1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học

11 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học Nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học
Trường học Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Môi trường và Phát triển
Thể loại Bài tiểu luận cuối kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 183,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1: 1.1 Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học: Mất đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng của các loài thực vật hoặc động vật trên toàn thế giới, và cũng là sự suy giảm hoặc biến

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ HỌC PHẦN: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN

(Học kỳ I, Năm học 2021-2022)

GVHD:

Lớp: (Ghi chú: Theo mã lớp học phần môi trường và phát triển)

Họ và tên sinh viên:

Mã số sinh viên:

, ngày tháng năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC NỘI DUNG:

I Phần 1:

1.1 Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học………trang 3 1.2 Nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học……….trang 3 1.3 Hậu quả của việc suy thoái đa dạng sinh học……… trang 6

II Phần 2:

2.1 Đánh giá tác động tới môi trường trong quá trình hoạt động du lịch…… trang 7 2.2 Biện pháp giải quyết mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi

trường……… trang 10

Trang 3

NỘI DUNG:

I Phần 1:

1.1 Khái niệm của suy thoái đa dạng sinh học:

Mất đa dạng sinh học là sự tuyệt chủng của các loài (thực vật hoặc động vật) trên toàn thế giới, và cũng là sự suy giảm hoặc biến mất của loài tại địa phương trong một môi trường sống nhất định Hiện tượng thứ hai có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn, tùy thuộc vào việc suy thoái môi trường dẫn đến mất mát

có thể đảo ngược thông qua phục hồi sinh thái/khả năng phục hồi sinh thái hoặc

có hiệu quả vĩnh viễn (ví dụ như mất đất) Sự tuyệt chủng toàn cầu cho đến nay

đã được chứng minh là không thể đảo ngược Mặc dù tuyệt chủng vĩnh viễn trên toàn cầu là một hiện tượng mạnh mẽ hơn so với thay đổi khu vực trong thành phần loài, ngay cả những thay đổi nhỏ từ trạng thái ổn định lành mạnh cũng có thể có ảnh hưởng đáng kể đến lưới thức ăn và chuỗi thức ăn trong trường hợp giảm chỉ một loài có thể ảnh hưởng xấu đến toàn bộ chuỗi (cùng tuyệt chủng), dẫn đến giảm tổng thể đa dạng sinh học, các trạng thái ổn định thay thế có thể có của một hệ sinh thái Các tác động sinh thái của đa dạng sinh học thường bị ảnh hưởng bởi sự mất mát của nó Giả đa dạng sinh học đặc biệt dẫn đến giảm các dịch vụ hệ sinh thái và cuối cùng gây nguy hiểm ngay lập tức cho an ninh lương thực, và cho nhân loại

1.2 Nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học:

Những nguyên nhân phổ biển toàn cầu của suy thoái đa dạng sinh học và biểu hiện của chúng ở Việt Nam:

Việt Nam là một trong 16 quốc gia sở hữu sự đa dạng sinh học cao nhất thế giới Hơn 50.000 loài đã được xác định trong đó có 20.000 loài thực vật trên cạn và dưới nước, 10.500 động vật trên cạn, 2.000 loài động vật không xương sống và cá nước ngọt, cùng hơn 11.000 loài sinh vật biển Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy thoái đa dạng sinh học đang diễn

ra ngày càng lớn Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề này thông qua các chính sách, chiến lược quốc và nhiều dự án, suy thoái đa dạng sinh học vẫn đang là một thách thức rất lớn, đòi hỏi sự chung tay giải quyết của cả cộng đồng, bao gồm nhà nước, các tổ chức xã hội dân sự và đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất

Từ các dữ liệu phân tích, báo cáo cho thấy 21% các loài thú, 6,5% các loài chim, 19% các loài bò sát, 24% các loài lưỡng cư, 38% các loài cá và 2,5% các loài thực vật có mạch đã bị đe doạ Trong gần 20 năm trở lại đây, các khu vực có rừng là sinh cảnh bị ảnh hưởng nhiều nhất với hơn 10.544 km2 diện tích đất rừng đã bị mất, chủ yếu do chuyển đổi thành đất rừng trồng và đất trồng cây ăn quả Khoảng 2,8 triệu ha rừng tự nhiên cũng đã bị mất do chuyển đổi sang phát triển các loài cây trồng thương mại khác

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam, bao gồm cả những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, như khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, khai thác gỗ trái phép, buôn bán trái phép các loài hoang dã, các hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng thâm canh nông nghiệp, cũng như các hoạt động sản xuất kinh tế khác nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng gia tăng của con người

- Tác động của thương mại nông sản, lâm sản và hải sản:

Trang 4

Khi các cộng đồng không cách biệt, không giao lưu với nhau thì các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp chỉ đóng khung trong cộng đồng Vì vậy, nhu cầu khai thác hàng loạt để buôn bán, xuất khẩu quy mô lớn không xảy ra Tuy nhiên, khi các quốc gia phát triển với với những lợi thế tương đối khác nhau, với sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng thì việc khai thác và mua bán các loại nông sản, lâm sản và hải sản trở nên có quy mô lớn hơn Điều này đồng nghĩa với việc một số giống loài có thể bị hi sinh để nhường chỗ cho một vài giống loài có thể phục vụ cho nhu cầu phát triển thương mại của cộng đồng Các cộng đồng có thể hi sinh những giống lúa đặc hữu của mình để nhập và trông những giống lúa lai tạo có năng suất cao hơn phục vụ thương mại Những cánh rừng đước ngập mặn và những loài mà cuộc sống gắn liền với chúng có thể bị hi sinh để mang lại những sản lượng tôm lớn đủ cho xuất khẩu thu ngoại tệ Những tác động như thế này của thương mại nông sản, hải sản, thuỷ sản tác động xấu đến đa dạng sinh học Việc xuất khẩu cà phê với lợi nhuận cao

đã khiến cho diện tích đất trồng cà phê của Đắc Lắc tăng từ 52.418 ha năm 1993 lên 156.230 ha năm 1996 Phần lớn diện tích trồng cà phê là do phá rừng Việc hoạch định các chính sách kinh tế không thấy hết giá trị của môi trường và tài nguyên môi trường Đây là một thực tế dễ nhìn thấy ở các nước đang phát triển Do nhu cầu phát triển, nhiều quốc gia đang phát triển không thực sự chú trọng các khía cạnh môi trường trong các chính sách phát triển của mình Việc thực hiện chính sách mở cửa rừng cho các công ti xuyên quốc gia hay các công ti nội địa khai thác gỗ và lâm sản rõ ràng không tính đến tác động xấu đối với môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng Đối với Việt Nam đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng xẩu tới đa dạng sinh học

Chính sách đẩy mạnh xuất khẩu lâm thổ sản của nước ta trong những năm 1976

- 1986 đã góp phần rất lớn trong việc giảm diện tích rừng trong cả nước Từ năm 1976 đến 1980 Việt Nam đã khai thác và xuất khẩu 11.700m3 gỗ tròn Quy mô khai thác và xuất khẩu gỗ còn tăng mạnh trong giai đoạn 1986 - 1991 Trong giai đoạn này, 412 lâm trường đã khai thác gỗ xuất khẩu với số lượng tăng nhanh: Chỉ tính gỗ tròn, năm

1986 là 22.000m3, năm 1988 là 17.000m3, năm 1991 là 240.000m3 Một số chính sách khác như chính sách đất đai, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp, chính sách khai hoang mở rộng diện tích trồng lúa do thực hiện không tốt cũng đã góp phần thu hẹp diện tích rừng, tác động xấu đến đa dạng sinh học

- Sự bất bình đẳng trong việc sở hữu, quản lí và phân phối nguồn lợi :

Việc bảo tồn và sử dụng các nguồn sinh học mang lại nhiều lợi ích kinh tế to lớn Tuy nhiên, phần lớn các lợi ích này lại nằm ttong tay những nhóm các nhà kinh doanh chứ không thuộc về những cộng đồng đang sống và bảo tồn các nguồn sinh học Trên phạm vi quốc tế, nguồn lại của đa dạng sinh học thuộc về các nước phát triển chứ không phải các nước đang phát triển mặc dù phân lớn các nguồn lợi sinh học lại thuộc sở hữu của các nước phát triển Các nguồn sinh học được đưa từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển dưới dạng nguyên liệu thô, rất rẻ tiên song sau khi được chế biến, được chuyển sang các nước đang phát triển với giá cao hơn nhiều lần Chính sự bất cân bằng này trong phân phối các nguồn sinh học đã khiến cho các cộng đồng không còn quan tâm tói việc bảo tồn đa dạng sinh học

- Tình trạng thiếu kiến thức và sử dụng kiến thức bảo vệ đa dạng môi trường sinh học:

Trang 5

Đây là nguyên nhân phổ biến nhất đối với các nước nghèo, đang phát triển Sự kém hiểu biết của mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng về ảnh hưởng tiêu cực của suy thoái môi trường nói chung và và đa dạng sinh học nói riêng khiến họ khai thác hoặc huỷ diệt môi trường sinh thái một cách vô thức Việc đánh cá bằng chất nổ, bằng điện

là ví dụ sinh động cho tình trạng kém hiểu biết này Việc đốt cả cánh rừng chỉ vì khai thác một tổ ong mật cũng là ví dụ không xa lạ, nhất là đối với Việt Nam chúng ta Việc dùng hoá chất, điện, chất nổ để khai thác thuỷ sản là hiện tượng hiếm thấy ở các nước trên thế giới song lại rất phổ biến ở nhiều địa phương nước ta Những sự khai thác mang tính huỷ diệt, thiếu kiến thức và thiếu ý thức đang đe doạ nghiêm trọng đến

hệ sinh thái đầm phá Tam Giang - một trong những hệ sinh thái lớn đầm phá lớn nhất khu vực Đông Nam Á Vói diện tích 248,7 km2 phá Tam Giang là noi sinh trưởng của nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm của thế giới và của Việt Nam Tuy nhiên, tình trạng khai thác bừa bãi đang diễn ra ở vùng phá Tam Giang Riêng năm 2004, chỉ riêng các vụ vi phạm như dùng xung điện, chất nổ để khai thác đã được phát hiện và

xử lí là 200 vụ bằng khoảng 1/10 số vụ vi phạm Chính vì tình trạng khai thác trái pháp luật, ưái quy hoạch như vậy nên nhiều loài động thực vật quý hiếm này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Các hệ thống pháp lí và các định chế tạo điều kiện cho việc khai thác không bền vững: Pháp luật của nhiều quốc gia chưa thực thực chú

ý đến việc bảo vệ môi trường, đến khía cạnh phát triển bền vững Các hành vi chống lại môi trường, chông lại đa dạng sinh học chưa được xử lí hoặc được xử lí không đủ sức răn đe.Việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng các công trình

hạ tầng chưa được gắn với những đánh giá tác động môi trường Nhiều công trình công nghiệp đã gây tổn hại nghiêm trọng đến đa dạng sinh học

- Nguyên nhân đặc trưng suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam ?

Bên cạnh những nguyên nhân nêu trên, suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam còn xảy ra do các nguyên nhân đặc thù sau:

+ Hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại cho môi trường ở Việt Nam: Việc thiêu huỷ hàng triệu ha rừng bằng bom napan và chất độc màu da cam do Mỹ tiến hành

đã để lại di chứng nặng nề cho các hệ sinh thái ở nước ta Tính từ năm 1961 đến năm 1975, chiến ttanh do Mỹ thực hiện đã huỷ diệt 4,5 triệu ha rừng ở Việt Nam Khó có thể khắc phục được hậu quả này trong vài thập kỉ Không có quốc gia nào trên thế giới lại chịu sự tàn phá nặng nề của các cuộc chiến tranh lâu dài như đất nước ta đã trải qua kể cả về tổn thất về tài sản, con người và môi trường sinh thái + Tình trạng ô nhiễm nhanh chóng do sự phát triển các ngành công nghiệp chế biến mà không có những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn từ đầu: Các ngành công nghiệp giấy, rượu bia, thuộc da khai thác quặng đã làm cho hệ sinh thái tồn tại ở các vùng phụ cận bị tổn hại nặng nề Việc đổi lấy sự phát triển công nghiệp bằng sự đi xuống của môi trường là một trong những điểm dễ nhận thấy ở Việt Nam trong vài thập kỉ vừa qua Đây cũng có thể coi là một trong những nguyên nhân đặc thù của suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam

+ Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc ít người mà nhiều nhóm trong số đó có tập quán du canh, du cư: Trong số 54 dân tộc sinh sống ở Việt Nam thì có 50 dân tộc với khoảng 9 triệu người có tập quán du canh, du cư Các cộng đồng này thường sống ở vùng rừng núi Việc di chuyển của họ từ nơi đang sống sang nơi khác kéo theo sự mất đi của một diện tích rừng nhất định mà họ chặt đốt để làm nương rẫy

Trang 6

Cứ vài ba năm, họ lại di chuyển một lần như vậy Chính tập quán này cũng gây tác động không nhỏ đến việc chặt phá rừng, tác động xấu đến đa dạng sinh học ở nước

ta Chỉ riêng hình thức du canh, du cư đã biến 15 triệu ha rừng thành đồi trọc + Nhu cầu thưởng thức các món ăn, đồ uống chế biến từ động thực vật hoang dã

đã phát triển mạnh ở nước ta: Nhà hàng đặc sản thú rừng mọc lên khắp nơi và trở thành nguồn tiêu thụ mạnh các loài động vật hoang dã Nhiều người dân đã tìm mọi cách săn thú rừng quý hiếm để bán cho các nhà hàng đặc sản hoặc bán cho các tổ chức xuất khẩu bất hợp pháp sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các nước trong khu vực Điều này dẫn tới nguy cơ là một số loài thú quý hiếm của nước ta đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng

+ Sự thoái hoá nguồn gen do nhu cầu: Thực ttạng vấn đề nguồn gen trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam là một nguyên nhân của suy thoái đa dạng sinh học Đây cũng là nguyên nhân phổ biến toàn cầu song biểu hiện ở Việt Nam với những đặc thù riêng Việt Nam vào những năm 1970 - 1976, sản xuất 15 triệu tấn lương thực là mục tiêu xa vời Để đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, nền nông nghiệp nước ta đã sử dụng các giống mới có biến đổi gen hay lai tạo khoa học, các giống nhập nội có năng suất cao, chất lượng tốt Hiện nay có tới 70% giống dùng trong nông nghiệp nước ta là những giống có áp dụng tiến bộ khoa học

và biến đổi gen Tuy nhiên, thực tế này cũng dẫn đến sự biến mất hoặc suy thoái các giống bản địa truyền thống Những giống bản địa này có nhiều thuộc tính quý giá như khả năng thích nghi với khí hậu nhiệt đới, khả năng chống chịu sâu bệnh đặc thù của khí hậu và môi trường nhiệt đới gió mùa

+ Sự xâm nhập các loài lạ vào môi trường sinh thái Việt Nam Sự xâm nhập các loài lạ vào môi trường của Việt Nam có vẻ như tạo thêm sự đa dạng sinh học vì có thêm những loài mới Loài lạ được hiểu là loài tồn tại bên ngoài môi trường của các loài bản địa Tuy nhiên, sự xuất hiện của loài lạ nếu không được kiểm soát sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến đa dạng sinh học Sự phát triển quá nhanh của loài lạ này trong môi trường mới tạo ra nguy cơ đối với các giống loài khác vốn tồn tại trong khu vực bản địa của chúng Ở Việt Nam, việc kiểm soát loài lạ xâm nhập chưa được chú trọng đúng mức Người ta có thể đem vào môi trường bất kì động thực vật hay

vi sinh vật nào, miễn là nó không phải là loài gây bệnh dịch hoặc đang trong tình trạng bị bệnh Song trên thực tế, ngay cả khi một loài lạ không hề có khả năng gây bệnh dịch khi xâm nhập vào các hệ sinh thái ở nước ta thì cũng không thể coi là an toàn Tác động của các loài lạ không dễ thấy trước Trong những năm 1994 - 1995, nạn dịch ốc bươu vàng trên miền Bắc Việt Nam là một minh chứng cho vấn đề này

Sự xâm nhập và tác hại của ốc bươu vàng ở nước ta trong những năm đó là ví dụ điển hình Nó được nhập vào Việt Nam với mục đích kinh tế, được nhân giống và phổ biến khắp cả nước Do sự sinh sản nhanh và tạp ăn, ốc bươu vàng đã lan rộng với tốc độ vô cùng nhanh, không thể kiểm soát Thực tế, nó trở thành loài côn trùng gây hại vô cùng nguy hiểm đối vói cây lúa nước Hàng chục ngàn ha lúa nước trên nhiều tỉnh có nguy cơ mất ttắng Sự xuất hiện các loài lạ rõ ràng đang là một trong những nguyên nhân đáng lo ngại cho tình trạng suy thoái môi trường ở nước ta

1.3 Hậu quả của việc suy thoái đa dạng sinh học:

Đa dạng sinh học không những cung cấp trực tiếp những phúc lợi cho xã hội như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, năng lượng, mà còn

Trang 7

có giá trị đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trong ứng dụng thực tiễn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, y tế, du lịch…nó còn là một cấu thành quan trọng trong chiến lược bảo đảm an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo của cả nước Tuy nhiên việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên và quy hoạch phát triển chưa hợp lý đã tác động lớn tới đa dạng sinh học, gây suy thoái đa dạng sinh học Không những thế, đa dạng sinh học đã gây ra một số vấn đề nghiêm trọng như mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của trái đất, ảnh hưởng đến an ninh lương thực khiến con người phải đối mặt với rủi ro và đói nghèo Vì vậy, chúng ta cần nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của con người (Khuc, 2022; Van Khuc et al., 2021; Q Vuong, 2020; Q H Vuong, 2021) đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học

Trong thế kỉ qua, thế giới đã hiện thực hóa nỗ lực bằng cách thành lập các tổ chức phi lợi nhuận, mở nhiều cuộc hội nghị, kí kết công ước bảo tồn động thực vật:

Tổ chức bảo tồn Động thực vật thế giới Fauna & Flora International (Unknown, n.d.) (Andy Coghlan, 2016), Tổ chức động vật châu Á (Animals Asia Foundation) (hongkongvolunteer, 2017), Hiệp hội bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) (Thang Nguyen, 2021), Tổ chức bảo vệ động vật quốc tế - Animal Defenders International (ADI) (ADI, 2021), Ngày quốc tế Đa dạng sinh học vào ngày 22 tháng 5 hàng năm (Phương Dung, 2020), Công ước CITES (Đinh Thùy Dung, 2021)…

Từ ngày 11 đến ngày 15 tháng 10 năm 2021, Cuộc họp lần thứ 15 của các bên tham gia Công ước về đa dạng sinh học hay còn gọi là COP15 đã kêu gọi thế giới nhất trí về việc ngăn cản các cuộc khủng hoảng; hành động “khẩn cấp và phối hợp” của tất cả các bên Hơn nữa để giảm thiểu tình trạng mất đa dạng sinh học ngày càng nghiêm trọng, các quốc gia cam kết bảo đảm tham gia “Khung đa dạng sinh học toàn cầu sau năm 2020” một cách tích cực có hiệu quả Với tư cách là nước chủ nhà, Trung Quốc đã đi đầu trong việc phát động quỹ bảo vệ sinh học cho các nước đang phát triển và công bố khoản đóng góp 1,5 tỷ nhân dân tệ cho quỹ này (United Nations System Chief Executives Board For Coordination, 2021)

Chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững về đa dạng sinh học:

-Ưu tiên bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái, bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; bảo đảm kiểm soát việc tiếp cận nguồn gen

- Bảo đảm kinh phí cho hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc, thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học và quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học; đầu tư

cơ sở vật chất kỹ thuật cho khu bảo tồn, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học của Nhà nước; bảo đảm sự tham gia của Nhân dân địa phương trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học

- Khuyến khích và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đầu

tư, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức truyền thống vào việc bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng học

- Phát triển du lịch sinh thái gắn với việc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm ổn định cuộc sống của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn; phát triển bền vững vùng đệm của khu bảo tồn

Trang 8

- Phát huy nguồn lực trong nước, ngoài nước để bảo tồn và phát triển bền vững

đa dạng sinh học

II Phần 2 (5 điểm).

Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, có sự tham gia của nhiều ngành Hoạt động du lịch được diễn ra tại một số nơi, khu vực, nơi đó có tiềm năng tài nguyên du lịch đặc biệt rất nhạy cảm khi bị tác động của con người như tài nguyên tự nhiên, hệ sinh thái, môi trường và tài nguyên phi vật thể…Tuy nhiên, du lịch cũng mang lại nhiều lợi ích cho kinh tế, xã hội và môi trường Dưới đây, đánh giá tác động môi trường của quá trình triển khai thực hiện đề án quy hoạch phát triển du lịch

2.1 Đánh giá tác động tới môi trường trong quá trình hoạt động du lịch:

Tác động đến môi trường xã hội:

- Làm tăng sự phân hóa xã hội trong cộng đồng khi không có sự phân phối công bằng trong việc tạo ra nguồn thu nhập

- Các giá trị tài sản và giá cả sinh hoạt tăng lên nhanh chóng trong phạm vi địa phương, ảnh hưởng đến cuộc sống của cộng đồng

- Giảm sức sản xuất lương thực của địa phương (do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, lao động và ngành nghề)

- Gây sức ép lên các truyền thống và làm mất đi một số giá trị văn hóa của địa phương

- Tiếp cận với các khó khăn về tắc nghẽn giao thông, tiếng ồn, ô nhiễm không khí, quá tải trong dịch vụ giao thông

- Mâu thuẫn trong việc sử dụng tài nguyên (nguồn nước, rừng cây, vùng biển…) trong sử dụng cơ sở hạ tầng và dịch vụ (hệ thống cống, các nơi chứa chất thải, giao thông, trung tâm y tế) với các cơ sở khác

- Ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng (ô nhiễm từ chất thải rắn và lỏng, các bệnh dịch đến từ nơi khác, bệnh xã hội…)

Tác động đến chất lượng cuộc sống:

Về mặt vệ sinh môi trường:

Việc phát triển nhanh chóng các hoạt động du lịch có thể làm cho điều kiện vệ sinh môi trường tại các khu du lịch có nguy cơ bị ô nhiễm do sự gia tăng lớn của các chất gây ô nhiễm (rác, nước thải, khí thải) và các điều kiện tại chỗ chưa đủ khả năng

xử lý, thiếu nước cấp, trạng thái ồn ào, bụi bặm, tắc nghẽn giao thông Môi trường vệ sinh xấu sẽ là nguyên nhân cho bệnh dịch hoành hành và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của du khách và dân địa phương

Các khía cạnh văn hóa xã hội:

Những tác động về văn hóa và xã hội của du lịch được thể hiện góp phần thay đổi các hệ thống giá trị, quan hệ gia đình, lối sống tập thể, hành vi đạo đức, những lễ nghi truyền thống và tổ chức của cộng đồng

Bên cạnh đó còn góp phần tăng trưởng kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, xuất khẩu tại chỗ) Tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận cộng đồng dân cư địa phương Góp phần cải thiện điều kiện về hạ tầng và dịch vụ xã hội cho địa phương (y tế, thông tin, vui chơi giải trí) kèm theo các hoạt động phát triển du lịch Bảo tồn, nâng cao giá trị và khôi phục các di sản kiến trúc, nghệ thuật, vật thể và phi vật thể, văn hóa, thủ công mỹ nghệ, trang phục, phong tục truyền thống… bằng các nguồn kinh phí thu trực tiếp hay gián tiếp

từ hoạt động du lịch Phát triển du lịch tạo tiền đề cho việc khôi phục các sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng vốn đã bị mai một, đặc biệt là các lễ hội Nhiều lễ hội truyền thống của một địa phương riêng lẻ đã được nâng cấp

Trang 9

thành các lễ hội du lịch, thu hút số lượng lớn khách từ các vùng miền khác cùng tham gia

Tác động về văn hóa:

Hoạt động du lịch tác động đến văn hóa theo hai hướng Hướng thứ nhất, du lịch có thể là phương tiện bảo tồn nền văn hóa truyền thống, trong khi hướng thứ hai lại tác động ngược lại Du lịch đảm bảo cho du khách có cơ hội tốt để gặp gỡ và tiếp xúc với dân địa phương mà có tiếng nói, cách nghĩ và nếp sống khác hẳn Du lịch cũng chấp nhận các hình thức giao lưu văn hóa khác nhau, kể cả trao đổi quan điểm

và luyện tập các thứ tiếng khác Ngoài ra, ảnh hưởng của hoạt động phát triển du lịch đến văn hóa còn bao gồm:

- Kiến trúc truyền thống thay đổi để thu hút du khách

- Thay đổi cách nghĩ, quan niệm truyền thống để làm cho nền văn hóa địa phương thích nghi với khẩu vị, đáp ứng lòng mong đơi của du khách

- Thương mại hóa các hoạt động văn hóa truyền thống

- Tạo ra tình trạng chật chội, mất vệ sinh và có thể làm mất tính trang trọng đối với các nghi thức tôn giáo thiêng liêng truyền thống trong các lễ hội

- Nhu cầu của du khách về vật kỷ niệm, các đồ thủ công mỹ nghệ, các văn hóa phẩm đều có tác dụng tích cực và tiêu cực đối với văn hóa truyền thống

Ví dụ như, tác động tiêu cực là tạo cho người thợ thủ công thói quen thay đổi kiểm cách, mẫu mã sản phẩm truyền thống của mình để phù hợp hơn với nhu cầu của

du khách vì mục tiêu lợi nhuận Tác động tích cực là làm sống lại những truyền thống

và nghề thủ công cũ hoặc đã biến mất, tạo ra những vật kỷ niệm và mỹ nghệ phẩm để đáp ứng thị trường được mở rộng, từ đó bảo tồn và quảng bá truyền thống văn hóa bản địa

Tác động đến các thành phần của môi trường tự nhiên:

Trong quá trình hoạt động du lịch diễn ra sẽ xảy ra một số vấn đề sau:

- Tăng áp lực ô nhiễm môi trường do lượng chất thải từ hoạt động của khách du lịch trong quá trình tham quan du lịch và từ các cơ sở dịch vụ du lịch

- Tăng khả năng ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất và các hệ sinh thái từ các phương tiện dịch vụ vận chuyển, vui chơi giải trí, các cơ sở lưu trú…

- Tăng nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học do có nhu cầu về thực phẩm (đặc biệt là đặc sản), hàng lưu niệm (được làm từ các loài sinh vật quý hiếm) của du khách;

do sự tập trung lượng lớn du khách trong mùa giao phối…

- Tăng nguy cơ xói mòn vùng cát ven biển do phát triển các khu du lịch biển Như vậy, các thành phần của môi trường tự nhiên: đất, nước, không khí, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường cũng sẽ ảnh hưởng

Môi trường đất:

- Tăng hiệu quả sử dụng đất Việc xây dựng khách sạn, các dịch vụ du lịch rất cần đến quỹ đất do vậy sẽ góp phần tận dụng được những quỹ đất còn bỏ hoang và phần đất không sử dụng

- Tác động đến cơ cấu sử dụng, cấu trúc địa chất và thành phần đất

Môi trường nước:

- Ảnh hưởng đến diện tích lưu vực của các nguồn nước các sông suối Do các

đề án được triển khai cần giải phóng mặt bằng để xây dựng hạ tầng và cơ sở du lịch các khu vực do đó chất lượng nguồn nước bị kém đi, tăng các thành phần hòa tan, tăng cặn làm cho nước bị đục, ảnh hưởng đến chất lượng và lưu lượng dòng chảy

- Ô nhiễm môi trường nước từ các chất thải: chất thải rắn, nước thải từ các điểm

du lịch, các khu du lịch làm nhiễm bẩn môi trường đất và các nguồn nước Rác thải, bao bì ni lông, vỏ chai nhựa… do thải trực tiếp xuống cũng gây ô nhiễm nguồn nước

Trang 10

- Ảnh hưởng đến chất lượng và lưu lượng nước ngầm Do khai thác nguồn nước ngầm bừa bãi, do nạo vét, san lấp đất ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước ngầm

- Ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật

Môi trường không khí:

- Tăng ô nhiễm không khí từ các phương tiện giao thông vận tải, từ các dịch vụ

du lịch

- Ô nhiễm không khí gia tăng do hoạt động vận chuyển hành khách sẽ tác động đến bầu khí quyển, đến đời sống của sinh vật và thậm chí còn là nguyên nhân gây ra

sự di cư đối với nhiều động vật nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường không khí

- Nhu cầu đi lại gia tăng các loại phương tiện không đảm bảo chất lượng môi trường các loại khí thải có hại cho sức khỏe CO2, NO2, SO2…

- Gia tăng tiếng ồn

- Tác động của tiếng ồn gây mệt mỏi, ức chế thần kinh, tạo cảm giác khó chịu với đối tượng chịu tác động, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ Độ ồn cao sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người như gây mất ngủ, tạo cảm giác bồn chồn làm giảm nhu cầu du lịch

- Ô nhiễm không khí từ chất thải sinh hoạt của hoạt động du lịch: rác thải tại các khu du lịch không được thu gom và xử lý triệt để thường xuyên mà chủ yếu là xử

lý cục bộ nên dễ gây mùi khó chịu Bên cạnh đó, việc sử dụng ngày càng gia tăng các chất đốt rắn để đáp ứng nhu cầu về năng lượng của các cơ sở dịch vụ phục vụ du lịch gây nên những ô nhiễm không nhỏ bởi các loại khí độc hại thoát ra như CO, CO2, SO2…

Tài nguyên đa dạng sinh học:

Tác động các loại phương tiện như ô tô, xe máy và các hoạt động khác cũng tác động không nhỏ đến hoàn cảnh sống, nhịp điệu sống của các loài động vật đặc biệt là các loài thú, đã đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của nhiều loài động vật Các hoạt động

du lịch như đi thuyền tham quan… là nguy cơ đe dọa đến nhiều loài sinh vật dưới nước do khuấy động và ngẫu nhiên bị vướng vào động cơ

Cảnh quan môi trường:

Cùng với quá trình phát triển du lịch, lượng chất thải rắn cũng không ngừng tăng lên theo lượng khách và theo mức thải của nhu cầu sinh hoạt, ngoài ảnh hưởng ô nhiễm, các chất thải rắn không thu gom còn ảnh hưởng đáng kể tới mỹ quan của khu

du lịch, gây ấn tượng xấu khá đậm nét cho du khách, đặc biệt là các khách nước ngoài Nước mặt bị ô nhiễm từ nước thải dẫn đến trong nước có khá nhất chất bẩn, bùn, rác thải, chất thải đã gây hiện tượng bồi lắng ở các lưu vực sông làm cho nước không lưu thông được gây ô nhiễm khá nặng làm ảnh hưởng và giảm sức hút khách

du lịch Các chất có trong khí thải như NO, NO2, SO, SO2, SO3 là tác nhân phá hủy các cảnh quan trên đảo và giảm tuổi thọ của các công trình du lịch

2.2 Biện pháp giải quyết mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo vệ môi trường:

Về phía Nhà nước cần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường du lịch và nâng cao nhận thức về môi trường cho đội ngũ cán bộ hoạt động trong ngành

Du lịch; xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trên cơ sở có sự gắn kết giữa các trung tâm du lịch lớn trong nước trong khu vực và thế giới Xây dựng các tuyến giao thông theo quy hoạch tổng thể về du lịch, xây dựng kết cấu hạ tầng đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ở các khu sân bay, bến cảng, bến tầu và những khu du lịch trọng điểm sao cho gắn kết phát triển du lịch với bảo vệ môi trường; Ưu tiên đầu tư cho các dự án du lịch đã có các giải pháp cụ thể để giải quyết ô nhiễm môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trực tiếp cho cộng đồng xã hội ở cả hiện tại và tương lai; đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học công nghệ mới về bảo vệ

Ngày đăng: 05/12/2022, 18:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w