1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vì sao đảng chủ trương thống nhất nước nhà về mặt nhà nước (lịch sử đảng CSVN)

35 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vì sao Đảng chủ trương thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước?
Người hướng dẫn Phạm Thị Lương Diệu
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 82,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

-� -BÀI TẬP NHÓMMÔN HỌC: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực hiện: Nhóm

Mã lớp học phần: HIS 1001 K66A

Giảng viên giảng dạy: Phạm Thị Lương Diệu

Hà Nội - Năm 2022

Trang 2

Câu 1: Thống nhất đất nước về mặt Nhà nước: Vì sao Đảng chủ trương thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước? Chỉ đạo của Đảng để thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước? Kết quả, ý nghĩa?

1, Đảng chủ trương phải thống nhất đất nước về mặt nhà nước vì:

- Sau thắng lợi 1975, đất nước thống nhất về mặt lãnh thổ song mỗi miền lại tồn tại một tổ chức nhà nước riêng Thực tế này trái với nguyện vọng, tình cảm thiêng liêng của nhân dân hai miền Nam – Bắc là được sum họp trong một đại gia đình, mong muốn có một chính phủ thống nhất, một cơ quan đại diện cho quyền lực chung của nhân dân cả nước

=> Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (9-1975) đã

đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước

=> Việt Nam thực hiện thống nhất đất nước về mặt nhà nước ngay sauĐại thắng mùa Xuân 1975 vì đó là ý chí và nguyện vọng thiết tha của toàn dân tộc

- “Bọn xâm lược luôn luôn thi hành chính sách “chia để trị”, hòng thôn tính nước ta, áp bức, bóc lột nhân dân ta Cho nên, cuộc đấu tranh của nhândân ta vì độc lập dân tộc không tách rời cuộc đấu tranh vì thống nhất Tổ quốc

Tổ quốc độc lập hoàn toàn thì nhất định phải thống nhất; nước nhà thống nhất mới giữ vững được độc lập hoàn toàn và bảo đảm đời sống ấm no, hạnh phúc của toàn dân.” - Chủ tịch UBTVQH Trường Chinh [1]

2 Chỉ đạo của Đảng để thống nhất cả nước về mặt nhà nước:

- Ở Trung ương:

● Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 24 (hợp tháng 9/1975) đề

ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước

Trang 3

● Hội nghị Hiệp thương chính trị thống nhất đất nước về mặt nhà nước họp tại Sài gòn (từ ngày 15 đến 21/11/1975) đã hoàn thành nhất trí với chủ trương thống nhất đất nước về mặt Nhà nước của Đảng.

● Cuộc Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội chung (khóa VI) được tiến hành trong

cả nước ngày 25/4/1976

● Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam thống nhất kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội (Từ ngày 24//6 đến 3/7/1976) đã bầu các cơ quan, thông qua chính sách đối nội, đối ngoại của nước Việt Nam thống nhất

+ Đổi tên nước: CHXHCN Việt Nam (2/ 7/ 1976)

+ Quy định quốc huy, quốc kỳ, quốc ca

+ Đổi tên TP Sài Gòn – Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh

+ Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước

+ Bầu Ban dự thảo Hiến Pháp

- Ở địa phương: Chính quyền được tổ chức thành 3 cấp:

● Tạo điều kiện thuận lợi để phát huy sức mạnh của cả nước trên con đường đi lên CNXH

● Mở ra những khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ quốc tế

Trang 4

Câu 2: Con đường đi lên CNXH ơ Việt Nam được xác định ở thời kỳ trước Đổi mới (được xác định tại Đại hội IV,V)- các bước đổi mới bộ phận/cục bộ ở Việt Nam (1979-1986)

1 Cong đường đi lên CNXH ở Việt Nam được xác định ở thời kỳ trước

đổi mới ( tại đại hội IV,V)

1 Đại hội lần thứ IV: nêu rõ: ba đặc điểm lớn của đất nước khi bước vào

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

● Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ

biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

● Hai là, Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ

nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi rất lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra

● Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa của nước ta tiến hành trong hoàn cảnh

quốc tế thuận lợi, song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mang

và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn gay go, quyết liệt

Với ba đặc điểm trên, Việt Nam có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nhưng đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài, đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải phát huy cao độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng Trong 3 đặc điểm nêu trên, đặc điểm đầu tiên là lớn nhất, quy định nội dung, hình thức, bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở nước ta

=> Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới của nước ta là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kĩ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học-kĩ thuật là then chốt; đẩy mạnh

Trang 5

công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất xã hội chủ nghĩa xây dựng nền văn hóa mới; xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột người; xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu; không ngừng đề cao, cảnh giác; thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

2 Đại hội lần thứ V:

● Nhiệm vụ chung: giữ ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu của công cuộc phòng thủ đất nước, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, trật tự xã hội

● Nhiệm vụ chiến lược:

+ Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

+ Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

● Nội dung: Đại hội V đã thông qua những nhiệm vụ kinh tế, văn hóa

và xã hội, tăng cường Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chính sách đối ngoại; tiếp tục nâng cao tính giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, thực sự trong sạch, có sức chiến đấu cao, gắn bó chặt chẽ với quần chúng Qua đó, giúp đảng và nhà nước ta có những bước phát triển nhận thức mới, tìm tòi đổi mới trong bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội

b Các bước đổi mới bộ phận/cục bộ ở Việt Nam (1979-1986)

Đảng ta tiến hành đổi mới từng phần:

Trang 6

Thứ nhất, Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (tháng 8-1979) với chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất “bung ra” là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới ở nước ta Hội nghị đã tập trung vào những biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém trong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa;

● Điều chỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế, phá bỏ rào cản, mở đường cho sản xuất phát triển:

● Ổn định nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần dôi ra được bán cho Nhà nước hoặc lưu thông tự do; khuyến khích mọi người tận dụng ao hồ, ruộng đất hoang hóa

● Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc dưới mọi hình thức (quốc doanh, tập thể, gia đình);

● Sửa lại thuế lương thực, giá lương thực để khuyến khích sản xuất;

● Sửa lại chế độ phân phối trong nội bộ hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo định suất, định lượng để khuyến khích tính tích cực của người lao động

Thứ hai, Hội nghị Trung ương 8 khoá V (tháng 6-1985) đánh dấu bước đột phá thứ hai về đổi mới tư duy kinh tế với chủ trương:

● Dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá;

● Xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp;

● Chuyển mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa;

● Chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh Điểm quan trọng là Hội nghị này đã thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật của sản xuất hàng hoá

Thứ ba, tháng 8-1986, trong quá trình chuẩn bị Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI, Bộ Chính trị đã xem xét kỹ các vấn đề lớn, mang tính

Trang 7

bao trùm trên lĩnh vực kinh tế, từ đó, đưa ra Kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế:

● Trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ; công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc;

● Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta;

● Trong cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, nhưng đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng hoá – tiền tệ, dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá

Câu 3: Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam Tổ quốc (1975-1979) Tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ Quốc năm 1979

1 Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam tổ quốc (1975-1979)

Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia có chung khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do để hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng Thế nhưng ngay sau khi lên cầm quyền ở Campuchia vào tháng 4-1975, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đã phản bội lại nhân dân Campuchia, phản bội lợi ích dân tộc, thâu tóm quyền lực, tước đoạt mọi thành quả cách mạng, thi hành hàng loạt chính sách đối nội, đối ngoại cực kỳ phản động, hiếu chiến và tàn bạo

Không chỉ thi hành chính sách diệt chủng dã man, tàn bạo đối với đồng bào mình, được các thế lực phản động quốc tế giật dây, giúp sức, tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary đã thay đổi thái độ với Việt Nam, ra sức xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động hằn thù dân tộc, đòi hoạch định lại biên giới, coi Việt Nam là “kẻ thù số một”, “kẻ thù truyền kiếp” Từ năm 1975 đến 1978,

Trang 8

chúng trắng trợn mở nhiều cuộc tiến công xâm lấn, đánh chiếm các đảo, biên giới nước ta với quy mô, tần suất ngày một gia tăng, gây nên hàng loạt cuộc thảm sát đẫm máu đối với nhân dân ta dọc biên giới Việt Nam-Campuchia Hànhđộng của tập đoàn Pol Pot đã xâm phạm thô bạo độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, gây tổn hại cho mối quan hệ giữa hai nước.

Cuối năm 1978, chúng huy động 10 sư đoàn cùng vũ khí, trang bị, kỹ thuật về biên giới Tây Nam Việt Nam, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công xâm lược nước ta

Trước tình hình đó, đầu tháng 12-1978, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm mở cuộc tổng phản công-tiến công chiến lược trên tuyến biên giới Tây Nam; đồng thời sẵn sàng phương án hỗ trợ các lực lượng vũ trang (LLVT) yêu nước Campuchia đánh đổ tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary, giành chính quyền về tay nhân dân

Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, từ ngày 23-12-1978, bằng các đòn phản công, tiến công quyết liệt, quân và dân ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh đuổi quân Pol Pot ra khỏi lãnh thổ của Tổ quốc Tiếp đó, đáp lại đề nghị của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia và trên tinh thần quốc tế trong sáng, “giúp bạn là mình tự giúp mình”, Quân tình nguyện Việt Nam đã bất

Trang 9

chấp mọi hy sinh, gian khổ, phối hợp với LLVT Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia mở cuộc tổng tiến công giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (7-1-1979) và toàn bộ đất nước Campuchia (17-1-1979).

Ý nghĩa của cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam tổ quốc

Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc

đã đập tan âm mưu, thủ đoạn thâm độc của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary và các thế lực phản động quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xóa bỏ chính quyền phản động Pol Pot-Ieng Sary, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi bờ vực của thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự; chặn đứng mưu đồ chia rẽ truyền thống đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương

Chiến thắng ngày 7-1-1979 là thắng lợi chung của nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia; thắng lợi của tinh thần quốc tế cao cả, sự giúp đỡ vô

tư, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia Quan hệ Việt Nam-Campuchia chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ phát triển hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước dựa trên nguyên tắc hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, vì sự phát triển và phồn vinh của mỗi nước Đồng thời góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; vạch trần bản chất phản động của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary, cảnh báo cho nhân loại nguy cơ xuất hiện chủ nghĩa diệt chủng, chủ nghĩa phát xít mới

Chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc đã để lại nhiều bài học kinh nghiêm quý trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay

2 Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ Quốc năm 1979 Tình trong và ngoài nước:

Thời điểm đó, quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng trở lên căng thẳng Quan hệ Xô - Trung lúc đó chuyển từ bình thường, thậm chí tốt đẹp,sang đối đầu Quan hệ Liên Xô - Trung Quốc rạn nứt nghiêm trọng trong lúc quan hệ Liên Xô - Việt Nam ngày càng gắn bó

Trang 10

Khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng tàn bạo càng giành chiến thắng, quan

hệ Trung Quốc - Việt Nam cũng càng thêm căng thẳng, thậm chí xảy ra tranh chấp, xâm lấn biên giới Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc dần xấu đi nghiêm trọng khi Trung Quốc không đạt được mục đích gây áp lực với Việt Nam trong vấn đề Campuchia

Trung Quốc cũng tiến hành xúi giục người Hoa ở Việt Nam từ bỏ quốc tịch Việt Nam để trở về Trung Quốc, đồng thời lập trạm đón tiếp ở biên giới, đưa tàu sang đón Hoa kiều về nước Trung Quốc đã chuẩn bị trước cho cuộc chiến xâm chiếm Việt Nam, leo thang từng bước, từ gây áp lực trong vấn

đề Campuchia, dựng lên "sự cố Hoa kiều" và chuẩn bị về binh lực đi đôi với việc tuyên truyền

Diễn biến cuộc chiến

Ngay từ cuối năm 1978, Trung Quốc đã âm thầm lựa chọn, điều động lực lượng binh lực cùng số lượng lớn trang thiết bị vũ khí áp sát trên toàn tuyến biên giới với Việt Nam

Cũng từ tháng 1-1979, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động trinh sát vũ trang để chuẩn bị cho chiến dịch xâm chiếm dọc biên giới với Việt Nam Trong tháng 1 và tuần đầu tiên của tháng 2-1979, Trung Quốc đã gây ra hàng trăm vụ xâm phạm vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam, từ gây hấn cho tới tập kích, bắn phá các đồn biên phòng và trạm gác của Công an; phục kích, bắt cóc người đưa về Trung Quốc…

Đồng thời với việc chuẩn bị về binh lực, Trung Quốc đẩy mạnh việc chuẩn bị trên mặt trận ngoại giao, tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao con thoi

ở khu vực và thế giới, trong đó đặc biệt là chuyến công du Mỹ vào tháng 1-1979của lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình Trong nước, Trung Quốc cũng tiến hành chuẩn bị kỹ lưỡng về tuyên truyền với đỉnh điểm tuyên bố của Đặng Tiểu Bình "dạy cho Việt Nam một bài học"

Vào 3 giờ 30 phút rạng sáng 17-2-1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta Hướng tấn công

Trang 11

chủ yếu của quân Trung Quốc là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên.

Trước tình cảnh Tổ quốc lâm nguy, thêm một lần nữa, quân và dân Việt Nam không còn con đường nào khác là buộc phải cầm súng chiến đấu để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mình Đây là thử thách đầy khắc nghiệt với dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ

Đối mặt với đội quân xâm lăng từ bên kia biên giới phía Bắc đông tới

60 vạn người cùng hàng nghìn xe tăng và pháo hạng nặng, Việt Nam vào ngày 17-2-1979 chỉ có lực lượng công an vũ trang, dân quân địa phương và 7 sư đoàn với tổng số quân khoảng 7 vạn người Sự chênh lệch về lực lượng, về vũ khí trang bị là rất lớn

Thế nhưng, tinh thần chiến đấu của quân và dân ta là anh dũng vô song Lực lượng ít hơn đội quân Trung Quốc hàng chục lần nhưng quân và dân biên giới đã chiến đấu ngoan cường, anh dũng chặn đứng bước tiến của đội quânđông hơn gấp bội Những trận chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng khắc sâu vào tâm khảm chúng ta những chiến đấu anh dũng ở Pháo đài Đồng Đăng (Lạng Sơn); Bát Xát, Mường Khương (Lào Cai); Trà Lĩnh, Trùng Khánh (Cao Bằng); Pò Hèn (Quảng Ninh)

Sự đánh trả dũng mãnh bảo vệ biên giới của quân và dân ta đã gây thiệt hại nặng nề cho quân Trung Quốc Khoảng 6 vạn quân Trung Quốc đã bị thương vong cùng hàng trăm tù binh bị bắt sống Thiệt hại nặng nề trên chiến trường, bị dư luận thế giới lên án, Trung Quốc buộc phải rút quân vào ngày 6-3-1979

Câu 4: Tại sao Việt Nam phải tiến hành đổi mới? Nội dung cơ bản của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12 - 1986).

1 Tại sao Việt Nam phải tiến hành đổi mới

- Trong nước:

Trang 12

● Đất nước vừa trải qua nhiều năm chiến tranh, cơ chế tập trung, quan liêu, hành chính mệnh lệnh đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người, việc đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới chưa được đặt ra một cách đúng mức Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một mặt, tạo ra những thuận lợi vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mặt khác, cũng tạo ra tâm lý chủ quan duy ý chí cản trở sự phát triển nhận thức của Đảng Trên nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề,

hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế, hoạt động bị xơ cứng, kém hiệu quả Hoạt động của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng nhiều khi chỉ mang tính hình thức Tính độc lập, chủ động của Nhà nước bị vi phạm, hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước bị hạn chế Kinh tế - xã hội thiếu năng động Quyền làm chủ của Nhân dân không được coi trọng, phát huy một cách thực chất

●Do những sai lầm trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và quản lý kinh tế, tình hình kinh tế - xã hội đất nước ngày càng khó khăn: tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, lạm phát phi mã, hiệu quả đầu tư hạn chế, đời sống Nhân dân không được cải thiện, thậm chí nhiều mặt còn sa sút hơn Đất nước lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng

- Quốc tế:

●Chiến tranh kết thúc, sự viện trợ của các nước anh em giảm dần và chuyển sang hợp tác, trao đổi theo giá thị trường quốc tế Các thế lực phản động quốc tế câu kết với nhau chống phá quyết liệt cách mạng nước ta Chiến tranh bùng nổ ở hai đầu biên giới Mỹ tiến hành cuộc bao vây, cấm vận nước ta ngày càng khắc nghiệt Sau sự kiện Campuchia, nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong quan hệ đối ngoại, vị thế đất nước bị giảm sút trên trường quốc tế

2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

- Đại hội VI của Đảng diễn ra tại Hà Nội, 15-18/12/1986

- Nội dung cơ bản của đường lối do Đại hội VI đề ra

Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá thành tựu, nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết

Trang 13

điểm của Đảng trong thời kỳ 1975 - 1986 Đại hội chỉ ra những mặt yếu kém, những khó khăn gay gắt của kinh tế - xã hội nước ta.

● Đại hội rút ra 4 bài học kinh nghiệm lớn có ý nghĩa quan trọng đối với việc chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc XHCN

● Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phỉa quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

● Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan

● Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện lịch

Đại hội xác định rằng công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta phải trải

qua nhiều chặng đường: “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo.”

- Đại hội đề ra 5 mục tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chẳng đường đầu tiên:

● Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy

● Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất

● Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

● Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội

● Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng an ninh

- Đại hội đã đề ra phương hướng và các chính sách kinh tế - xã hội

Trang 14

● Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư; về xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế; phát huy mạnh mẽ động lực khoa học - kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đại hội nhấn mạnh giải pháp tập trung sức người,

sức của vào việc thực hiện 3 chương trình mục tiêu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

� Lương thực thực phẩm: Đủ ăn toàn xã hội; mức tiêu dùng lương thực thực phẩm tái sản xuất lao động

� Hàng xuất khẩu: Tại hàng xuất khẩu chủ lực để kim ngạch xuát khẩu tái nhập vật tư

� Hàng tiêu dùng: Cung cấp nhu cầu bình thường của người dân thành thị, nông thôn về sản phẩm công nghiệp thiết yếu

- Đại hội nhấn mạnh 3 chương trình mục tiêu đó là sự cụ thể hóa nội dung chính của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ

● Đại hội VI nhấn mạnh: “Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”

● Bốn nhóm chính sách xã hội là: Kế hoạch hóa dân số, giải quyết việc làm cho người lao động Thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực xã hội Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hóa, bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội

Những quan điểm về vấn đề kinh tế nói trên là 1 sự đổi mới rất căn bản trong tư duy kinh tế của Đảng

1 Đối ngoại: Tăng cường tình hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên

Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hào bình ở Đông Nam Á và trên thế giới Kết

Trang 15

hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hào bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt giữa 3 nước Đông Dương, quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa.

Ý nghĩa: Đại hội VI của Đảng là Đại hội khởi xướng đường lối đổi

mới toàn diện, đánh dấu ngoặt phát triển mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội

Câu 5: Công cuộc Đổi mới toàn diện ở Việt Nam từ Đại hội VI 1986) đến Đại hội XIII (1-2021): chủ trương (qua Cương lĩnh 1991; Cương lĩnh bổ sung 2011) và thành tựu trên các mặt: kinh

(12-tế - chính trị; văn hóa – xã hội; giáo dục – đào tạo; quốc phòng –

an ninh; quan hệ đối ngoại – hội nhập quốc tế…

1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện

Đại hội họp từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 tại Hà Nội Dự đại hội

có 1.129 đại biểu thay mặt cho 1,9 triệu Đảng Viên cả nước và 32 đoàn đại biểu của các Đảng và các tổ chức quốc tế Đại hội diễn ra trong bối cảnh sai lầm củađợt tổng cải cách giá–lương–tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế nước ta càng trở lên khó khăn Chúng ta không thực hiện được mục điều đề ra là ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn, nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển tình thế, tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên và như vậy phải có đổi mới tư duy

Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới:

Báo cáo chính trị của đại hội VI đã xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những chặng đường còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc

Trang 16

đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong những chặng đường tiếp theo.

Mục tiêu cụ thể về kinh tế- xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:

● Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy

● Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất

● Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

● Tạo ra chuyển biến tổ về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương phép nước

● Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh

Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế -

xã hội và đề ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế Coi nền kinh

tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, đổi mới chế độ quản lý kinh tế, dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, sang cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, phát huy động lực của khoa học kỹ thuật, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.Đại hội nhấn mạnh phải tập trung sức lực vào việc thực hiện được 3 mục tiêu:

Trang 17

trong thời kỳ quá độ, những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội

2. Do nhân dân lao động làm chủ Tất cả mọi công dân đúng độ tuổi quy định, không bị những hạn chế do nhà nước quy định đều có quyền tham gia bầu cử

3. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại

và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu - Có nền Văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no hạnh phúc,

có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân - Dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển Không phân biệt sắc tộc - Có quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt đường lối chính trị trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau

Cương lĩnh đã vạch ra 7 phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình xây

3. Thiết lập quan hệ sản xuất từ thấp đến cao, đa dạng về hình thức sở hữu

và phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất

4. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

5. Thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc

6. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam

Ngày đăng: 05/12/2022, 18:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w