1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng

150 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Đặc Điểm Cấu Trúc - Ngữ Nghĩa Của Tên Người Anh
Tác giả Nguyễn Việt Khoa
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Khang
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phõn loại ý nghĩa tờn người Anh theo các yếu tố tên họ, tên cá nhân và tên đệm, qua đó miêu ý nghĩa của chớnh danh người Anh trong sự liên hệ với ý nghĩa tờn người Việt.. Chẳng hạn, v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*******************************

Nguyễn Việt Khoa

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA

CỦA TÊN NGƯỜI ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 50408

Hà Nội – 2002

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*******************************

Nguyễn Việt Khoa

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA

CỦA TÊN NGƯỜI ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

Mã số: 50408

Người hướng dẫn khoa học : PGS TS NGUYỄN VĂN KHANG

Hà Nội - 2002

Trang 3

0.1 Đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3

Chương I

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN VĂN

1.1.1 Danh xưng học với việc nghiên cứu tên riêng 7 1.1.2 Đặc điểm về chức năng, ý nghĩa và ngữ phỏp của tờn riờng 8

Chương II

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TÊN NGƯỜI ANH

Trang 4

2.2 Đặc điểm cấu tạo của tên người Anh 45

3.2.3 Vài nét về đặc điểm lịch sử tên người Anh 94

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Tên người là một trong những mảng quan trọng bậc nhất trong hệ thống tên riêng, thuộc thành phần đặc biệt trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Tên người mang trong nó cả lịch sử, truyền thống, văn hoá cũng như tất cả những gỡ đặc trưng cho mỗi cộng đồng dân tộc nhất định Chính vỡ lớ do đó, đó từ lõu tờ n người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xó hội khỏc nhau như ngôn ngữ học, tâm lí học, xó hội học, dõn tộc học, triết học, gia phả học v.v

Trong ngụn ngữ học, bộ mụn chuyờn nghiờn cứu về tờn riờng là Danh xưng

học (Onomastics) với hai chuyờn ngành Nhõn danh học (Anthroponomastics) –

nghiên cứu tên về người và Địa danh học (Toponomastics) – nghiên cứu về tên

đất

Tên người là đối tượng nghiên cứu trực tiếp của chuyên ngành nhân danh học

Nhiệm vụ chủ yếu của nhân danh học là phát hiện ra những qui luật cơ bản về phân bố, nguồn gốc cũng như quá trỡnh biến đổi, phát triển của hệ thống tên người trong các ngôn ngữ

Việc nghiên cứu tên người trên quan điểm của ngành nhân danh học không chỉ đưa tới những thành tựu mang tớnh chất ngụn ngữ học mà cũn đem lại những lợi ích vượt ra khỏi khuôn khổ của ngôn ngữ học, từ đó nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc

Vấn đề nghiên cứu tên riêng chỉ người trên thế giới đó cú lịch sử từ thời Hy

Lạp cổ đại Tên người Anh cũng đó được nghiên cứu từ thế kỉ XVII (William

Camden 1623) và đó đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là sau khi có sự

ra đời của chuyên ngành nhân danh học

Trong luận văn này, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu tên người Anh trên hai phương diện cấu trúc và ý nghĩa và đặt chúng trong mối liên hệ với tên người Việt Trong hệ thống tên người, tên riêng mà cụ thể là chính danh (tức là tên khai sinh, tên chính thức) giữ một vai trũ quan trọng vỡ chỳng phản ỏnh được đầy đủ nhất các đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá của một cộng đồng nhất định Do vậy, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ có thể tiếp cận chính danh

Trang 6

của người Anh và tạm thời không đề cập tới các tên gọi khác Chúng tôi hy vọng

sẽ được trở lại đề tài này ở một bỡnh diện sõu rộng hơn

Như chúng ta đều biết, Vương quốc Anh (UK) là một quần đảo mà trên đó, ngoài dân tộc Anh (English) ra cũn nhiều dõn tộc khỏc sinh sống Bờn cạnh đó,

về mặt địa lí và hành chính, Vương quốc Anh cũn là một liờn hiệp gồm bốn đơn

vị là: Anh (England), Xcốt-len (Scotland), xứ Uên (Wales) và Bắc Ai-len (Northern Ireland) Do vậy, trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu cụ thể của chúng tôi là tên riêng (tên chính gồm các yếu tố Họ - Đệm - Tên cá nhân) của người Anh (English) sinh sống tại nước Anh (England) Trong khi xem xét tên người Anh, chúng tôi thường liên hệ với tên người Việt mà cụ thể là tên riêng của dân tộc Kinh sinh sống trên lónh thổ Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Theo lí thuyết định danh, tên riêng (trong đó có tên người) cùng với từ và cụm

từ là các đơn vị định danh Tuy nhiên, tên người là một dạng định danh đặc biệt

và có nội dung hoàn toàn khác với các đơn vị định danh khác

Với tư cách là một tín hiệu ngôn ngữ, tên người thể hiện vai trũ của mỡnh trong việc gọi tên một đối tượng duy nhất và cá biệt để phân biệt với những đối tượng khác Tuy nhiên, không chỉ có chức năng trong việc gọi tên, tên người cũn chứa đựng trong đó những giá trị biểu trưng hay nghĩa hàm chỉ nhất định Ngoài

ra, vỡ là hiện tượng xó hội, nờn quỏ trỡnh ra đời và phát triển của tên người cũng phản ánh chân thực và rừ nột cỏc biến động của xó hội loài người

Do vậy, mục đích của luận văn là tiếp cận bản chất ngôn ngữ học của tên người Anh trên cơ sở liên hệ với tên người Việt Để đạt được mục đích trên, chúng tôi tiến hành giải quyết các nhiệm vụ cụ thể mà luận văn đặt ra:

- Xác định và miêu tả đặc điểm cấu tạo về mặt hỡnh thức của tờn người Anh, sau đó sẽ tiến hành phân tích, miêu tả và mô hỡnh hoỏ đặc điểm cấu tạo của tên người Anh trong mối liên hệ với với tên người Việt

Trang 7

- Phõn loại ý nghĩa tờn người Anh theo các yếu tố tên họ, tên cá nhân và tên đệm, qua đó miêu ý nghĩa của chớnh danh người Anh trong sự liên hệ với ý nghĩa tờn người Việt

3 Tư liệu sử dụng trong luận văn

Hầu hết cỏc tên người Anh được chúng tôi xử lí để làm rừ nội dung nghiờn cứu của luận văn được khai thác từ các tài liệu điện tử của chính phủ Anh như danh bạ điện thoại trực tuyến, danh sách cử tri, danh sách danh nhân người Anh, danh sách nghị sĩ, v.v Ngoài ra, chúng tụi cũn thống kờ số liệu từ cỏc loại từ điển tên người Anh như các từ điển tên người in trên giấy, các từ điển tên người là sách điện tử, các phần mềm từ điển tên người, các bách khoa toàn thư trên đĩa CD cũng như các từ điển tra cứu tên người Anh trực tuyến Con số các tên họ, tên cá nhân và tên đệm của người Anh mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu là vào khoảng gần 1.000.000 tên

Về tên người Việt, ngoài việc tham khảo các số liệu về tên người đó được công bố trong các tài liệu, chúng tôi cũng sử dụng nhiều tên người thân, bạn bè, đồng nghiệp và khoảng hơn 6000 tên chính của sinh viên các khoá K44 và K45 – trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Các tư liệu nêu trên được chúng tôi thu thập, kiểm chứng, chỉnh lí và bổ sung sao cho phù hợp với nội dung và yêu cầu của luận văn

4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, miêu tả diễn dịch và qui nạp thông qua các thủ pháp như thống kê, so sánh, phân loại và mô hỡnh hoỏ đối tượng nghiên cứu Để tỡm ra cỏc đặc điểm riêng cũng như những nét khu biệt của đối tượng, luận văn thường sử dụng phương pháp so sánh tương phản

Cách tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu của luận văn cơ bản là dựa trên các đặc điểm đương đại của đối tượng Tuy nhiên, luận văn vẫn cố gắng tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu trên cả hai quan điểm đồng đại và lịch đại, qua đó có được cái

Trang 8

nhỡn xuyờn suốt và tương đối toàn diện về tên người Anh Song, do gặp nhiều khó khăn về nguồn tài liệu tham khảo, luận văn chưa thể đi sâu phân tích và miêu

tả tên người Anh trên tất cả các bỡnh diện liờn quan

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

chính sau:

Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN VĂN

Chương II : ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TÊN NGƯỜI ANH

Chương III : ĐẶC ĐIỂM í NGHĨA CỦA TấN NGƯỜI ANH

Trang 9

Chương I

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN VĂN

1.1 Tờn riờng và danh từ chung 1.1.1 Danh xưng học với việc nghiên cứu tên riêng

Ngành khoa học nghiờn cứu tờn riờng trờn tất cả cỏc bỡnh diện được gọi là

ngành Danh xưng học (Onomastics) Phạm vi nghiên cứu của ngành Danh xưng

học là rất rộng bởi vỡ gần như mọi thứ đều có tên và cũng bởi vỡ về mặt lớ thuyết, việc nghiờn cứu về tờn bao gồm tất cả cỏc ngụn ngữ, ở tất cả cỏc vựng địa

lí, văn hóa và các thời đại lịch sử khỏc nhau

Dựa trên mục đích thực tế, người ta có thể chia phạm vi nghiên cứu của Danh xưng học thành những nhóm nhỏ như theo ngôn ngữ (ví dụ: nghiên cứu tên riêng trong tiếng Hy Lạp ), hoặc theo tiêu chí địa lí, lịch sử (ví dụ: nghiên cứu tên riêng tại Trung Quốc, nghiên cứu tên riêng chỉ người thời Đế chế La Mó )

Dựa trên đặc điểm của tên riêng, người ta chia khoa học nghiên cứu về tên

riêng thành 2 chuyên ngành là Nhõn danh học (Anthroponomastics) và Địa danh

học (Toponomastics) Nhõn danh học là khoa học nghiên cứu về tên riêng chỉ

người hoặc tên người Địa danh học là khoa học nghiên cứu về tên đất, tên địa

điểm Tuy nhiên, hiện nay người ta thường dùng thuật ngữ “onomastics” để chỉ khoa học nghiên cứu về tên riêng và thuật ngữ “toponomy” để chỉ ngành khoa học

nghiên cứu địa danh

Thuật ngữ “địa danh học” (toponomy) có thể được hiểu theo 2 cách: theo nghĩa rộng hoặc theo nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này chỉ ngành khoa học nghiên cứu tên đất, tên đường, tên nhà, tên đất nước, tên núi non, tờn sụng, tờn hồ, tờn biển cả, tờn cỏc vỡ sao Theo nghĩa hẹp, thuật ngữ này chỉ ngành khoa học nghiờn cứu tờn địa điểm như tên thành phố, tên thị trấn, tên làng mạc

Việc phân chia ngành danh xưng học thành nhân danh học và địa danh học là

để thuận tiện hơn trong quá trỡnh nghiờn cứu tờn riờng Tuy vậy, để đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất, người ta thường nghiên cứu tên người và tên đất cùng nhau, bởi vỡ giữa 2 đối tượng này thường xẩy ra chuyển đổi Chẳng hạn, nhiều

Trang 10

tên đất có nguồn gốc từ tên người như “thành phố Hồ Chí Minh”, “thủ đô Washington”, tên các hành tinh theo thần thoại Hy Lạp – La Mó và nhiều tờn người có nguồn gốc từ địa danh như “Thành Nam”, “Hoà Bỡnh”, “Kỳ Anh”

trong tiếng Việt hoặc “French”, “Scott” trong tiếng Anh

1.1.2 Đặc điểm về chức năng, ý nghĩa và ngữ phỏp của tờn riờng

Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ “tên riêng” để chỉ tên gọi cá thể hoá hay tên cá thể Tên riêng bao gồm hai loại: nhân danh và địa danh Nhân danh

liên hệ đến một người hay một nhóm người (như anh Xuõn, họ Huỳnh của người Việt; cô Mary, dũng họ Curtis của người Anh) Địa danh đề cập tới một vùng vùng lónh thổ nhất định (như Hà Nội, London)

Tuy nhiên, trong vấn đề tên riêng vẫn cũn nhiều điều cũn bỏ ngỏ, nhất là khi

đi vào khảo sát các nội dung cụ thể như tiêu chí phân biệt tên riêng và tên chung, các kiểu loại tên riêng, đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, phạm vi hành chức chủ yếu

Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu ba bỡnh diện cơ bản của tên riêng: chức năng, ý nghĩa và ngữ phỏp

1.1.2.1 Chức năng của tên riêng

Một danh từ chung có thể được dùng để chỉ một nhóm thực thể và cũng có thể được dùng để chỉ một cá thể đơn nhất Tức là, danh từ chung vừa có nội dung ngữ nghĩa nhất định vừa chỉ một đối tượng hiện thực Ví dụ, người dân ở bói An Dương (Quận Tây Hồ - Hà Nội) nói “Đi bơi đi nhưng ở bể bơi chứ không phải ở sông đâu nhé” thỡ rừ ràng từ “sụng” ở đây đó hàm chỉ tới một cỏ thể duy nhất, một dũng sụng duy nhất, đó là sông Hồng Tuy nhiên, điều này không làm cho tên riêng của dũng sông này mất đi Rừ ràng từ “sụng” ở đây là một danh chung nhưng với một ngữ cảnh ngôn ngữ đặc biệt, nó đó chuyển sang chỉ một thực thể duy nhất Trong khi đó, tên riêng chỉ có một chức năng là chức năng biểu đạt

Chức năng này giúp phân biệt, nhận biết được sự vật, hiện tượng, con người mà không chỉ ra đặc tính phẩm chất của các đối tượng được gọi tên đó Một số danh

Trang 11

từ chỉ tên dường như thuộc về nhóm danh từ chung nhiều hơn là nhóm danh từ chỉ tên riêng như trường hợp “Sài Gũn” trong “sụng Sài Gũn” Vớ dụ các tên riêng như “Gũ Cụng”, “Rạch Rỏ”, “Bến Tre”, “Hà Nội” cú lẽ là bắt nguồn từ việc sử dụng danh từ chung một cỏch riờng biệt Nếu cõu “Chỳng tụi đi bơi ở cái hồ phía tây chứ không không phải phía đông” được lặp lại nhiều lần, thỡ cú thể cỏi tờn

“Hồ Tây” hoặc “Tây Hồ” sẽ được hỡnh thành với tư cách là một danh từ chỉ tên riêng Những tên riêng được hỡnh thành như cách ở trên phần lớn là những tên mang đặc điểm mô tả

Khi đề cập tới một đối tượng cụ thể, đơn nhất trong cả thế giới hiện thực hay tưởng tượng, tên riêng thể hiện được đầy đủ nhất chức năng gọi tên sự vật của mỡnh Chức năng này đó giỳp tờn riờng trở thành phương tiện nhận biết tốt nhất

Chẳng hạn, khi người ta nói: “Hemingway đó nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1954” thỡ ai cũng biết đó là nhà văn nổi tiếng người Mỹ Ernest Hemingway,

người đó viết cỏc tiểu thuyết “Chuụng nguyện hồn ai”, “ễng già và biển cả”

Sự khác biệt giữa danh từ chỉ tên và danh từ chung thường không khó xác định: danh từ chỉ tên được dùng để chỉ một đối tượng duy nhất, danh từ chung được dùng để chỉ tất cả các đối tượng trong cùng một nhóm hoặc là bất cứ một đối tượng nào đó trong nhóm (ví dụ như sông, núi, đàn ông, đàn bà, cái xe, cái bàn ) Tuy nhiên, cũng có trường hợp mà ranh giới xác định tỏ ra không hoàn toàn rừ ràng Vớ dụ “người Anh”, “người Việt”, “người Nga” thỡ được coi là danh từ chỉ tên, nhưng cũng có những nhóm người khác thỡ lại khụng được coi là danh từ chỉ tên và do vậy các từ ngữ như “chiến sĩ”, “thuỷ thủ”, “giới nghệ sĩ”

lại là danh từ chung Ngoài ra cũn nhiều danh từ khỏc rất khú xỏc định là danh từ

chung hay danh từ chỉ tên Chẳng hạn, nếu tất cả xe máy do ông Honda sản xuất

thỡ liệu “Honda” cú cũn là tờn nữa khụng? Nếu vẫn là danh từ chỉ tờn thỡ liệu nú

cú cũn giữ được đầy đủ những chức năng khu biệt với danh từ chung không?

Thực tế cho thấy, những tên loại này thường mất dần đi tính chất của danh từ chỉ tên và chuyển thành danh từ chung Ví dụ, sau khi thống nhất đất nước, rất nhiều

xe máy Honda được mang ra ngoài miền Bắc và người miền Bắc cú thúi quen gọi tất cả cỏc loại xe mỏy là Honda Hoặc hóng Sony đó rất thành cụng với loại mỏy

Trang 12

nghe nhạc bỏ tỳi Walkman đến nỗi người phương Tây có thói quen gọi tất cả các máy nghe nhạc loại này Walkman mà không quan tâm tới tên thương hiệu của chúng là gỡ Những tờn như “Roman Catholic Church” (Nhà thờ Cơ đốc giáo La Mó), “Mexico City” (thành phố Mexico) vừa cú biểu hiện của danh từ chung vừa

cú tớnh chất của danh từ chỉ tờn Tỡnh trạng khụng rừ ràng này là kết quả của việc viết hoa hay khụng viết hoa cỏc thành tố trong các ngôn ngữ khác nhau Vấn

đề này đó cú lịch sử lõu dài và được phản ánh trong hệ thống thuật ngữ hiện đại

Người Hy Lạp dùng thuật ngữ danh từ (onoma) để chỉ cả danh từ chung và danh

từ chỉ tên và khi muốn phân biệt, họ gọi danh từ chỉ tờn là danh từ riờng (onoma kyrion) Chính là từ truyền thống này mà người Anh dùng thuật ngữ “danh từ

riờng” (proper noun) hoặc “tờn riờng” (proper name) để chỉ các danh từ chỉ tên

và “danh từ chung” (common noun) để chỉ các danh từ không chỉ tên riêng

(appellative)

Ngoài chức năng gọi tên sự vật, tên riêng cũn cú chức năng ngữ dụng, tức là chúng được dùng như một phương tiện biểu hiện tỡnh cảm, quan hệ hay đánh giá đối tượng được gọi tên Điều này được thể hiện rất rừ ở tớnh đặc thù trong sử dụng tên riêng ở mỗi dân tộc, mỗi ngôn ngữ Chẳng hạn, việc gọi tên một người Anh theo tên cá nhân, theo tên họ, theo tên đầy đủ không có tên đệm, theo tên đầy

đủ với yếu tố tên đệm cũng phản ánh rừ mối quan hệ thõn, sơ, hay kính trọng cũng như địa vị xó hội của người người được gọi tên và người gọi tên Ở người Việt cũng vậy, thông thường người ta gọi nhau bằng tên tên như “anh Bỡnh”, “chị Mai”, “bà Hoà” v.v nhưng trong những bối cảnh giao tiếp mang tính hành chính

lại cần thiết phải gọi cả họ tên đầy đủ (anh Nguyễn Văn Bỡnh, chị Hoàng Thu

Mai, bà Trần Thị Hoà)

Như vậy, có thể thấy tên riêng có một số chức năng quan trọng sau: chức năng gọi tên, chức năng nhận biết, chức năng biểu đạt và chức năng ngữ dụng

1.1.2.2 í nghĩa của tờn riờng

Câu hỏi chung quanh vấn đề tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa đó cú từ khi con người biết đặt tên và cho đến nay vẫn là vấn đề thời sự trong nghiên cứu

Trang 13

tên riêng Vấn đề nghĩa của tên riêng luôn gắn liền với bản chất của tên riêng Vấn

đề ý nghĩa của tờn riờng (sense/meaning of proper name) là một vấn đề lớn và hiện nay vẫn cũn nhiều ý kiến trỏi ngược nhau xung quanh vấn đề này Trong giới nghiên cứu về tên riêng, có 2 trường phái nổi lên thu hút được nhiều sự chú ý Đó

là trường phái cho rằng tên riêng có nghĩa và trường phái cho rằng tên riêng không có nghĩa Cho rằng tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa cũng chính là khẳng định sự tồn tại hay không tồn tại của kết cấu vật chất bên trong tên riêng

Đại diện nổi bật của trường phái cho rằng tên riêng có nghĩa là Frege (Gottlob

Frege, 1848 – 1925) Ông và các tác giả có quan điểm giống ông cho rằng tên

riêng có nghĩa Bằng chứng là nếu thay đổi nội dung của những tên cùng tham chiếu thỡ sẽ thấy tờn riờng cú nghĩa Chẳng hạn: khụng ai nghi ngờ “sao Mai” là sao mọc vào buổi sỏng và việc nói “sao Hôm” mọc vào buổi sáng sẽ là trái với hiểu biết chung Khó khăn mà những người theo trường phái này gặp phải chính

là vấn đề diễn đạt, bày tỏ ý nghĩa của tờn riờng

Mill (John Stuart Mill, 1806-1873) là người đi đầu trong việc cho rằng tên

riêng khụng cú nghĩa, tức là tờn riờng khụng cú nghĩa hàm chỉ Cựng với Mill cũn

cú quan điểm của Kriple (Saul A Kripke, 1941 -) Theo Kriple, tờn riờng chỉ gọi

tờn sự vật một cỏch cứng nhắc, tờn riờng khụng cú nghĩa hàm chỉ Theo cỏc tỏc giả này, nếu tờn riờng cú nghĩa thỡ dường như cái biểu vật của tên riêng sẽ thay

đổi trong các thế giới khác nhau Mill cho rằng, tên riêng cũng giống như vệt phấn

đánh dấu, nó không có nghĩa mà chỉ có mục đích chỉ ra biểu vật Tuy vậy, vấn đề

mà những người theo trường phái Mill gặp phải đó là giải thích nội dung có tính

chất nhận thức hiển nhiên của tên riêng

Tờn riờng rừ ràng mang nội dung riờng biệt và được cá thể hoá chính bởi nguồn gốc của nó Nội dung của mỗi một tên riêng đều được qui định bởi người đặt tên hoặc cộng đồng đặt tên Những từ dùng để đặt tên có thể là để biểu thị sự tôn kính hoặc cũng có thể là để hàm chỉ tới một đối tượng khác mà người đặt tên mong muốn Dù mang nội dung nào đi chăng nữa mỗi cái tên vẫn là một cá thể riêng biệt với nguồn gốc riêng, người đặt tên riêng và lịch sử ra đời riêng

Trang 14

Có thể thấy, cả quan điểm cho rằng tên riêng có nghĩa và quan điểm cho rằng tên riêng không có nghĩa đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng Sẽ cũn cần nhiều nghiờn cứu sõu hơn nữa về vấn đề nghĩa của tên riêng trước khi có thể đi đến một kết luận hay một phát hiện cho vấn đề này

Tuy nhiờn, nhỡn một cỏc chung nhất, tờn riờng là cú nghĩa nhưng năng lực nghĩa của tên riêng dường như không trọn vẹn, đầy đủ như năng lực nghĩa của thực từ Trong khi nghĩa của thực từ được biểu hiện qua khỏi niệm của nú thỡ nghĩa của tờn riờng (nghĩa biểu vật) thể hiện thụng qua việc hỡnh thức õm thanh của nú tương quan trực tiếp luôn với biểu vật, rồi qua biểu vật mà tương quan với đối tượng biểu đạt Đây cũng chính là lí do để nảy sinh các quan điểm về việc tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa

Rừ ràng về phương diện ngữ nghĩa, tên riêng không có cấu trúc ngữ nghĩa như tên chung, nó cũng không có các mối liên hệ có tính liên tưởng và tính cấu trúc

Nội dung hàm chỉ của tên riêng (nội dung ngữ nghĩa) nảy sinh trên cơ sở các mối liên tưởng thường trực trong tâm thức của cộng đồng ngôn ngữ Nội dung hàm chỉ

ở tên riêng thường xuất hiện trong những ngữ cảnh nhất định và đôi khi chỉ bộc lộ trong trường hợp có tác động của những nhân tố nhất định ngoài ngụn ngữ Xột

Trong ví dụ này, người đọc dù muốn hay không cũng có một liên tưởng giữa

“Napoleon” và “Hoàng đế” Để hiểu đoạn văn trên, nhất định người ta phải cho rằng cả “Napoleon” và “Hoàng đế” đều hàm chỉ tới một đối tượng và rằng

“Napoleon” là “Hoàng đế” Đồng thời, cái tên “Hoàng đế Napoleon” gợi cho họ rất nhiều điều nằm ngoài phạm vi tác động của ngôn ngữ Giả sử, thay

“Napoleon” bằng “Nale” trong ví dụ nêu trên, chắc chắn người đọc sẽ đặt ra hàng loạt câu hỏi Chính những mối liên tưởng thường trực trong suy nghĩ của người

Trang 15

đọc đó khiến họ phải tỡm kiếm chớnh xỏc đối tượng định danh và kích thích việc tạo ra hỡnh tượng biểu cảm

Người ta thường cho rằng tên riêng dùng để gọi tên một người, một địa điểm, một sự vật v.v Cách định nghĩa này chỉ cú tỏc dụng trong một phạm vi hẹp và nếu nhỡn rộng ra thỡ nú sẽ vấp phải 2 vấn đề cơ bản sau: (1) Chẳng hạn, cụm từ

“Thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 2000” chỉ ra một người cụ thể nhưng người ta lại không cho nó là tên riêng Trên thực tế, đó cú một số nhà logic học coi những cụm như trên là tên riêng vỡ nú chỉ tờn một đối tượng duy nhất, nhưng trong thực tế giao tiếp xó hội những người sử dụng lại không nghĩ như vậy (2) Những từ ngữ thường được cho là tên riêng như “Adam”, “Eva”,

“Margaret” , thực tế lại không phải lúc nào cũng gọi tên những đối tượng cụ thể

Tại nước Anh chẳng hạn, hiện nay có rất nhiều người mang tên “Adam”,

“Margaret”

Rừ ràng cỏi được gọi là tên riêng lại không là tên riêng về mặt ngữ nghĩa, nhưng vấn đề là gọi tên như thế nào và dựa trên những căn cứ nào để gọi tên? Trở lại ví dụ trên, “Thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 2000” chỉ ra một người cụ thể bằng cách mô tả những đặc điểm mà người đó có, để từ đó có thể được gọi tên như là “giữ chức thủ tướng”, “đứng đầu chính phủ nước Việt Nam”, “đứng đầu chính phủ năm 2000” Nếu tại Việt Nam, người ta không dùng cụm “Thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam năm 2000” để nhắc tới ông

Phan Văn Khải thỡ nghĩa hàm chỉ của cụm trờn vẫn khiến người nghe liên tưởng

tới ụng Phan Văn Khải vỡ bản thõn ụng đáp ứng đầy đủ các đặc điểm mà cụm từ

nêu trên hàm chứa Trong khi đó, cái tên “Adam” gợi nhắc tới bất cứ người nào

có tên như vậy mà không cần chú ý tới các đặc điểm riêng có Nếu một người chưa được gọi là “Adam” và chưa từng có ai gọi anh ta như vậy, thỡ anh ta khụng được coi là “Adam” Như vậy, về mặt ngữ nghĩa, tên riêng có thể được coi là những cụm từ được dùng để gọi tên một người, một địa điểm, một đối tượng mà tất cả mọi người đều thống nhất gọi như vậy Tên riêng không bao hàm bất kỳ đặc điểm nào khác ngoài việc gọi tên đối tượng Cái tên “Adam” chỉ xác định một người được gọi là “Adam” và ngoài ra thỡ khụng cũn gỡ hết

Trang 16

Tóm lại, vấn đề nghĩa của tên riêng là rất phức tạp Quan niệm của các nhà

nghiên cứu trên vấn đề này rất khác nhau Những người theo trường phái Frege

thỡ cho rằng tờn riờng cú nghĩa nhưng lại không diễn đạt được, không giải thích

được tên riêng Ngược lại, những người theo trường phái Mill thỡ cho rằng tờn

riờng khụng cú nghĩa song lại khụng thể giải thích nội dung có tính chất nhận thức hiển nhiên của tên riêng Vấn đề đặt ra là nếu như tên riêng có nghĩa thỡ nội dung của nghĩa đó là gỡ? Nội dung của nghĩa tờn riờng chớnh là nghĩa hàm chỉ của nú Vậy nờn cõu hỏi là tờn riờng cú nghĩa hàm chỉ khụng? Câu trả lời có thể

là “Có”, có thể là “Không” tuỳ vào phạm vi liên tưởng Nếu tên riêng không có các mối liên hệ liên tưởng thỡ sẽ khụng cú nghĩa hàm chỉ Nếu tờn riờng cú cỏc mối liờn hệ cú tớnh liờn tưởng hoặc gợi ra những mối liên tưởng thỡ cú nghĩa hàm chỉ Chúng tôi cho rằng, để đạt được kết quả trong việc nghiên cứu ý nghĩa của tờn riờng thỡ cần phải xem xột ý nghĩa của tờn riờng trong bối cảnh ngụn ngữ

- xó hội cụ thể, tức là ở trong từng ngụn ngữ cụ thể với cộng đồng giao tiếp cụ thể (Community of Speech)

1.1.2.3 Ngữ phỏp của tờn riờng

Trong một số ngôn ngữ, tên riêng được phân biệt với danh từ chung bằng những phương tiện hỡnh thức Sự khỏc biệt giữa chỳng đôi khi được chỉ ra theo cùng một cách Chẳng hạn, những ngôn ngữ sử dụng bảng chữ cái La-tinh, Hy Lạp, Xla-vơ cổ, Ác-mê-ni phân biệt danh từ chỉ tên bằng cách chuyển chữ cái đầu tiên trong tên thành chữ hoa Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngược lại Trong tiếng Đức, tất cả danh từ đều được viết với chữ cái đầu tiên là chữ hoa Danh từ chỉ tên và danh từ chung cũng có thể được phân biệt qua phương tiện ngữ pháp như trường hợp bỏ quán từ “a” và “an” trong tiếng Anh Ví dụ: “Yesterday I saw

a baker making his cakes” và “Yesterday I saw (James) Baker making his cakes”

(Hụm qua tụi xem một người thợ làm bỏnh mỳ làm bỏnh; - Hụm qua tụi xem ụng

Baker làm bỏnh)

Rừ ràng, tờn riờng khụng chỉ đặc biệt về mặt ngữ nghĩa mà về mặt ngữ pháp cũng có nhiều điểm đáng lưu ý Chức năng của tên riêng là gọi tên đối tượng đơn

Trang 17

nhất cho nên tên riêng chủ yếu dùng ở số ít, không dùng ở số nhiều Chẳng hạn trong tiếng Việt, tên riêng không trực tiếp kết hợp với các từ chỉ số lượng như

những, cỏc để gọi tên một đối tượng cụ thể Ta không thể nói “những Nguyễn

Văn Ba” hay “các Vũng Tàu” (Nếu nói như vậy thỡ ý nghĩa hàm chỉ đó thay đổi.) Trong tiếng Anh, cũng xẩy ra tỡnh hỡnh tương tự, người ta không dùng hỡnh thức số nhiều với tờn riờng trừ những trường hợp đặc biệt (như gọi tên cả gia đỡnh) Cú một số tờn địa danh hoặc tên quốc gia trong tiếng Anh sử dụng hỡnh thức số nhiều như “The Philippines”, “The Great Lakes”, “The States” , song trong sử dụng người Anh luôn có thói quen coi chúng như những danh từ số

Cỏc tờn riờng cũng cú một tớnh chất khỏ quan trọng là chuyển thành cỏc từ loại khỏc trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Cú thể núi, hỡnh thức cấu tạo cỏc tớnh từ, động từ từ tên riêng là khá phổ biến trong các ngôn ngữ (mặc dù phương thức cấu tạo có khác nhau) Ví dụ:

- “Americanize” (Mỹ húa), “Victorian time” (thời nữ hoàng Victoria) trong tiếng Anh

- “Giữ chỳt gỡ rất Huế đi em”, “Việt Nam hoỏ chiến tranh” trong tiếng Việt

Ngoài ra, hỡnh thức cấu tạo danh từ chung từ tờn riờng cũng xuất hiện ở nhiều ngụn ngữ tuy khụng phải là một hiện tượng phổ biến

Như vậy, ngoài những đặc điểm ngữ nghĩa, tên riêng cũng mang những đặc điểm ngữ pháp khác biệt với nhóm danh từ chung

1.2 Khái niệm về tên người (nhân danh) 1.2.1 Mụ hỡnh chung về tờn người

Trang 18

Tên người hay tên riêng chỉ người (cũn gọi là nhõn danh) là một phạm trù rộng, bao gồm nhiều thành phần cũng như khái niệm ở bên trong Về cơ bản, một đứa trẻ mới sinh ra sẽ được đặt một cái tên để gọi (tại châu Âu và Bắc Mỹ, đứa trẻ thường được đặt tên tại Lễ Baptism (Lễ Rửa tội) Cái tên này thường được gọi là tên thánh, tên gọi, hay tên thứ nhất Để tránh nhầm lẫn về mặt thuật ngữ, chúng

tôi gọi tên này là tờn cỏ nhõn Do số lượng tên thánh là không nhiều, nên có rất nhiều người trùng tên với nhau và để phân biệt người ta dùng tờn họ (vớ dụ: John

Smith, John Hunter, John Scott ) Các tên họ thường có tính ổn định cao hơn và

được truyền từ đời này qua đời khác trong các gia đỡnh, gia tộc Do vậy, tờn họ

cú thể được gọi là tên gia đỡnh và tại cỏc nước phương tây (như Anh, Mỹ ), nó cũn được gọi là “tên cuối cùng” (last name) Từ đó có thể thấy mô hỡnh tờn người

cơ bản, thường trực ở các nước Âu – Mỹ là: Tên cá nhân + Tên gia đỡnh Trong khi đó, ở các dân tộc khác thỡ mụ hỡnh tờn người lại khác Thí dụ, tên người Việt, tên người Hoa cũng như tên người của một số dân tộc khỏc lại cú mụ hỡnh ngược lại với tên người Âu – Mỹ Cụ thể là tên gia đỡnh đi trước tên cá nhân, ví

dụ như Nguyễn Ái Quốc, Mao Trạch Đông thỡ “Nguyễn” và “Mao” là cỏc tờn

họ

Tuy nhiên, trong cấu trúc hoàn chính của tên người cũn một yếu tố nữa được

gọi là tên đệm Tại các nước Âu – Mỹ, người ta thường thêm một tên nữa song

song với tên cá nhân và đặt vào giữa tên cá nhân và tên họ trong mô hỡnh tờn người Tên này được gọi là tên đệm (tên giữa – middle name) hoặc tên thứ hai (second name) Tên đệm của một người có thể là tên họ thời con gái của mẹ người

ấy và tên đệm cũng có thể là tên họ thời con gái của người vợ được đặt giữa tên cá nhân của cô ta và tên họ của chồng Tại nước Anh, tên đệm ít được quan tâm hơn

so với tên họ và tên cá nhân Thông thường, người Anh chỉ sử dụng tên đệm tại

Lễ Rửa tội và Lễ Đặt tên chính thức (Confirmation), hoặc những dịp cực kỳ trọng đại mà thôi Tại phần lớn các nước châu Âu khác, người ta chỉ coi tên cá nhân thứ nhất mới là tên thực thụ và rất ít khi quan tâm tới tên đệm Tuy nhiên, trong cách gọi tên của người Đức thỡ cỏi tờn đi ngay trước tên họ lại là tên quan trọng nhất

Ví dụ: nếu phải bỏ đi một trong những tên thánh đi trước tên họ trong các tên

Trang 19

người như Johann Sebastian Bach và Johann Wolfgang von Goethe thỡ người

Đức sẽ bỏ tên “Johann”, tức là yếu tố thứ nhất trong cấu trúc tên người Tuy người Anh coi tên cá nhân (yếu tố đầu tiên) là quan trọng nhất nhưng cũng không

phải là không hề bị ảnh hưởng bởi phong cách Đức (chẳng hạn như cách viết W

Sidney Allen)

Nếu như tên đệm ít được quan tâm trong mô hỡnh tờn người châu Âu thỡ nú lại rất được chú ý trong mụ hỡnh tờn người các nước phương Đông Chẳng hạn, phần lớn tên người Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản có sự xuất hiện của yếu tố tên đệm Trong các ngôn ngữ này, tên đệm có vai trũ và chức năng riêng và gần như không thể thiếu được trong cấu trúc tên người

Tại chõu Âu cũng tồn tại một hỡnh thức đặt tên gọi là: đặt theo tên cha (patronymics), tức là đặt tên theo tên cá nhân của cha (hoặc mẹ) Tại nước Nga,

nếu tờn của cha là ẩõàớ ấðỷởợỹ (Ivan Krylov), thỡ tờn của con trai cú thể là ẽáỡð

ẩõàớợõốữ ấðỷởợỹ (Piotr Ivanovich Krylov) và tờn con gỏi cú thể là Íàỡàứà ẩõàớợớà ấðỷởợõà (Natasha Ivanovna Krylova) Trong giao tiếp thân mật, người

Nga thường chỉ gọi tên cá nhân và “yếu tố gọi theo tên cha” Tại Tây Ban Nha, tên họ của một người bao gồm tên họ của cha và tên họ của mẹ Trong 2 yếu tố này thỡ yếu tố đi trước được coi là quan trọng hơn Chẳng hạn, tên đầy đủ của thủ

tướng Tây Ban Nha hiện nay là Josộ Marớa Aznar nhưng thông thường người dân nước này gọi ông là Josộ Marớa

Ngoài những thuật ngữ như “tên cá nhân”, “tên họ”, “tên đệm”, khi nghiên cứu về tên người, đặc biệt là tên người châu Âu, chúng tôi cũn thấy một số thuật ngữ chỉ tờn người khác với những đặc điểm riêng biệt

Vỡ phần lớn phụ nữ chõu Âu khi lấy chồng thỡ phải đổi theo họ chồng, nên trong tiếng Anh xuất hiện thuật ngữ “maiden name” để chỉ tên thời con gái (trước khi đi lấy chồng) của người phụ nữ có gia đỡnh Để gọi một người với mục đích đùa bỡn, hoặc giễu cợt người ta thường dùng những từ mô tả đặc điểm tính cách, ngoại hỡnh của người được gọi tên và vỡ vậy ra đời thuật ngữ “nickname” (tạm dịch là tên lóng) Khác với người Việt hoặc người Hoa vốn cho rằng tên lóng không thể là tên chính thức, người châu Âu (trong đó có người Anh) lại phát triển

Trang 20

khá nhiều tên họ từ những tên lóng này Chẳng hạn các tên họ “Short”, “Black”,

“Brown” trong tiếng Anh lần lượt với nghĩa “thấp”, “đen”, “nâu” đều ra đời từ các tên lóng Tên họ cũng có thể được gọi là “byname” hoặc “to-name” để chỉ những người có cùng tên họ nhưng thuộc những gia đỡnh khỏc nhau và khi mà tờn cỏ nhõn khụng được đề cập tới Ví dụ, trong một làng có vài người mang họ

“Jones”, nếu không gọi bằng tên cá nhân, người Anh thường gọi là “Jones at the Pond” (Jones sống ở gần hồ) hoặc “Jones the redhead” (Jones tóc đỏ) Tại Xcốt-len và một số địa phương khác, tồn tại một một loại tên chỉ người khác gọi là

“clan name” “Clan” là những nhóm người có chung mối quan hệ họ hàng, chung niềm tin tôn giáo, chung bản sắc dân tộc, cùng sinh sống tại một vùng địa lí nhất định và thường không thể kết hôn với nhau Người Anh cũng như người châu Âu cũn cú hỡnh thức gọi “tờn thõn mật” hoặc “tờn õu yếm” Thuật ngữ chuyờn ngành gọi tờn người loại này là “hypocoristic name” Ví dụ như “Tom” là hỡnh thức gọi thõn mật của “Thomas”, “Pete” là hỡnh thức gọi thõn mật của

“Peter” v.v

Như vậy, có thể thấy tuy ít nhiều khác nhau ở yếu tố tên đệm nhưng nhỡn chung cấu trỳc tờn người cơ bản, đầy đủ là gồm 3 yếu tố: tên họ, tên đệm và tên

cá nhân Các yếu tố này tạo nên 2 mô hỡnh tờn người phổ biến nhất trên toàn thế

giới là: Tên họ + Tên đệm + Tên cá nhân và Tên cá nhân + Tên đệm + Tên họ

1.2.2 Sự chuyển dịch của tên người qua các vùng địa lí

Tên cá nhân chứa đựng trong nó nhiều điều phức tạp và không dễ giải quyết

Tuy vậy, lịch sử văn hoá của một dân tộc có thể phần nào được làm sáng tỏ thông qua việc nghiên cứu tên riêng Chẳng hạn, có thể tỡm thấy cõu trả lời cho tớnh phức tạp của hệ thống tờn người châu Âu qua hàng loạt các cuộc chuyển dịch dân

số, tôn giáo, văn hoá, chính trị v.v Đế chế La Mó cổ đại không những để lại cho các nước châu Âu ngày nay hệ thống luật pháp tương đối hoàn chỉnh mà cũn là

cả hệ thống tờn người rất đa dạng Ví dụ như các tên cổ Amanda, Antonio,

Cộline vẫn được dùng rất phổ biến tại Pháp và Italia Bên cạnh đó, cũn cú rất

nhiều tờn người bản địa hỡnh thành theo kiểu “La-tinh hoỏ” khi bị Đế chế La Mó

Trang 21

thống trị Sau này, khi La Mó lựa chọn Cơ đốc giáo, hệ thống tên người châu Âu lại trải qua những thay đổi to lớn thông qua việc lựa chọn các tên có nguồn gốc từ tôn giáo này

Châu Âu nói chung và nước Anh nói riêng cũng thừa hưởng rất nhiều tên người có nguồn gốc Hy Lạp do bị ảnh hưởng bởi nền văn học và nghệ thuật của

Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, nhiều tên người có nguồn gốc Hy Lạp và La-tinh khác lại phổ biến thông qua các nghi lễ của nhà thờ La Mó và Đế chế La Mó phương

Đông (Byzantium) như Christopher, Peter, Paul Tên người có nguồn gốc từ

Kinh Cựu ước (Old Testament – Do Thái cổ) cũng phổ biến tại nước Anh Ví dụ:

Amos, Bethany, Sam

Mặc dù Cơ đốc giáo là tôn giáo số một ở các nước châu Âu và những tên người có nguồn gốc từ tôn giáo này là khá phổ biến nhưng cũng có những nơi tại lục địa này tên người bản địa vẫn giữ được vai trũ quan trọng của mỡnh Tại Vương quốc Anh, người Xen-tơ (Celt), người Xcốt (Scot), người Uên (Welsh) vẫn có tên gọi riêng của mỡnh và khi cần thỡ cỏc tờn gọi này cú thể chuyển sang hỡnh thức tờn Cơ đốc giáo mặc dù giữa chúng chẳng có mối liên hệ nào Trường

hợp Alun (tên người Uên) chuyển thành Allan là một ví dụ Người Na Uy dường

như không mấy quan tâm tới tên người có nguồn gốc Cơ đốc giáo Một trong

những bằng chứng cho điều nêu trên là tên Torsten, vốn cú nghĩa là “hũn đá của

thần Thor” (một vị thần quyền lực nhất của thần thoại Bắc Âu)

Bên cạnh tên người có nguồn gốc La-tinh, Hy Lạp cổ đại và Do Thái cổ, tên người châu Âu cũn cú nguồn gốc từ tiếng Đức cổ (Germanic) Các bộ tộc Anglo

và Saxon di cư tới hũn đảo Anh từ các khu vực mà ngày nay là miền Bắc nước Đức Có thể nói, các tên người bắt nguồn từ các ngôn ngữ Bắc Âu và Đức cổ đó

mang lại một loạt tờn người rất phổ biến trên toàn châu Âu Ví dụ: Bernard (con gấu, người trung thành), Edward (người trông nom tài sản, người giầu có), Arnold (chim đại bàng), Henry (chủ gia đỡnh, người thống trị đất nước)

Có một điều khá thú vị là, trong khi tên người có nguồn gốc từ tiếng Đức cổ vẫn khá phổ biến tại nước Đức ngày nay thỡ tại Hy Lạp, những tờn người Hy Lạp

cổ lại không cũn phổ biến nữa Lớ do là, hệ thống tên người Hy Lạp đó chịu ảnh

Trang 22

hưởng sâu sắc của hệ thống La-tinh và Đức cổ khi các hệ thống tên người này lan tràn tới Hy Lạp Tên người Hy Lạp ngày nay cũng là kết quả việc hiện đại hoá một số ít các tên có nguồn gốc phi tôn giáo của người Hy Lạp cổ Tuy nhiên, nhiều hơn tất cả lại là những tên người bắt nguồn từ những nghi lễ của Đế chế La

Mó phương Đông, một đế chế vốn có gốc rễ từ chính Hy Lạp cổ đại

Khi những sự chuyển dịch này xẩy ra, người ta dù bắt buộc hay tự nguyện đó dần dần chấp nhận những tờn người từ một ngôn ngữ khác vào hệ thống tên người của dân tộc mỡnh và vỡ vậy ý nghĩa ban đầu của tên cũng mai một dần Kết quả của hiện tượng này là, những tên gốc đó biến đổi sao cho phù hợp với ngôn ngữ bản địa (trường hợp tên “James” của người Anh và “Jacques” của người Pháp) và qua thời gian, sự phù hợp với ngôn ngữ bản địa cũn thể hiện ở hàng loạt cỏc biến thể của tờn người ở cả khía cạnh chính tả lẫn phát âm (đấy là chưa kể đến vấn đề tên người biến đổi theo giới tính) Có thể kể ra những ví dụ rừ ràng nhất về các

biến thể từ tên gốc như Alexander trở thành Alex, Sandra hoặc Hanna (nữ),

John (nam) trở thành Sean, Zane, Yannick, Eoin, Shaughna, Ivan

Tuy nhiờn, tỡnh hỡnh như trên không phải lúc nào cũng xẩy ra cho dù cũng

có những dịch chuyển xó hội to lớn Những nền văn hoá giữ được tính độc lập nhiều hơn thỡ ớt phải đối mặt với tỡnh trạng nghĩa gốc của tờn người bị mất đi

Trong trường hợp này, tên người vẫn không thay đổi qua nhiều thế kỉ Chúng vẫn được sử dụng giống như khi chúng được sinh ra cùng với ngôn ngữ Trường hợp tên người Nhật và người thổ dân Hawaii là những ví dụ nổi bật nhất Cho tới gần đây, tên của họ vẫn giữ được những hỡnh thức và nội dung mang đậm nét đặc điểm dân tộc Ấn Độ lại là một trường hợp khác Các biến thể tên người chỉ xẩy ra trong phạm vi đất nước này và giữa các ngôn ngữ trên tiểu lục địa này mà thôi

Tên người Ả-rập lại không khó nhận ra cho dù chúng đó trải qua nhiều dịch chuyển địa lí Cụ thể, rất ít tên người Ả-rập có cách phát âm thay đổi và dù có thay đổi cũng là vỡ đó là những tên người mà hỡnh thức phỏt õm của chỳng khụng phự hợp với ngụn ngữ địa phương Ví dụ trong tiếng Li-băng, một ngôn ngữ có xu hướng loại bỏ những âm đũi hỏi nỗ lực khi phỏt õm, những tờn người

như Lu’lu’a và Nõ’ela (nguyờn õm bị tắc) sẽ vẫn được giữ nguyên hỡnh thức

Trang 23

viết trong cỏc văn bản chính thức nhưng cách phát âm thỡ cú thay đổi (phát âm là [lulwa] và [nayla]) Ngoài ra, cũn cú trường hợp giản lược tên gọi, hoặc giảm nhẹ

nghĩa (diminutive) như Barhum với nghĩa là “Ibrahim bộ nhỏ”

Với sự bành trướng của các đế chế Hồi giáo, tên người Ả-rập đó vươn tới tận Trung Quốc và Tây Ban Nha và thay đổi đôi chút cách phát âm sao cho phù hợp với ngôn ngữ bản địa Tuy vậy, cần phải nhấn mạnh rằng người Hồi giáo dù ở Trung Quốc hay Tây Ban Nha vẫn nói tiếng Ả-rập và do vậy tên người ít bị thay đổi hơn so với trường hợp tên có gốc Hy Lạp cổ được người Anh sử dụng Cũng

có một số tên người ở châu Âu ngày nay có nguồn gốc Hồi giáo nhưng lại không tỡm thấy dấu vết trong tờn người Ả-rập Chẳng hạn như tên “Eleanor” có lẽ mang nghĩa là “ (Thánh) Ala là ánh sáng của con” Dường như cái tên này đến với hai nước Pháp và Anh qua con đường Tây Ban Nha

Tên người gốc Ả-rập và Ba Tư thường có sự trùng lặp Người Thổ Nhĩ Kỳ sau này coi tiếng Ả-rập như một ngôn ngữ của tầng lớp cao trong xó hội như cách mà người châu Âu nhỡn nhận tiếng La-tinh, hoặc người Nhật, người Việt, người Triều Tiên nhỡn nhận tiếng Hỏn Thụng qua những mối liờn hệ văn hoá và địa lí giữa Trung Đông với khu vực Ba Tư, có thể thấy rất nhiều tên người gốc Hồi giáo

cho đến nay vẫn được sử dụng có gốc gác rất cổ Ví dụ: Joumana là một tên

người châu Âu ngày nay đó được sử dụng từ rất lâu trong thế giới Ả-rập tới mức

mà người ta cho rằng nó là một tên gốc Ả-rập Thật ra, đây lại là tên có gốc Ba Tư

và mang nghĩa là “ngọc trai”

Một số tên người tồn tại trước khi Hồi giáo ra đời đó bị những người theo tôn

giáo này cấm sử dụng Nhà tiên tri Mụ-ha-một (Mohammed) cho rằng có một số

tên không xứng đáng được sử dụng để gọi tên con người Ví dụ: Harb (chiến tranh), Murr (cay đắng), Kalb (con chó) Tuy nhiên, những tên này lại được

dùng trở lại làm tên họ vài thế kỉ trước với mục đích khác Đế quốc Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ bắt buộc người dân ở những vùng đất mà họ chiếm được phải mang những tên họ như trên

Có một điểm đáng chú ý là, trong nhiều trường hợp không thể xác định được một tên người thuộc gốc nào Ví dụ như trường hợp tên người gốc Ả-rập và tên

Trang 24

người gốc Do Thái cổ Người ta không thể xác định được một tên người nào đó là gốc Ả-rập hay gốc Do Thái, hoặc là được vay mượn từ tiếng Xê-ry hay tiếng Ai-cập cổ

Tiếng Ả-rập có đặc điểm là không vay mượn tên người từ một ngôn ngữ mà

nó không có liên hệ trực tiếp Cho nên, tên người châu Âu xuất hiện rất nhiều ở Trung Đông nhưng chúng không đi vào ngôn ngữ bản địa Bằng chứng là, các tên này được phát âm theo kiểu Pháp, Italia hay Anh tuỳ vào việc chúng đến từ đâu

Cũng có những kí tự mới được sinh ra để ghi lại các âm như /p/, /g/, /v/ trong các

tên Peggy hoặc Fulvio Tuy nhiờn, cú một ngoại lệ với những tên người gốc Hy

Lạp cổ đại Thực ra, những tên chỉ người này đến với khu vực Trung Đông dưới

thời Đế chế La Mó phương Đông trước khi Hồi giáo ra đời Ví dụ tên Boutros (Peter trong tiếng Anh) Mặc dù có hiện tượng này nhưng người Ả-rập vẫn hiểu

rừ ý nghĩa của phần lớn những tên người họ dùng Chính vỡ vậy, trong văn bản, người Ả-rập thường để tên riêng trong dấu ngoặc kép để phân biệt với từ thông thường Ngoài ra, tại từng nước Ả-rập cũng có những phong cách đặt tên khác nhau Chẳng hạn, trong khi tại Li-băng, người ta thích đặt những tên gần gũi với vốn từ thông dụng hàng ngày thỡ tại những nước Ả-rập khác, những tên có nguồn gốc văn chương hoặc tôn kính lại được ưa chuộng hơn

Tại Đông Á, cùng với sự lớn mạnh và bành trướng của các triều đỡnh phong kiến Trung Quốc, tên người Trung Quốc cũng theo đó mà lan rộng ra các quốc gia chịu ảnh hưởng Tuy nhiên, phần lớn chỉ bị ảnh hưởng bởi lí do đặt tên hay ý nghĩa của tờn mà thụi Núi cỏch khỏc, cỏc tờn người gốc Trung Quốc khi thâm nhập vào một ngôn ngữ sẽ một phần hoặc hoàn toàn thay đổi vỏ âm thanh cho phù hợp ngôn ngữ bản địa Trường hợp tên người Việt có nguồn gốc Trung Quốc là một ví dụ điển hỡnh

Ngày nay, khụng cú gỡ ngạc nhiờn khi thấy rằng cú sự lưu chuyển tên người giữa các quốc gia, các lục địa và việc mai một ý nghĩa ban đầu của tên người trở thành một điều hiển nhiên Người ta luôn cố gắng tỡm hiểu và gỡn giữ ý nghĩa

gốc của tờn vỡ đây chính là một trong những lí do để đặt tên Có lẽ Shakespeare

và sau đó là một số nhà văn khác là những người đầu tên sáng tạo ra một số tên

Trang 25

người như Miranda, Wendy nhưng việc sáng tạo ra tên mới chỉ đơn thuần vỡ

mục đích phát âm, đặc biệt đối với tên nữ Người Mỹ đi đầu trong việc chuyển tên

họ thành tên cá nhân Ví dụ: deForest, laToya Mặc dù được thừa hưởng văn hoá

và cả tập quán đặt tên của người Anh, nhưng người Mỹ cũng đi đầu trong việc truyền bá tên người Xen-tơ (Celt) và người Gael (người Xen-tơ nói tiếng Gaelic ở Xcốt-len) và tất nhiên điều này chẳng làm nước Anh thích thú gỡ Ngoài ra, người

Mỹ cũn “nhập khẩu” nhiều tên người từ những nền văn hoá phát triển như kiểu người Nga du nhập các tên gốc Pháp hay người Pháp du nhập các tên gốc Hy Lạp các thế kỉ trước đó Người Mỹ cũng quay trở lại với quan điểm tên riêng phải có nghĩa thông qua việc lựa chọn trong chớnh ngụn ngữ của mỡnh những từ cú “ý

nghĩa” để chuyển thành tên người Ví dụ: Melody (giai điệu), Sunshine (ỏnh nắng), Sky (bầu trời), Rainbow (cầu vồng) Tuy nhiên, nhiều tên trong số này chỉ

xuất hiện như hiện tượng mốt thời trang mà thôi

Túm lại, chính nhờ các sự chuyển dịch dân số, văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật

giữa các vùng địa lí, giữa các dân tộc mà tên người có điều kiện phát triển đa dạng như ngày nay Dựa tên lí thuyết về sự di chuyển của tên người mà ngày nay các nhà nghiên cứu có thể tỡm hiểu được nguồn gốc của rất nhiều tên người vốn đó rất mờ nhạt về ý nghĩa Việc nghiờn cứu cũng làm sỏng tỏ lịch sử phỏt triển văn hoá và ngôn ngữ của nghiều dân tộc, qua đó góp phần nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc

1.2.3 Những vấn đề ngôn ngữ - xó hội liờn quan đến tên người 1.2.3.1 Vấn đề đặt tên

Một trong những yếu tố quan trọng nhất của quỏ trỡnh đặt tên người là việc lựa chọn một tên gọi có ý nghĩa phự hợp với đối tượng được gọi tên Trong trường hợp này, khái niệm ý nghĩa của tờn gọi hoàn toàn khỏc với ý nghĩa của một danh từ chung vốn chỉ là “khả năng được sử dụng trong sự liên hệ với một nhóm thực thể để biểu thị hoặc gọi tên chúng” Tên riêng không có khả năng hàm chỉ một nhóm thực thể Nếu xem xét ý nghĩa của một danh từ chung, vớ dụ từ “xe hơi” (automobile), có thể thấy nó biểu thị một loại phương tiện giao thông (trong

Trang 26

số rất nhiều loại phương tiên giao thông) Mặt khác, nếu phân tích từ

“automobile”, ta có thể thấy rằng nó bao gồm thành tố: “auto” (tự mỡnh) gốc Hy Lạp và “mobilis” (cú thể di chuyển) gốc La-tinh Do vậy, ý nghĩa tổng quỏt mà cả

2 thành tố tạo nờn là “cú thể tự chuyển động” Như vậy, ý nghĩa của tờn cú liờn quan tới ý nghĩa của từng thành tố cấu thành lờn nú Theo cỏch hiểu này, ý nghĩa của một tờn như “Sông Hồng” chẳng hạn là rất rừ ràng Song, để hiểu ý nghĩa của

một tên người như Philip phải quay trở lại với nguồn gốc Hy Lạp của tên gọi này

Cụ thể Philip có gốc từ “Philippos” với nghĩa “người yêu thích ngựa”

Tuy nhiờn, loại ý nghĩa này lại thường bị mai một và mất đi Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là vỡ tờn riờng được một ngôn ngữ khác sử dụng như trường hợp các tên gốc Hy Lạp được sử dụng ở các nước châu Âu thông qua Cơ đốc giáo Ngoài ra, tên riêng có thể mất đi ý nghĩa ban đầu của nó thông qua

những sự thay đổi trong ngôn ngữ Ví dụ: địa danh Birmingham trong tiếng Anh

cổ có nghĩa là “ nơi ở của người Blorma” và tên cá nhân Gerard trong tiếng Đức

cổ có nghĩa là “ngọn giáo mạnh mẽ” Tên riêng cũng thay đổi vỡ hiện tượng rút

ngắn của các tên gốc tương đối dài Vớ dụ Alexander trở thành Alex hay Sandra

Một trong những nguyên nhân khá phổ biến làm cho tên riêng mất đi ý nghĩa ban đầu của nó chính là việc nó được sử dụng quá phổ biến Chẳng hạn khi đề cập tới

địa danh Oxford nổi tiếng ở Anh, người ta không hề để ý tới ý nghĩa “chỗ suối cạn

cho bũ lội qua” (ford for oxen), hoặc trong tiếng Việt, người ta cũng không băn

khoăn xem có liên hệ gỡ nếu một ụng tờn là Bạch mà lại có nước da đen Cuối

cùng, có ý kiến cho rằng nhiều tờn riờng đó khụng cú nghĩa gỡ ngay từ lỳc sinh

ra

Gần như không có một sự kiện chính thức nào đánh dấu việc đặt tên một thành viên mới ra đời trong các nền văn hoá phương Tây, ngoại trừ việc đặt tên thánh trong Lễ Rửa tội của những người theo Cơ đốc giáo Tuy nhiên, việc đặt tên lại là một nghi lễ quan trọng và nhiều khi là thiêng liêng ở nhiều nền văn hoá

khác Chẳng hạn, người thổ dân da đỏ sống ở Delaware (Hoa Kỳ) coi tờn của

mỡnh là một mún quà thiờng liờng mà thượng đế tặng cho và chỉ những người mà cộng đồng cho là hiểu biết mới có thể đặt tên Ở một số cộng đồng khác (người

Trang 27

Shawnee ở Ohio, Hoa Kỳ), mỗi một người đặt tên sẽ cân nhắc về một tên nào đó

khi họ thức giấc vào lúc nửa đêm và hôm sau họ sẽ giới thiệu những tên đó để cha

mẹ đứa trẻ lựa chọn

Tại Hawaii, việc đặt tên một thành viên mới ra đời lại là công việc của toàn

gia đỡnh Tờn đứa trẻ có thể để đánh dấu một sự kiện quan trọng nào đó, cũng có thể để ghi nhớ tới một người hoặc một địa danh nào đó, thậm chí là cả những điều

xẩy ra trong giấc mơ Tại Samoa, cỏc ụng bố bà mẹ người Polynesia không tự đặt

tên con cái của mỡnh Họ quan niệm rằng đây là công việc của các bậc ông bà và chỉ diễn ra khi có cuộc gặp gỡ của cả gia đỡnh Điều này này phản ánh sự tồn tại của quan niệm cho rằng chỉ có các thế hệ ông bà mới có đủ kinh nghiệm nuụi dạy con cỏi của cỏc cặp vợ chồng trẻ

Người Akan (ở Ghana và Bờ Biển Ngà) lại có truyền thống để cho bà đỡ đặt

một phần tên đứa trẻ sơ sinh theo tên các ngày trong tuần Phần cũn lại của tờn sẽ được cha đứa trẻ hoàn thành vào buổi sáng thứ 7 kể từ ngày sinh

Những người dân sống trên đảo Truk (Tõy Thỏi Bỡnh Dương) không tổ chức

một nghi lễ chính thức nào để đặt tên đứa trẻ sơ sinh nhưng họ lại lựa chọn tên gọi rất cẩn thận Đó là một cái tên có tính định hướng nghề nghiệp Các thành viên của bộ tộc bên mẹ lựa chọn cho đứa trẻ những tên có liên quan tới công việc mà

họ mong muốn đứa trẻ sau này sẽ làm (như chèo thuyền, đánh cá, chiến binh )

Tất nhiên, người mang tên có thể thay đổi cho phù hợp sau này

Đối với nhiều dân tộc, ý nghĩa của tên người rất quan trọng và là một phần không thể thiếu được khi đặt tên Những người theo Cơ đốc giáo cũng lựa chọn ý nghĩa cho tờn gọi khi đặt tên đứa trẻ theo tên thánh hoặc tên một lễ hội tôn giáo gần với ngày sinh của đứa trẻ Ví dụ tên “Asunción” với Lễ Truyền tin

Anunciaciún tại Tây Ban Nha và tên “Ramadan” với Tháng Ăn chay Ramadan

của người Hồi giáo Mặc dù người Hồi giáo không có các vị thánh giống như người Thiên chúa giáo nhưng việc lấy tên các nhân vật tôn giáo để đặt tên lại rất phổ biến Ngoại trừ người Tây Ban Nha, phần lớn người theo Cơ đốc giáo có thể

hơi chần chừ khi đặt tên con của họ là Jesus (theo tên chúa Giê-su), nhưng người Hồi giáo lại không hề e ngại khi đặt tên con là Muhammad (theo tờn nhà tiờn tri

Trang 28

Mohammed của Hồi giỏo) Chớnh vỡ vậy, đây là tên người phổ biến nhất với rất

nhiều biến thể về chính tả trong thế giới Hồi giáo Trong khi người dân Hawaii không bao giờ lấy tên các vị thần đặt tên cho con cái của họ thỡ người theo Ấn Độ giáo chính thống lại trực tiếp lấy tên các vị thần đặt cho con cỏi của mỡnh như là hiện thân của các đấng tối cao Đôi khi, tên gọi thứ 2 (hoặc tên đệm) có nghĩa

“vợ”, “chồng” hoặc “hậu duệ” của các vị thần để tạo lên mối quan hệ gần gũi giữa tên gọi và các thần linh Những tên thần thánh này có thể được thay thế bởi tên của các vùng đất thánh, các hành tinh cũng như các biểu trưng nổi bật Cũng có khi tên gọi lại là tên của một nữ thần đi kèm với tên của chồng nữ thần đó theo trật tự không đổi

Tên người cũng thể hiện mong muốn của cha mẹ về những điều tốt đẹp gửi gắm vào những đứa con Người Trung Quốc, Việt Nam cũng như người dân ở nhiều nước khác đặt rất nhiều kỳ vọng vào con cái mỡnh qua cỏc tờn gọi mà họ

đặt Ví dụ, trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam, các tên Hùng,

Cường, Dũng, Chiến, Thắng rất phổ biến trong toàn dân đó thể hiện mong muốn

chiến thắng kẻ thự, giải phúng dõn tộc và sinh sống trong hoà bỡnh của toàn dõn tộc Việt Nam Trong khi đó, người Nhật thường đặt những cái tên có tính chất cân bằng cho đứa trẻ Chẳng hạn, nếu đứa trẻ hay khóc họ sẽ đặt tên sao cho nghe có

vẻ ít ồn ào; nếu đứa trẻ biếng ăn họ sẽ đặt tên gọi nhắc tới việc phàm ăn

Ở nhiều dân tộc, số đếm và số thứ tự cũng được dùng để làm tên gọi Trong nhiều trường hợp các con số này đơn giản là sự ghi nhớ thứ tự các lần sinh nở của

bà mẹ mà thôi Có nơi, tên người lại được đặt theo tên ngày tháng bất kể là âm lịch hay dương lịch hay lịch địa phương Tại Myanma, có một tập quán đặt tên khá thú vị: chữ cái đầu tiên của tên đứa trẻ được xác định bằng tên của ngày mà đứa trẻ được sinh ra Người Mianma cũng tin rằng có những ngày không hợp nhau và do vậy gần như không tỡm thấy một người chồng có tên bắt đầu bằng chữ

K với một người vợ có tên bắt đầu bằng chữ H Tương tự như vậy, người Triều Tiên cũng kiêng kết hôn với những người có cùng tên họ và rừ ràng điều này là một vấn đề rất nan giải cho những người họ “Kim” và “Pak”, vốn là 2 dũng họ chiếm tới quỏ nửa dõn số của dõn tộc này

Trang 29

Ở các nước châu Phi và châu Âu, các tên có hỡnh thức lặp õm là cỏch

tương đối phổ biến để đặt tên các cặp sinh đôi Ví dụ: Milly và Mary, Robert và

Herbert Tại Lesotho các cặp sinh đôi đều mang những tên đặc biệt Các tên đặc

biệt cũng được đặt con trai của những gia đỡnh đó sinh toàn con gỏi và ngược lại, đặt cho con gái của những gia đỡnh đó sinh toàn con trai Ở những gia đỡnh cú cả con trai và con gỏi thỡ cụ con gỏi sinh cuối cựng được gọi là “Ntzwaki” (người trộn lẫn) và cậu con trai thỡ được gọi là “Modise” (người chăn thả gia súc) hoặc

“Mojafela” (người thừa kế) Người Yoruba (ở Nigeria) sẽ đặt những tên đặc biệt

trong trường hợp người mang tên được sinh nở khó khăn, bất thường hoặc người

ta cho là người mang tên là hiện thân của một thành viên đó qua đời của gia đỡnh

Ở một số nước, tên người con trai cả được đặt theo tên của ông nội và kết quả là có rất nhiều người trùng tên Khi truyền thống đặt tên họ lan tới những nền văn hoá này, người ta không ngần ngại lấy những tên trùng nhau này làm tên họ

Đây cũng là một cách hỡnh thành tờn họ khỏ đặc trưng của một số dân tộc.Tại Xcốt-len, người con trai đầu tiên mang tên ông nội, người thứ 2 thỡ mang tờn ụng ngoại, người thứ 3 thỡ mang tờn bố, người thứ tư thỡ mang tờn anh cả của bố ;

người con gái đầu tiên mang tên bà nội, người thứ 2 mang tên bà ngoại, người thứ

3 mang tên mẹ, người thứ tư mang tên chị cả của mẹ Đây là một nét tương phản thú vị khi so sánh với nhưng nền văn hoá mà ở đó việc đặt tên con cái luôn phải tránh trùng lặp với tên của ông, bà, họ hàng, tổ tiên Cách đặt tên các thế hệ tương lại của người Việt là một ví dụ điển hỡnh: tờn con chỏu phải khỏc với tờn của ụng bà, tổ tiờn

Như vậy, có thể thấy vấn đề đặt tên là một vấn đề rất phức tạp, liên quan tới rất nhiều yếu tố không chỉ có tính chất xó hội mà cũn đậm nét văn hoá và dân tộc

1.2.3.2 Vấn đề kiêng kị khi đặt tên

Người châu Âu rất hiểu sức mạnh của tên người xét về khía cạnh tinh thần nhưng họ lại khá mơ hồ về việc kiêng kị trong khi lựa chọn tên người Kiêng kị trong đặt tên quả thực rất phổ biến ở các nền văn hoá mặc dù mức độ có khác nhau

Trang 30

Người thổ dân da đỏ Choctaw (tại Mississippi và Oklahoma – Hoa Kỳ) không

bao giờ gọi tên thật của một thành viên gia đỡnh đó qua đời Những người khác thỡ luụn cố gắng trỏnh dựng đến tên người đó khuất và vợ của người chết thỡ gọi ụng ta thụng qua tờn con như “cha của X, của Y ” Theo quan niệm của họ, tên của một người luôn đi liền với người ấy, do đó khi người ấy qua đời thỡ tờn cũng phải đi theo Người thổ dân Australia thậm chí cũn đi xa hơn nữa trong việc tránh dùng tên của người đó khuất Khi một người trong gia đỡnh, trong dũng họ qua đời, những người có tên giống với tên của người chết sẽ phải dùng một tên qui ước khác để khỏi gợi lại nỗi buồn cũng như tránh làm cho linh hồn người chết nổi giận Ngoài ra, họ cũn thay đổi những từ ngữ gợi lại tên của người chết trong nhiều năm sau

Người Do Thái nói tiếng Yiddish lại không quan tâm tới việc tên con cái họ

có trùng với tên của những người họ hàng đó khuất khụng Nhưng họ lại tránh đặt tên con cái trùng với tên của những người họ hàng có tuổi với lí do mê tín rằng có thể thần chết sẽ “bắt nhầm” khi đến đưa những người già đi Cũng với lí do trên, những người được cưới về từ gia đỡnh khỏc phải đổi tên nếu tên họ trùng với tên của những người già đang cũn sống

Người Việt Nam cũng có truyền thống kiêng kị khi đặt hoặc gọi tên trẻ em trong khuôn khổ gia đỡnh Người Việt luôn thích đặt tên đẹp, tên đầy ý nghĩa cho con cỏi mỡnh, nhưng trong không ít trường hợp, đứa trẻ thường không được gọi bằng tên chính thức ở trong đời sống gia đỡnh Thay vào đó là một tên tục, tên lóng (nickname) Lí do của việc này được người Việt giải thích là họ sợ các vị thần linh sẽ bắt đứa trẻ đi khi nghe thấy những tên đẹp này Đặc biệt, điều này càng thấy rừ ràng ở những gia đỡnh hiếm muộn con Ngoài ra, người Việt cũng rất nhất quán trong việc kiêng đặt tên con cái trùng với tên của ông bà, tổ tiên, thánh thần Cho nên có một sự thật trái ngược là trong khi ở nhiều nước châu Âu người ta đặt tên con giống tên ông bà để tỏ lũng kớnh trọng tới người đó khuất thỡ

ở Việt Nam cũng với lũng kớnh trọng như vậy thỡ tờn con chỏu khụng được phép trùng với tên ông bà, tổ tiên

Trang 31

Những người thuộc tầng lớp cao trong xó hội ở Hawaii cũng thường có một

tên dùng trong gia đỡnh và một tờn dựng khi giao thiệp với người ngoài thể hiện địa vị xó hội của họ Người Tahiti (Nam Thỏi Bỡnh Dương) thậm chí cũn đũi hỏi những õm tiết được sử dụng trong tên của các bậc quyền quí cũng không được phép sử dụng trong ngôn ngữ hằng ngày Kết quả là họ phải mượn hoặc sáng tạo

ra rất nhiều từ mới, cũn tờn người thỡ cứ mất dần đi ý nghĩa và trở thành những

õm thanh “quớ tộc” chứ khụng cũn là từ, ngữ nữa

Tuy nhiên, cũng có xu hướng phát triển ngược lại, tức là cấm hoặc tránh dùng một số từ, ngữ nào đó trong vốn từ vựng để làm tên người Trước đây người Ấn

Độ cho rằng sẽ là lạc hậu hoặc coi thường phụ nữ nếu lấy những từ như chũm sao,

cỏi cõy, dũng sụng, ngọn nỳi, con chim, người hầu, sự khiếp sợ để đặt tên cho

nữ giới Nhà tiên tri Mụ-ha-một (Mohammed) của người Hồi giáo cũng cấm tín

đồ của ông dùng những tên mà ông cho là không xứng đáng như chiến tranh, con

chú v.v Theo hướng này, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sau Chiến tranh thế

giới II, người châu Âu đó loại tờn “Adolf” (tờn của tờn trựm Đức Quốc xó Hitler)

ra khỏi danh sỏch những tờn được lựa chọn để đặt tên cho con cái mỡnh

1.2.3.3 Vấn đề tên tạm

Tên tạm là một vấn đề khá phổ biến trong nhiều nền văn hoá Tên tạm là tên chỉ người dùng cho một cá nhân nào đó trong một thời gian hoặc một giai đoạn (thường là lúc thơ ấu) của cuộc đời

Tờn tạm cú thể là tờn khụng chớnh thức, tờn tục, tên thân mật, tên lóng mà cha mẹ hoặc người thân đặt cho đứa trẻ Tên tạm cũng có thể là những tên được đặt trong một buổi lễ chính thức và sẽ được thay đổi sau này cũng thông qua một buổi lễ chính thức khi người mang tên đến một độ tuổi nhất định nào đó Ví dụ,

trên quần đảo Mashall (giữa Thỏi Bỡnh Dương), vài ngày sau khi đứa trẻ được sinh ra nó sẽ được gọi là Labburo nếu là con trai và Lijjiron nếu là con gái Sau

đó, chúng mới được đặt tên chính thức theo tên của những người bên họ ngoại

Người Việt ngày nay vẫn có thói quen gọi tên trẻ theo giới tính (như trường hợp

“cu” đối với bé trai) cho tới tuổi đi học

Trang 32

Mặc dù tên chính thức đó được đặt nhưng vỡ nhiều lớ do khỏc nhau tờn tạm vẫn được sử dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp thông thường Có dân tộc đặt tên trẻ ngay khi sinh cũng có dân tộc làm điều này một tuần, một tháng hoặc lâu hơn nữa sau khi đứa trẻ ra đời Một số bộ tộc da đỏ ở Bắc Mỹ cũn đợi tới khi đứa

bé 9 hoặc 12 tuổi mới đặt tên chính thức Chính vỡ điều này mà khái niệm tên tạm cũng không phải là cố định

Tên tạm nhiều khi là những từ có nghĩa không mấy dễ chịu hoặc là những tên

mà cộng đồng cho là không hay, không đẹp Lí do lựa chọn những tên này thường xuất phát từ những quan niệm mê tín liên quan tới sức khỏe của đứa trẻ Do vậy các tên tạm loại này thường mất đi khi cha mẹ cho rằng đứa trẻ đó đủ khoẻ mạnh

để đương đầu với cuộc sống

1.2.3.4 Vấn đề tên họ

Tờn họ cú thể hỡnh thành từ nhiều nguyờn nhõn, nhiều yếu tố khỏc nhau nhưng một trong những hỡnh thức tờn họ dễ nhận thấy nhất cú nguồn gốc từ cách đặt tên theo tên cha hoặc mẹ (patronymics) theo kiểu A là con trai của B, C là con gái của D

Tờn họ hỡnh thành theo cỏch này ở Phỏp dưới thời La Mó, cũn ở Anh thỡ muộn hơn một thời gian Thậm chí, người Ấn Độ cũng “nhập khẩu” cách đặt tên

họ này từ người châu Âu trong giai đoạn sống dưới ách đô hộ của người Anh

Ngày nay tại Liên bang Nga, tên họ vẫn đơn giản là đặt theo tên cha Ví dụ: một

người tên là ẽáỡð Íốờợởợõốữ thỡ ai cũng biết anh ta là “con trai của Íốờợởợõ”, hoặc một cụ cú tờn Àớớà ấúðớốờợõà cú nghĩa là “con gỏi của ấúðớốờợõ” Tương

tự như vậy, với nghĩa “con trai của” có thể tỡm thấy cỏc yếu tố như O’- trong tiếng Ai-len, Mac- hoặc Mc- trong tiếng Xcốt-len, ap- trong tiếng Uờn, Fits-, (gốc Pháp – được dùng trên quần đảo Anh), map- trong tiếng Cornish (một tử ngữ ở vựng Cornwall – Anh), -szoon, trong tiếng Hà Lan, -son, -sen trong cỏc ngụn ngữ Bắc Âu, -escu trong tiếng Ru-ma-ni, -ian trong tiếng Ác-mờ-ni, ben trong tiếng Israel, ibn trong tiếng Ả-rập, anak trong tiếng của thổ dõn trên đảo Borneo Dưới

đây là một vài ví dụ:

Trang 33

Ngụn ngữ Phụ tố Vớ dụ

Tiếng Anh – English -son Stevenson Tiếng Hy Lạp - Greek -poulous Cosmopoulus

Tiếng Ba Lan - Polish -ski Jaruzelski Tiếng Xcốt-len - Scots Mac-, Mc- MacDouglas

Tiếng Nga – Russian -ov, -ev, -ich Íốờợởợõốữ Tiếng í - Italian di- Giovanni di Pietro

(Bảng 1: Một vài ví dụ về cách đặt tên theo tên cha ở châu Âu)

Ngoài nguồn gốc từ tờn cha (mẹ), tờn họ cũn hỡnh thành từ tờn lúng (nickname) hoặc được tạo ra từ những đặc điểm nổi bật của người mang tên như

vẻ bề ngoài, nghề nghiệp hoặc nơi sinh sống Ở châu Âu, rất nhiều gia đỡnh quớ

tộc cú cỏch đặt tên họ bằng việc dùng từ “của” Ví dụ of trong tiếng Anh, de, du trong tiếng Phỏp, von trong tiếng Đức, van trong tiếng Hà Lan, ze trong tiếng Sộc,

-tsi trong tiếng Ắc-mờ-ni Cũn trong tiếng Ẳ-rập, El là yếu tố phõn biệt nguồn

gốc quớ tộc của tờn họ

Tên họ của người Thổ Nhĩ Kỳ lại là một trường hợp khá đặc biệt Người Thổ Nhĩ Kỳ khụng dựng tờn họ và cũng khụng du nhập cỏch dựng tờn họ từ cỏc dõn tộc khỏc Họ hoàn toàn hài lũng với cỏch gọi “con trai/con gỏi của” hoặc theo tờn ngụi làng họ sinh ra Tuy nhiờn, nhận thấy tầm quan trọng của tờn họ trong một

xó hội phỏt triển, năm 1928, Kemal Atatỹrk (người khai sinh ra nước Thổ Nhĩ Kỳ

hiện đại) đó yờu cầu mỗi gia đỡnh phải lựa chọn cho mỡnh một tờn họ Song người Thổ Nhĩ Kỳ vẫn không quen sử dụng tên họ Tương tự như vậy, người Li-băng cũng ưa thích dùng tên cá nhân rồi mới hỏi xem người đó là thành viên của

“gia đỡnh” nào Ở một số nước Ả-rập, đàn ông vẫn có thói quen tự giới thiệu là

“A con trai của B con trai của C” cũn phụ nữ thỡ được gọi theo tên cha, anh trai

hoặc chồng Tại Afghanistan, phụ nữ được gọi là “Noor” (cái bóng- ánh sáng) của

cha, anh trai hoặc chồng vỡ ở quốc gia này, người ta không tiết lộ tên phụ nữ với người lạ

Trang 34

Tên họ của người Trung Quốc cũng tạo ra rất nhiều điều ngạc nhiên Theo

truyền thuyết, năm 2852 trước Công nguyên, Phục Hy đặt ra tên họ cho người

Trung Quốc qua bài thơ Bách Gia Tính gồm 408 từ và những từ này đó trở thành tờn họ truyền thống của người Trung Quốc Giống như ở hầu hết các nước châu Á khác, tên họ của người Trung quốc được truyền từ đời này sang đời khác mà gần như không thay đổi Người Trung Quốc coi tên họ là một điều thiêng liêng, chứa đựng cả truyền thống và danh dự của gia đỡnh, dũng họ, của tổ tiờn Khỏc với điều nhiều người lầm tưởng, tên họ của người Trung Quốc khác hẳn tên cá nhân của người châu Âu cho dù có cùng vị trí trong cấu trúc tên người (giữ vị trí đầu tiên) Tỡnh hỡnh trờn cũng xẩy ra với tờn người Việt và rất nhiều người phương Tây đó lầm tưởng tên họ của người Trung Quốc, người Việt là tên cá nhân

Người Trung Quốc không chỉ có tên tên họ mà cũn cú tờn thế hệ Do vậy,

hỡnh thành mụ hỡnh tờn người theo kiểu Tên họ - Tên thế hệ (tên đệm) - Tên cá

nhân Ví dụ, trong một đại gia đỡnh, tất cả những người con trai có tên đệm thế

hệ là “Cảnh” Đến lượt con trai của những người này (tức là thế hệ cháu) thỡ đều

có tên đệm là “Trường”

Mụ hỡnh cơ bản của tên người châu Âu là Tên cá nhân + Tên đệm + Tên họ

Mụ hỡnh tờn gọi này đề cao vai trũ của cỏ nhõn trong xó hội Tuy nhiờn, phần lớn dõn số thế giới cú cấu trỳc tờn người với yếu tố họ đứng đầu tiên (trường hợp tên người Trung Quốc) Tính cộng đồng thể hiện trong loại mô hỡnh tờn người này là rất cao

Nhiều dân tộc có lẽ sẽ không có tên họ nếu như không bị dân tộc khác đô hộ, thống trị Ấn Độ là một trường hợp khá điển hỡnh Nhiều người Ấn thuộc tầng lớp thấp bắt đầu có tên họ khi bị người Anh đô hộ Họ bắt chước cách đặt tên theo tên cha (mẹ) của người châu Âu để làm tên họ Tương tự như vậy, tại vùng

Kashmir, truyền thống đặt tên tên họ chỉ bắt đầu khi bị người Hồi giáo và người

Sikh đô hộ Người thổ dân Cherockee ở châu Mỹ cũng bắt đầu đặt tên họ dưới ảnh hưởng của những người tới từ châu Âu

Trong những xó hội bắt đầu có giai cấp, tên họ ra đời phản ánh trật tự xó hội cũng như địa vị của người đặt tên vốn thường là những người có của cải, địa vị

Trang 35

trong xó hội Theo lẽ thụng thường, người ta đều muốn duy trỡ địa vị và quyền lực của mỡnh càng lõu càng tốt và họ đó thể hiện ước muốn này thông qua tên họ

Dũng dừi và nguồn gốc tổ tiờn thường được các thế hệ sau có gắng gỡn giữ

Một số dõn tộc cũn phỏt triển cả phộp đặt tên sao cho có thể bao gồm được cả tên cha và tên mẹ Ví dụ, tại Tây Ban Nha tên họ thường gồm tên mẹ và tên cha với yếu tố “y” xen giữa để phân biệt Do vậy, khi hôn nhân diễn ra vấn đề tên họ là khá nan giải

Tuy nhiên, cũng có nơi như tại Ai-xlen (Iceland), dường như tên họ không quan trọng lắm khi mà người ta chỉ ghi tên cá nhân trong danh bạ điện thoại Cũn tờn của người Nhật trước đây không hề đơn giản mặc dù tên họ vẫn là yếu tố chính và đi đầu tiên trong cấu trúc tên Các tên trước đây của người Nhật luôn bao gồm một chuỗi tên: tên thời thơ ấu, tên lúc trưởng thành, vị trí trong dũng tộc, biệt hiệu, đấy là chưa kể tới các tước vị và tên tôn giáo, hoặc tên thuỳ (sau khi qua đời) và các tước phong

Mặc dự mụ hỡnh cơ bản của cấu trúc tên người châu Âu là Tờn cỏ nhõn +

Tờn đệm + Tên họ nhưng cũng có một số dân tộc tại châu lục này lại có tên họ đi

trước tên cá nhân, như trường hợp của người Hung-ga-ri và người Lít-va Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của người Nga, hiện nay người Lít-va cũng cũng có cách đặt tên họ theo tên cha và coi tên họ này như là yếu tố thứ 3 trong cấu trúc tên

Việc tồn tại tên họ được coi như một điều hiển nhiên, nhưng cũng có nơi người ta không quan tâm và thậm chí không có tên họ Trước khi người Anh tới,

nhiều dân tộc sống quanh dóy nỳi Himalaya khụng có tên họ Chính điều này đó

làm khụng ớt người bối rối Người dân sống ở đây chỉ có tên cá nhân 2 thành phần và tên này không được truyền từ đời này sang đời khác Dưới ảnh hưởng của người Anh, người Nepal đó thờm tờn họ vào sau tờn cỏ nhõn 2 thành phần của mỡnh Tuy nhiờn, cho tới nay cấu trỳc tờn này vẫn chỉ phổ biến trong giới quớ tộc

và hoàng gia mà thụi Triều Tiờn cú lẽ là quốc gia duy nhất trờn thế giới mà cỏc triều đỡnh phong kiến khụng quan tõm tới tờn họ của mỡnh Điều này trái ngược với tâm lí chung: địa vị càng cao thỡ tờn của dũng họ càng cú giỏ trị Điều đó luôn đúng đối với các dân tộc có truyền thống mang tên họ được thừa hưởng từ

Trang 36

các thế hệ trước Tuy nhiên, có một điều thú vị là, trong khi dân thường dùng tên

cá nhân trong giao tiếp thỡ cỏc vị quân vương ở châu Âu, trên tột đỉnh quyền lực của mỡnh, cũng lại ưa thích dùng tên cá nhân mặc dù tên gia đỡnh của họ thực sự tồn tại Vớ dụ, người ta hay gọi “Nữ hoàng Elizabeth đệ nhị” (Anh), “Vua Juan Carlos” (Tây Ban Nha) mặc dù tên họ của các vị này lần lượt là “Mary” và “de Borbon y Borbon” Ngược lại với vua chúa và dân thường, tầng lớp quí tộc cũng như những người có tiền, có quyền lực lại ưa thích người khác gọi mỡnh bằng tờn

họ trong bất cứ hoàn cảnh giao tiếp nào

Một trong những lớ do chính giải thích sự ra đời của tên họ là do nhu cầu cần phân biệt những người có cùng tên cá nhân Nhiều người không khỏi ngạc nhiên

khi biết vào thời Nữ hoàng Victoria (1837-1901), nước Anh chỉ phổ biến khoảng

gần 40 tên cá nhân Hầu hết mọi người được biết đến qua tên mảnh đất mà họ sở hữu

Tóm lại, cho dù ở nền văn hoá nào đi chăng nữa, tên họ vẫn được sinh ra từ những lí do giống nhau Tên họ là biểu tượng của quyền sở hữu, của tài sản, của niềm tự hào và “của cả sự tham lam nữa” Tên họ được truyền từ đời này tới đời khác qua các thế hệ trong một gia đỡnh, một dũng họ, một dõn tộc Tờn họ chứa đựng trong nó lịch sử, truyền thống của gia đỡnh, dũng tộc cũng như quốc gia

Tên người, mà trong đó tên họ là một thành phần chủ chốt, cần được coi là tài sản không chỉ của người mang tên mà cũn là tài sản của đất nước, của dân tộc

1.2.3.5 Vấn đề thay đổi tên

Đối với người châu Âu, thay tên đổi họ không phải là một vấn đề gỡ quỏ nghiờm trọng mặc dự họ phải trải qua hàng đống thủ tục trước khi có tên gọi mới

Người Trung Quốc hay Việt Nam lại rất ít khi thay đổi họ tên một cách chính thức, tức là đăng kí lại tên với cơ quan chính quyền Thay đổi họ tên là một vấn

đề gỡ đó rất xa lạ với họ Nhưng tại Myanma, việc đổi tên cũng đơn giản như việc gửi tặng một món quà vậy Người ta chỉ cần thông báo là anh A nào đó bây giờ có tên là B Tuy nhiên, phụ nữ thỡ khụng được đổi tên vỡ họ cho rằng làm như vậy là coi thường cha mẹ Cũn trong cộng đồng người da đỏ Cheyenne (tại Hoa Kỳ), cha

Trang 37

mẹ sẽ là người quyết định việc thay đổi tên gọi của con cái sau một sự kiện đặc biệt nào đó Họ sẽ cử một người đi khắp làng thông báo về “cái chết” của tên cũ

và đề nghị mọi người từ nay sử dụng tên mới

Phần lớn người da đỏ sống ở Bắc Mỹ đều có tập tục đổi tên sau khi trải qua một sự kiện đặc biệt nào đó Người ta thậm chí cũn đặt những tên mang đầy tính oán giận, thù hằn để ghi nhớ một nỗi sỉ nhục, đau đớn nào đó

Người Comanche (hiện ở Oklahoma – Hoa Kỳ) thay đổi tên của con trai để

đánh dấu sự trưởng thành của chúng Khác với ở châu Âu, phụ nữ của tộc người

da đỏ này không thay đổi họ tên khi lấy chồng Tại Ấn Độ, trong các lễ cưới của người theo đạo Hinhu, cô dâu sẽ phải mang họ chồng nhưng vỡ rất nhiều người

Ấn Độ không có tên họ nên nhiều khi chú rể sẽ đặt cho cô dâu một tên mới ngay trong lễ cưới

Lễ cưới và việc sinh con có lẽ là 2 sự kiện phổ biến nhất dẫn đến việc thay đổi

họ, tên Tại châu Âu khi người phụ nữ lập gia đỡnh, thỡ theo tập quỏn cụ ta phải

đổi sang họ của người chồng Ví dụ cô Jane Baker lấy anh Philip Hargreaves thỡ

sẽ cú tờn mới là Jane Hargreaves Trước đây người Trung Quốc cũng có tập quán

này Cũn ở Việt Nam, tập quỏn gọi tờn người phụ nữ theo tên chồng hoặc tên con trai cả cho tới gần đây vẫn cũn phổ biến Đối với người Ả-rập, khi mà đứa con trai đầu tiên được sinh ra thỡ mọi người sẽ gọi cha mẹ của cậu bé là “cha (mẹ) của X”

với X là tên cậu bé Các ông bố, bà mẹ Ả-rập cảm thấy rất tự hào khi được gọi

như vậy Tuy nhiên, có một trường hợp xẩy ra ngược lại, đó là tại Tahiti, ụng bố

sẽ mất tờn khi phải chuyển toàn bộ tờn mỡnh để đặt cho đứa con trai thứ nhất khi

nó sinh ra và ông ta phải tỡm cho mỡnh một cỏi tờn hoàn toàn mới (thường là dựa trên một đặc điểm nổi bật nào đó của đứa trẻ)

Thay đổi tên cũng xẩy ra khi một người tham gia vào giáo giới cho dù đó là

Cơ đốc giáo hay Phật giáo Tên, họ thay đổi cũng là do nhiều nguyên nhân khác nữa như để tránh vi phạm pháp luật, tránh những mối thù hận, tránh sự trả thù , hoặc là để giữ gỡn danh giỏ của gia đỡnh, dũng họ

Tuy nhiên, vấn đề gây tranh cói nhất trong việc thay đổi tên, họ chính là vấn

đề tên họ và tên cá nhân của phụ nữ khi đi lấy chồng Tại châu Âu và Bắc Mỹ,

Trang 38

theo truyền thống, họ của người vợ phải đổi sang họ của người chồng khi hôn nhân diễn ra Vấn đề này trở nên gay gắt khi phong trào đấu tranh cho nữ quyền diễn ra sôi động Kết quả là ngày nay tại Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu khác, phụ nữ có nhiều lựa chọn cho tên họ của mỡnh Vớ dụ: ngoài cỏch truyền thống, phụ nữ cú thể giữ nguyờn tờn họ thời con gỏi, ghộp tờn họ của mỡnh với tờn họ của chồng Tuy nhiên, truyền thống là cái rất khó thay đổi và trào lưu thỡ khụng thể thay thế được truyền thống Ở nước Nga ngày nay, phụ nữ vẫn chấp nhận tên gọi là hỡnh thức giống cỏi của tờn người cha của người chồng Cũn ở Ba Lan và Cộng hoà Sộc, khi chưa lấy chồng, tên của nữ là tên cá nhân của cha kèm theo hậu tố mang nghĩa “con gái của” Khi lập gia đỡnh, tờn phụ nữ sẽ bị thay đổi thành tên chồng đi kèm với yếu tố mang nghĩa “vợ của”

Mặc dự ngày nay khụng cũn phổ biến, nhưng chế độ mẫu hệ vẫn cũn tồn tại ở một số nền văn hoá và vỡ vậy, tờn gọi được truyền từ mẹ sang thế hệ con cái Ví

dụ như tại Ấn Độ, xứ Basque (khu vực giữa Tây Ban Nha và Pháp) và trên quần đảo Marshall (Thái Bỡnh Dương)

1.2.3.6 Tên người và giới tính

Trong tên người châu Âu và tên người nhiều dân tộc khỏc, sự phõn biệt tờn nam, tờn nữ là rất rừ ràng Sự phõn biệt này cũn là một dấu hiệu cho thấy phụ nữ luụn cú địa vị thấp kém hơn nam giới trong hầu hết các nền văn hoá Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp tên người châu Âu: tên nữ luôn có nguồn gốc từ tờn

nam và tự nú khụng cú nghĩa Vớ dụ Carlotta được hỡnh thành từ tờn nam Carl

Tên người gốc La-tinh và Hy Lạp ban đầu đều là những tên nam giới Sau này

do nhu cấu phân biệt giới tính, hỡnh thức giống cỏi của những tờn nam giới này mới ra đời Ngược lại, người Đức cổ lại có những danh sách tên nam giới và tên

nữ giới song song tồn tại như cặp Brunhild và Gareth Tuy nhiên, trong trường

hợp này, người ta luôn hiểu ngầm rằng nếu một người đàn ông không được gọi là

Brunhild thỡ người phụ nữ cũng không được gọi là Gareth Vị trớ của tờn nam

giới mang tớnh thống trị vỡ hi hữu mới cú một tờn nữ sinh ra trước và rồi chuyển

Trang 39

chuyển thành tên nam Tên họ Averell - cú gốc là một tờn nữ mang nghĩa “bằng

vàng” – là một trong số rất ớt vớ dụ

Tiếng Ả-rập cú phõn biệt giới tính với những tên người là tính từ (vỡ tớnh từ trong ngụn ngữ này phải thay đổi theo giống) nhưng với những tên là các danh từ (như “ánh sáng”, “chiến thắng” ) thỡ lại được dùng cho cả nam và nữ và chỉ đuợc phân biệt khi gắn những tên này với những nhân vật nổi tiếng Điều tương tự cũng xẩy ra trong tiếng Do Thái cổ (trong Kinh thánh) dựa trên ngữ cảnh sử dụng gốc thỡ hầu hết cỏc tờn người đều có thể dùng cho nam cũng như cho nữ, nhưng

một khi một người đàn ông nổi tiếng được gọi là Abiel và một người phụ nữ nổi tiếng được gọi là Bethany thỡ điều này gần như không thay đổi nữa

Ở nhiều ngụn ngữ khỏc, sự phõn biệt giới tớnh qua tờn gọi khụng hoàn toàn

rừ nột, mặc dự vẫn cú thể nhận ra Chẳng hạn trong tiếng Việt, việc phõn biệt giới tớnh qua tờn cá nhân gặp rất nhiều khó khăn Người ta chỉ có thể đưa ra danh sách những tên thường được dùng cho nam hoặc cho nữ chứ không thể cố định những tên nào chỉ dùng cho nam và những tên nào chỉ dùng cho nữ Tuy nhiên, nếu xét tất cả các yếu tố cấu thành một tên người Việt thỡ cú thể thấy giới tớnh được phân biệt khá rừ ràng qua tờn đệm (hoặc ít ra thỡ cũng rừ ràng hơn ở trường hợp tên cá nhân)

Nhưng cũng có nơi người ta không hề quan tâm tới giới tính qua tên người, hoặc thậm chí là khái niệm giới tính trong phạm trù tên người Những dân tộc

sống ở chân núi Himalaya, thổ dân châu Mỹ, người Polynesia không phân biệt

vấn đề giới tính trong ngôn ngữ qua ngữ pháp hay ngữ nghĩa Tuy nhiên, một số

bộ tộc người da đỏ đó thờm từ “phụ nữ” vào tờn gọi để biến chúng trở thành tên phụ nữ Tên người Hindu cũng không có phân biệt về giới và một đứa trẻ có thể

có 2 tên: tên của một nữ thần và tên của chồng vị nữ thần này Người Mông Cổ thỡ chỉ cú một vài tờn mang dấu hiệu tờn nữ rừ ràng và chỳng đều là tên của các phật bà trong Phật giáo Tây Tạng Những tên người cũn lại khụng cú nột khu biệt

về giới trừ trường hợp đặt theo tên của một nhân vật lịch sử nổi tiếng Tên người Sikh (ở Ấn Độ) lại là một trường hợp khác Mặc dù họ cũng không có quan niệm

gỡ về tờn nào dành cho nam và tên nào dành cho nữ, nhưng họ lại thêm yếu tố

Trang 40

“kaus” (phụ nữ) vào tên của phụ nữ và yếu tố “Singh” (sư tử, mạnh nhất) vào tên nam Đây quả là một điều thú vị

Trường hợp tên người Yap (thổ dân sống trên một số hũn đảo ở Tây Thái Bỡnh Dương) cũng rất đáng quan tâm Tên nữ luôn có yếu tố “tin”, hoặc “pin”, tên nam luôn có yếu tố “tam” hoặc “moon” Điều đặc biệt là các yếu tố này có thể nằm ở bất cứ đâu trong tên và dường như không tuân theo một qui tắc ngôn ngữ

học nào cả Ví dụ: tên nữ Fanapin, Tinag và tờn nam Moonfel, Gilmoon

1.2.3.7 Khía cạnh pháp lí của tên người

Ở các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam nhà nước không

có một qui định thành văn nào liên quan tới tên người (trừ trường hợp qui định về

kị huý trong tờn gọi dưới thời phong kiến) Phần lớn, các ràng buộc hoặc qui định trong cách đặt tên người ngày nay đều mang tính tập quán, truyền thống, nhưng được tôn trọng một cách khá nghiêm túc

Ở chõu Âu, tỡnh hỡnh cú vẻ khỏc biệt Trong khi địa danh được coi là vấn đề chung thỡ tờn người chỉ mang tính tiêu chuẩn nhờ sự can thiệp của luật pháp

Vương quốc Anh và Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ có lẽ là 2 nước duy nhất cho tới nay vẫn triệt để tôn trọng điều luật về tên người có từ thời La Mó Theo điều luật này, người ta có quyền thay đổi tên gọi của mỡnh nếu muốn, trừ trường hợp có mục đích gian lận Điều luật quan trọng đầu tiên liên quan tới tên cá nhân là quyết định của Hội đồng Trent (một thành phố ở bắc Italia) năm 1563 Theo quyết định này, vị linh mục của nhà thờ Cơ đốc giáo La Mó chịu trách nhiệm trong lễ rửa tội phải đảm bảo rằng tên đặt cho đứa trẻ mới ra đời phải là tên của một vị thánh Cơ đốc giáo Nếu cha mẹ đứa trẻ muốn đặt một tên khác, người đại diện cho nhà thờ này cần chấp nhận nhưng vẫn phải đặt cho đứa trẻ một tên thánh sao cho tên thánh này trở thành tên cá nhân thứ 2 của đứa trẻ Luật này được ghi trong Bộ luật của nhà thờ Thiên chúa giáo và hiện nay vẫn cũn hiệu lực Sự ra đời của luật này nhằm mục đích chống lại tập quán đặt tên của những người Tin Lành mà theo đó tên của đứa trẻ được đặt theo tên của những nhân vật nổi tiếng trong kinh Cựu

Ước (Old Testament) như Abraham, Samuel, Rachel Điều luật này đó được các

Ngày đăng: 05/12/2022, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Almanach những nền văn minh thế giới. NXB Văn hoá – Thông tin. Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Almanach những nền văn minh thế giới
Nhà XB: NXB Văn hoá – Thông tin. Hà Nội
2. Nguyễn Tài Cẩn. Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại. NXB KHXH. Hà Nội, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội
3. Lờ Sĩ Giỏo. Dân tộc học đại cương. NXB Giỏo dục. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Nhà XB: NXB Giỏo dục. 1997
4. Nguyễn Thiện Giỏp. Cơ sở ngôn ngữ học. NXB KHXH. Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội
5. Nguyễn Thiện Giỏp. Từ vựng học tiếng Việt. NXB Giỏo dục. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giỏo dục. 1998
6. Lờ Trung Hoa. Cách đặt tên chính của người Việt – Tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc phía nam. NXB KHXH. Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách đặt tên chính của người Việt – Tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc phía nam
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội
7. Lờ Trung Hoa. Họ tên người Việt Nam. NXB KHXH. Hà Nội, 1992, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ tên người Việt Nam
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội
8. Nguyễn Quang Hồng. Âm tiết và loại hỡnh ngụn ngữ. NXB ĐHQG. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm tiết và loại hỡnh ngụn ngữ
Nhà XB: NXB ĐHQG. Hà Nội
9. Nguyễn Văn Khang – Nguyễn Trung Thuần. Từ điển địa danh nước ngoài. NXB Văn hoá. Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển địa danh nước ngoài
Nhà XB: NXB Văn hoá. Hà Nội
10. Nguyễn Văn Khang. Ngụn ngữ học xó hội - Những vấn đề cơ bản. NXB KHXH. Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngụn ngữ học xó hội - Những vấn đề cơ bản
Nhà XB: NXB KHXH. Hà Nội
11. Nguyễn Văn Khang. Bỡnh diện ngụn ngữ xó hội của vấn đề họ trong tiếng Hán. “Ngôn ngữ & Đời sống” 10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bỡnh diện ngụn ngữ xó hội của vấn đề họ trong tiếng Hán". “Ngôn ngữ & Đời sống
12. Đinh Xuân Lâm – Trương Thân. Danh nhõn lịch sử Việt Nam, tập II. NXB Giỏo dục. Hà Nội, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhõn lịch sử Việt Nam, tập II
Nhà XB: NXB Giỏo dục. Hà Nội
13. Bỡnh Long. Nghĩa tên riêng của người. “Ngụn ngữ” (số phụ), No.2, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩa tên riêng của người". “Ngụn ngữ
14. Những vấn đề văn hoá Việt Nam hiện đại. NXB Giỏo dục. Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn hoá Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Giỏo dục. Hà Nội
15. Hoàng Tử Quõn. Tờn gọi và cỏch gọi tờn . “Ngụn ngữ” (số phụ), No.2, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờn gọi và cỏch gọi tờn". “Ngụn ngữ
16. Trần Thanh Tõm. Thử bàn về địa danh Việt Nam . Nghiờn cứu lịch sử, No.3-4, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử bàn về địa danh Việt Nam
17. Phạm Tất Thắng. Vài nhận xét về yếu tố “Đệm” trong tên gọi người Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về yếu tố “Đệm
18. Phạm Tất Thắng. Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt. Luận văn Phó tiến sĩ khoa học ngữ văn, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt
19. Trần Ngọc Thờm. Về lịch sử, hiện tại và tương lai của tên riêng người Việt. Dõn tộc học, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về lịch sử, hiện tại và tương lai của tên riêng người Việt
20. Lờ Quang Thiờm. Nghiên cứu đối chiếu cỏc ngụn ngữ. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đối chiếu cỏc ngụn ngữ
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

e. PP (Polypropylene) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
e. PP (Polypropylene) (Trang 14)
(Bảng 1: Một vài ví dụ về cách đặt tên theo tên cha ở châu Âu) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 1 Một vài ví dụ về cách đặt tên theo tên cha ở châu Âu) (Trang 33)
Scully năm 1881 (xem Bảng 3), chúng tôi nhận thấy trong số 58 tên nam giới chỉ - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
cully năm 1881 (xem Bảng 3), chúng tôi nhận thấy trong số 58 tên nam giới chỉ (Trang 53)
(Bảng3: Kết quả điều tra tên cá nhân phổ biến nhất của người Anh năm 1881 – Nguồn dẫn: trang web http://www.scully1948.freeserve.co.uk/default.htm) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 3 Kết quả điều tra tên cá nhân phổ biến nhất của người Anh năm 1881 – Nguồn dẫn: trang web http://www.scully1948.freeserve.co.uk/default.htm) (Trang 54)
(Bảng 6a: Danh sách tênhọ đơn âm tiết người Anh - Theo tần số phổ biến) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 6a Danh sách tênhọ đơn âm tiết người Anh - Theo tần số phổ biến) (Trang 66)
123 HAYNES 124 WADE - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
123 HAYNES 124 WADE (Trang 66)
(Bảng 8: Một vài thay đổi chính tả của tên họ) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 8 Một vài thay đổi chính tả của tên họ) (Trang 104)
C thay bằn gS hoặ cK Cely, Seeley; Curtler, Kirtler - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
thay bằn gS hoặ cK Cely, Seeley; Curtler, Kirtler (Trang 104)
(Bảng 12: Tờn họ hỡnh thành từ tờn cha – thờm “s”) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 12 Tờn họ hỡnh thành từ tờn cha – thờm “s”) (Trang 107)
(Bảng 11: Tờn họ hỡnh thành từ tờn cha – Khụng thay đổi) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 11 Tờn họ hỡnh thành từ tờn cha – Khụng thay đổi) (Trang 107)
(Bảng 14: Tờn họ hỡnh thành từ tờn cha – thờm cỏc yếu tố khỏc) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 14 Tờn họ hỡnh thành từ tờn cha – thờm cỏc yếu tố khỏc) (Trang 108)
* Hình thức: - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Hình th ức: (Trang 110)
(Bảng 2 2- Cỏc thành tố từ vựng có trong tên người) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 2 2- Cỏc thành tố từ vựng có trong tên người) (Trang 118)
b. Phõn loại dựa trên đặc điểm nguồn gốc - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
b. Phõn loại dựa trên đặc điểm nguồn gốc (Trang 118)
(Bảng 23 -Tờn cỏ nhõn từ tên địa danh) - Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu một vài khía cạnh của lý thuyết tập thô và ứng dụng
Bảng 23 Tờn cỏ nhõn từ tên địa danh) (Trang 119)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w