đe góp phần giải đáp những câu hỏi ấy, chúng tôi biên soạn tập sách KHOA THI TIẾN s ĩ CUÓI CÙNG TRONG LỊCH SỪ KHOA
CỪ VIỆT NAM (Kỷ Mùi, Khải Định năm thứ tư, 1919) Kết cấu cùa tập sách như sau:
Chương I Khoa cử những thập niên cuối thế kỳ X IX - đầu thế kỷ X X
nhàm điểm lại nhữna điều chính YCU về khoa cử và giáo dục khoa cử giai đoạn này qua những kỳ thi, áp lực c ủa khoa cử đối với sĩ tử, thái độ cùa chính quyền và xã hội đối với khoa cử, trong đó đặc biệt nhấn mạnh thái độ phê phán khoa cử của các sĩ phu duy tân yêu nước Chính tiếng nói và sự đòi hòi cùa những người này đã buộc chính quyền thực dân phong kiến phải thay đổi phép ihi cải lương khoa cử, cải lương giáo dục I lán văn
Chương II Cải lương giáo chic khoa cử những năm đầu thế kỷ X X
(1906 - 1918) nhằm trình bày những thay đổi chủ yếu về nội dung của
chirưng trinh giáo dục khoa cừ, giáo dục Hán văn từ năm 1906 đến Học chính Tổng quy (22 - 12 - 1917) và dụ bãi khoa cử ngày mồng 4 tháng 11 năm thứ 3 niên hiệu Khai Định (1918) Ở giai đoạn này, có
Trang 6hai hệ thống giáo dục song song tồn tại: Giáo dục Pháp - Việt và giáo dục chừ Hán cải lương để cuối cùng đi đến phế bò giáo dục chừ 1 lán, phế bỏ khoa cử từ chương Có thổ nói, giai đoạn từ khi áp dụng chương trình giáo dục chừ Hán cải lirong (1906) đến dụ bãi phép khoa
cừ (1918) và chung cục là khoa thi tiến sĩ cuối cùng - K.V Mùi, nám thứ 4 niên hiệu Khải Định (1919) chính là quá độ 13 năm cho xoá bỏ khoa cử ờ Việt Nam, xóa bò giáo dục bàng chữ Hán, quá độ cho bước chuyển từ giáo dục trung đại sang giáo dục cận hiện đại dưới chế độ thực dân - phong kiến
Chương III Văn bài khoa tlii tiến s ĩ cuối cùng trong lịch sử khoa
cử Việt Nam (Kỷ Mùi, Kliải Định năm thứ tư, 1919), trình bày một số
vấn đề như: thời gian tổ chức thi, hệ ihống vãn bài Hán văn và quốc văn, số người đồ, biểu tạ ơn của khoa này để kỷ niệm về một thời khoa cử
Chương IV Cái nhìn cùa ngtrời dương thời về một thời khoa cử (Nghĩa Viên Nguyễn Vàn Đào và Hoàng Việt Khoa cử kính, là bàn dịch bộ sách Hoàng Việt Khoa cư kính do Nghĩa viên Nguyễn Văn
Đào (1888 - 1947), một người từng lặn lội trong vòng cử nghiệp chính
trong giai đoạn này biên soạn Bộ sách uHoàng Việt Khoa cử kính -
Gương soi khoa cử cùa nước Hoàng Việt” này được tác già hoàn thành vào mùa đông năm Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định năm thứ 4 (1919), năm diễn ra khoa thi tiến sĩ cuối cùng, một mặt, có thể coi như
là cái nhìn của người đương thời, nguời trong cuộc về khoa cử; mặt khác, nó lại là một sự giới thiệu khá gọn gàng cả tiến trinh khoa cứ
nước nhà Hoàng Việt Khoa cử kính với dung lượng 100 trang chừ
Hán (bản viết tay, ký hiệu VHv 1277, rhư viện Viện Nghiên cứu 1 lán
Nôm) và được đăng trone, nhiều số ở Phần chừ Nho, Nam Phong Tạp
chí (số 44, 45, 46, 48 của năm 1921 và 83, 84, 85 cùa nãin 1924) gồm
các phàn như sau:
- Tiểu dẫn.
- Khoa cử tầm nguyên.
- Lịch đại khoa thử thí pháp thông kháo.
- Tông luận.
Trang 7l ừ kết cấu cua ỉỉoànịỉ Việt klì./a cử kỉnh có thể thây dược cái nhìn
cua nụirời trong cuộc, cái nhìn CIK; nguừi dương thời vê khoa cứ cũng như có thê nhìn lại lịch sư khoa cư 1 1 1 rức ta với lịch sư 844 năm một cách có hộ thống theo tuyến thời liian Chúng tôi sư dụng bán dịch quyến sách trên và câu thành một chương trong sách của chúng tôi nhăm hai mục đích dó
('lurưng V Kinh sir Đại liực cỉitừng (Nam triêu Cao đăng học
itưừngi ¡922 - ¡925)) - Irirừnq bồi dường củ học cho những người ra ỉcint quan trẽn đất Trunq Kỳ Síiiỉ khi bãi khoa cử nhàm giới thiệu
chương, trình đào tạo 1 lán văn và cỏ hục cùng các tri thức cần thiết cho nhím ụ người sẽ ra làm quan tròn đàt Trung Kỳ sau khi bãi khoa cử Có thể coi dây chính là loại tnrờnụ khoa cứ hậu khoa cử Việc giới thiệu các văn ban có liên quan đến chương trình dào tạo của trường này nhàm minh chứng về một hành vi đáng được coi là "phán động lực” đôi với việc bãi khoa cử ngay chính tù chính quyền thực dân - phong
Cao dăng học đườnu nhăm tuyên chọn những người Trung Kỳ dã tôt
bâng; Cao dẳng Pháp chính ở 1 là Nội nliirng muốn được bố làm quan ở Trung Kỷ thì họ phải có thêm ũ.m bàng tốt nghiệp Nam triều Cao đăng học dường nữa Chương trình cùa Kinh sư Đại hục đường (Nam triều Cao đẳng học đườna) chủ yếu là chương trình Hán văn, cho nên
có thê coi nó như là sự “tái hồi lại giống” của khoa cử sau khoa cừ theo một nghĩa nào đó
Trên đây là kết cấu của tập sách mà chúng tôi soạn thào để kỷ niệm về một thời khoa cừ, tro ne đó, khoa thi tiến sĩ cuối cùng của lịch sử khoa cừ Việt Nam (Kỳ Mùi, nicn hiệu Khải Định năm thứ tư, 1919) với thi Hội, thi Đình - dược Cui là tiêu điểm và được lấy tên cho cà tập sách
Tác giả
7
Trang 8Chương I
KHOA CỬ NHỮNG THẬP NIÊN CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THỂ KỶ XX
Ke từ năm Át Mão, niên hiệu Thái Ninh thứ tư (1075), vua Lý Nhân Tông triều Lý mờ khoa tuyển Minh kinh bác học Tam trường đến khoa thi Hội và thi Đình cuối cùng năm Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định thứ tư (1919) triều Nguyễn, lịch sử khoa cử Việt Nam kéo dài trên 800 năm
“Trong khoảng thời gian ấy, đặt thi Hương thi Hội, phân biệt Chính Ân khoa, Tiến sĩ, Phó bàng, Cử nhân, Tú tài, xướng danh truyền lô, tứ yến, du nhai, khán hoa sao mà thịnh thế Khoa Hoành từ, Chế khoa, Nhã sĩ đợi chờ những tài năng phi thường Khoa Đông các,
Sĩ vọng, Minh kinh chọn lấy các vị học sâu kinh điển Với kẻ sĩ, mũ
áo cờ biển, vinh hiển tấm thân, bảng vàng bia đá, lưu danh mãi mãi Khoa cử ở nước ta tiến hoá theo thời gian Đến khoảng thế kỷ
XV, đi vào định chế Nhà nước ba nám mở một khoa: Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Hương; Sửu, Mùi, Thìn, Tuất thi Hội Mỗi kỳ thi Hương, Hội
có các trường thi ứng với các môn thi: kinh nghĩa, thi phú, chế chiếu biêu, văn sách Trên cái nền chung ấy cùa khoa cử Việt Nam, khoa
cử Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, một mặt, vừa mang những nét cơ bản, chung cho cả truyền thống khoa cử Việt Nam, mặt khác, lại là một giai đoạn có tính chất đặc trưng, phản ánh không khí của buổi giao thông Ẩu-Á, trong thời kỳ quá độ từ
1 Nghĩa viên Nguyễn Văn Đào Hoàng Việt Khoa cử kính, VHv 1277, Thư viện Viện
Nghiên cứu Hán Nôm.
Trang 9truyền thống đến hiện dại, trong hoàn cảnh nước mất chủ quyền, dưới ách thống trị thực dân - phong kiến
Nghiên cứu về khoa cừ những thập niên cuối thế kỷ XIX - đầu thế
kỷ XX ở đây được giới hạn từ năm 1884 - tới năm 1919 nhằm điểm lại những điều chính yếu về khoa cừ và giáo dục khoa cừ giai đoạn này, các chính sách của chính quyền đối với khoa cử, áp lực của khoa
cừ đổi với sĩ tử, thái độ phê phán khoa cử từ xã hội và nhất là thái độ phê phán khoa cừ cùa các sĩ phu duy tân yêu nước đầu thể kỷ XIX
1 ĐIẾM LẠI NHỪNG ĐIÉM CHÍNH YÉƯ VỀ KHOA c ừ NHỮNG THẬP NIÊN CUỎI THẾ KỲ XIX - ĐẢU THẾ KỶ XX (1884- 1919)
Khoa cử được tổ chức để thi tuyên chọn người ra làm quan, phục
vụ cho bộ máy hành chính chính quyền Do đó, để hiểu được tình hinh khoa cử giai đoạn này, trước hết phải có nhận thức chung về bộ niáy hành chính của chính quyền thực dân phong kiến giai đoạn này - nơi
sẽ tiếp nhận những người đồ đạt từ khoa cử Dưới đây là sự trình bày tổng quan về bộ máy hành chính đó
1.1 Bộ máy hành chính của chính quyền thực dân phong kiến
Trong Tuyên ngôn Độc lập đọc trước quốc dân đồng bào ngày
02 - 09 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát về chính quyền thực dân phong kiến do thực dân Pháp đặt ra nhu sau: “Chúng lập ba chế độ khác nhau ờ Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà cùa ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết” Ba chế độ khác nhau ấy là gì? Để hiểu điều này, chúng ta cần tóm lược quá trình xâm lược và đặt ách đô hộ của thực dân Pháp lên đất nước ta Quá trình xâm lược và đặt bộ máy thống trị cùa chúng như sau:
Ngày 01 - 09 - 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào bán đào Sơn Trà (Đà Nằng), mở đầu cuộc xâm luợc
Ngày 05 - 06 - 1862, thực dân Pháp chiếm ba tinh miền Đông Nam Kỳ bằng Hiệp ước 12 điểm
Ngày 14 - 03 - 1874, thực dân Pháp chiếm cả sáu tinh Nam Kỳ 10
Trang 10Năm 1879, thực dân Pháp lập được bộ máy cai trị ở Nam Kỳ.
Ngày 25 - 08 - 1883, thực dân Pháp buộc nhà Nguyễn phải ký hiệp ước Mác - măng, thừa nhận sự bào hộ cua Pháp Mọi công việc chính trị kinh tế ngoại giao cùa Việt Nam dều do Pháp nắm giữ
Neày 06 - 06 - 18X4 thực dân pháp diều chinh hiệp ước Hác - măng thành hiệp ước Patưnốt (Patennotre) Diều ước Patơnổt này dã đặt cơ sờ lâu dài và chủ yếu cho quvền đô hộ cùa Pháp ở Việt Nam, chia Việt Nam thành ba miền với ba chế dộ khác nhau Với việc ký điêu ước này, nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách là một nhà nước độc lập có chù quyền đã hoàn toàn sụp đổ (Đinh Xuân Lâm
(chú biên) Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, tái bản
lần thứ sáu, H., 2004) Từ đó trở đi, về hình thức ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ, song song tồn tại: chính quyền của ngươi Pháp và chinh quyền Nam triều của triều đình nhà Nguyễn, nhưng trên thực tế thực dân Pháp đã thâu tóm mọi sự điều hành
Tháng 07 - 1885, thực dân Pháp hổi thúc triều đình nhà Nguyễn lập Nha Kinh lược Bắc Kỳ, mà Dại sứ của nó đóng vai trò khâm sai, thay mặt triều đình giải quyết các công việc của Bắc Kỳ, cắt đứt mối liên hệ trực tiếp cùa triều đình với Bắc Kỳ Nhưng đến ngày 26 - 07 -1897, chúna băi cả Nha này để thâu tóm quyền hành Việc xây dựng chính quyền của thực dân Pháp được thực hiện qua các bước sau đây:
Ngày 17 - 10 - 1887, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Liên bang Dông Dương thuộc Pháp (17 - 10 - 1887: gồm 3 miền cùa Việt Nam, Campuchia; đen ngày 19 - 04 - 1889 có thêm Lào và đến năm
1890 gồm cả Quàng Châu Loan)
Đứng đâu Liên bang Đông Dương thuộc Pháp lậ toàn quyền Đông Dương Quyền lực của toàn quyền Đông Dương được thể hiện trong các sắc lệnh 17 - 10 - 1887; 12 - 11 - 1887; 21 - 04 - 1991 cùa tổng thống Pháp Toàn quyền Đông Dương là người thay mặt cho nhà nước Pháp và chịu trách nhiệm trước nhà nước Pháp về mọi mặt ờ Đông Dương
Ngay sau ký hiệp ước Patơnốt 1884, Pháp đặt tổng trú sứ Trung - Bắc Kỳ Song, theo sắc lệnh ngày 09 - 05 - 1889, chế độ tổng trú sứ Trung - Bẳc Kỳ bị bãi bỏ, Pháp đặt trực tiếp chức thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ