Cụ thể là việc xây dựng các hệ thống thông tin tác nghiệp mạnh như các hệ thống thanh toán tập trung, hệ thống thẻ hay các dịch vụ Ngân hàng mới như Internet banking… Trong đó, hệ thống
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
-
Nguyễn Văn Luân
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CẢI TẠO, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MỚI
“HỆ THỐNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ LIÊN NGÂN HÀNG”
THEO CHIẾN LƯỢC TẬP TRUNG HOÁ TÀI KHOẢN
VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ CÁC NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG
Ngành: Công nghệ thông tin
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CAM ĐOAN 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU 7
MỞ ĐẦU 8
C HƯƠNG 1 TỔNG QUAN 12
1.1 CHIẾN LƯỢC TẬP TRUNG HOÁ TÀI KHOẢN VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ NH.12 1.1.1 Thực trạng hệ thống thanh toán của các Ngân hàng Việt Nam 12
1.1.1.1 Mô hình tổ chức Hệ thống Ngân hàng của Việt Nam[8] 12
1.1.1.2 Thực trạng những hệ thống thông tin trong các NHVN[8] 14
1.1.1.3 Chiến lược tập trung hoá tài khoản Ngân hàng[8] 16
1.1.2 Hiện đại hoá Ngân hàng Việt Nam[8] 18
1.1.2.1 Đổi mới công nghệ Ngân hàng 18
1.1.2.2 Tập trung xây dựng hệ thống thanh toán cốt lõi[4] 19
1.2 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA HT “TTĐT LIÊN NGÂN HÀNG” HIỆN TẠI 21
1.2.1 Giới thiệu “Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng”[4] .21
1.2.1.1 Mục tiêu của hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng 21
1.2.1.2 Quá trình xây dựng hệ thống 21
1.2.1.3 Mô hình nghiệp vụ chung của hệ thống 22
1.2.1.4 Các thành phần của hệ thống 24
1.2.2 Nhược điểm của “Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng” .36
1.3 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CN 3 LỚP BEA TUXEDO CHO HT IBPS 46
1.3.1 Tính năng của công nghệ ba lớp Tuxedo[18,19,20] 46
1.3.1.1 Giới thiệu tổng quan về công nghệ 3 lớp Tuxedo BEA 46
1.3.1.2 Đặc tính kỹ thuật chính của BEA Tuxedo 52
Trang 3C HƯƠNG 2 KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CHO HỆ THỐNG IBPS 64
2.1 GIẢI PHÁP CẢI TẠO HT THANH TOÁN IBPS HIỆN THỜI 64
2.1.1 Yêu cầu cho giải pháp cải tạo hệ thống IBPS .64
2.1.1.1 Giữ nguyên hệ thống IBPS hiện tại[4] 64
2.1.1.2 Mở rộng vai trò của PPC thành PPC khu vực[4] 65
2.1.1.3 Nâng cao năng lực hệ thống IBPS 65
2.1.2 Giải pháp cải tạo hệ thống IBPS .67
2.1.2.1 Mô hình giải pháp 67
2.1.2.2 Đảm bảo an ninh, an toàn cho hệ thống nâng cấp 72
2.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MỚI HỆ THỐNG IBPS 78
2.2.1 Yêu cầu cho giải pháp phát triển mới hệ thống IBPS 78
2.2.1.1 Yêu cầu về mục tiêu đặt ra cho hệ thống IBPS 78
2.2.1.2 Yêu cầu về chức năng nhiệm vụ của IBPS 78
2.2.1.3 Yêu cầu kỹ thuật cần đáp ứng của IBPS mới 79
2.2.2 Giải pháp phát triển mới hệ thống IBPS 87
2.2.2.1 Quan điểm xây dựng giải pháp 87
2.2.2.2 Mô hình hệ thống 88
2.2.2.3 Đặc tính kỹ thuật các thành phần trong hệ thống 95
2.3 LỰA CHỌN GIẢI PHÁP TỐI ƯU TRONG HAI GIẢI PHÁP TRÊN 115
2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn giải pháp .115
2.3.2 Bảng kết quả đánh giá giải pháp .116
2.3.3 Kết luận lựa chọn giải pháp tối ưu .116
C HƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ PHỎNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN IBPS 117
3.1 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG MÔ PHỎNG GIẢI PHÁP 117
3.1.1 Hạn chế do qui mô của giải pháp lớn 117
3.1.2 Hạn chế hạ tầng, thiết bị .117
3.1.3 Hệ thống mô phỏng cái gì của giải pháp? 117
3.2 PHÂN TÍCH YÊU CẦU CHO HỆ THỐNG MÔ PHỎNG 119
Trang 43.2.1 Khảo sát hệ thống .119
3.2.1.1 Thu thập hồ sơ, giấy tờ liên quan 119
3.2.1.2 Thông tin tổng hợp của quá trình khảo sát 119
3.2.2 Xác định yêu cầu hệ thống phần mềm .125
3.2.2.1 Yêu cầu tổng thể hệ thống 125
3.2.3 Phân tích yêu cầu .130
3.2.3.1 Mô tả chi tiết hệ thống theo vùng địa lí 130
3.2.3.2 Mô tả chi tiết tiến trình 131
3.2.3.3 Biểu đồ luồng dữ liệu vật lí 132
3.2.3.4 Mô hình thực thể-mối quan hệ (E-R) 133
3.3 THIẾT KẾ HỆ THỐNG MÔ PHỎNG 134
3.3.1 Quan điểm thiết kế hệ thống mô phỏng .134
3.3.2 Thiết kế Hệ thống Logic .135
3.3.2.1 Đặc tả logic từng tiến trình 135
3.3.2.2 Mô hình dữ liệu quan hệ 137
3.3.2.3 Từ điển dữ liệu 137
3.4 THỰC HIỆN HỆ THỐNG MÔ PHỎNG 138
3.4.1 Phần mềm trung tâm tại IBPC .138
3.4.1.1 Cơ sở dữ liệu vật lí 138
3.4.1.2 Cấu hình cài đặt phần mềm trung tâm IBPC 139
3.4.1.3 Mã nguồn hệ thống IBPC 140
3.4.2 Chương trình máy trạm CI-TAD 142
3.4.3 Kết quả đạt được của hệ thống mô phỏng .143
KẾT LUẬN 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
Danh mục công trình của tác giả 147
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi luôn tâm niệm với bản thân rằng “Mình phải luôn luôn học tập và nghiên cứu để nâng cao kiến thức và trình độ chuyên môn nhằm mục đích trở thành con người hữu ích cho xã hội, cho đất nước” Chính vì vậy, tôi đã theo đuổi khoá học sau đại học cũng như lựa chọn và thực hiện luận văn này Tôi tự tin và tự hào khi khẳng định rằng kết quả mình có được trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu ở trường cũng như trong luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình là kết quả của một quá trình học tập, công tác, nghiên cứu và thực hiện hoàn toàn nghiêm túc, trung thực của bản thân!
Trong luận văn, tôi có tham khảo đến một số tài liệu của một số tác giả khác
Chúng được liệt kê tại phần Tài liệu tham khảo ở cuối luận văn
Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về nội dung và sự trung thực trong luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của mình!
Học viên, Nguyễn Văn Luân
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1 Mô hình phân cấp hệ thống Ngân hàng Việt Nam 13
Hình 2 Mô hình nghiệp vụ, tổ chức của hệ thống IBPS 23
Hình 3 Sơ đồ xử lí lệnh thanh toán giá trị cao 26
Hình 4 Bảng vai trò các trung tâm thanh toán trong hệ thống IBPS 30
Hình 5 Mô hình phần mềm ứng dụng của IBPS 31
Hình 6 Mô hình phần cứng và mạng truyền thông 32
Hình 7 Các mối đe doạ đối với an ninh, an toàn IBPS 44
Hình 8 Sơ đồ phát triển của sản phẩm Tuxedo 46
Hình 9 Mô hình ứng dụng 3 lớp của Tuxedo 47
Hình 10 Mô hình kiến trúc tổng thể của BEA Tuxedo 49
Hình 11 Mô hình hệ thống thông tin được phát triển trên BEA Tuxedo 52
Hình 12 Ứng dụng được phát triển bằng nhiều ngôn ngữ theo chuân ATMI, CORBA 53
Hình 13 Mô hình API của ATMI cho phát triển ứng dụng trên C, C++, COBOL 53
Hình 14 Mô hình môi trường phát triển CORBA của Tuxedo 54
Hình 15 Quản lí giao dịch của Tuxedo 55
Hình 16 Quản lí giao dịch phân tán 55
Hình 17 Phương thức xử lí truyền thông theo sự kiện 56
Hình 18 Khung tích hợp cho các thành phần an toàn, bảo mật 56
Hình 19 Mô hình hàng đợi thông điệp 57
Hình 20 Lời gọi hàm truyền thông điệp 57
Hình 21 Hàng đợi xử lí thông điệp 58
Hình 22 Sơ đồ truyền dữ liệu có định tuyến 58
Hình 23 Nền tảng ứng dụng của BEA Tuxedo 59
Hình 24 Sơ đồ cân bằng tải của BEA Tuxedo 59
Hình 25 Kết nối và tích hợp môi trường Web 60
Hình 26 Thích ứng với Mainframe 60
Hình 27 Công cụ quản trị hệ thống 61
Hình 28 Bảng mô tả lĩnh vực, đối tác và khách hàng sử dụng Tuxedo 62
Hình 29 Bảng tổng kết hệ thống xây dựng trên BEA Tuxedo 63
Hình 30 Mô hình tổng thể hệ thống IBPS được nâng cấp 68
Hình 31 Mô hình phần mềm ứng dụng IBPS 70
Hình 32 Mô hình phần cứng, mạng viễn thông 72
Hình 33 Mô hình an ninh, an toàn, bảo mật cho IBPS nâng cấp 73
Hình 34 Mô hình hệ tổng thể hệ thống IBPS mới 88
Hình 35 Mô hình hệ thống phần mềm ứng dụng IBPS 90
Hình 36 Mô hình cấu thành IBPC của IBPS mới 90
Hình 37 Mô hình phần cứng, mạng, truyền thông của IBPS 92
Hình 38 Mô hình an ninh, bảo mật cho hệ thống IBPS 95
Hình 39 Cấu trúc phần mềm ứng dụng IBPC 101
Hình 40 Mô hình cài đặt phần mềm IBPS trên máy chủ vật lí 102
Hình 41 Mô hình mạng và phần cứng của hệ thống IBPS mới 106
Hình 42 Mô hình mạng, thiết bị mạng tại IBPC 109
Hình 43 Mô hình an ninh, bảo mật cho hệ thống 111
Hình 44 Bảng đánh giá giải pháp đưa ra 116
Hình 45 Bảng tổng hợp công việc 121
Hình 46 Bảng tổng hợp hồ sơ, tài liệu 123
Hình 47 Bảng tổng hợp dữ liệu từ điển 124
Hình 48 Mô hình hệ thống mô phỏng theo phân vùng địa lí 125
Hình 49 Sơ đồ ngữ cảnh hệ thống 126
Hình 50 Biểu đồ phân rã chức năng tại IBPC 126
Trang 7Hình 55 Bảng mô tả chi tiết tiến trình tại IBPC 131
Hình 56 Bảng mô tả chi tiết tiến trình tại CI-TAD 132
Hình 57 Biểu đồ luồng dữ liệu vật lí mức 0 của chương trình CI-TAD 132
Hình 58 Biểu đồ luồng dữ liệu vật lí mức 0 của hệ thống IBPC 133
Hình 59 Mô hình E-R 133
Hình 60 Bảng đặc tả tiến trình cho biểu đồ Hình 57 tại IBPC 135
Hình 61 Bảng đặc tả tiến trình cho biểu đồ Hình 56 chương trình CI-TAD 136
Hình 62 Mô hình dữ liệu quan hệ 137
Hình 63 Bảng từ điển thuộc tính dữ liệu 137
Hình 64 Giao diện đăng nhập chương trình CI-TAD 142
Hình 65 Giao diện chương trình CI-TAD chính 142
Hình 66 Giao diện chương trình chức năng tra cứu dữ liệu 142
Hình 67 Giao diện chương trình chức năng lập lệnh thanh toán HV đi 143
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
2 NPSC National Processing and Settlement Center
7 LV-Switching Low Value Switching
8 EIS-G Extend Information System - Gateway
12 CI-TAD Credit Institution - TAD
13 SAP-Manager Settlement Account Process - Manager
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Sau 20 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu và những khởi sắc nhất định trong công cuộc phát triển kinh tế Nền kinh tế Việt nam dựa trên nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, Ngân hàng là một ngành huyết mạch cho nền kinh tế Sức mạnh của ngành Ngân hàng có vai trò quyết định đến sự ổn định, phát triển và sự phồn vinh của nền kinh tế đất nước
Từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung phi thị trường chuyển sang nền kinh tế thị trường, mọi ngành đều cần sự cải cách và chuyển đổi mạnh mẽ Ngành Ngân hàng cũng không phải là một ngoại lệ Đây chính là lí do mà từ năm 2001, Ngân hàng Nhà nước cùng với các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng thương mại nhà nước đã xây dựng đề án cơ cấu lại với mục tiêu xây dựng một hệ thống Ngân hàng mạnh với sức cạnh tranh cao, trong đó các Ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các giải pháp của đề án tập trung vào ba trụ cột chính là nâng cao sức mạnh tài chính (xử lý nợ, tăng vốn tự có), nâng cao trình độ quản lý và trình độ công nghệ
Nâng cao trình độ công nghệ ở đây tập trung vào việc thực hiện thành công chiến lược tập trung hoá tài khoản và hiện đại hoá, mở rộng các dịch vụ Ngân hàng dựa trên thành quả của công nghệ truyền thông và công nghệ thông tin Cụ thể là việc xây dựng các hệ thống thông tin tác nghiệp mạnh như các hệ thống thanh toán tập trung, hệ thống thẻ hay các dịch vụ Ngân hàng mới như Internet banking…
Trong đó, hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng (Inter Bank Payment System – IBPS) là một hệ thống thanh toán có vị trí trung tâm, trụ cột và quan trọng nhất của hệ thống Ngân hàng Việt Nam Hệ thống này được tiến hành lập dự án và thực hiện từ những năm cuối thập kỷ 90 trước đây và chính thức được đưa vào vận hành từ năm 2003 với chi phí cho hoàn thiện và vận hành hệ thống hơn chục triệu USD
Trang 10Sau 2 năm hoạt động chính thức, IBPS đã kết nối 55 tổ chức tín dụng, hơn
200 chi nhánh, mỗi ngày thực hiện gần 20 ngàn giao dịch, giá trị giao dịch cả ngàn
tỷ đồng Tuy nhiên, IBPS đã có vòng đời gần chục năm kể từ khi đặt nền móng khảo sát và thực hiện cho đến ngày nay Bản thân IBPS đã thể hiện những mặt hạn chế của mình Hạn chế này do rất nhiều nguyên nhân khác nhau: do hạn chế lịch sử,
do hạn chế kỹ thuật, do sự tiến bộ quá nhanh của công nghệ trên thế giới và một nguyên nhân đáng mừng khác là sự phát triển và tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế đất nước đã đẩy nhu cầu thanh toán của toàn hệ thống Ngân hàng cao hơn
Những hạn chế và sự thay đổi trên đã làm cho hệ thống thanh toán IBPS hiện tại bị quá tải và cần được nâng cấp Do đó, giai đoạn 2 – giai đoạn hiện đại hoá hệ thống thanh toán này cần được tiến hành cấp thiết hơn bao giờ
2 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu và đưa ra những giải pháp khoa học cho giai đoạn hiện đại hoá hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng Trong đó, luận văn đưa ra và đánh giá khách quan về 2 giải pháp cụ thể: Giải pháp nâng cấp hệ thống thanh toán IBPS hiện thời và Giải pháp phát triển mới hệ thống IBPS Từ đây, luận văn có kết luận về giải pháp nào đảm bảo tối ưu nguồn lực đầu tư cũng như hiệu quả của hệ thống sau khi hoàn thành hiện đại hoá
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống thanh toán quốc gia “Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng” của ngân hàng Việt nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống từ mô hình hệ thống ngân hàng VN, quá trình hình thành và phát triển hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, những ưu nhược điểm của hệ thống thanh toán liên ngân hàng tại thời điểm hiện tại và những yêu cầu đòi hỏi nâng cấp và hiện đại hoá hệ thống trong thời gian tới
Trang 11Từ đây, luận văn kiến nghị hai giải pháp tổng thể khác nhau cho việc nâng cấp
và hiện đại hoá hệ thống Trong đó, luận văn tập trung vào giải pháp phát triển mới
hệ thống IBPS theo mô hình tập trung hoá (không sử dụng mô hình phân cấp như cũ) là chính Để thuyết phục tính thực tế của mình, luận văn có tiến hành xây dựng
hệ thống mô phỏng cho giải pháp phát triển mới hệ thống IBPS đã được đưa ra Hệ thống mô phỏng tuy đưa ra với phạm vi hạn chế hơn về mọi mặt so với giải pháp tổng thể nhưng cũng là một minh chứng thuyết phục cho tính hiện thực của giải pháp đưa ra của luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ta nghiên cứu từ quá trình hình thành, phát triển, hiện trạng và xu thế phát triển của đối tượng cũng như mọi yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng Từ kết quả trên, ta tiến hành phân tích và tổng hợp nhằm đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp nhất cho việc giải quyết những vấn đề của đối tượng nghiên cứu
Bên cạnh đó, luận văn kết hợp giữa mô hình nghiên cứu lí thuyết và ứng dụng minh hoạ để kiểm chứng Nói chính xác hơn là từ những nghiên cứu lí thuyết
và giải pháp lí thuyết, ta xây dựng hệ thống ứng dụng cụ thể nhằm kiểm chứng và đánh giá thực tế của giải pháp đưa ra
Ta cũng sử dụng các phương pháp kiểm tra, kiểm chứng trên các môi trường giả lập gần giống như thực tế, dựa trên các kịch bản chi tiết để đánh giá về chất lượng của hệ thống mô phỏng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn không chỉ nghiên cứu một cách khoa học, tổng thể các khía cạnh của đối tượng từ đó đưa ra được các giải pháp cho việc hiện đại hoá hệ thống IBPS trong giai đoạn mới mà còn xây dựng hệ thống mô phỏng cho giải pháp đưa ra để minh chứng tính thực tiễn của giải pháp Như vậy, luận văn đã đạt được ý nghĩa khoa học và khẳng định tính thực tiễn của mình Nó đóng góp một phần quan trọng trong việc nghiên cứu và lựa chọn giải pháp hiện đại hoá cho hệ thống IBPS trong tương lai
Trang 127 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1 Tổng quan (51 trang)
Chương 2 Kiến nghị giải pháp về hệ thống thanh toán điện tử liên NH (52 trang)
Chương 3 Xây dựng hệ thống mô phỏng giải pháp phát triển mới IBPS (26 trang)
Trang 131.1 CHIẾN LƯỢC TẬP TRUNG HOÁ TÀI KHOẢN VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ NH
1.1.1 Thực trạng hệ thống thanh toán của các Ngân hàng Việt Nam
1.1.1.1 Mô hình tổ chức Hệ thống Ngân hàng của Việt Nam[8]
Ngân hàng nhà nước Việt Nam ra đời năm 1951 Trong suốt giai đoạn từ năm
1951 đến năm 1986, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là một cơ quan duy nhất vừa thực hiện quản lí nhà nước về hoạt động Ngân hàng vừa thực hiện kinh doanh, phát hành tiền tệ Hệ thống Ngân hàng nhà nước thời kỳ này được tổ chức theo một mạng lưới các chi nhánh trên phạm vi gần 41 tỉnh thành và khoảng 600 chi nhánh cấp huyện Bên cạnh mạng lưới của Ngân hàng nhà nước là các Ngân hàng chuyên doanh như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng đầu tư Việt Nam và Quĩ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa hoạt động dưới hình thức bảo trợ của nhà nước
Sau đại hội Đảng VI, Đảng và Nhà Nước ta chủ trương đường lối đổi mới, mở cửa và cải cách phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một bước đi mới cho sự phát triển nền kinh tế đất nước Từ đây, hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế đất nước
Trang 14Năm 1990, thực hiện pháp lệnh Ngân hàng, chúng ta xây dựng hệ thống Ngân hàng Việt Nam gồm 2 cấp: cấp 1: Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lí nhà nước về hoạt động Ngân hàng, ra chính sách tiền tệ, phát hành tiền; cấp 2: Các Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng Tại thời điểm này, số lượng các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng có rất ít gồm: 4 Ngân hàng thương mại nhà nước là: Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng công thương, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Hiện nay, địa giới hành chính của nước ta gồm 64 tỉnh thành và hơn 500 huyện thị Tương ứng với số lượng này là hàng ngàn các chi nhánh Ngân hàng các cấp khác nhau Cụ thể như sau:
Ngân hàng nhà nước Việt Nam có 64 chi nhánh tại 64 tỉnh trên cả nước Có trên tám mươi tổ chức tín dụng trong cả nước, bao gồm 5 Ngân hàng thương mại nhà nước, 12 Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, 4 Ngân hàng liên doanh,
Ngân hàng nhà nước Việt Nam
(Ngân hàng TW và các chi nhánh NHNN) Thực hiện vai trò quản lí NN, giám sát, ra chính sách chung về tiền tệ, Ngân hàng
Các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng cổ phần, liên doanh, nước ngoài tại Việt
Nam
Giữ vai trò kinh doanh, cung cấp các dịch
vụ Ngân hàng tới khách hàng
Trang 15Mỗi Ngân hàng thương mại có hội sở chính và các chi nhánh của mình trên khắp các tỉnh thành, huyện thị Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có số lượng các chi nhánh lên tới hàng ngàn với cấp xã phường Hai Ngân hàng đầu tư và ngoại thương đã mở các chi nhánh tại một số nước trên thế giới
Với mô hình tổ chức của hệ thống Ngân hàng Việt Nam như trên, các hệ thống thông tin nghiệp vụ trong các cấp Ngân hàng khác nhau cũng khác nhau, mang những đặc trưng riêng cho từng nghiệp vụ mà Ngân hàng của mình đảm nhận
Chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết các hệ thống này tiếp sau đây
1.1.1.2 Thực trạng những hệ thống thông tin trong các NHVN[8]
1.1.1.2.1 Hệ thống thông tin tại các Ngân hàng thương mại
Vai trò của các NHTM và các tổ chức tín dụng là thực hiện kinh doanh tiền tệ
và các dịch vụ Ngân hàng khác, cung cấp các dịch vụ Ngân hàng đến khách hàng
Do đó, nghiệp vụ của các ngân NHTM và các tổ chức tín dụng tập trung vào việc quản lí khách hàng, dịch vụ cho vay, huy động vốn, thanh toán thẻ…Các nghiệp vụ này liên quan đến bài toán bán lẻ, hay các dịch vụ Ngân hàng nhỏ lẻ đến các khách hàng
Những nghiệp vụ trên của các NHTM và các tổ chức tín dụng chủ yếu tập trung vào hệ thống thông tin kế toán Ngân hàng, liên quan đến bài toán bán lẻ Do nghiệp vụ của bài toàn này phức tạp và gồm nhiều dịch vụ khác nhau cung cấp cho khách hàng nên các hệ thống thông tin ở đây cũng rất phức tạp
Hiện tại, có 4 tiểu dự án hiện đại hoá các nghiệp vụ Ngân hàng được Ngân hàng thế giới tài trợ cho 4 Ngân hàng thương mại nhà nước lớn như NH Ngoại thương, NH Đầu tư và phát triển, NH Công thương, NH Nông nghiệp để xây dựng các hệ thống kế toán bán lẻ tập trung Hệ thống này cho phép theo dõi toàn bộ các hoạt động các nghiệp vụ của các NHTM này được tiến hành tập trung tại trung tâm, quyết toán đối chiếu cuối ngày, nâng cao nâng lực quản lí, giám sát, thanh toán của các NHTM, mở rộng thêm nhiều dịch vụ Ngân hàng dựa trên tài khoản khách hàng
Đây thực sự là những hệ thống cốt lõi của các NHTM
Trang 16Tuy nhiên, hệ thống này đang được xây dựng và thực hiện trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hoá các nghiệp vụ Ngân hàng Việc tăng trưởng không ngừng các dịch vụ Ngân hàng hiện đại dẫn đến tăng số lượng giao dịch khách hàng, các NHTM này đang tiến hành thực hiện nâng cấp, nhằm hoàn thành các hệ thống này hơn nữa trong giai đoạn tiếp theo
Tuy nhiên, những NHTM nhỏ lẻ khác hiện chưa có điều kiện xây dựng và phát triển các hệ thống tập trung như vậy Họ vẫn sử dụng các hệ thống thanh toán
và kế toán khách hàng đơn lẻ, phân tán tại các đơn vị chi nhánh Điều này làm cản trở năng lực hoạt động của các Ngân hàng
1.1.1.2.2 Hệ thống thông tin tại Ngân hàng Nhà nước VN
Với vị trí và vai trò là Ngân hàng trung ương của mình, NH Nhà nước Việt Nam có thực hiện một số nghiệp vụ như quản lí và giám sát các hoạt động của NHTM, thực hiện vai trò đầu mối thanh toán cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng Việt Nam hay thực hiện chính sách tiền tệ Ngân hàng Do đó, các hệ thống thông tin của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng nhằm đáp ứng các nghiệp vụ này
Các hệ thống thông tin tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam bao gồm: Hệ thống thanh toán liên Ngân hàng (thực hiện đầu mối thanh toán giữa tất cả các NHTM), các hệ thống thanh tra giám sát hoạt động các NHTM, hệ thống báo cáo thống kê,
hệ thống thông tin khách hàng trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hệ thống quản lí
nợ ,…
Tất cả các hệ thống trên đã được xây dựng và đưa vào ứng dụng trong những năm gần đây Chúng đã có những đóng góp lớn giúp tăng cường chất lượng dịch vụ Ngân hàng của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, phục vụ đắc lực cho sự phát triển nền kinh tế Việt Nam
Trong hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng, các giao dịch giữa các NHTM đã được thực hiện thành công trong thời gian nhanh nhất từ trước tới giờ (t
Trang 17Hệ thống này giúp tăng khả năng huy động và quay vòng vốn cho các NHTM, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Tuy nhiên, các hệ thống thông tin trên đã có những yêu cầu nâng cấp trước tốc
độ tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế dẫn đến tăng cao yêu cầu thanh toán, quản lí, giám sát các hoạt động Ngân hàng cũng như nhu cầu mở rộng các nghiệp
vụ Ngân hàng và việc phối hợp phát huy hiệu quả và vai trò của các hệ thống thông tin nghiệp vụ này
1.1.1.3 Chiến lược tập trung hoá tài khoản Ngân hàng[8]
1.1.1.3.1 Mục đích của việc tập trung hoá tài khoản
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, hội nhập và hợp tác
Quá trình hội nhập đòi hỏi mọi thành phần kinh tế phải nỗ lực không ngừng để tăng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường Một trong những nỗ lực đó là phải đẩy mạnh việc hiện đại hoá công nghệ, nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường Ngành Ngân hàng cũng không phải là một ngoại lệ, chính vì lẽ đó việc thực hiện thành công công cuộc hiện đại hoá trong ngành Ngân hàng chính là nhiệm vụ cấp bách hiện nay
Quá trình hiện đại hoá Ngân hàng bao gồm: hiện đại hoá các nghiệp vụ, tăng cường các dịch vụ Ngân hàng hiện đại nhờ đầu từ công nghệ để tăng cao sức cạnh tranh đã được đặt ra
Trong những yêu cầu trên, việc tập trung hoá tài khoản thanh toán là một
trong những xu hướng phát triển tất yếu để hiện đại hoá Hệ thống Ngân hàng Việt Nam Một trong những tồn tại của hệ thống tài khoản thanh toán của Việt Nam hiện nay là sự phân tán tài khoản khách hàng tại nhiều chi nhánh Sự phân tán này sẽ chia nhỏ vốn tiền gửi dẫn đến hạn chế trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
và quản lý của nhà nước, gây khó khăn trong việc điều chuyển vốn thừa, thiếu giữa các chi nhánh cũng như mở rộng các dịch vụ hiện đại để thu hút khách hàng
Trong khi đó, hệ thống tài khoản thanh toán tập trung đem lại lợi ích cho toàn
bộ nền kinh tế, bao gồm các khách hàng và cả hệ thống Ngân hàng
Trang 18Cùng một lúc, khách hàng có thể tiếp cận với nhiều loại hình dịch vụ Ngân hàng hiện đại tại nhiều địa điểm khác nhau, rút ngắn thời gian và giảm chi phí giao dịch với Ngân hàng
Do đó, các Ngân hàng có thể xoá bỏ tình trạng khan hiếm tiền mặt giả tạo và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn nhờ được tăng cường khả năng tích tụ và tập trung vốn Hệ thống tài khoản được tập trung hoá còn giúp các Ngân hàng đẩy nhanh tốc
độ thanh toán, giảm chi phí điều chuyển vốn nội bộ và nâng cao năng lực quản lý nhà nước của Ngân hàng nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ
Như vậy, nhu cầu tập trung hoá tài khoản thanh toán trong hệ thống Ngân hàng nhà nước Việt Nam là một trong những vấn đề then chốt thúc đẩy sự phát triển của hệ thống Ngân hàng theo hướng hiện đại hoá
1.1.1.3.2 Chiến lược tập trung hoá tài khoản Ngân hàng
Để đạt được mục tiêu tập trung hoá tài khoản thanh toán của các Ngân hàng, Ngân hàng nhà nước cần phải giải quyết được 4 yếu tố cơ bản: Giải pháp công nghệ với một hệ thống mạng lưới hiện đại; Hệ thống cơ sở hạ tầng pháp lý hoàn chỉnh;
Nguồn nhân lực CNTT đủ trình độ vận hành và khai thác hệ thống; Công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của toàn xã hội
Trong các hệ thống thanh toán hiện nay, Hệ thống thanh toán liên Ngân hàng
là một mô hình tập trung hoá tài khoản hiệu quả Đây là một dự án công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam trong lĩnh vực Tài chính Ngân hàng do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ với tổng số vốn đầu tư là 10 triệu USD Chính thức vận hành từ ngày 2/5/2002 đến nay, hệ thống đã có trên 60 thành viên với 200 đơn vị tham gia thanh toán, tập trung tại 5 thành phố kinh tế lớn: Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng
và Cần Thơ Sau một năm vận hành, hệ thống đã thực hiện được gần 1 triệu giao dịch với tổng giá trị 600.000 tỷ đồng một cách an toàn
Bên cạnh dự án thanh toán liên Ngân hàng, còn có 6 tiểu dự án của các
Trang 19Để đạt được mục tiêu này, các NHTM đều ứng dụng công nghệ mới để xây dựng một hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng tự động hoá ở mức cao trên cơ
sở tập trung hoá tài khoản
Việc xây dựng thành công các hệ thống thanh toán trong phạm vi dự án “Hiện đại hoá Ngân hàng và hệ thống thanh toán” tại Ngân hàng nhà nước và các NHTM cùng với quá trình tập trung hoá tài khoản đã đạt được những kết quả nhất định
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam có tốc độ phát triển mạnh mẽ nên tốc độ lưu chuyển các nguồn vốn, nhu cầu thanh toán ngày càng tăng cao Bên cạnh đó, nhu cầu đưa thêm các dịch vụ Ngân hàng mới, hiện đại vào sử dụng đòi hỏi phải nhanh
chóng nâng cao năng lực và hoàn thiện các hệ thống thanh toán đã có
1.1.2 Hiện đại hoá Ngân hàng Việt Nam[8]
Trên từng bước đường phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, hiện đại hoá hoạt động Ngân hàng là một trong 4 nội dung chủ yếu Theo đó, đổi mới công nghệ Ngân hàng phải tập trung vào 3 nội dung cơ bản: Có giải pháp tích cực và đầu
tư thích hợp trong việc phát triển nhân lực khoa học công nghệ Ngân hàng, cần phải
có kế hoạch lâu dài mới có đủ lực lượng làm chủ được công nghệ ngày càng hiện đại; Phải xây dựng hạ tầng cơ sở CNTT Ngân hàng đủ mạnh, phục vụ tốt nhất cho
sự phát triển kinh tế đất nước và đủ năng lực hội nhập với khu vực và thế giới;
Từng bước xây dựng đầy đủ cơ sở pháp lý, đảm bảo lợi ích quốc gia, đồng thời tuân thủ các chuẩn khu vực, đặc biệt là các văn bản pháp lý trong thương mại điện tử, đảm bảo an toàn tuyệt đối trong hoạt động Ngân hàng liên quan tới CNTT
1.1.2.1 Đổi mới công nghệ Ngân hàng
Đổi mới Công nghệ Ngân hàng không chỉ đơn thuần là quá trình tin học hoá các hoạt động Ngân hàng Quá trình đổi mới này là sự biến đổi tổng thể từ tin học hoá các nghiệp vụ Ngân hàng đến biến đổi và mở rộng dịch vụ Ngân hàng mới, sao cho phù hợp với công nghệ mới và sự thay đổi và hoàn thiện cơ sở pháp lý
Trang 20Đổi mới công nghệ Ngân hàng là quá trình ứng dụng những công nghệ mới nhất của khoa học kỹ thuật vào hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là những ứng dụng của tin học và viễn thông
Quá trình đổi mới công nghệ đã thúc đẩy các hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng biến đổi mạnh mẽ về: không gian, thời gian và hình thức vật chất Nhờ ứng dụng những thành tựu của công nghệ tin học và truyền thông, không gian hoạt động các Ngân hàng có thể trải dài khắp phạm vi của đất nước hay trong phạm vi quốc tế, thời gian không hạn chế 24/24*365 trong năm, hình thức vật chất cũng biến đổi theo từ sở hữu hữu hình ( tiền tệ, séc, vật thế chấp) sang sở hữu vô hình (tiền tệ điện tử: là những số liệu chứng minh giá trị sở hữu) Quá trình này làm thay đổi các nghiệp vụ hiện tại cho phù hợp với những ứng dụng mới Đồng thời với nó là việc đưa ra khung pháp lí để điều chỉnh chặt chẽ mọi khía cạnh của hình thức hoạt động mới này Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cho vận hành các hệ thống mới cũng cần được đào tạo, nâng cao nhằm vận hành an toàn hiệu quả hệ thống mới hiện đại
Khi đổi mới công nghệ Ngân hàng mạnh mẽ và toàn diện, thanh toán không
sử dụng tiền mặt sẽ chiếm tỉ trong lớn Mọi thanh toán được thực hiện nhanh chóng, tiện lợi sẽ mang lại một động lực lớn cho nền kinh tế Đồng thời với những kết quả trên, dịch vụ Ngân hàng cũng sẽ đa dạng về số lượng và tăng cao về chất lượng
Bên cạnh dịch vụ Ngân hàng đơn giản và truyền thống đã tồn tại như tín dụng là hàng loạt các dịch vụ thanh toán, uỷ quyền,…mới sẽ ra đời
Đổi mới công nghệ Ngân hàng sẽ đem đến cho hệ thống Ngân hàng một bộ mặt mới, một năng lực mới cho quá trình phát triển kinh tế đất nước thời kỳ đổi mới, hội nhập và hợp tác
1.1.2.2 Tập trung xây dựng hệ thống thanh toán cốt lõi[4]
Giải pháp tích cực và đầu tư thích hợp nhất cho việc phát triển nguồn lực khoa học công nghệ Ngân hàng là việc xây dựng các hệ thống thanh toán cốt lõi Các hệ thống thanh toán cốt lõi này sẽ trở thành xương sống cho các nghiệp vụ hiện đại của
Trang 21Một trong những hệ thống cốt lõi nhất của hệ thống Ngân hàng Việt Nam là
Hệ thống “Thanh toán điện tử liên Ngân hàng” Trong vai trò trung tâm của hoạt
động thanh toán giữa các NHTM, Ngân hàng nhà nước với hệ thống “Thanh toán điện tử liên Ngân hàng” sẽ trở thành hệ thống thanh toán xương sống cho hoạt động thanh toán của nền kinh tế đất nước, giúp luân chuyển nguồn vốn của nền kinh tế hiệu quả nhất Hệ thống này giúp tất cả các NHTM, các tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động thanh toán bù trừ cho nhau Từ đây, phần lớn giá trị thanh toán của nền kinh tế dựa trên tài khoản sẽ được thực hiện, các hoạt động trong lĩnh vực tài chính như huy động vốn từ các nguồn như thị trường chứng khoán cũng được thực hiện qua hệ thống này
Xét về khía cạnh các nguồn lực, Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng
là một hệ thống lớn cả về phạm vi, đối tượng tham gia, giá trị thanh toán…Xây dựng hệ thống này thực sự là một thách thức nhưng cũng đồng thời là cơ hội cho Ngân hàng nhà nước phát triển nguồn lực công nghệ nội tại của mình Thách thức không chỉ về nguồn vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ, con người mà cả về nghiệp vụ
và khung pháp lí
Khi xây dựng thành công hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng, xương sống của hệ thống thanh toán Việt Nam sẽ được xây dựng thành công, đảm bảo cho mọi hoạt động thanh toán không tiền mặt sẽ được thực hiện mạnh mẽ hơn Đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng thành công
Trang 221.2 ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA HT “TTĐT LIÊN NGÂN HÀNG” HIỆN TẠI
1.2.1 Giới thiệu “Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng”[4]
1.2.1.1 Mục tiêu của hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng
Xuất phát từ cơ cấu tổ chức, chiến lược phát triển và hiện đại hoá Ngân hàng Việt Nam, hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng được đặt ra với những mục tiêu chính sau đây:
1 Giúp Ngân hàng nhà nước quản lí tốt hơn các khoản thanh toán thông qua việc quản lí tập trung tài khoản thanh toán
2 Giúp các tổ chức tín dụng tăng cường vốn khả dụng thông qua việc tập trung tài khoản
3 Tăng tốc độ luân chuyển, lưu thông tiền tệ, giảm sự trôi nổi phân tán các nguồn vốn
4 Đảm bảo độ bù trừ, quyết toán có độ chính xác, an toàn cao
5 Cải tiến việc quản lí các chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước thông qua việc nắm bắt được thông tin về kịp thời về tình hình thanh toán trên thị trường liên Ngân hàng, cũng như việc đưa ra chính sách nhanh và đúng
Với 5 mục tiêu trên, IBPS được đặt ra như một đòn bẩy, một hệ thống xương sống cho các hoạt động thanh toán của Việt Nam Nó có tác dụng tích cực đến sự phát triển của nền kinh kế Việt Nam
1.2.1.2 Quá trình xây dựng hệ thống
Như đã trình bầy ở trên, hệ thống thanh toán liên Ngân hàng của Việt nam được xây dựng theo chiến lược hiện đại hoá Ngân hàng và tập trung hoá tài khoản thanh toán Hệ thống này được nghiên cứu và tiến hàng xây dựng từ những năm
1995 cho đến năm 2001 Kinh phí cho xây dựng dự án do World bank tài trợ và tổ
Trang 23Hệ thống được xây dựng dựa trên kinh nghiệm và mô hình hệ thống thanh toán quốc gia của Hàn quốc nhưng đã được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực
tế của Việt Nam
Đến đầu năm 2001, hệ thống được đưa vào vận hành thử nghiệm Đến ngày 2/5/2002 sau hơn 1 năm thử nghiệm, hệ thống đã chính thức được đưa vào giao dịch trong thị trường thanh toán liên Ngân hàng với giao dịch giá trị cao
1.2.1.3 Mô hình nghiệp vụ chung của hệ thống
Hệ thống thanh toán liên Ngân hàng IBPS (Inter Bank Payment System) có phạm vi trải dài qua ba miền đất nước với 6 trung tâm thanh toán cấp quốc gia và cấp tỉnh Chúng bao gồm 1 trung tâm thanh toán quốc gia NPSC (National Processing Setlement Center) đặt tại Cục CNTH Ngân hàng 64 - Nguyễn Chí Thanh
Hà nội, 5 trung tâm thanh toán tỉnh PPC (Province Payment Center) đặt tại 5 tỉnh thành phố trọng điểm kinh tế là Hà nội, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần thơ, Hồ Chí Minh
và 1 trung tâm giao dịch OC- PPC (Office Center-PPC) là Sở giao dịch của Ngân hàng nhà nước đặt tại Ngân hàng nhà nước 49 Lý Thái Tổ, Hà nội
Trung tâm thanh toán tỉnh PPC đóng vai trò là đầu mối thanh toán cho tỉnh thành trọng điểm kinh tế Nhiệm vụ của trung tâm là tạo cổng kết nối cho các chi nhánh NHTM, Ngân hàng nhà nước ở tỉnh kết nối với hệ thống thanh toán, thực hiện bù trừ các giao dịch giá trị thấp trong nội tỉnh và chuyển tiếp các giao dịch giá trị cao lên trung tâm thanh toán quốc gia để xử lí và hạch toán tức thời vào tài khoản duy nhất của mỗi Ngân hàng mở tại sở giao dịch Cuối ngày, tiến hành quyết toán nội tỉnh và đối chiếu thanh toán nội tỉnh trong ngày
Trung tâm thanh toán quốc gia NPSC có vai trò trung tâm trong việc xử lí các giao dịch tức thời, bù trừ các giao dịch giá trị thấp liên tỉnh giữa các Ngân hàng và thực hiện quyết toán cuối ngày Có thể nói, vai trò của trung tâm thanh toán quốc gia NPSC là vận hành, kiểm sát, điều khiển toàn bộ hệ thống thanh toán IBPS
Trang 24Trung tâm giao dịch tại sở giao dịch OC-PPC đóng vai trò là 1 trung tâm trong việc quản lí các tài khoản duy nhất của các Ngân hàng, cấp phát, bổ xung vốn
và hạn mức thanh toán của các Ngân hàng trong hệ thống thanh toán OC-PPC làm đầu mối cho hệ thống thanh toán kết nối với các hệ thống thanh toán khác tồn tại trong hệ thống Ngân hàng như hệ thống kế toán giao dịch, chuyển tiền điện tử, hệ thống bù trừ điện tử cũ,…
Trung tâm này cũng đóng vai trò là trung tâm thanh toán tỉnh cho các hội sở chính, chi nhánh của NHTM tại Hà nội kết nối và thực hiện thanh toán, kiểm tra số
dư tài khoản,…trong hệ thống IBPS
Hạ tầng mạng truyền thông mà hệ thống sử dụng chính là đường X25 Bên cạnh đó các mạng khác như TCP/IP cũng được hệ thống hỗ trợ
OC PPC
HANOI PPC
DA NANG PPC
CAN THO PPC
HO CHI MINH PPC
HAI PHONG PPC
HA NOI
Trang 251.2.1.4 Các thành phần của hệ thống
Trong luận văn có sử dụng một số các thuật ngữ nghiệp vụ ngân hàng với ý nghĩa sau đây:
Thanh toán giá trị cao HV (High Value): lệnh thanh toán thực hiện trong hệ
thống theo thời gian thực
Thanh toán giá trị thấp LV (Low Value): lệnh thanh toán thực hiện theo lô
có giá trị thấp dưới 500.000.000 VNĐ
Kết quả bù trừ giấy (Paper Clearing): đây là kết quả của hệ thống bù trừ
thủ công, được thực hiện tại chi nhánh NHNN tỉnh chưa có hệ thống bù trừ điện tử hoặc hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
Vấn tin tài khoản (Inquiry Account): nghiệp vụ nhằm kiểm tra số dư tài
khoản trong hệ thống thanh toán IBPS
Tra soát lệnh thanh toán (checksum instruction): nghiệp vụ tiến hành kiểm
tra thông tin, tình trạng của một lệnh thanh toán trong hệ thống
Hoàn chuyển lệnh thanh toán (refund instruction): nghiệp vụ trả lại một
lệnh thanh toán thực hiện sai
Thực hoá (netting): nghiệp vụ bù trừ các khoản thanh toán của các bên tham
gia trong hệ thống
Hạn mức thanh toán: hạn mức số lượng tiền vốn thanh toán của mỗi hệ
thống ngân hàng được cấp khi tham gia vào hệ thống thanh toán
Thấu chi: hạn mức tiền tối đa mà mỗi hệ thống ngân hàng được vay tạm thời
cho các giao dịch ngoài hạn mức thanh toán
Trang 261.2.1.4.2 Dịch vụ của hệ thống
Hệ thống IBPS có những dịch vụ chính sau đây: thanh toán giá trị cao HV (High Value), thanh toán trị thấp LV (Low Value), tiếp nhận kết quả bù trù giấy (Paper clearing), vấn tin tài khoản (Inquiry Account), tra soát lệnh thanh toán (checksum instruction), hoàn chuyển lệnh thanh toán (refund instruction), thực
hoá (netting), đối chiếu cuối ngày và in báo cáo cuối ngày (report)
Trong các dịch vụ trên của hệ thống IBPS thì HV và LV là hai dịch vụ quan trọng nhất của hệ thống Chúng thực hiện đến 98% tổng số các giao dịch và tác vụ của hệ thống Các dịch vụ khác ít được sử dụng và thường sử dụng vào cuối ngày hay trong một tình huống đặc biệt
HV là dịch vụ thanh toán trực tuyến quan trọng nhất của hệ thống Mọi giao dịch HV đều được khởi tạo từ Ngân hàng tham gia CI và gửi về PPC, PPC kiểm tra tính hợp lệ của giao dịch như bảo mật, an toàn, tính đúng đắn và hợp lệ của lệnh thanh toán sau đó gửi chuyển tiếp đến trung tâm thanh toán quốc gia NPSC kiểm tra
và xử lí lệnh thanh toán
Thông qua SAPS, hệ thống sẽ ghi nợ và ghi có vào tài khoản cho các bên tham gia Tuỳ theo giá trị số vốn có trong tài khoản của Ngân hàng có đủ để ghi có cho lệnh thanh toán hay không mà lệnh thanh toán sẽ được xử lí ngay lập tức hay đợi trong hàng đợi lệnh thanh toán Kết quả xử lí lệnh thanh toán sẽ được thông báo cho các bên tham gia Hiện nay, thời gian cần thiết cho việc hoàn thành 1 lệnh thanh toán giá trị cao HV là < 10s
Trang 27Hình 3 Sơ đồ xử lí lệnh thanh toán giá trị cao
LV là dịch vụ thanh toán cho các lệnh thanh toán có giá trị tiền nhỏ hơn 500 triệu VN đồng Kết quả thanh toán của các lệnh LV được thực hiện tuỳ theo hạn mức của từng Ngân hàng có được trên thị trường liên Ngân hàng Kết quả thanh toán sẽ được ghi nợ và ghi có tạm thời cho các bên và được thực hoá theo các phiên
bù trừ trong ngày
Thực chất, lệnh thanh toán LV là bị giới hạn về giá trị thực hiện thanh toán
và có hạn mức thấu chi tối đa để thực hiện ghi nợ tạm thời của từng Ngân hàng Các lệnh LV giữa các Ngân hàng trong cùng PPC sẽ được ghi nợ và có vào bảng giá trị
bù trừ của các Ngân hàng ngay tại PPC
Các lệnh LV giữa các Ngân hàng khác PPC sẽ được PPC tiếp nhận chuyển thẳng lên NPSC để ghi nợ và có vào bảng giá trị bù trừ của các Ngân hàng tại NPSC Tổng thu và chi thực tế của các Ngân hàng sẽ được thực hiện tại thời điểm thực hoá của hệ thống Dịch vụ LV sẽ giải quyết số lượng lớn những khoản tiền không cần thanh toán theo thời gian thực và có giá trị không cao Đây là dịch vụ có
số lượng khoản thanh toán lớn
Trang 28Kết quả bù trừ giấy (paper clearing): đây là kết quả được chuyển từ hệ
thống bù trừ điện tử và hệ thống bù từ giấy cũ về sở giao dịch để quyết toán vào tài khoản duy nhất của các NHTM Thực chất, nó là sự tích hợp các vấn đề còn tồn tại của hệ thống thanh toán cũ Vì hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng chưa mở rộng đến hết 64 tỉnh thành phố cho nên hệ thống bù trừ điện tử và bù trừ giấy vẫn tồn tại trên các tỉnh thành chưa thể kết nối vào hệ thống IBPS Kết quả của các hệ thống bù trừ điện tử và bù trừ giấy này sẽ được chuyển qua kế toán liên hàng về sở giao dịch để tham gia vào thanh toán liên Ngân hàng Nếu xét theo chức năng dịch
vụ của hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng thì việc tồn tại các hệ thống cũ này tương đương với hệ thống thanh toán giá trị thấp LV về mặt phương thức thanh toán cùng theo phiên nhưng giá trị thanh toán không bị hạn chế như trong lệnh LV của IBPS
Vấn tin tài khoản (Inquiry Acount) là dịch vụ cho phép các hội sở chính
của các NHTM vấn tin về giá trị vốn hiện thời của mình Nhờ dịch vụ này mà các trụ sở chính HO ( Head Office) của các NHTM có thể chủ động tăng cường vốn cho hoạt động thanh toán trên thị trường thanh toán như: thực hiện vay vốn, cầm cố tài sản,…Cũng nhờ dịch vụ này mà các HO có thể kiểm soát được tình hình sử dụng vốn thanh toán của Ngân hàng mình
Tra soát lệnh thanh toán(checksum instruction): dịch vụ này cho phép các
Ngân hàng thực hiện kiểm tra từng lệnh thanh toán đã được thực hiện Trạng thái lệnh thanh toán là thành công hay không hoặc các thông tin khác liên quan đến lệnh thanh toán
Hoàn trả lệnh thanh toán (Refund instruction): Khi một trong các bên
tham gia thanh toán phát hiện lệnh thanh toán của mình thực hiện sai Bên khởi tạo lệnh thanh toán có thể thực hiện một lệnh mới yêu câu bên thụ hưởng hoàn trả lệnh thanh toán sai đã thực hiện Dịch vụ này giúp các bên tham gia sửa sai cho lệnh thanh toán đã thực hiện
Trang 29Thực hoá (netting): là hoạt động của trung tâm thanh toán nhằm bù trừ và
hạch toán các thanh toán giá trị thấp LV đã được ghi nợ và có tạm thời dựa trên hạn mức thanh toán của các bên Quá trình này sẽ tính toán và bù trừ các khoản của các bên thanh toán, tổng thu tổng trả thực tế sẽ được hạch toán vào tài khoản duy nhất của các Ngân hàng tại sở giao dịch Ngân hàng nhà nước vào cuối của phiên thực hoá
Đối chiếu và báo cáo lệnh thanh toán trong ngày: đây là dịch vụ giúp cho
các đối tượng tham gia trong hệ thống có thể kiểm tra và đối chiếu thông tin về các khoản thanh toán trong ngày liên quan đến mình: thông tin số món: gửi nhận LV, HV; thông tin tổng tiền thanh toán: nợ, có; thông tin cân đối các món…Đây là dịch
vụ đảm bảo tính chính xác, kiểm toán các lệnh thanh toán
Các dịch vụ trên của hệ thống đều được thanh toán căn cứ trên một tài khoản duy nhất của mỗi NHTM được mở tại sở giao dịch Ngân hàng nhà nước Lượng vốn huy động được của mỗi Ngân hàng tại mọi thời điểm tham gia trong thị trường thanh toán liên Ngân hàng đều được sử dụng tối đa Thông qua hệ thống này, chiến lược tập trung hoá tài khoản của hệ thống Ngân hàng đã được thực hiện hiệu quả, tăng khả năng quay vòng vốn và chu chuyển tiền tệ của nền kinh tế Với những dịch
vụ này, IBPS đã căn bản trở thành xương sống của thanh toán điện tử trong cả hệ thống Ngân hàng Việt Nam
Trang 301.2.1.4.3 Các trung tâm thanh toán
Do đặc điểm địa lí đặc thù của Việt Nam là một nước có chiều dài trên 2000
km, chiều ngang nhỏ hẹp và có phân cấp hành chính phân tán dọc theo đất nước
Nước ta có trên 64 tỉnh thành với các khu vực kinh tế trọng điểm là khu vực đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ Trong những khu vực kinh tế trọng điểm này là các tỉnh, thành như: Hà nội, Hải phòng, Đà nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần thơ Các trung tâm kinh tế này chiếm phần lớn các giao dịch tiền tệ, tài chính
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức của hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng nhà nước nói riêng được phân cấp từ trung ương đến địa phương Ngân hàng nhà nước có Ngân hàng TW ở Hà nội và các chi nhánh tại 64 tỉnh thành
Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tại các tỉnh thành đóng vai trò là trung tâm quản lí, thực hiện thanh toán liên Ngân hàng cho các NHTM tại tỉnh đó Chính điều này hình thành nên khái niệm trung tâm thanh toán liên Ngân hàng tại tỉnh, thành phố hay PPC trong hệ thống IBPS
Ngân hàng trung ương vừa đóng vai trò là trung tâm trong việc quản lí các hoạt động thanh toán liên Ngân hàng vừa quản lí tài khoản Ngân hàng và thực hiện các thanh toán liên Ngân hàng liên tỉnh Do đó, Ngân hàng trung ương trong hệ thống IBPS cần thực hiện 2 vai trò: trung tâm thanh toán quốc gia (thực hiện thanh toán cho tất cả các Ngân hàng tại Việt Nam), trung tâm giao dịch và quản lí tài khoản khách hàng Hai vai trò này được thực hiện bởi hai trung tâm riêng NPSC và
OC
OC cũng có vai trò như một trung tâm thanh toán tỉnh PPC Tuy nhiên, OC với chức năng riêng của mình chỉ cho phép các HO của các NHTM kết nối đến OC theo dõi, giám sát, cấp phát các hạn mức thanh toán đầu ngày, bổ sung vốn cho tài khoản các Ngân hàng thông qua các kênh huy động vốn
Trang 31Từ đây, ta có thể lập bảng mô phỏng cấp và vai trò của các trung tâm thanh toán trong hệ thống IBPS như sau:
TT Trung
tâm
1 NPSC Toàn quốc Giám sát toàn bộ hệ thống IBPS
z Hoạt động hàng ngày của IBPS
z Các thành phần IBPS: hardware, software, communication
z Thông tin tác nghiệp của hệ thống
Chức năng nghiệp vụ chính:
z Bù trừ liên Ngân hàng (IBCS)
z Xử lí quyết toán tài khoản (SAPS)
z Kết nối giao dịch với SGD và các hệ thống khác
2 PPC Nội tỉnh Xử lí giao dịch
Quyết toán các giá trị LV nội tỉnh
Đối chiếu dữ liệu thanh toán
3 OC Nội tỉnh Có vai trò giống như PPC Tuy nhiên, OC-PPC có thêm
những vai trò đặc biệt cho sở giao dịch:
Quản lí số dư và hạn mức đầu ngày cho NHTM
Hạch toán các giao dịch trong ngày
Quản lí và hạch toán thấu chi trong ngày
Nếu phân tích vai trò và chức năng của các trung tâm thanh toán như trên, ta
sẽ thấy rằng hệ thống IBPS được phân cấp làm hai mức: quốc gia và tỉnh Cấp quốc gia thực hiện vai trò trung tâm của các thanh toán Cấp tỉnh thực hiện như cổng giao tiếp với hệ thống IBPS cho các Ngân hàng tham gia và có vai trò quyết toán cho các thanh toán LV nội tỉnh, đối chiếu nội tỉnh
Nếu so sánh vai trò và chức năng của hai loại trung tâm trên, ta thấy công việc
xử lí các thanh toán của IBPS được thực hiện chủ yếu ở NPSC hơn là ở PPC
Trang 321.2.1.4.4 Cấu trúc hệ thống hiện tại của IBPS
IBPS là hệ thống thanh toán được đầu tư lớn nhất trong lĩnh vực Ngân hàng tài chính Nó lớn cả về phạm vi, qui mô cũng như trang thiết bị và vai trò trong nền kinh tế Việt Nam Ta nghiên cứu từng thành phần của hệ thống như sau:
1.2.1.4.4.1 Phần mềm
- Phần mềm hệ thống: Hệ điều hành HP UNIX; Cơ sở dữ liệu: Oracle;
- Phần mềm ứng dụng: Phần cốt lõi của hệ thống NPSC, PPC được xây
dựng bằng ngôn ngữ C, pro C chạy trên các máy chủ UNIX; Phần mềm giao diện client CI-TAD tại các chi nhánh NHTM viết trên nền của windows bằng ngôn ngữ Delphi, CSDL client là Oracle hoặc CSDL InterBase
Trong cấu thành của NPSC có: SAPS - module thực hoá lệnh thanh toán, LVSS Switching - module chuyển mạch và xử lí LV, HVSS - module xử lí các giao dịch giá trị cao, EIS G/W - cổng kết nối hệ thống bù trừ điện tử
Trang 33Trong cấu thành của PPC có: LVSS thành phần xử lí và chuyển tiếp các giao dịch thanh toán giá trị thấp LV; HVSS module kiểm tra các lệnh thanh toán giá trị cao và chuyển tiếp các lệnh HV lên NPSC
CI-TAD: phần mềm chương trình cài đặt tại chi nhánh các NHTM, giúp các
NHTM khởi tạo, thực hiện, nhận lệnh thanh toán
Operating TAD: phần mềm kiểm soát và vận hành hệ thống IBPS tại NPSC
o Tại NPSC/Backup: 4 server HP K380: 6CPU 240MHZ/PA8200
o Tại PPC: 2 server HP 9000 D250 1CPU 100 MHz PA-RISC 7200
Tủ dữ liệu:
o Tại NPSC/Backup: 2 autoRAID 12H 6*9.1GB = 54GB
o Tại PPC: 2 autoRAID 12H 6*9.1GB = 54GB
Trang 34Thiết bị mạng - truyền thông:
o Kết nối X25: cabletrol, megabox, x25 card, đường x25
o Thiết bị mã hoá cứng hai đầu đường truyền
o Router: cho kết nối TCP/IP
o Giữa NPSC và PPC được kết nối bằng 2 đường X25
o Giữa CI-TAD và các PPC là dialup qua PSTN, hoặc đường leasedline
1.2.1.4.5 Kết quả vận hành hệ thống IBPS
Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng IBPS sau gần 2 năm đưa vào vận hành thực tế đã tạo ra bước đột phá trong thị trường thanh toán liên Ngân hàng Nó đang trở thành một hệ thống thanh toán cốt lõi của hệ thống Ngân hàng với những kết quả đạt được sau đây:
Số lượng tỉnh thành có kết nối IBPS: 5 tỉnh thành gồm Hà nội, Hải phòng, Đà nẵng, Cần thơ, TP Hồ CHí Minh Số lượng tổ chức tín dụng tham gia vào hệ thống:
55 tổ chức với hơn 200 chi nhánh của các tổ chức tín dụng này trong 5 tỉnh thành phố trên
Số lượng giao dịch thực hiện trong ngày: 10 Æ 14 ngàn giao dịch (lúc cao điểm vào ngày quyết toán cuối năm là khoảng 17,18 ngàn giao dịch) trong 1 ngày
Giá trị thanh toán hàng ngày từ vài ngàn tỷ đến chục ngàn tỷ VND
Thời gian để thực hiện một lệnh thanh toán giá trị cao HV <10s
Từ những kết quả này, hệ thống IBPS đã giúp các TCTD tăng cường vốn khả dụng, tăng tốc độ lưu chuyển tiền tệ, giảm lưu lượng trôi nổi đồng vốn, đảm bảo cho hoạt động quyết toán được thực hiện chính xác và an toàn Thông qua hệ thống này, NHNN có thể dễ dàng nắm bắt, kiểm soát được tình hình luân chuyển và sử dụng vốn của các NHTM trên thị trường liên Ngân hàng từ đó nhanh chóng nắm bắt được qui luật, những biến động của thị trường tiền tệ nhằm đưa ra các chủ trương, chính sách tiền tệ một cách tích cực nhất Như vậy, IBPS đang tạo ra những kết quả tích cực cho nền kinh tế Việt Nam
Trang 351.2.1.4.6 Yêu cầu nâng cấp, phát triển mới hệ thống IBPS
Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng IBPS sau gần 2 năm hoạt động chính thức đã có những kết quả tốt cho nền kinh tế đất nước và tình hình thanh toán của Việt Nam Tuy nhiên, yêu cầu nâng cấp hoặc xây dựng mới hệ thống IBPS đang ngày càng trở lên cấp thiết Điều này được minh chứng bằng những yếu tố sau đây:
1 Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước tăng trưởng ổn định
và không ngừng Đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế là sự tăng cao nhu cầu về luân chuyển vốn và thanh toán trong nền kinh tế Dựa trên tốc độ tăng trưởng hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đã dự đoán về tình hình tăng trưởng nhu cầu thanh toán của hệ thống thanh toán liên Ngân hàng như sau:
Số món: tăng 31% năm
Số tiền: tăng 24% năm
Sau 2.5 năm tăng trưởng số món là 200% năm
Sau 3.5 năm tăng trưởng số tiền là 200% năm
Theo tỷ lệ tăng trưởng dự đoán trên, hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng IBPS sẽ có lượng giao dịch là 20-25 ngàn giao dịch/ngày với số tiền khoảng 10-15 ngàn tỷ đồng VN/ngày trong vòng 2 năm nữa Số lượng giao dịch này sẽ nhiều gấp 2 lần so với hiện tại Dễ dàng thấy khả năng sập hệ thống do bị quá tải là rất lớn
2 Xu hướng chuyển sang thanh toán không dùng tiền mặt ngày một phổ biến
trong nền kinh tế Điều này dẫn đến sự bùng nổ về thanh toán bằng tài khoản trong Ngân hàng Đây cũng là một áp lực cho các hệ thống thanh toán mà chúng ta chưa tiên đoán trước được
Trang 363 Hiện tại, IBPS mới chỉ tiến hành cung cấp dịch vụ thanh toán liên Ngân
hàng đến 5 trên tổng số 64 tỉnh thành của cả nước, chiếm tỷ lệ 9% số tỉnh thành trong cả nước có hệ thống thanh toán liên Ngân hàng Tình hình kinh tế đất nước đã
có những bước khởi sắc, 5 tỉnh thành trên không còn là trong điểm duy nhất của nền kinh tế như những năm 90 Ngày nay, nhiều tỉnh thành khác nhờ thu hút được nguồn vốn đầu tư đã trở lên phát triển không kém 5 tỉnh thành trên Điển hình như Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hải Hưng, các tỉnh miền Trung, miền Nam đã nhanh chóng gia nhập câu lạc bộ những tỉnh thành có GDB đạt 1000 tỷ VN đồng Điều này sẽ làm tỷ lệ phân bố lệnh thanh toán trong toàn bộ nền kinh tế không còn tập trung ở một số tỉnh hay khu vực trọng tâm nữa Chúng đang ngày càng mở rộng ra khắp đất nước Do đó, nhu cầu cấp bách hiện nay là phát triển hệ thống thanh toán liên Ngân hàng trên khắp các tỉnh thành, phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế đất nước
4 Hệ thống IBPS được tiến hành đầu tư thiết bị, mua sắm cuối những năm
1999 đầu năm 2000 Đến nay, những thiết bị này đã hết thời gian bảo hành và khấu hao Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của các thiết bị trong hệ thống Ngân hàng hiện nay
là tình trạng gần như quá tải của hệ thống
Tại thời điểm tiến hành khảo sát và xây dựng dự án cho hệ thống này, chúng
ta tính toán lượng giao dịch tối đa sau 2 năm hoạt động là 4 Æ 6 ngàn giao dịch/ngày Tuy nhiên, IBPS hiện tại đang phải thực hiện một lượng nhiều hơn từ 2Æ 2,5 lần dự kiến ban đầu là từ 10 Æ 14 ngàn giao dịch/ ngày Với lượng giao dịch này, tải của hệ thống luôn trong trạng thái chiếm dụng 65 Æ 70% tài nguyên của hệ thống Trong tương lai không xa, điều này sẽ dẫn đến quá tải khi mở rộng hệ thống thanh toán hoặc lượng giao dịch trong ngày tăng cao Đây là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến yêu cầu nâng cấp hoặc phát triển hệ thống thanh toán mới
Bên cạnh đó, nhà cung cấp các thiết bị phần cứng, thiết bị mạng của hệ thống cũng không còn hỗ trợ những dòng sản phẩm cũ nữa, nên việc nâng cấp, bảo hành bảo trì, vận hành hệ thống vừa tốn kém lại không hiệu quả
Trang 371.2.2 Nhược điểm của “Hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng”
Không một hệ thống nào là không có nhược điểm, vòng đời của hệ thống phần mềm không phải là kéo dài mãi mãi Qui luật này thực chất là do doanh nghiệp và
tổ chức mà phần mềm đó được thiết kế chuyên biệt luôn lớn lên và tăng trưởng không ngừng Những thay đổi này từ phía doanh nghiệp và tổ chức sẽ phá vỡ những
dự kiến, những yêu cầu ban đầu của phần mềm Vì vậy, luôn xuất hiện những nhược điểm mà phần mềm này chưa thể khắc phục ngay được Nhược điểm của phiên bản phần mềm này sẽ là yêu cầu đặt ra cho việc xây dựng phiên bản phần mềm mới trong tương lai tốt hơn Đây chỉ là một qui luật tất yếu trong vòng đời tiến triển của một phần mềm hay hệ thống thông tin Chính vì lí do này, tôi khẳng định rằng hệ thống thanh toán liên Ngân hàng IBPS (một hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực tài chính Ngân hàng của Việt Nam) cũng chứa đựng những nhược điểm của mình Những nhược điểm này cần được mổ xẻ, phân tích, đánh giá nhằm xây dựng một phiên bản IBPS mới hoàn thiện hơn, đáp ứng tốt hơn trước những yêu cầu thực
tế đặt ra
1.2.2.1.1 Nhược điểm mang tính lịch sử
Điểm lại thời kỳ tiến hành khảo sát và xây dựng dự án thanh toán liên Ngân hàng IBPS những năm cuối của thập kỷ 90, ta thấy rằng trình độ khoa hoc cộng nghệ của chúng ta còn nghèo và lạc hậu, các ứng dụng của chúng ta chủ yếu xây dựng trên mô hình client/server cho các bài toán phân tán nhỏ Hạ tầng viễn thông của chúng ta tại thời điểm đó rất kém, chỉ có các đường truyền tốc độ thấp, dialup qua PSTN là chủ yếu
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước là phân cấp từ trung ương tới các tỉnh thành và cơ cấu này là không thể thay đổi được Qui trình nghiệp
vụ của chúng ta cũng chưa phát triển, còn đang trong giai đoạn học hỏi từ các nước phát triển và vẫn mang những đặc thù của Việt Nam Các hệ thống thông tin của các NHTM cũng chưa phát triển, chưa tập trung hoá như hiện nay, vẫn tồn tại trong tình trạng lạc hậu, manh mún, nhỏ lẻ
Trang 38Khi thực hiện đấu thầu quốc tế, nhà thầu Hyundai trúng thầu dự án IBPS với giải pháp cho hệ thống IBPS tương tự như hệ thống center bank của họ Đây là một giải pháp tiên tiến dựa trên sự tập trung cao của Ngân hàng trung ương cũng như các NHTM Tuy nhiên, do những điểm hạn chế về cơ cấu tổ chức, qui trình nghiệp
vụ và trình độ phát triển kỹ thuật tin học và viễn thông tại thời điểm lúc đó (chúng
ta gọi là tính lịch sử), Việt Nam đã không thể sử dụng được giải pháp này
Phương án xây dựng hệ thống IBPS được chúng ta chấp nhận là sự biến đổi giải pháp của nhà thầu Hyundai cho phù hợp với tình hình lịch sử lúc đó Những biến đổi đó là: đưa ra mô hình hệ thống thanh toán hai cấp độ: cấp quốc gia (NPSC National Processing Setlment Center) và cấp tỉnh (PPC Province Payment Center)
Có thể nói, sự lựa chọn phương án này là hoàn toàn phù hợp với tình hình Việt Nam lúc đó Thứ nhất, do nhu cầu thanh toán của nền kinh tế lúc đó chưa cao nên chúng
ta chỉ tập trung xây dựng 5 trung tâm thanh toán tỉnh và chủ yếu là các tỉnh và thành phố trọng điểm kinh tế của cả nước trên khắp ba miền Bắc, Trung, Nam như: Hà nội, Hải phòng, Đà nẵng, Cần thơ, TP Hồ Chí Minh Việc này sẽ làm giảm tải đường truyền viễn thông và phù hợp với tình hình viễn thông lúc đó của nước ta
Thứ hai, phương án này cũng phù hợp với trình độ phát triển nhân lực công nghệ của chúng ta
Trung tâm thanh toán quốc gia NPSC thực hiện vai trò của Ngân hàng trung ương trong cán cân thanh toán liên hàng Mọi khoản thanh toán đều được hạch toán thống nhất cho 1 tài khoản duy nhất của các NHTM tại sở giao dịch Ngân hàng nhà nước Mọi khoản thanh toán từ dưới tỉnh chuyển lên đều được NPSC tập trung và
xử lí
Trung tâm thanh toán tỉnh PPC thực hiện vai trò trung tâm thanh toán, bù trừ tại tỉnh như các chi nhánh Ngân hàng nhà nước đang thực hiện Đồng thời với chức năng của chi nhánh Ngân hàng nhà nước tại tỉnh, PPC tỉnh là đầu mối cho các chi nhánh NHTM cấp 2, 3 kết nối vào hệ thống
Trang 39Thời điểm đấu thầu và mua sắm thiết bị phần cứng và mạng truyền thông là lúc Việt Nam và Mỹ vừa mới bình thường hoá quan hệ Do đó, các máy chủ HP Class 900 K380 là loại máy chủ tốt nhất mà Mỹ cho phép bán cho Việt Nam lúc bấy giờ Thiết bị truyền thông như các thiết bị kết nối X25 cho mạng X25 là an toàn và tốt nhất tại thời điểm đó ở Việt Nam
Phần mềm ứng dụng IBPS được xây dựng tập trung và chạy trên máy chủ HP Unix bằng ngôn ngữ C, pro C với cơ sở dữ liệu hiện đại Oracle 7 Đây là công nghệ xây dựng các hệ thống phần mềm lớn tập trung chạy trên máy chủ đơn của những năm cuối thập kỷ 80 Công nghệ này cho phép xây dựng lên những hệ thống thông tin tập trung lớn, có độ tin cậy, an toàn cao, chạy nhanh và ổn định
Tuy nhiên, do IBPS được xây dựng và hình thành mang đặc trưng trình độ phát triển lúc đó nên hệ thống IBPS đã bộc lộ những nhược điểm chính sau:
1.2.2.1.2 Khả năng mở rộng, nâng cấp khó khăn
Do đặc điểm IBPS được xây dựng trên mô hình hệ thống thanh toán phân cấp
2 mức và bất kỳ một lệnh thanh toán nào cũng cần được đi qua một PPC sau đó được PPC này chuyển tiếp lên NPSC để xử lí Nên đòi hỏi quá trình mở rộng hệ thống thanh toán phải đi song song với quá trình mở rộng các trung tâm thanh toán tỉnh PPC mới đủ khả năng đáp ứng Dẫn đến, Ngân hàng nhà nước muốn mở rộng
hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng ra khắp 64 tỉnh thành thì cần phải xây dựng 59 PPC tại các tỉnh, phải mua thiết bị cho 59 tỉnh thành còn lại, phải thuê 59*2 = 118 đường X25 hoặc leaseline, và phải cần một đội ngũ gấp 9 lần hiện nay cho các hoạt động bảo hành bảo trì hệ thống
Điều trên khó có thể thực hiện được với khả năng kinh phí, tài lực và vật lực của Ngân hàng Nhà nước
Trang 40Bên cạnh đó, hệ thống phần mềm trung tâm của hệ thống IBPS tại NPSC và PPC được phát triển trên ngôn ngữ C, pro C chạy trên HP Unix nên việc chuyển đổi phần mềm này lên các nền tảng hệ thống khác HP Unix là một vấn đề không nhỏ
Ngay cả giữa các version khác nhau của cùng hệ điều hành HP Unix cũng có những thư viện và đặc trưng kỹ thuật khác nhau Tập lệnh của các máy chủ với các dòng chip mới như Italium được chính HP hỗ trợ sau này cũng rất khác so với phiên bản ứng dụng đã phát triển trên PA-RISC ban đầu Hơn nữa, phần mềm IBPS này do tổ hợp Huyndai phát triển có sự kế thừa từ các hệ thống ứng dụng trước đó nên có những thư viện cốt lõi không còn mã nguồn để biên dịch lại trên các nền tảng hệ thống khác nhau Việc bắt buộc phải chuyển đổi ứng dụng trên chính các phiên bản khác nhau của hệ điều hành, dòng máy chủ là không thể tránh được vì chính hãng
HP cũng sẽ có thời điểm không hỗ trợ các dòng sản phẩm cũ nữa Điều này bắt buộc người sử dụng phải chuyển sang một dòng sản phẩm mới hơn Do đó cần có những yêu cầu chuyển đổi ứng dụng tương ứng
Mạng truyền thông X25 ngày nay không còn phổ biến nữa, các thiết bị hỗ trợ cho chúng trở lên lạc hậu và khan hiếm trên thị trường Thêm vào đó, năng lực yếu kém của các thiết bị cũ sẽ dẫn đến đầu tư lãng phí cho hệ thống: giá có khi còn cao hơn các thiết bị tốt hơn hiện đang có trên thị trường, hiệu suất không đáp ứng tốt hơn các thiết bị hiện có
Một điểm yếu lớn nữa của hệ thống IBPS hiện tại do ứng dụng NPSC và PPC được viết trên code của C và Pro C chạy trên từng máy chủ hệ điều hành Unix đơn
lẻ Các ứng dụng này không thể chạy trên nhiều máy chủ vật lí cùng lúc nên vừa lãng phí về tài nguyên vừa hạn chế về khả năng mở rộng năng lực phần cứng của hệ thống Mặc dù cặp máy chủ cluster chạy ứng dụng có thể cùng hoạt động ở chế độ active-active và có khả năng chia tải cho ứng dụng nhưng bản thân ứng dụng IBPS tại NPSC và PPC lại chỉ có thể chạy trên duy nhất một máy đơn