1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

THIÊN TAI TÁC ĐỘNG ĐẾN SỨC KHOẺ VÀ MÔI TRƯỜNG ppt

16 656 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 176,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thiên tai tác động đến sức khoẻ và môi trờng Mục tiêu: Sau bài học sinh viên có khả năng: - Trình bày đợc định nghĩa và phân loại của thiên tai môi trờng ảnh hởng đến sức khoẻ - Trình

Trang 1

thiên tai tác động đến sức khoẻ và môi trờng Mục tiêu:

Sau bài học sinh viên có khả năng:

- Trình bày đợc định nghĩa và phân loại của thiên tai môi trờng ảnh hởng

đến sức khoẻ

- Trình bày đợc tác động của thiên tai đến sức khoẻ con ngời và môi trờng

- Trình bày đợc một số chiến lợc cơ bản nhằm hạn chế hậu quả của thiên tai

và thảm hoạ

1 Định nghĩa và phân loại

- Thiên tai là các hiện tợng bất thờng lớn của môi trờng (nh bão lụt, động

đất, núi lửa phun trào, sạt lở đất, hạn hán, ) tác động đến môi trờng và từ

đó gây tác hại lớn đến tài chính, phá huỷ môi trờng và ảnh hởng đến sức khoẻ

- Thiên tai là tình trạng khẩn cấp đe doạ sự phát triển và sức khoẻ của cộng

đồng nhất thiết phải có sự hỗ trợ và giúp đỡ của quốc gia hoặc quốc tế

- Một thiên tai hoặc thảm hoạ nhất thiết phải hội đủ một số tiêu chuẩn sau:

- Có số lợng lớn ngời chết và bị thơng hoặc ảnh bị ảnh hởng

- Môi trờng bị tàn phá hoặc bị ô nhiễm nặng nề

- Tuyên bố tình trạng khẩn cấp của quốc gia và kêu gọi sự giúp đỡ của quốc tế

2 Phân loại thiên tai và nguyên nhân

- Động đất: là hậu quả của quá trình phản ứng trong tâm trái đất và từ đó tạo

ra những xung động lớn theo chiều lắc trên mặt trái đất và từ đó phá huỷ những công trình trên bề mặt trái đất hoặc gây nên những hiện tợng nứt

Trang 2

gẫy của các tầng địa chất dới đáy biển gây nên những trận sóng thần nh trận sóng thần Tsunami năm 2004

- Núi lửa phun trào cũng là do hiện tợng phản ứng trong lòng trái đất gây nên tình trạng núi lửa phun dòng nham thạch nóng tới hàng nghìn độ phá huỷ các công trình trên bề mặt trái đất và gây ô nhiễm môi trờng Những vùng có nhiều núi lửa tái hoạt động ở Nhật Bản, Philippin và Mỹ La tinh

- Bão: bão đợc hình thành do sự chênh lệch áp xuất của không khí giữa các vùng khác nhau và thờng là ở ngoài biển khơi Hàng năm trên thế giới có hàng trăm cơn bão đợc hình thành và đổ vào các quốc gia Các cơn bão th-ờng kèm theo ma lớn nên tác dụng phá huỷ rất lớn vừa bị phá huỷ bởi sức gió mạnh vừa chịu sự phá huỷ của lũ lụt Khu vực chịu nhiều bão nhất là khu vực các quốc gia ven biển nh Việt Nam, Băng la đét, Philippin, Indonesia, Mỹ và các quốc gia thuộc châu Mỹ La tinh

- Lũ lụt: thờng là hậu quả của bão và những trận ma lớn trên thợng nguồn Cùng với việc phá rừng, khai thác gỗ bừa bãi càng làm tăng cờng độ của các cơn lũ

- Bão tuyết/sụt lở tuyết: thờng xảy ra ở các nớc khu vực châu Âu và một số bang của nớc Mỹ Những khu vực dới các chân núi thờng hay gặp và sức tàn phá không lớn và khu trú trên phạm vi nhỏ

- Bão cát: thờng xẩy ra ở các nớc ven xa mạc nh ở châu Phi và các nớc Trung Đông Bão cát tuy không có sức phá huỷ lớn nhng gây ảnh hởng lớn

đến sức khoẻ và tác động đến môi trờng

- Cháy rừng: ngoài nguyên nhân do con ngời thì cháy rừng tự nhiên cũng xảy ra thờng xuyên do hạn hán, nhiệt độ môi trờng tăng cao và các hiện t-ợng tự nhiên khác nh sét đánh và các hiện tt-ợng tự nhiên khác có thể làm cháy rừng Cháy rừng xảy ra nhiều trong những năm vừa qua ở các nớc

úc, Mỹ, Indonesia và Malaysia trên qui mô lớn Việt Nam trong những năm vừa qua cũng co nhiều vụ cháy rừng chủ yếu gây thiệy hại tài nguyên

và ô nhiễm môi trờng

- Sạt lở đất: nguyên nhân chủ yếu là do ma to và ma trong thời gian dài ở những khu vực núi đất hoặc núi đất lẫn đá Sạt lở đất cách đây vài năm ở Philipin đã chôn vùi cả làng dới chân núi làm hàng nghìn ngời chết

Trang 3

- Hạn hán: xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới nhng thờng xảy ra ở các nớc ven

xa mạc Xahara và Trung Đông Cùng với sự nóng lên của toàn cầu, hạn hán ngày càng trở nên phổ biến và gây ảnh hởng đến mùa màng và từ đó gây nên các nạn đói cho các quốc gia này

- Côn trùng: những loại côn trùng nh sâu bọ, châu chấu, bớm, thờng gây tác hại đến mùa màng và từ đó gây ra các nạn đói nh ở châu Phi

- Tình trạng nóng lên của trái đất: đây là một vấn đề toàn cầu Nguyên nhân gây ra là do khí thải do hoạt động sản xuất và sinh hoạt gây ra Chủ yếu các loại khí thải này là CO, CO2 và SO2, Những khí thải này gây nên hiện tợng thủng tầng Ozon và gây hiệu ứng nhà kính làm tăng nhiệt độ của trái đất Trái đất nóng lên gây tan băng và gây ngập lụt các vùng ven biển Tóm lại nguyên nhân của thiên tai là do nguyên nhân do quá trình tái tạo vận

động và phát triển của trái đất cũng nh do hậu quả của các hoạt động sản xuất, sinh hoạt làm phá huỷ sự cân bằng sinh thái và từ đó gây nên các thiên tai Những hiện tợng động đất, núi lửa phun trào, bão tuyết, bão cát và một số lũ lụt

là do tự nhiên gây ra mà không có vai trò của con ngời Nhng một số thiên tai khác nh lụt lội, hạn hán, sự nóng lên của trái đất, biến đổi khí hậu, thì lại có vai trò rất lớn của con ngời nh phá rừng, khí thải làm ô nhiễm môi trờng

3 Tác hại của thiên tai và thảm hoạ

3.1 Trên thế giới

3.1.1 Tác hại đến sức khoẻ con ngời

- Tác hại đến sức khoẻ của con ngời do thiên tại đợc đánh giá bởi 3 tiêu chí cơ bản: số ngời chết, số ngời bị thơng và số ngời bị ảnh hởng ngay sau thiên tai

- Bản thân thiên tai có thể gây tác hại trực tiếp đến sức khoẻ con ngời nh gây tử vong hoặc thơng tích nhng thiên tai cũng có thể gây tác hại gián tiếp đến sức khoẻ nh làm mất mùa gây thiếu đói hoặc sau thiên tai là dịch bệnh đi kèm và từ đó gây tử vong hoặc tàn phế

Trang 4

- Thiên tai là mối đe doạ lớn đối với sức khoẻ con ngời, trong 20 năm trở lại đây (1990-2010) thiên tai đã làm chết hàng triệu ngời và số ngời mắc bệnh, thơng tích và bị ảnh hởng còn cao hơn gấp nhiều lần

Số ngời chết và mất tích trên thế giới từ 1991-2000 (nghìn ngời)

- Chỉ tớnh trong 1 thập kỷ 1991-2000, hàng năm số người chết và mất tớch trờn thế giới dao động từ trờn 20 ngàn đến trờn 130 ngàn người Số người

bị ảnh hưởng hàng năm cũng dao động từ hàng chục triệu người đến hàng trăm triệu người

- Cơn sóng thần Tsunami ngày 26/12/2004 xảy ra trên biển Thái Bình Dơng làm sóng biển dâng cao hàng chục mét tràn vào bờ biển các nớc Indonesia, Srilanka, Thái Lan và một số nớc lân cận làm chết 230.000 ngời và hàng chục triệu ngời bị ảnh hởng do hậu quả của cơn sóng thần này

- Trận động đất ở Haiti ngày 13/1/2010 với địa chấn 7,8 độ Richter đã phá huỷ gần nh toàn bộ thủ đô của Haiti, làm chết 200.000 ngời và hàng triệu ngời bị ảnh hởng do bị thơng cũng nh do tác hại của bệnh dịch, thiếu dinh dỡng và ô nhiễm môi trờng

- Trận động đất 7,8 độ Richter hụm 12/5/2008 đó tàn phỏ một phần lớn của tỉnh Tứ Xuyờn, Trung Quốc Nhiều trường học, cụng sở và nhà ở sập xuống khiến tổng số người thiệt mạng đó lờn đến 10.000 người

Trang 5

3.1.2 Tác hại đến của cải vật chất

- Tổn thất về kinh tế, kể cả cở sở hạ tầng, đòng xá bị phá huỷ, mùa màng thất bát trong giai đoạn 1991-2000 ớc tính tới gần nghìn tỉ đô la Mỹ Châu

á là châu lục hứng chịu thiên tai nhiều nhất so với tất cả các châu lục khác và Việt Nam là một trong số 10 nớc bị thiên tai tàn phá nặng nề nhất trên thế giới

Thiệt hai do thiên tai trên thế giới 1991-2000 (tỷ đô la)

3.1.3 Tác hại đến môi trờng

- Các thiên tai thảm hoạ thờng gây tác hại rất lớn đến môi trờng nh gây ô nhiễm môi trờng rất nặng nề nh các trận bão lụt, động đất, cháy rừng và núi lửa phun

- Thông thờng sau các thiên tai thì cần phải mất từ vài năm đến hàng chục năm môi trờng mới hoàn nguyên lại trạng thái ban đầu trớc khi có thiên tai

3.2 Tình hình thiên tai ở Việt Nam

3.2.1 Bão

- Bão thờng xảy ra ở vùng bờ biển Việt Nam và thờng gây lũ lụt nghiêm trọng Trong vòng 14 năm (1979 - 1993) có tới 73 cơn bão lớn Trung

Trang 6

bình đã đổ bộ vào Việt Nam Giai đoàn gần đây nhất là từ năm 2000 trở lại đây, tính trung bình mỗi năm có 5 trận bão trở lên

- Bão thờng đổ bộ vào vùng duyên hải miền Trung và đông bằng sông Hồng Các tỉnh thờng phải hứng chịu những trận bão lớn gồm Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận (thuộc vùng duyên hải miền Trung) và Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định (thuộc ĐB sông Hồng)

- Những tổn thất về ngời và của do một số trận bão lớn ở một số tỉnh miền Trung là rất lớn Hàng năm tại Việt Nam có từ hàng chục đến hàng trăm ngời bị chết và hàng ngàn ngời bị thơng và số ngời bị ảnh h-ởng nh mất chỗ ở, thiếu ăn còn cao hơn rất nhiều

- Cơn bão năm 1999 đổ vào miền Trung với ma lớn đã làm chết hơn 300 ngời và hàng trăm ngời và ngập lụt cho nhiều tỉnh miền Trung, đặc biệt

là tỉnh Thừa thiên – Huế

- Điển hình là cơn bão Ketsana với cấp gió 11 và giật trên 11 độ gây ma lớn trên 12 tỉnh từ miến bắc vào miền Trung đã làm ảnh hởng đến 3 triệu ngời, 102 ngời chết và mất tích, 81 ngời bị thơng Bão cũng đã làm phá huỷ toàn bộ 6000 ngôi nhà, làm h hỏng 163000 công trình và

14000 hec ta lúa Thiệt hại về tài sản lên tới 120 triệu đô la Mỹ

- Bão không chỉ gây thiệt hại về ngời và của, phá hoại các cơ sở y tế, hệ thống cấp nớc và công trình vệ sinh mà còn phá hoại mùa màng gâp cảnh đói nghèo Vùng duyên hải miền Trung chịu ttỏn thất nặng nề nhất Trong 6 năm từ 1993 đến 1998, có hơn 30% số xã mất hơn 10% mùa màng

3.2.2 Lũ lụt

- Lũ lụt là một trong những thiên tai trọng nhất gây ảnh hởng tới sức khoẻ và phá huỷ các cơ sở dịch vụ y tế, cơ sở hạ tầng và mùa màng ở Việt Nam

- Từ năm 1994 - 1997 khoảng 40% số xã trên cả nớc bị mất mùa (từ 10% trở lên) do lũ lụt Đặc biệt trong những năm gần đây vùng đồng bằng sông Cửu Long thờng bị lũ lụt gây mất mùa

3.2.3 Hạn hán

- Hạn hán là một trong những thảm hoạ gây tác động đến sức khoẻ nhân dân do mùa màng bị thất bát

Trang 7

- Năm 1998, các tỉnh Tây Nguyên nh Đak Lak, Kom Tum, Gia Lai bị hạn hán nặng nề với 82% số xã bị mất mùa từ 10% trở lên Năm 1993

có 20% tổng số xã trên cả nớc bị mất mùa từ 10% trở lên và năm 1998 con số này là 50%

- Năm 2009 và 2010 là những năm có mức độ hạn hán lớn nhất từ trớc

đến nay Mực nớc các dòng sông trong cả nớc thấp nhất trong lịch sử Không có nớc tới cho cây trồng, thiếu nớc cho sản xuất thuỷ điện, cho giao thông vận tải đã làm thiệt hại nhiều đến kinh tế quốc dân và sức khoẻ con ngời Mặt khác, do hạn hán các tỉnh ven biển rất dễ bị nhiễm mặn do nớc biển theo các con sông tràn vào đất liền gây thiệt hại nhiều

về nông nghiệp

3.2.4 Động đất/sạt đất

- Động đất và sạt đất không phải là hiện tợng xảy ra thờng xuyên ở Việt Nam Trong những năm gần đây đã có một số trận động đất mạnh 5 - 6

độ Richter đã xảy ra ở vùng Đông Bắc nh ở Điện Biên, Lai Châu

- Động đất ở Việt nam không gây chết nhiều ngời do cấp độ thấp nhng cũng phá huỷ nhà cửa, cơ sở, công trình y tế, cơ sở hạ tầng

3.2.5 Tình trạng nóng lên của trái đất

- ô nhiễm không khí trên toàn trái đất và tình trạng phá rừng tràn lan

đang làm phá huỷ tầng ô-zôn và làm cho trái đất nóng lên

- Mực nớc biển dâng cao thì vùng duyên hải và đồng bằng của Việt Nam

sẽ phải chịu hậu quả nặng nề gây thiệt hại lớn về ngời và của

- Thứ hai, tình trạng nóng lên của toàn cầu có thể ảnh hởng tới thời tiết

nh sự xuất hiện của El Ninô ở vùng Đông Thái Bình Dơng gây bão lớn

đe doạ con ngời và làm tăng tỷ lệ các bệnh và thơng tích có liên quan tới đói nghèo

- Tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng lớn và càng ảnh hởng đến sức khoẻ ngời dân Việt Nam là 1 trong 5 nớc đã đợc cảnh báo là bị ảnh h-ởng lớn nhất trên thế giới trên các khía cạnh ngập nớc, bệnh dịch và suy giảm kinh tế

Trang 8

4 Giới thiệu các mô hình quản lí thảm họa

Có 4 mô hình quản lí thảm họa đã được chấp nhận rộng rãi và được nhiều nước trên thế giới áp dụng, chẳng hạn như các nước Mỹ, Úc (Quản lí tình huống khẩn cấp của Úc (EMA) 1999) Những Mô hình này bao gồm: Mô hình Toàn diện,

Mô hình Mọi Hiểm Họa, Mô hình Mọi tổ chức (hay Mô hình Tích hợp) và Mô hình Cộng đồng sẵn sàng Những mô hình này không nhất thiết phải loại trừ nhau, một mô hình có thể gắn kết với các mô hình khác và bổ sung lẫn nhau Dưới đây là phần mô tả ngắn gọn về các mô hình này

4.1 Mô hình "Mọi hiểm họa" (The All Hazards Approach)

Mô hình này bắt nguồn từ sự hiểu biết rằng có sự khác nhau giữa các thảm họa, chẳng hạn như lũ quét xảy ra bất ngờ và làm nhiều người chết hơn các trận lũ lụt thông thường (xảy ra từ từ); trong khi đó các trận lũ lụt xảy ra từ từ có thể gây ảnh hưởng trong phạm vi rộng hơn và tác động tới nhiều người hơn Động đất tác động bất ngờ và kết thúc chỉ sau vài phút hoặc vài giây nhưng có thể phá hủy rất nhiều cơ sở hạ tầng và làm chết, bị thương nhiều người trong một khu vực nhỏ Nạn đói xảy ra từ từ nhưng thường ảnh hưởng tới nhiều người trong thời gian dài và trên diện tích rộng Nhưng trong mọi thảm họa đều có những vấn đề chung (ví dụ: tử vong, chấn thương, bệnh tật, thức ăn, vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường, phá hủy vật chất) và các hoạt động đáp ứng tương tự nhau (ví dụ tìm kiếm cứu hộ, điều trị chấn thương và bệnh tật, sơ tán, tẩy uế, cung cấp nước sạch và thực phẩm) Trên cơ sở các vấn đề chung xảy ra trong mọi thảm họa, Mô hình "Mọi hiểm họa" sử dụng một tập hợp các hoạt động quản lí cho mọi thảm họa Mô hình lập kế hoạch thảm họa này có ưu điểm lớn vì nó mang tính tập hợp

và các hoạt động cần được thực hiện trong tình huống thảm họa để giải quyết các vấn đề chung (Waugh 2000)

4.2 Mô hình "Mọi tổ chức" (The All Agencies Approach)

Thảm họa thường tác động trên phạm vi rộng tới các tổ chức khác nhau như nông nghiệp, giao thông, truyền thông, công nghiệp, hệ thống chăm sóc sức khỏe, môi trường… Đây chính là lí do vì sao lại cần có sự tham gia của nhiều

Trang 9

ngành khác nhau trong lập kế hoạch và quản lí thảm họa, điều này đã được Britton (2002) đề cập Quarantelli (1994) nhấn mạnh rằng muốn lập kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng đối phó với thảm họa và quản lí thảm họa tốt cần phải có sự tham gia của mọi tổ chức liên quan của chính phù và các đơn vị tư nhân Tổ chức y tế thế giới (2002) đã đề cập lí do đầu tiên của việc triển khai một Mô hình tòan diện là các ngành khác nhau có thể làm việc cùng nhau Liên Hợp Quốc (ISDR 2002) nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của các ngành liên quan với vai trò cụ thể là chìa khóa thành công trong quản lí thảm họa

4.3 Mô hình toàn diện hay Mô hình tích hợp (The Comprehensive or Integrated Approach)

Trong những năm gần đây, khái niệm về Mô hình tòan diện ngày càng được chấp nhận cả trong suy nghĩ lẫn hành động liên quan đến quản lí thảm họa Mô hình toàn diện này bao quát mọi giai đoạn của chu kỳ thảm họa: phòng ngừa, chuẩn bị sẵn sàng, đáp ứng và phục hồi

"Mô hình tích hợp trong quản lí thảm họa này đã rất thành công ở nhiều nước"

(WHO 2002, tr 3) Có nhiều cách khác nhau để giải thích về các giai đoạn quản

lí thảm họa, tuy nhiên tất cả đều mô tả chu kì thảm họa trong đó có các hoạt động được kết nối với nhau và một vài trong số những hoạt động này xảy ra đồng thời nhưng có tầm quan trọng khác nhau Theo Tổ chức y tế thế giới (2002), có ít nhất 4 lí do rất quan trọng của việc xây dựng một kế hoạc quản lí thảm họa tổng hợp Thứ nhất là các ngành khác nhau có thể phối hợp làm việc cùng nhau Thứ hai, sức khỏe môi trường phải là một phần nằm trong kế hoạch y

tế tổng thế Thứ ba, sự tham gia hết mình của cộng đồng trong tất cả các giai đoạn của chu kỳ quản lí thảm họa cần được đảm bảo Và cuối cùng nhưng không kém quan trọng là các bên liên quan cần sẵn sàng đáp ứng và có trách nhiệm

4.4 Sự chuẩn bị sẵn sàng đối phó với thảm họa của cộng đồng (The Community disaster preparedness)

"Chính nạn nhân của thảm họa là những người hành động đầu tiên để bảo vệ mạng sống của họ, đào đất cát lôi người hàng xóm ra khỏi đống đổ nát sau một trận động đất hay sục sạo trong các đống rác của thành phố tìm đồ để bán hoặc

Trang 10

tìm thức ăn khi hạn hán biến nạn nghèo cố hữu thành nạn đói Nếu muốn cứu trợ thảm họa thành công thì phải được thực hiện với sự kiên trì cứu mạng người, phải hợp tác với nạn nhân của thảm họa chứ không áp đặt họ" (Hiệp hội Chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, 1994)

Tầm quan trọng của sự tham gia của các cộng đồng trong quản lí thảm họa đã được đề cập trong rất nhiều tài liệu (WHO 1999; ISDR 2002, 2004; UN 2004; Britton 2002; Karanci và Aksit 1999; IFRC 1994; Lechat 1979; EMA 2003) Mỗi người trong mỗi cộng đồng phải chịu trách nhiệm với chính mạng sống và của cải của họ Trên thực tế, cứ khi nào thảm họa xảy ra, các thành viên của cộng đồng là những người có phản ứng đầu tiên trước khi có bất cứ một sự trợ giúp nào từ bên ngoà Họ cố gắng cứu mạng sống, tài sản của họ và giúp đỡ những người káhc cần sự trợ giúp Vì vậy sự chuẩn bị sẵn sàng đối phó với thảm họa của cộng đồng phải là nền tảng của mỗi chương trình chuẩn bị sẵn sàng đối phó với thảm họa (WHO 1999) Các nhà xã hội học đã tiến hành nhiều nghiên cứu cho thấy rằng trong vòng 30 phút trong một thảm họa lớn, có tới 75% người sống sót khỏe mạnh có thể tham gia tích cực vào các hoạt động cứu trợ (Lechat 1979) Những lí do mà các cộng đồng cần chuẩn bị cho các tình huống khẩn cấp/thảm họa theo Hiệp hội chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC 1994) bao gồm:

• Các thành viên của một cộng đồng bị mất mát nhiều nhất do dễ bị tác động bởi thảm họa và được lợi nhiều nhất từ một chương trình chuẩn bị sẵn sàng đối phó với tình huống khẩn cấp hiệu quả và phù hợp Các tác động tích cực của chương trình chuẩn bị sẵn sàng đối phó với thảm họa

có thể được đo lường tốt nhất ở cộng đồng

• Các nguồn lưc dễ dàng tập trung ở cộng đồng và mỗi cộng đồng đều có những khả năng của mình Việc không khai thác được các khả năng này thể hiện trình độ quản lí nguồn lực kém

• Những người đầu tiên đáp ứng với một tình huống khẩn cấp là những người ở chính trong cộng đồng khi giao thông và hệ thống thông tin liên lạc bị phá vỡ, và không có sự đáp ứng khẩn cấp từ bên ngoài trong nhiều ngày

• Phát triển bền vững có thể đạt được tốt nhất thông qua tạo điều kiện cho cộng đồng bị ảnh hưởng bởi tình huống khẩn cấp thiết kế, quản lí

và thực hiện các chương trình cứu trợ nội bộ và bên ngoài

Ngày đăng: 22/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w