Cỏc đặc điểm chung của tự nhiờn Việt Nam Thiên nhiên Việt Nam rất phong phú, đa dạng có nhiều nét đặc sắc và nổi tiếng ở các đặc điểm sau : a Thiên nhiên Việt Nam có tính chất bán đảo
Trang 1Chương III ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
I - ĐỊA LÍ TỰ NHIấN VIỆT NAM
1 Vị trớ, giới hạn, phạm vi lónh thổ
Nước Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, ở gần trung tâm khu vực Đông Nam á Lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả vùng đất, vùng biển và vùng trời Diện tích lãnh thổ nước ta
lãnh hải (12 hải lí), vùng tiếp giáp (12 hải lí) và vùng đặc quyền về kinh tế (200 hải lí) rộng
Phần trên đất liền của nước ta gắn liền với lục địa châu á, còn phần biển rộng lớn gắn liền với biển Đông và thông ra Thái Bình Dương
tỉnh Hà Giang
của Inđônêxia
Quốc thuộc xã Apa Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà
Trên đất liền, phía bắc Việt Nam tiếp giáp Trung Quốc với đường biên giới dài khoảng 1400km, phía tây tiếp giáp Lào với đường biên giới dài 2067km và tiếp giáp với Campuchia
đường biên giới dài 1080km
Nước ta có đường bờ biển dài 3260km Vùng biển nước ta tiếp giáp với vùng biển 7 nước
ở xung quanh Biển Đông Đó là Trung Quốc ở vịnh Bắc Bộ, Philippin ư Inđônêxia
ư Malaixia ư Brunây ở khu vực Biển Đông, Campuchia ư Thái Lan ư Malaixia ở vịnh Thái Lan
Việt Nam nằm ở vị trí rất thuận lợi, dễ dàng thông thương với các nước trong khu vực
Đông Nam á và thế giới bằng đường bộ, đường sắt, đường sông và đường hàng không không Việt Nam lại nằm rất gần các đường giao thông quốc tế lớn về hàng hải và hàng không, với nhiều hải cảng và sân bay lớn Việt Nam ở vị trí ngã tư đường từ bắc xuống nam và từ tây sang
đông, một khu vực giàu tiềm năng và rất năng động trong phát triển kinh tế
Về mặt tự nhiên, Việt Nam nằm ở ranh giới trung gian, tiếp giáp châu á và châu Đại Dương theo chiều kinh tuyến, ranh giới trung gian tiếp giáp giữa hai đại dương là Thái Bình Dương và ấn Độ Dương theo chiều vĩ tuyến, đồng thời có sự biến đổi theo chiều thẳng đứng với các đai cao
Do nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương, lại nằm trên đường di chuyển của các dòng hoàn lưu giữa hai nửa cầu, trên đường di lưu của nhiều loài thực vật, động vật nhiệt đới, á
Trang 2nhiệt đới, ôn đới và cổ nhiệt đới, đồng thời có liên quan trực tiếp với vành đai sinh khoáng châu á ư Thái Bình Dương nên thiên nhiên nước ta rất phong phú, đa dạng Mặc dù vậy cũng cần thấy rõ do vị trí nằm bên Biển Đông, một trong những khu vực có nhiều bão trên thế giới nên hằng năm ở nước ta thường xuyên chịu ảnh hưởng tác hại do bão gây ra
2 Cỏc đặc điểm chung của tự nhiờn Việt Nam
Thiên nhiên Việt Nam rất phong phú, đa dạng có nhiều nét đặc sắc và nổi tiếng ở các đặc
điểm sau :
a) Thiên nhiên Việt Nam có tính chất bán đảo
Nước Việt Nam nằm trên rìa phía đông của bán đảo Đông Dương, giáp một vùng biển nhiệt đới rộng lớn và hết sức giàu có về tài nguyên
Biển Đông có chiều rộng trung bình 1000km, dài 3000km, độ sâu trung bình 1240m, diện
hẹp Do vậy, ở Biển Đông chỉ có các dòng hải lưu địa phương do địa hình vùng biển và chế độ gió mùa quy định
Vịnh Bắc Bộ rất nông, không có nơi nào sâu quá 100m, có các dòng hải lưu chảy gần bờ theo chiều kim đồng hồ vào thời kì xuân ư hạ và ngược chiều kim đồng hồ vào thời kì thu
ư đông, với tốc độ khoảng 1 ư 2m/s, còn vào thời kì gió mùa đông bắc hoạt động mạnh có thể tới trên 3m/s
Vịnh Thái Lan cũng rất rộng và nông, ngay ở vùng cửa vịnh mới sâu 50m Vào thời kì từ tháng 11 đến tháng 4, các dòng hải lưu chảy ngược chiều kim đồng hồ và từ tháng 5 đến tháng
10, các dòng hải lưu chảy thuận chiều kim đồng hồ
Mực nước thuỷ triều của Biển Đông hằng ngày có ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng đồng bằng, các cửa sông ven biển
Do nằm trên bán đảo nên thiên nhiên Việt Nam vừa mang tính chất lục địa vừa mang tính chất hải dương
Tính chất hải dương đã mang lại lượng ẩm dồi dào cho đất liền, có tính chất điều hoà nhiệt
độ cả ngày, đêm và các tháng trong năm
Tính chất bán đảo và đường bờ biển dài hàng nghìn km chạy dọc theo đất nước đã tạo nên cảnh quan vùng duyên hải rất giàu có, giới sinh vật vô cùng phong phú, cho năng suất cao và
có giá trị kinh tế lớn
Có thể nói vùng biển và vùng ven biển nước ta thực sự vừa giàu vừa đẹp Những thắng cảnh như Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới, các bãi biển nổi tiếng như Trà Cổ, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu, và các đảo ven bờ là tiềm năng to lớn để phát triển du lịch biển
b) Thiên nhiên Việt Nam mang tính chất đồi núi nhiều hơn đồng bằng
ư ở Việt Nam, vùng đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích cả nước Vùng đồi núi ở nước ta rất phức tạp, đa dạng với nhiều kiểu và dạng địa hình khác nhau
Vùng đồi có độ cao tuyệt đối dưới 500m, có nguồn gốc là các mặt bằng bán bình nguyên
cổ bị chia cắt mạnh nên có các dạng địa hình như bát úp hoặc yên ngựa và lượn sóng với dáng
Trang 3bên ngoài tương đối mềm mại Vùng đồi ở Việt Nam thường được chia thành 3 bậc : đồi thấp
có độ cao tuyệt đối dưới 100m, đồi trung bình có độ cao tuyệt đối từ 100 ư 300m và đồi cao có
độ cao tuyệt đối từ 300 ư 500m
Vùng núi nước ta cũng được chia thành vùng núi thấp có độ cao từ 500 ư1500m và núi trung bình có độ cao từ 1500 ư 2500m Ngoài ra còn có một số đỉnh núi cao trên 2500m Đỉnh núi cao nhất nước ta là đỉnh Phanxiphăng cao 3143m, trên dãy Hoàng Liên Sơn
Tuy vậy đại bộ phận địa hình nước ta là đồi núi thấp, tới 70% diện tích có độ cao dưới 500m và 85% diện tích có độ cao dưới 1000m Chỉ có 15% diện tích cả nước có độ cao trên 1000m, trong đó phần núi cao trên 2000m chỉ chiếm 1% diện tích
Vùng đồi núi nước ta tạo nên một dải liên tục từ Tây Bắc sang Đông Bắc Bộ, từ biên giới Việt ư Trung đến sát đồng bằng Nam Bộ Các đỉnh núi cao trên 2500m thường tập trung ở vùng biên giới phía Bắc, ở Tây Bắc, dọc biên giới Việt ư Lào và ở Nam Trung Bộ
Hướng núi chủ yếu ở nước ta là hướng tây bắc ư đông nam và hướng vòng cung Hướng tây bắc ư đông nam tiêu biểu là các dãy núi Hoàng Liên Sơn, Sông Mã, Trường Sơn ; hướng vòng cung thể hiện rõ nhất là các dãy núi Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều ở vùng núi Bắc Bộ và núi vòng cung ở cực Nam Trung Bộ
Một trong những nét đặc sắc của địa hình đồi núi nước ta là sự tập trung của các dãy núi cao nguyên đá vôi ở miền Bắc và các cao nguyên bazan ở miền Nam
ư Vùng đồng bằng nước ta chủ yếu là đồng bằng châu thổ có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng, do phù sa của sông ngòi bồi đắp Diện tích đồng bằng ở nước ta tập trung chủ yếu
ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ Ngoài ra là các dải đồng bằng hẹp, chạy dọc theo ven biển miền Trung
và sông Thái Bình bồi đắp Đồng bằng Bắc Bộ khá bằng phẳng và thấp dần theo hướng tây bắc
ư đông nam, đỉnh là Việt Trì (Phú Thọ), với độ cao trung bình 10 – 15m, cạnh đáy là các bãi phù sa bồi ven biển vẫn ngập nước thuỷ triều hằng ngày từ Hải Phòng đến Ninh Bình
Tuy vậy, bên trong đồng bằng Bắc Bộ vẫn có nhiều vùng trũng khó tiêu nước, rất dễ xảy ra úng ngập mỗi khi có mưa lớn, đặc biệt trong thời kì mùa mưa Đồng bằng sông Hồng có hệ thống đê điều dài trên 2000km đã được hình thành và củng cố từ hàng nghìn năm nay để ngăn
lũ Nhưng cũng chính hệ thống đê điều này đã làm cho đồng bằng Bắc Bộ không phát triển theo quy luật bồi đắp tự nhiên mà dồn khối lượng phù sa ra biển, tập trung bồi đắp cho vùng cửa sông và lấn ra biển ở vùng cửa sông Hồng hằng năm lấn ra biển hàng chục mét Trong mùa mưa lũ, mực nước sông lên cao hơn cánh đồng nên thường phải dùng máy bơm nước tiêu úng
Đồng bằng Nam Bộ có diện tích lớn nhất trong số các đồng bằng của cả nước, rộng
Đồng bằng Nam Bộ có hai khu vực khác nhau rõ rệt là khu vực miền Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây Nam Bộ)
Khu vực miền Đông Nam Bộ là đồng bằng bồi tụ – xâm thực khá rộng lớn, có độ cao trung bình khoảng 100m, là vùng phù sa cổ được nâng lên Ngược lại, khu vực đồng bằng sông Cửu Long là vùng đồng bằng thấp, ngập nước đang được tiếp tục hình thành, có độ cao
Trang 4trung bình khoảng 2m, được cấu tạo bởi phù sa mới có nguồn gốc sông ư biển và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thuỷ triều
Đồng bằng sông Cửu Long không có đê, chỉ có các giồng đất cao ven sông, nên hằng năm, nước lũ tràn ra hai bên bờ làm ngập nước cả một vùng rộng lớn hàng triệu ha, nhiều nơi ngập nước tới 2m vào mùa lũ Vùng không bị ngập do đất cao có diện tích lớn nhất, đất đai phì nhiêu là vựa thóc và vườn hoa trái nổi tiếng của Nam Bộ Công tác thuỷ lợi ở đồng bằng Nam
Bộ luôn phải đặt ra để khắc phục những khó khăn do thiên nhiên gây ra như tình trạng ngập úng vào mùa lũ, sự xâm nhập của nước mặn và khan hiếm nước ngọt vào mùa khô,
Dải đồng bằng hẹp ở duyên hải miền trung chạy dài từ Thanh Hoá đến Bình Thuận là do
bằng tập trung đông dân cư, chủ yếu sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp và cũng là vùng hay
bị thiên tai, bão lũ
c) Thiên nhiên Việt Nam mang sắc thái nhiệt đới gió mùa ẩm
ư Lãnh thổ Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu Bắc Vì vậy quanh năm nhận được nguồn bức xạ mặt trời rất lớn Lượng bức xạ tổng cộng cũng như cân bằng luôn luôn đạt được tiêu chuẩn của khí hậu nhiệt đới và xích đạo Tính chung trong cả
Việt Nam còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ nhiệt đới gió mùa : gió mùa đông bắc vào thời kì mùa đông và gió mùa tây nam vào thời kì mùa hạ
Về mùa đông, ở miền Bắc Việt Nam có khí hậu lạnh, ít mưa Ngay ở vùng đồng bằng
số nơi đã xảy ra sương muối, đôi khi xuất hiện băng giá, thậm chí có tuyết rơi Vì thế, mùa
đông ở miền Bắc còn được gọi là mùa lạnh Trong khi đó ở miền Nam, mùa đông trời vẫn còn nóng, song ít mưa và có nhiều tháng khô hạn, thiếu nước nghiêm trọng
Về mùa hạ hầu như trên toàn quốc đều có khí hậu nóng và mưa nhiều, chỉ trừ các miền núi cao có khí hậu mát mẻ hơn
Sự luân phiên tác động và những diễn biến bất thường của hai mùa gió đã làm cho khí hậu Việt Nam trở nên phức tạp và có nhiều biến động
ư Khác với một số nơi khác trong vùng nhiệt đới có khí hậu nóng và khô, thiên nhiên Việt Nam do chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió mùa và được ảnh hưởng của biển nên khí hậu khá ẩm ở khắp các vùng trên cả nước, độ ẩm tương đối trung bình năm từ 80 ư 90% và lượng mưa trung bình năm từ 1500 ư 2000mm ở những nơi có địa hình chắn gió và vùng ven biển,
Trang 5lượng mưa thường đạt trên 2500mm và số ngày mưa tới 150 ư 200 ngày trong năm Tính trung bình, tương quan giữa lượng mưa và lượng bốc hơi ở nước ta từ Bắc vào Nam đều dư lượng
ẩm
Sắc thái thiên nhiên nhiệt đới gió mùa ẩm đã được phản ánh rất rõ nét qua các chỉ số khí hậu, qua mạng lưới sông suối dày đặc, qua lớp phủ thổ nhưỡng feralit đỏ vàng, qua giới sinh vật phong phú với thảm thực vật rừng và động vật rất đặc trưng
d) Thiên nhiên Việt Nam có sự phân hoá thành các vùng tự nhiên rất đa dạng
Do vị trí địa lí, do hình thể hẹp ngang, kéo dài theo hướng kinh tuyến, đặc biệt do lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ, thiên nhiên nước ta đã có sự phân hoá rõ rệt thành các vùng
tự nhiên rất đa dạng
Sự phân hoá này diễn ra dưới ba chiều hướng : từ đông sang tây, từ bắc vào nam và từ thấp lên cao
ư Sự phân hoá từ đông sang tây :
ở nước ta từ đông sang tây có thể phân biệt ba vùng lớn là vùng biển và thềm lục địa, vùng đồng bằng ven biển và vùng núi
+ Vùng biển và thềm lục địa ở nước ta có hai phần : phần thềm lục địa là vùng biển nông, thoải, có độ sâu dưới 200m, có chế độ hải văn của tầng nước mặt và phần sườn lục địa tới biển sâu có độ sâu hơn 200m
+ Vùng đồng bằng ven biển ở nước ta gồm các đồng bằng châu thổ Đó là các đồng bằng lớn được hình thành tại các vùng sụt võng của châu thổ sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ) và châu thổ sông Cửu Long (đồng bằng Nam Bộ) hoặc các đồng bằng duyên hải Trung Bộ nhỏ hẹp hơn, có nhiều núi sót, cồn cát, đụn cát, đầm phá
Tại vùng ven biển, có thể phân chia ra sáu đoạn bờ biển có tính chất khác nhau :
Đoạn từ Móng Cái đến Hải Phòng : bờ biển khúc khuỷu, có nhiều đảo và vũng biển kín nhất nước ta
Đoạn từ Hải Phòng đến Lạch Trường : bờ biển thấp, bằng phẳng có nhiều bãi triều lầy bùn tiến ra biển khá nhanh
Đoạn từ Lạch Trường đến Quy Nhơn : có nhiều mỏm núi nhô ra tận biển, có nhiều cồn cát, đầm ư phá
Đoạn từ Quy Nhơn đến Mũi Dinh : bờ biển trẻ và khúc khuỷu có nhiều bãi biển đẹp
Đoạn từ Mũi Dinh đến Vũng Tàu : khá bằng phẳng, có nhiều đụn đất cao
Đoạn từ Vũng Tàu đến Hà Tiên : bờ biển thấp, bằng phẳng, nhiều bãi bùn phủ kín rừng ngập mặn, có tốc độ tiến ra biển lớn nhất nước ta
+ Vùng đồi núi tập trung ở phía tây lãnh thổ, chủ yếu là đồi núi thấp, trong đó từ dãy Hoành Sơn trở ra Bắc là vùng núi cao, đồ sộ nhất Việt Nam (Tây Bắc) và các dãy núi cánh cung (Đông Bắc) Từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã là phần phía bắc của dãy Trường Sơn với nhiều dãy núi chạy song song so le nhau Từ dãy Bạch Mã đến miền Đông Nam Bộ là phần phía nam của dãy Trường Sơn với những dãy núi vòng cung và các cao nguyên cao
ư Sự phân hoá Bắc – Nam
Trang 6Sự phân hoá Bắc – Nam do các nhân tố khí hậu, chủ yếu là chế độ gió mùa gây nên Nếu
Có thể nhận thấy ở nước ta có hai địa đới địa lí :
ở mỗi đới địa lí lại có thể phân chia ra các á đới Thí dụ ở rừng đới gió mùa nhiệt đới có hai á đới :
* á đới rừng gió mùa nhiệt đới có mùa đông lạnh và khô, bao gồm toàn bộ miền Bắc Việt
* á đới rừng gió mùa nhiệt đới không có mùa đông và mùa khô rõ rệt từ dãy Hoành Sơn
đến dãy Bạch Mã
ở đới rừng gió mùa xích đạo có hai á đới :
B
ư Sự phân hoá từ thấp lên cao Cần phải khẳng định trước hết là các vùng cao ở nước ta vẫn nằm trong vòng nội chí tuyến gió mùa nên vẫn có chế độ nhiệt dồi dào và nhịp điệu mùa trong chế độ nhiệt và chế độ mưa
ở nước ta đã hình thành 3 đai cao :
xích đạo
Các sự phân hoá đó đã kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên sự khác biệt khá rõ nét tại các vùng tự nhiên ở nước ta
3 Tài nguyờn thiờn nhiờn Việt Nam
Tài nguyên thiên nhiên là các yếu tố của tự nhiên có thể khai thác được và tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất xã hội Tài nguyên thiên nhiên ở nước ta phong phú và đa dạng do lịch sử địa chất kiến tạo lâu dài và phức tạp, do có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm rất đặc sắc và
sự đa dạng sinh học hiếm thấy của các loài từ xích đạo đến ôn đới, từ đáy biển thềm lục địa và ven biển tới các vùng núi cao
a) Tài nguyên khoáng sản
ư Nhiên liệu Khoáng sản nhiên liệu ở nước ta có trữ lượng khá lớn, đặc biệt là than và dầu khí
Than ở nước ta có ở nhiều nơi với trữ lượng lớn hàng đầu ở các nước Đông Nam á Riêng
ở khu vực Quảng Ninh, trữ lượng than thăm dò đã đạt khoảng 3 tỉ tấn Than ở đây đa số là than gầy (antraxit) có nhiệt lượng cao, chất lượng tốt
Trang 7Các mỏ than khác ở các địa phương tuy trữ lượng không lớn, như ở Thái Nguyên có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn, nhưng có chứa một ít than mỡ có thể chế biến thành than cốc dùng
để luyện kim Mỏ than Nông Sơn ở Quảng Nam với trữ lượng khoảng 10 triệu tấn có chứa nhiều chất dễ cháy Các mỏ than nâu cũng đã được khai thác nhiều, đáng kể là than nâu ở Na Dương có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn Ngoài ra ở vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng đã xác định
được trữ lượng than nâu rất lớn, hàng chục tỉ tấn ở độ sâu hơn 1000m ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đã phát hiện có than bùn
Dầu khí ở nước ta có nhiều ở thềm lục địa, nhưng tập trung với trữ lượng lớn ở thềm lục
Trong tương lai, việc khai thác dầu khí ở nước ta không những đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu và phát triển công nghiệp hoá dầu
Bôxit ở miền Bắc thường gặp ở các vùng núi đá vôi Cao Bằng, Lạng Sơn với trữ lượng khoảng trên 30 triệu tấn ở Tây Nguyên cũng đã phát hiện những vùng có trữ lượng bôxit rất lớn, ước tính hàng tỉ tấn
Sắt có rất nhiều ở Thạch Khê (Hà Tĩnh), ngoài ra ở Yên Bái, Thái Nguyên cũng có một số
mỏ sắt nhỏ, trữ lượng khoảng 100 triệu tấn
Crôm đang được khai thác ở Cổ Định (Thanh Hoá) với trữ lượng khoảng 13 ư 15 triệu tấn
Đồng có nhiều ở Tây Bắc, ngoài ra còn có ở Bắc Giang, Nghệ An, Quảng Ngãi
Thiếc tập trung nhiều ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), Sơn Dương (Tuyên Quang), Quỳ Hợp (Nghệ An)
Ngoài ra còn có một số mỏ đa kim như mangan, titan, chì, kẽm, vàng, bạc, rải rác ở các tỉnh từ miền Bắc đến miền Trung Trong đó phần lớn là các mỏ nhỏ, có quy mô và tính chất
địa phương
ư Các mỏ phi kim loại Các mỏ phi kim loại ở nước ta cũng rất phong phú, đáng kể nhất là một số loại sau : Apatit ở Cam Đường (Lào Cai) có trữ lượng khoảng 500 triệu tấn
Đất sét có nhiều ở Bảo Lộc (Lâm Đồng), ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng
Đá vôi có nhiều ở miền Bắc
Đá xây dựng gồm đá hoa, granit, sa thạch có ở nhiều nơi
Đá quý (hồng ngọc, lam ngọc) có nhiều ở Yên Bái, Nghệ An,
b) Tài nguyên khí hậu
Khí hậu là điều kiện tự nhiên quan trọng, là môi trường bảo đảm cho mọi hoạt động của sản xuất và đời sống
Tài nguyên khí hậu chỉ bao gồm những yếu tố khí hậu được sử dụng trực tiếp để tạo ra các sản phẩm và của cải vật chất, chủ yếu là bức xạ mặt trời (nhiệt độ, số giờ nắng) và lượng mưa Lượng bức xạ mặt trời tại các vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam có sự khác biệt
đáng kể Càng vào miền Nam lượng bức xạ tổng cộng càng tăng Lượng bức xạ tổng cộng hàng tháng giữa các mùa ở hai miền cũng khác nhau : ở miền Bắc, lượng bức xạ cao nhất vào các tháng mùa hạ, từ tháng 5 đến tháng 9 ; còn ở miền Nam lượng bức xạ lại cao vào các