Từ thời cổ đại, Địa lí học đã được hình thành và phát triển như một môn khoa học mô tả, được quan niệm như một loại từ điển bách khoa về tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội và các tài nguy
Trang 1Đại học huế
Trung tâm đào tạo từ xa
pgs.ts Nguyễn Thục Nhu − pgs.ts Đặng duy Lợi
ts Lê Thị Hợp
Giáo trình
Cơ sở địa lí tự nhiên
(Sách dùng cho hệ đào tạo từ xa)
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
Chương I: KHOA HỌC ĐỊA LÍ VÀ TRÁI ĐẤT 3
I – KHOA HỌC ĐỊA LÍ 3
1 Khái niệm về khoa học địa lí 3
2 Đ ối tượng và nhiệm vụ của khoa học địa lí 3
3 Các phương pháp nghiên cứu địa lí 5
II - TRÁI ĐẤT 6
1 Trái đất trong vũ trụ 6
2 Hình dạng và kích thước của trái đất 10
3 Sự vận động của trái đất 13
4 Nguồn gốc và cấu tạo của trái đất 21
Chương II: LỚP VỎ ĐỊA LÍ CỦA TRÁI ĐẤT 25
I - LỚP VỎ ĐỊA LÍ CỦA TRÁI ĐẤT 25
1 Lớp vỏ địa lí 25
2 Khí quyển 25
3 Thuỷ quyển 28
4 Thạch quyển 34
5 Thổ nhưỡng quyển ( quyển đất ) 38
6 Sinh quyển 43
II – CÁC QUY LUẬT ĐỊA LÍ CHUNG CỦA TRÁI ĐẤT 46
1 Tính thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí 46
2 Tuần hoàn vật chất và năng lượng trong lớp vỏ địa lí 47
3 Nhịp điệu 47
4 Quy luật địa đới và phi địa đới 48
5 Các đới địa lí tự nhiên ( đới cảnh quan ) trên bề mặt Trái Đất 49
III – MÔI TRƯỜNG ĐỊA LÍ VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 51
1 Môi trường địa lí 51
2 Tài nguyên tự nhiên 52
Chương III : ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG 58
I - ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VIỆT NAM 58
1 Vị trí, giới hạn, phạm vi lãnh thổ 58
2 Các đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam 59
3 Tài nguyên thiên nhiên Việt Nam 63
4 Các vùng địa lí tự nhiên 67
II - ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG 69
1 Vị trí, diện tích, giới hạn 69
2 Đặc điểm các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 70
3 Dân cư 70
4 Đặc điểm các điều kiện kinh tế - xã hội 70
5 Kết luận 70
Trang 3Chương I KHOA HỌC ĐỊA LÍ VÀ TRÁI ĐẤT
I – KHOA HỌC ĐỊA LÍ
1 Khỏi niệm về khoa học địa lớ
Thuật ngữ Địa lí bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp Geographo, có nghĩa là sự mô tả đất, lẽ dĩ nhiên đất ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là cả vùng đất
Từ thời cổ đại, Địa lí học đã được hình thành và phát triển như một môn khoa học mô tả,
được quan niệm như một loại từ điển bách khoa về tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội và các tài nguyên của một vùng, một nước hay cả một khu vực rộng lớn
Từ thế kỉ XVII, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học, Địa lí học được phát triển theo 2 hướng:
ư Phân tích, nghiên cứu từng thành phần riêng biệt của tự nhiên hay từng ngành kinh tế (như địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật hay dân cư, nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, )
ư Tổng hợp, nghiên cứu các thể tổng hợp tự nhiên hay kinh tế ư xã hội, và như vậy Địa lí học đã trở thành một hệ thống các khoa học Đó là sự kết hợp của nhiều bộ môn khoa học khác nhau với các chức năng riêng biệt của chúng, nhưng đồng thời lại được thống nhất bởi một chức năng chung
Địa lí học ngày nay là Địa lí học hiện đại chú trọng đến việc nghiên cứu các quy luật, các mối quan hệ giữa các thành phần, các hiện tượng và các tổng thể địa lí, các mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, khác hẳn với Địa lí học cổ xưa chỉ nặng về mô tả
Cho đến nay, định nghĩa về Địa lí học được nhiều người thừa nhận hơn cả định nghĩa của
Đại từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết : Địa lí học là hệ thống các khoa học tự nhiên và xã hội nghiên cứu các tổng hợp lãnh thổ tựa nhiên, các thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và các thành phần của chúng
2 Đ ối tượng và nhiệm vụ của khoa học địa lớ
Mặc dù là một hệ thống các khoa học nhưng Địa lí học vẫn có sự thống nhất từ trong bản chất của nó, vì giữa các khoa học bộ phận tạo nên hệ thống các khoa học địa lí luôn luôn tồn tại những mối quan hệ rất chặt chẽ kết hợp chung lại với nhau, do chúng có cùng một đối tượng và nhiệm vụ chung là nghiên cứu các quy luật phát sinh và phát triển của môi trường địa
lí (được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các địa quyển và tác động của xã hội loài người) cùng các đặc tính của mối quan hệ giữa các hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế ư xã hội (mối quan hệ này ngày càng trở nên vô cùng phức tạp, đặc biệt trong thời đại khoa học công nghệ, kinh tế ư xã hội phát triển mạnh mẽ)
Hệ thống các khoa học địa lí có thể phân chia thành 4 nhóm ngành: các ngành địa lí tự nhiên, các ngành địa lí kinh tế ư xã hội, các ngành chuyên khảo và nhóm ngành bản đồ Trong
Trang 4đó, hai nhóm ngành địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế ư xã hội là hai nhóm ngành chính Hai nhóm ngành này với chức năng của mình có các đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu riêng
a) Các ngành khoa học địa lí tự nhiên
Các ngành địa lí tự nhiên có đối tượng nghiên cứu chung là những quy luật tự nhiên khách quan của lớp vỏ địa lí Lớp vỏ địa lí của Trái Đất là một thể tổng hợp vô cùng phức tạp, bao gồm nhiều thành phần và nhiều bộ phận cấu tạo nên, là nơi diễn ra các hiện tượng và các quá trình địa lí Các môn khoa học địa lí tự nhiên lần lượt ra đời có nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ lớp vỏ địa lí, từng bộ phận cũng như các thành phần cấu tạo nên nó Có thể kể ra một số trong hàng loạt các môn khoa học địa lí như môn Cơ sở Địa lí tự nhiên (hay Địa lí tự nhiên đại cương) nghiên cứu các quy luật chung của các hiện tượng, các quá trình địa lí diễn ra trên toàn Trái Đất ; môn Địa lí tự nhiên khu vực (hay Cảnh quan học) nghiên cứu đặc điểm và các quy luật địa lí diễn ra tại các bộ phận khác nhau trên Trái Đất như các châu lục, các nước, các địa phương ; các môn khoa học địa lí tự nhiên bộ phận nghiên cứu từng thành phần riêng biệt của lớp vỏ địa lí như Địa mạo học, Khí hậu học, Thuỷ văn học, Thổ nhưỡng học, Địa lí sinh vật,
b) Các ngành khoa học địa lí kinh tếư xã hội
Các ngành địa lí kinh tế ư xã hội bao gồm các môn khoa học nghiên cứu các quy luật phân bố của sản xuất xã hội và quần cư của con người , hay nói một cách khác là nghiên cứu
tổ chức lãnh thổ kinh tế ư xã hội, với các đặc điểm của nó ở các vùng, các nước và các khu vực khác nhau trên thể giới
Các môn Cơ sở Địa lí kinh tế ư xã hội, Địa kí kinh tế ư xã hội các nước, Địa lí kinh tế các ngành (Địa lí dân cư, Địa lí nông nghiệp, Địa lí công nghiệp, Địa lí giao thông vận tải, ) nghiên cứu sự phân bố địa lí của các hoạt động kinh tế ư xã hội, các điều kiện và đặc điểm phát triển của chúng trên phạm vi toàn thế giới cũng như ở các nước, các vùng lãnh thổ khác nhau
Bên cạnh hai nhóm ngành chính kể trên, nhóm ngành địa lí chuyên khảo có các môn như
Đất nước học, Địa lí địa phương, Địa lí chuyên khảo (Địa lí chính trị, Địa lí quân sự, Địa lí y học, Địa lí du lịch, ) có nhệm vụ nghiên cứu tổng hợp các kiến thức trong và ngoài phạm vi của địa lí học và thống nhất chúng phục vụ cho một yêu cầu nhất định ; nhóm ngành bản đồ học với tư cách là các môn khoa học về bản đồ, đồng thời còn trang bị cho các nhà địa lí một phương pháp khoa học, một công cụ sắc bén trong nghiên cứu, thông tin, giảng dạy địa lí
Hệ thống các khoa học địa lí có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau :
Hệ thống khoa học địa lí
Nhóm ngành Nhóm ngành Nhóm ngành Nhóm ngành
địa lí tự nhiên địa lí kinh tế địa lí chuyênkhảo bản đồ
Trang 5* Cơ sở địa lí * Cơ sở địa lí * Đất nước học * Bản đồ
tự nhiên kinh tế ư xã hội * Địa lí đại cương
* Địa lí tự nhiên * Địa lí kinh tế ư xã địa phương * Bản đồ
khu vực hội các nước * Địa lí chuyên
* Cổ địa lí * Địa lí kinh tế chuyên khảo ngành
* Địa lí bộ phận các ngành ư Địa lí chính trị
ư Địa lí mạo ư Địa lí dân cư ư Địa lí quân sự
ư Khí hậu ư Địa lí ư Địa lí y học
ư Thuỷ văn công nghiệp ư Địa lí du lịch
ư Thổ nhưỡng ư Địa lí nông nghiệp
ư Địa lí sinh vật ư Địa lí giao thông
Hình 1 Sơ đồ hệ thống các khoa học địa lí
3 Cỏc phương phỏp nghiờn cứu địa lớ
Địa lí học là một hệ thống khoa học, vì vậy nó cũng sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu khác nhau Cũng cần lưu ý là các phương pháp nghiên cứu địa lí có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, có tác dụng bổ sung, hỗ trợ cho nhau Vì thế trong mỗi công trình nghiên cứu địa lí thường được sử dụng đồng thời nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau và
có sự kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp nghiên cứu truyền thống với các phương pháp nghiên cứu hiện đại Các phương pháp nghiên cứu thường hay sử dụng trong nghiên cứu địa lí
là :
a) Phương pháp thu nhập, phân tích và tổng hợp tài liệu để xử lí một khối lượng lớn các số liệu, tư liệu có liên quan tới nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
b) Phương pháp mô tả, so sánh để làm nổi bật các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu c) Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa nhằn thu thập, bổ sung tài liệu, kiểm chứng các kết quả nghiên cứu
d) Phương pháp bản đồ giúp ích thiết thực cho nghiên cứu vì nó có tính khái quát và trực quan rất cao Bản đồ là ngôn ngữ, là công cụ đặc biệt được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu
địa lí Có thể nói, mọi nghiên cứu địa lí đều được mở đầu và kết thúc bởi bản đồ
e) Phương pháp toán học góp phần định lượng, khái quát hoá các kết quả nghiên cứu, cùng với việc sử dụng rộng rãi máy vi tính trong việc thành lập và xử lí hệ thống thông tin địa lí, phương pháp toán học đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong nghiên cứu địa lí f) Phương pháp viễn thám sử dụng các ảnh máy bay, ảnh vệ tinh, tàu vũ trụ và các thông tin thám sát từ xa đã mang lại những hiệu quả to lớn trong việc cung cấp và xử lí các thông tin
địa lí trong một phạm vi rộng lớn, rất chính xác, kịp thời và đặc biệt là tiết kiệm rất nhiều công sức và thời gian
Trang 6II - TRÁI ĐẤT
1 Trỏi đất trong vũ trụ
Vũ trụ là một khoảng không gian bao la và vô cùng tận mà cho đến nay con người vẫn chưa nhận thức hết được Trong khoảng không gian bao la có sự tồn tại của các thiên thể luôn luôn vận động Các thiên thể đó đã được phân chia thành các loại : sao, hành tinh, vệ tinh, tiểu hành tinh, sao chổi, thiên thạch và tinh vân Tuy vậy, các thiên thể ấy không phải là hoàn toàn cô lập với nhau mà có mối quan hệ, kết hợp với nhau tạo nên những hệ thống phức tạp với những quy luật riêng
Trong vũ trụ bao la, Trái Đất chỉ là một vật thể vô cùng nhỏ bé Trái Đất là một hành tinh của hệ Mặt Trời Hệ Mặt Trời lại chỉ là một bộ phận rất nhỏ của một hệ Thiên Hà được gọi là Ngân Hà
a) Nhìn tứ trên xuống b) Nhìn ngang
Hình 2 Mặt Trời trong hệ Ngân Hà
Cho đến nay, nhờ các kính thiên văn và các con tàu vũ trụ hiện đại, con người đã quan sát
được hàng chục triệu hệ Ngân Hà tương tự trong hệ Siêu Ngân Hà Và đấy cũng chưa phải là tận cùng của vũ trụ
Trang 7Hình 3 Các tinh vân trong vũ trụ
a) Trái Đất trong hệ Mặt Trời
Hệ Mặt Trời gồm có Mặt Trời là một thiên thể lớn ở trung tâm và bao quanh là các thiên thể nhỏ hơn gồm các loại : hành tinh, vệ tinh, tiểu hành tinh, sao chổi, thiên thạch và tinh vân Cho đến nay, người ta đã xác định được có 9 hành tinh quay xung quang Mặt Trời Chín hành tinh đó là : sao Thuỷ, sao Kim, Trái Đất, sao Hoả, sao Mộc, sao Thổ, saoThiên Vương, sao Hải Vương và sao Diêm Vương
Ngay từ thời cổ đại, từ Trái Đất con người đã quan sát bằng mắt thường và đã phát hiện ra
5 hành tinh là sao Thuỷ, sao Kim, sao Hoả, sao Mộc và sao Thổ Đến thế kỉ XVIII, sau khi xuất hiện định luật Niutơn và chế tạo được các kính thiên văn cực mạnh, năm 1781 người ta đã phát hiện ra sao Thiên Vương Sau đó, năm 1846 đã phát hiện ra sao Hải Vương và đến năm
1930 mới phát hiện ra sao Diêm Vương
Khác với các sao là các thiên thể khí hình cầu có nhiệt độ khá cao và có khả năng tự phát sáng, hành tinh là các thiên thể rắn, hình cầu quay xung quanh Mặt Trời và sáng lên được do
bề mặt của chúng phản chiếu ánh sáng của các ngôi sao chiếu tới ở một số hành tinh còn có các vệ tinh, đó cũng là các hành tinh nhưng có kích thước nhỏ hơn, quay xung quanh một hành tinh nào đó
Hệ Mặt Trời được duy trì là do sự cân bằng giữa các lực li tâm của mỗi hành tinh với sức hút của Mặt Trời với các hành tinh đó
Hệ Mặt Trời có các đặc điểm chính, quan trọng sau đây:
ư Tất cả các hành tinh quay quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo gần tròn (với tâm sai nhỏ)
và theo cùng một hướng ngược chiều kim đồng hồ (nhìn từ trên xuống)
ư Hầu hết các hành tinh và vệ tinh (trừ sao Kim và sao Thiên Vương) đều tự quay quanh trục của mình theo hướng ngược chiều kim đồng hồ
ư Các hành tinh trong hệ Mặt Trời có thể chia ra làm 2 nhóm: nhóm bên trong, bao gồm sao Thuỷ, sao Kim, Trái Đất và sao Hoả, có kích thước nhỏ, tỉ trọng trung bình lớn, tự vận
động xung quanh trục tương đối chậm, có ít hoặc không có vệ tinh Nhóm bên ngoài, gồm sao Mộc, sao Thổ, sao Diêm Vương và sao Hải Vương, có kích thước lớn, tỉ trọng trung bình nhỏ, vận động tự quay quanh trục tương đối nhanh và có nhiều vệ tinh Sao Diêm Vương ở ngoài
Trang 8cùng có kích thước nhỏ và có tỉ trọng trung bình khá lớn, được xem như một trường hợp ngoại
lệ
ư Các số liệu [r bảng sau cho thấy chi tiết hơn một số đặc điểm của các hành tinh trong hệ Mặt Trời
Ghi chú :
ư Khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời được Hội Thiên văn quốc tế (đại hội lần thứ 12, năm 1964) xác định là 149,6 triệu km được xem như một đơn vị thiên văn
ư Tâm sai là độ lệch của quỹ đạo thực sự so với đường tròn lí thuyết, được xác định bằng
tỉ lệ giữa hiệu số của khoảng cách lớn nhất và nhỏ nhất từ hành tinh đến Mặt Trời với tổng khoảng cách đó Đối với Trái Đất do có khoảng cách lớn nhất đến Mặt Trời là 152 triệu km và khoảng cách nhỏ nhất đến Mặt Trời là 147 triệu km nên tâm sai của quỹ đạo Trái Đất là :
0, 017.
+
Một số đặc điểm của các hành tinh trong hệ Mặt Trời (MT)
Tên hành
tinh
Khoảng cách đến
MT (đơn
vị thiên văn)
Bán kính xích
đạo (km)
Tỉ trọng trung bình (g/cm 3
)
Thời gian tự quay quanh trục
Thời gian quay quanh
MT
Độ tâm sai
Độ nghiêng của quỹ
đạo trên mặt phẳng hoàng đạo (độ)
Tốc độ trung bình (km/s)
Số lượng vệ tinh
- Sao Thuỷ
- Sao Kim
- Trái Đất
- Sao Hoả
- Sao Mộc
- Sao Thổ
- Sao Thiên
Vương
- Sao Hải
Vương
- Sao Diêm
Vương
0,39 0,72
1 1,52 5,20 9,24 19,9
30,07
39,52
243
6050
6371
3370
71600
60400
23800
2500
(6200)
5,30 5,20 5,52 3,54 1,33 0,69 1,56
1,60
(4)
58 ngày 243ngày
24 giờ 24,5 giờ
9 giờ
11 giờ
17 giờ
15 giờ
6,4 ngày
0,24 0,62
1 1,88 11,86 29,46 84,01
164,8
248,4
0,026 0,007 0,017 0,093 0,048 0,056 0,047
0,009
0,249
7,0 3,4 0,0 1,9 1,3 2,5 0,8
1,8
17,1
47,8 35,05 29,8 24,1 13,1 9,7 6,8
5,8
4,7
0
0
1
2
16
19
15
6
1
Trang 9Ngoài các hành tinh, vệ tinh, trong hệ Mặt Trời còn có các tiểu hành tinh, sao chổi và thiên thạch
Tiểu hành tinh là những vật thể rắn, không có hình dạng nhất định, quay xung quanh Mặt Trời theo cùng hướng với các hành tinh Các tiểu hành tinh trong hệ Mặt Trời có số lượng lớn,
ước tính từ 40 ư 60 nghìn tiểu hành tinh, nhưng chúng có kích thước nhỏ, thường chỉ vài km
đến hàng trăm km và tổng khối lượng của chúng chỉ bằng 1/1000 khối kượng của Trái Đất Phần lớn các tiểu hành tinh đều tập trung ở khoảng giữa quỹ đạo của sao Hoả và sao Mộc Tuy nhiên, cũng có một số tiểu hành tinh chuyển động lẫn cả vào quỹ đạo của sao Hoả và sao Thuỷ
Sao chổi là các thiên thể chuyển động xung quanh Mặt Trời với quỹ đạo hình elip rất dẹt
và kéo dài Thời gian quay hết một vòng trên quỹ đạo của sao chổi có thể chỉ vài năm, vài chục năm (sao chổi Ha lây được phát hiện từ năm 1682, có chu kì khép kín sau 75 năm, gần
đây đã phát hiên trở lại vào đầu năm 1986) cho đến hàng nghìn năm Sao chổi có cấu tạo khá
đặc biệt Bộ phận chính của sao chổi là nhân sao chổi ư là các vật thể rắn hoặc các chất khí
đóng băng có kích thước nhỏ, đường kính lớn nhất cũng chỉ khoảng vài chục km, nhưng đáng
kể phải là lớp vỏ mây bụi và khí có kích thước rất lớn, có khả năng phát sáng khi đến gần Mặt Trời Dưới áp lực của ánh sáng Mặt Trời, đuôi sao chổi bao giờ cũng quay về phía đối diện Mặt Trời, phát sáng và kéo dài tới hàng triệu km
Thiên thạch là những vật thể rắn có kích thước nhỏ, có thành phần cấu tạo giống như thành phần của Trái Đất và các hành tinh khác Thiên thạch có cùng nguồn gốc hình thành với các hành tinh hoặc do sự tan vỡ của các hành tinh Khi rơi vào khí quyển của Trái Đất, do bị ma sát, các thiên thạch bốc cháy để lại một vệt sáng trên bầu trời thường được gọi là sao băng hay sao đổi ngôi
b) Mặt Trời
Mặt Trời là trung tâm, là hạt nhân của hệ Mặt Trời, đồng thời là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu và là động lực của mọi quá trình tự nhiên diễn ra trên Trái Đất
Mặt Trời là một ngôi sao, một quả cầu khí khổng lồ, rực sáng Cấu tạo của Mặt Trời gồm 70% khối lượng là khí hiđrô, 29% là khí hêli, còn lại là các khí khác Mặt Trời có tỉ trọng trung bình là 1,4 nhưng có khối lượng cực kì lớn, chiếm 99,886% toàn bộ khối lượng của hệ Mặt Trời và bằng 32 nghìn lần khối lượng của Trái Đất Mặt Trời có đường kính tới 1,39 triệu km, gấp 109 lần đường kính Trái Đất
Trên Mặt Trời thường xuyên xảy ra các phản ứng hạt nhân giải phóng một lượng vật chất
và năng lượng vô cùng to lớn, toả ra không gian vũ trụ dưới ánh sáng, nhiệt và điện từ Nhiệt
độ bên trong của Mặt Trời lên tới 20 triệu °C, còn ở lớp bề mặt ngoài thấp hơn, chỉ vào khoảng 5700 ư 5800°C
Mặt Trời luôn luôn vân động Mặt Trời vận động quay quanh trục của nó một vòng hết 27,35 ngày và vận động trong hệ Ngân Hà kéo theo toàn bộ hệ Mặt Trời về phía sao Chức Nữ, thuộc nhóm sao Thiên Cầm với vận tốc gần 20km/s
Mặt Trời cũng có các chu kì hoạt động mạnh yếu khác nhau, rõ rệt nhất là chu kì 11,3 năm Khi Mặt Trời hoạt động mạnh, thường xuất hiện nhiều tai lửa, bướu sáng và vết đen trên Mặt Trời, gây ra các hiện tượng cực quang, bão từ và bão điện li trên Trái Đất Nói chung, mọi biến động của Mặt Trời đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động diễn ra trên Trái Đất
Trang 102 Hỡnh dạng và kớch thước của trỏi đất
a) Hình dạng của Trái Đất
Đã từ lâu, con nguời quan niệm Trái Đất có hình cầu Ngay từ thế kỉ IX trước Công nguyên, những người theo phái Pitago đã đề ra thuyết Trái Đất có dạng cầu Thế kỉ IV trước Công nguyên, Aristốt khi quan sát hiện tượng nguyệt thực đã xác nhận căn cứ khoa học về hình cầu của Trái Đất Đến thế kỉ III trước Công nguyên, lần đầu tiên số liệu đo tính chu vi của đường kính Trái Đất được công bố (khoảng 40 000km) Đến thế kỉ XVII đã quan niệm Trái Đất không phải là một khối cầu hoàn hảo mà là một khối cầu dẹt ở hai cực được gọi là elipxôit
AO ư Bán trục lớn
ON ư Bán trục nhỏ ABCD ư Mặt phẳng của
vĩ tuyến lớn nhất ANBS ư Mặt phẳng của một trong những kinh tuyến
Hình 4 Khối elipxôit
Tiếp theo đến thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, các đo đạc thực tế cũng đã xác nhận hình khối elipxôit 3 trục của Trái Đất không những dẹt ở hai cực mà còn dẹt ở cả Xích đạo
Những bức ảnh vệ tinh chụp Trái Đất trong những năm gần đây đã cho thấy một cách hoàn toàn trung thực hình dạng của Trái Đất
Các số liệu do các vệ tinh cung cấp cho thấy hình dạng Trái Đất rất đặc biệt Nó không giống bất cứ một hình dạng toán học nào Đó là hình dạng địa cầu hay gêôit
Hình dạng gêôit của Trái Đất không phải là một hình dạng được xác định một cách trung thực theo những chỗ lồi chỗ lõm của địa hình trên bề mặt của Trái Đất mà là một bề mặt lí thuyết, bề mặt cùng mức của thế năng trọng lực, nghĩa là một bề mặt luôn luôn vuông góc với hướng trọng lực
Bề mặt đó không trùng với bề mặt của hình khối cầu mà cũng không trùng với bề mặt của khối elipxôit 3 trục Điều đó có thể do trong nội bộ Trái Đất có sự phân bố vật chất không đều : có loại đá nặng, có loại đá tương đối nhẹ Trị số của trọng lực lại có liên quan đến các loại
đá ở những nơi tích tụ các loại đá nặng, bề mặt Trái Đất lõm xuống gần tâm, còn ở những nơi tích tụ những loại đá nhẹ, bề mặt Trái Đất lồi lên, xa tâm Trái Đất hơn Hiện tượng phân bố không đều các loại đá trong nội bộ Trái Đất có thể do hai nguyên nhân : thứ nhất, trong quá trình hình thành hành tinh, bản thân Trái Đất đã được tạo nên sự gắn kết của các khối vật chất hỗn độn và nguội dần đi ; thứ hai, sau khi hình thành, các quá trình địa chất như quá trình tạo núi, những chuyển động theo các hướng dọc, ngang trong nội bộ Trái Đất và trong lớp thạch quyển đã làm đảo lộn trật tự sắp xếp các loại đá ban đầu
Trong giai đoạn mới hình thành, Trái Đất chưa có hình dạng đều đặn, nói chung chỉ là một khối có dạng gần giống khối hình cầu Sự biến đổi nhiệt độ sau này và chế độ tự quay đã làm cho Trái Đất tiến dần đến dạng hình cầu Sự phân bố lại vật chất trong nội bộ Trái Đất