1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương ôn tập cuối kỳ Kinh tế chính trị Full

87 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Ôn Tập Cuối Kỳ Kinh Tế Chính Trị Full
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,12 MB
File đính kèm 29_Giáo trình ngân hàng.rar (28 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÔN THI CUỐI KÌ I Câu 1 Khái niệm sản xuất hàng hóa Điều kiện ra đời, đặc trưng, ưu thế của sản xuất hàng hóa Khái niệm sản xuất hàng hóa theo C Mac, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế.

Trang 1

ÔN THI CUỐI KÌ ICâu 1: Khái niệm sản xuất hàng hóa Điều kiện ra đời, đặc trưng, ưu thế của sản xuất hàng hóa Khái niệm sản xuất hàng hóa: theo C.Mac, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở

đó, những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán

=>Ví dụ sản suất hàng hóa: nhà Anh Đ trồng bưởi mục đích là bán ra thị trường để thu lợi nhuận

Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa: sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự xuất

hiện của xã hội loài người Nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển khi có các điều kiện:

Một là, phân công lao động xã hội.

Phân công lao động xã hội là sự chia lao động trong xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khácnhau,tạo nên chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau Khi đómỗi người thực hiện sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm nhất định , nhưng nhu cầu của họ lại yêucầu nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu của mình, tất yếu những người sản xuất phảitrao đổi sản phẩm với nhau

=>Ví dụ trong xã hội chiếm hữu nô lệ người thì làm thợ dệt, người thì làm trồng trọt hoặc người làmthợ rèn

Hai là, sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất.

Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho những người sản xuất độc lập với nhau

có sự tách biệt về lợi ích.trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phảithông qua trao đổi mua bán, tức là phải trao đổi dưới hình tức hàng hóa.C.Mac viết “ Chỉ có sản phẩmcủa những lđ tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hànghóa”.Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa nhưng người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất hàng hóa rađời và phát triển

Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất xuất hiện khách quan dưa trên sựtách biệt về sở hữu Xã hội loài người ngày càng phát triển, sự tách về sở hữu càng sâu sắc,hàng hóađược sản xuất ra càng phong phú

Khi còn tồn tại của hai điều kiện trên,con người không thể dùng ý chí khách quan mà xóa bỏ nền sảnxuất hàng hóa Việc cố tình xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa sẽ làm cho xã hội đi tới khan hiếm và khủnghoảng Với ý nghĩa đó cần khẳng định, nền sản xuất hàng hóa có ưu thế tích cực vượt trội so vời nềnsản xuất tự cung, tự cấp

=>Ví dụ : Trong xã hội chiếm hữu nô lệ sản phẩm của người nào làm ra thì thuộc quyền sở hữu củangười đó

Đăc trưng của sản xuất hàng hóa:

Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội được bắt đầu từ sản xuất tụ cấp tự túc tiến lên sản xuất hàng hóa.Sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất ra sản phẩm nhàm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất

Trang 2

Kiểu tổ chức sản xuất tự cấp, tụ túc, hay còn gọi là kinh tế tự nhiên, gắn liền với giai đoạn sơ khai củasản xuất, khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, tình trạng phổ biến của sản xuất là lao động giản đơn,đóng cửa, khép kín, hướng vào thỏa mãn nhu cầu hạn hẹp, thấp kém Sự hạn chế của nhu cầu đã hạnchế sản xuất phát triển.

Sản xuất hàng hóa ra đời là bước phát triển sản xuất quan trọng trong lịch sử phát triển của xã hội loàingười Sản xuất hàng hóa đã phá vỡ tính khép kín tự cung, tự cấp của sản xuất, phá vỡ tính cát cứphong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất, lực lượng lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội

So với sản xuất tự cấp, tự túc, sản xuất hàng hóa có đặc trưng và ưu thế cơ bản sau:

Sản xuất hàng hóa là sản xuất sản phẩm cho người khác, sản xuất để bán trên thị trường nên việc mởrộng quy mô sản xuất không bị hạn chế bởi nhu cầu hạn hẹp của người sản xuất Chính nhu cầu lớn vàkhông ngừng tăng lên là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa gắn liền với cạnh tranh nên buộc người sản xuất phải năng động trong sản xuất kinhdoanh; phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng caochất lượng sản phẩm nhằm bán được nhiều hàng hóa và thu được nhiều lợi nhất; từ đó, tự phát thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển Đây là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển sản xuất xã hội

Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở phân công lao động và lại thúc đẩy sự phát triển của phân công laođộng, phát triển chuyên môn hóa, tạo điều kiện để phát huy thế mạnh, phát huy lợi thế so sánh của mỗi

cá nhân, mỗi đơn vị sản xuất cũng như các khu vực, các vùng kinh tế

Sản xuất và trao đổi hàng hóa gắn với tính chất mở của các quan hệ kinh tế, các quan hệ hàng hóa tiền

tệ, làm cho không gian giao lưu kinh tế giữa các khu vực, các nước, các địa phương ngày càng mở rộng.Tính chất mở là đặc trưng của các quan hệ hàng hóa tiền tệ, mở trong quan hệ giữa những người sảnxuất, giữa các doanh nghiệp, các địa phương, giữa các vùng và với nước ngoài Từ đó, quan hệ hànghóa tiền tệ tạo nên sự “sống động” của nền kinh tế, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa nhân dân

Bên cạnh những mặt tích cực trên, sản xuất hàng hóa cũng còn tồn tại nhiều mặt trái và cả những tácđộng tiêu cực đối với đời sống kinh tế, xã hội như phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất;chạy theo lợi ích cá nhân làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyền thống; sản xuất không kiểm soátđược tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối, khủng hoảng kinh tế, phá hoại môi trường sinh thái Những tácđộng tiêu cực đó có thể hạn chế được, nếu có sự quản lý, điều tiết từ một chủ thể chung của toàn bộnền kinh tế là nhà nước

=> Ví dụ về ưu thế : ở vũng tàu về biển : có xu hướng dầu tư nhà máy đóng tàu xản xuất hải sản ,ởquảng ninh thì lợi thế về khoáng sản ,ở đồng bằng sông Cửu Long có lợi thế về sản xuất lúa gạo

Câu 2: Khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa

Khái niệm hàng hóa : hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thõa mãn nhu cầu nào đó của con

người thông qua trao đổi, mua bán

Trang 3

- Sản phẩm của lao động là hàng họ khi được đưa ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường.Hàng hóa có thể ở dạng vật thể hoặc phi vật thể.

-Ví dụ nước đang ở dưới suối thì không phải là hàng hóa , nhưng nước suối được đóng chai bán trongcác siêu thị thì được coi là hàng hóa

Hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng của hàng hóa và giá trị của hàng hóa

Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm, có thể thõa mãn nhu cầu nào đó của con

người

Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần, có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân

có thể là nhu cầu cho sản xuất

Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng Nền sản xuất càng phát triển,khoa học - công nghệ càng hiện đại, càng giúp con người phát hiện thêm các giá trị sử dụng của sảnphẩm

Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua Vì vậy, ngườisản xuất phải chú ý hoàn thiện giá trị sử dụng của hàng hóa do mình sản xuất ra sao cho ngày càng đápứng nhu cầu khắt khe và tinh tế hơn của người mua

Ví dụ: Gạo để ăn, áo để mặc, nhà để ở, máy móc để sản xuất, phương tiện để đi lại…

Giá trị của hàng hóa: Là giá trị lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa

Các hàng hóa được trao đổi với nhau là vì giữa chúng có 1 đặc điểm chung Điểm chung đó là khôngphải là giá trị sử dụng mặc dù giá trị sử dụng là yếu tố cần thiết để quan hệ trao đổi được diễn ra Nếugạt đi giá trị sử dụng hay tính có ích của các sản phẩm 1 bên thì giữa chúng có điểm chung duy nhất :đều là sản phẩm của lao động, một lượng lao động bằng nhau đã hao phí để tạo ra số lượng các giá trị

sử dụng trong quan hệ trao đổi đó Vậy , giá trị lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinhtrong hàng hóa

Giá trị hàng hóa được biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và

là phạm trù có tính lịch sử Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa khi đó có phạm trù giá trị hànghóa Giá trị trao đổi hàng hóa là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sởcủa trao đổi Khi trao đổi người ta ngầm so sánh lao động hao phí đã ẩn giấu

=>Ví dụ giá trị hàng hóa 1m vải có giá trị trao đổi bằng 10 kg thóc

=>Ví dụ giá trị của 1 chiếc áo chính là thời gian lao động xã hội của người thợ may bỏ sức lực trí tuệ

và cơ bắp, thần kinh để sản xuất ra chiếc áo đó

Câu 3 : Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị.

a) Lượng giá trị của hàng hóa

Trang 4

Lượng giá trị của hàng hóa là giá trị của hàng hóa do lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất rahàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị của hàng hóa là lượng lao động đã hao phí để tạo

Ví dụ: Người thợ mộc phải làm trong 6h đã tiêu hao sức lực cơ bắp, thần kinh để sản xuất ra một chiếc

bàn

b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá

Thứ nhất:Năng suất lao động

Khái niệm : là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ratrong một đơn vị thời gian hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại.Vậy giátrị hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động

Ý nghĩa: Tăng năng suất lao động có ý nghĩa giống như tiết kiệm thời gian lao động

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động: Trình độ khéo léo (thành thạo) của người lao động;mức độ phát triển của khoa học - kỹ thuật, công nghệ và mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào sảnxuất; trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; các điều kiện tự nhiên…

Ví dụ: Ngày xưa áo quần may bằng tay, bây giờ áo quần may bằng máy (cho thấy ta có thể phân biệt

thời đại qua năng suất lao động)

Cường độ lao động

Khái niệm: Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời

gian Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động

Tác động: Khi cường độ lao động tăng lên, số lượng hay khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên; Hao

phí sức lao động cũng tăng lên tương ứng, nên tổng giá trị của hàng hóa tăng lên, còn giá trị một đơn vịhàng hóa không đổi

Ý nghĩa: tăng cường độ lao động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động.

Cường độ lao động phụ thuộc vào: Trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất ;thể chất, tinh thần của người lao động

Trang 5

Ví dụ: Công ty trước đó sản xuất cần 2h/sp và sau khi tăng năng suất lao động thì chỉ cần 1h/sp.

Thứ hai : Mức độ phức tạp của lao động

Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phứctạp

Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu vềchuyên môn nghiệp vụ cũng có thể thao tác được

Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn

Câu 4: Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa với lao động sản xuất hàng hóa, C Mácphát hiện ra rằng, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tínhhai mặt: mặt cụ thể và mặt trừu tượng của lao động

Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn, cái ghế, đối tượng lao động là

gỗ, phương pháp của anh ta là các thao tác về cưa, về bào, khoan, đục: phương tiện được sử dụng là cáicưa, cái đục, cái bào, cái khoan; kết quả lao động là tạo ra cái bàn, cái ghế

Lao động trừu tượng

Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức cụ thể củanó; đó là sư hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về cơ bắp, thần kinh, trí óc

Trang 6

Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa.

Vì vậy, giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Lao độngtrừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau

Trước C Mác, D Ricardo cũng đã thấy được các thuộc tính của hàng hóa, nhưng D Ricardo lại khôngthể lý giải được vì sao hãng hóa lại có hai thuộc tính đó Vượt lên so với lý luận của D Ricardo, C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra rằng cùng một hoạt động lao động nhưng hoạt động lao động đó cótính hai mặt Phát hiện này là cơ sở để C Mác phân tích một cách khoa học sự sản xuất giá trị thặng dư

sẽ được nghiên cứu tại Chương 3

Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sản xuất hàng hóa bởi việc sản xuất cái gì,như thế nào là việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất Lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội củalao động sản xuất hàng hóa, bởi lao động của mỗi người là một bộ phận của lao động xã hội, nằm trong

hệ thống phân công lao động xã hội Do yêu cầu của mối quan hệ này, việc sản xuất và trao đổi phảiđược xem là một thể thống nhất trong nền kinh tế hàng hóa Lợi ích của người sản xuất thống nhất vớilợi ích của người tiêu dùng Người sản xuất phải thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người tiêu dùng,đến lượt mình, người tiêu dùng lại thúc đẩy sự phát triển sản xuất

Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng xuất hiện khi sản phẩm do những người sản

xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra không phù hợp với nhu cầu xã hội, hoặc khi mức hao phí lao động cábiệt cao hơn mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận được Khi đó, sẽ có một số hàng hóa không bánđược Nghĩa là có một số hao phí lao động cá biệt không được xã hội thừa nhận Mẫu thuẫn này tạo ranguy cơ khủng hoảng tiềm ẩn

Ví dụ: lao động của người thợ mộc và lao động của người thợ may, nếu xét về mặt lao động cụ thể thì

hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt bỏ tất cả những sự khác nhau ấy sang một bên thì chúng chỉ còn

có một cái chung, đều phải hao phí sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của con người

Câu 5: Nguồn gốc và bản chất của tiền

Giá trị của hàng hoá là trừu tượng,chúng ta không nhìn thấy giá trị như nhìn thấy hình dáng hiện vât

của hàng hoá; giá trị của hàng hoá chỉ được bộc lộ ra trong quá trình trao đổi thông qua các hình tháibiểu hiện của nó Theo tiến trình lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, những hình tháicủa giá trị cũng trải qua quá trình phát triển từ thấp tới cao Quá trình này cũng chính là lịch sử hìnhthành tiền tệ.Nghiên cứu lịch sử hình thành tiền tệ sẽ giúp lý giải một cách khoa học nguyên nhân vìsao tiền có thể mua được hàng hoá Cụ thể:

Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên

Đây là hình thái ban đầu của giá trị xuất hiện trong thời kỳ sơ khai của trao đổi hàng hóa Khi đó, việctrao đổi giữa các hàng hoá với nhau mang tính ngẫu nhiên Người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa này lấyhàng hoá khác

Trang 7

Ví dụ: 1m vải đổi lấy 10 kg thóc Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc Cùng thóc là vãi được

dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của vải Với thuộc tính tự nhiên của mình, thóc trở thànhhiện thân giá trị của vải Sở dĩ vậy vì bản thân thóc cũng có giá trị Hàng hóa (vải) mà giá trị của nóđược biểu hiện ở một hàng hoá khác (thóc) thì gọi là hình thức giá trị tương đối Cùng hàng hóa (thóc)

mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hóa khác (vải) gọi là hình thức vật ngang giá

Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng

Khi trình độ phát triển của sản xuất hàng hoá được nâng lên, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, mộthàng hoá có thể được đặt trong mối quan hệ với nhiều hàng hoá khác Hình thái giá trị đầy đủ hay mởrộng xuất hiện

Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc, hoặc = 2 con gà, hoặc = 0,1 chỉ vàng Đây là sự mở rộng hình thức giá trị

giản đơn hay ngẫu nhiên Ở vị dụ trên, giá trị của 1m vải được biểu hiện ở 10 kg thóc hoặc 2 con gàhoặc 0,1 chỉ vàng

Hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra nhiều ở hàng hoá khác nhau Hạn chế của hình thành này ởchỗ vẫn chỉ là trao đổi trực tiếp với những tỷ lệ chưa cố định

Hình thái chung của giá trị

Việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp khi trình độ sản xuất hàng hóa phát triển cao hơn, chủngloại hàng hóa ngày càng phong phú hơn Trình độ sản xuất này thúc đẩy sự hình thành hình thái chungcủa giá trị

Ví dụ: 10 kg thóc hoặc 2 con gà hoặc 0,1 chỉ vàng = 1 mét vải Ở đây, tất cả các hàng hoá đều biểu

hiện giá trị ở cùng một thứ hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá chung Tuy nhiên, vật ngang giáchung chưa ổn định ở mọi thứ hàng hoá nào; trong các địa phương khác nhau thì hàng hóa dựng làmvật ngang giá chung cũng khác nhau

Hình thái tiền

Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa và thịtrường ngày càng mở rộng, thì tình hình có nhiều vật làm ngang giá chung sẽ gây trở ngại cho trao đổigiữa các địa phương trong một quốc gia Do đó, đòi hỏi khách quan là cần có một loại hàng hóa làmvật ngang giá chung thống nhất

Ví dụ: 10 kg thóc; 1mét vải, 2 con gà = 0.1 gr vàng

Vàng trong trường hợp này trở thành vật ngang giá chung cho thế giới hàng hoá Vàng trở thành hìnhthái tiền của giá trị Tiền vàng trong trường hợp này trở thành vật ngang giá chung cho thế giới hànghoá vì tiền có giá trị Lượng lao động xã hội đã hao phí trong đơn vị tiền được ngầm hiểu đúng bằnglượng lao động xã hội đã hao phí để sản xuất ra các đơn vị hàng hóa tương ứng khi đem đặt trong quan

hệ với tiền

Như vậy,về bản chất, tiền là một loại hàng hoá đặc biêt , là kết quả của quá trình phát triển của sản

xuất và trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hoá Tiền là hình

Trang 8

thái biểu hiện giá trị của hàng hoá Tiền phản ánh lao động xã hội và mối quan hệ giữa những ngườisản xuất và trao đổi hàng hóa Hình thái giản đơn là mầm mống sơ khai của tiền.

6.CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ:

Khái niệm tiền tệ: Tiền tệ là phương tiện trao đổi hàng hóa và dịch vụ được chấp nhận thanh toán

trong một khu vực nhất định hoặc giữa một nhóm người cụ thể

Chức năng làm thước đo giá trị: được thể hiện khi tiền được dùng để đo lường và biểu hiện giá trị

của hàng hóa Giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa.Gía cả hàng hóa được quyết định bởi các yếu tố khác nhau, do đó trên thị trường giá cả có thể bằng,thấp hơn hoặc cao hơn giá trị Nếu các điều kiện khác không thay đổi, gía trị của hàng hóa cao thì giá

cả của nó cao và ngược lại

Ví dụ: Đôi giày có giá 1 triệu, cuốn sách KTCT có giá 63.000 VNĐ

Chức năng làm phương tiện lưu thông: được thể hiện khi tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi

hàng hóa theo công thức: H – T – H Trong đó H –T là quá trình bán, T – H là quá trình mua Người tabán hàng hóa lấy tiền rồi dùng tiền để mua hàng hóa mình cần

Ví dụ: lúc đầu người ta dùng vàng thoi, bạc nén trong lưu thông nhưng sau người ta dùng các loại tiền

đúc, tiền giấy cho thuận lợi và tieền thực hiện chức năng lưu thông

Chức năng làm phương tiện cất trữ: được thể hiện khi tiền rút khỏi lưu thông và được cất trữ lại để

khi cần thì đem ra mua hàng Sở dĩ tiền tệ làm được chức năng này là vì tiền là đại biểu cho của cải của

xã hội dưới hình thái giá trị, nên việc cất trữ tiền là hình thức cất trữ cuả cải Nhưng để làm được chứcnăng phương tiện cất trữ thì tiền phải đủ giá trị, tức là tiền đúc bằng vàng hoặc những của cải bằngvàng

Ví dụ: Dùng tiền đem đi mua vàng để cất trữ

Chức năng phương tiện thanh toán: được thể hiện khi tiền tệ được dùng để chi trả sau khi giao dịch,

mua bán như: trả tiền mua chịu hàng hóa, trả nợ, nộp thuế, Chức năng này làm cho quá trình mua bándiễn ra nhanh hơn, nhưng cũng làm cho những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phụ thuộc vào nhaunhiều hơn

Ví dụ: Thanh toán hóa đơn điện, nước

Trang 9

Chức năng tiền tệ thế giới: Thể hiện khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia, tiền làm

nhiệm vụ di chuyển của cả từ nước này sang nước khác, nên đó phải là tiền vàng hoặc tiền được côngnhận là phương tiện thanh toán quốc tế Việc trao đổi tiền của nước này theo tiền cuả nước khác đượctiến hành theo tỉ giá hối đối Tỉ giá hối đoái là gía cả của đồng tiền nước này được tính bằng đồng tiềnnước khác

Ví dụ: 1USD= 23.000 VNĐ

7 DỊCH VỤ VÀ QUAN HỆ TRAO ĐỔI TRONG TRƯỜNG HỢP MỘT SỐ YẾU TỐ KHÁC HÀNG HÓA THÔNG THƯỜNG Ở ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

*Dịch vụ:

Khái niệm: Dịch vụ là một loại hàng hóa, nhưng đó là loại hàng hóa vô hình.

Giá trị dịch vụ cũng là lao động xã hội tạo ra dịch vụ Giá trị sử dụng của dịch vụ không phải là phục

vụ trực tiếp người cung ứng dịch vụ

Khác với hàng hóa thông thường, dịch vụ là hàng hóa không thể cất trữ Việc sản xuất và tiêu dùngdịch vụ được diễn ra đồng thời Trong điều kiện hiện nay, dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọngtrong việc thỏa mãn nhu cầu văn minh của con người

Ví dụ: Xung quanh chúng ta xuất hiện nhiều loại dịch vụ như dịch vụ khám chữa bệnh tư nhân, dịch vụ

trông xe, dịch vụ dạy kèm, dịch vụ taxi, dịch vụ lau dọn nhà cửa,

*Quan hệ trao đổi trong trường hợp một số yếu tố khác hàng hóa thông thường ở điều kiện hiện nay:

Nền sản xuất hàng hóa ngày nay hình thành quan hệ mua bán nhiều yếu tố có đặc điểm nhận dạng khácvới hàng hóa thông thường Quan hệ trao đổi trong trường hợp một số yếu tố điển hình đang có nhiềutranh luận hiện nay:

Giá trị của tiền, quy luật Cung- cầu, sự khan hiếm, đô thị hóa, gia tăng dân số,…

Ví dụ: Khi lạm phát, tiền bị mất giá cũng làm cho quyền sử dụng đất bị tăng lên.

Trọng xã hội hiện đại, có một bộ phận trở nên giàu có nhờ việc mua bán quyền sử dụng đất:

Trang 10

+ Về bản chất, khi nhà đầu tư mua quyền sự dụng đất, chính là quyền hình thành giá trị tiền tệ sanghình thái giá trị của cải (tức là quyền sử dụng đất), số tiền đó chính là hệ quả của việc tiền từ túi chủthể này chuyển sang túi của chủ thể khác Trong trường hợp như vậy, tiền là phương tiện thanh toán,không phải là thước đo giá trị Hiện tượng, tiền mua đất bán sinh lời không làm gia tăng thêm giá trịcho xã hội, nó chỉ làm dịch chuyển và phân phối lại giá trị thôi => Nên nếu chỉ mua bán quyền sử dụngđất thì xã hội không giàu có lên.

2.Thương hiệu:

Thương hiệu cũng được coi là 1 loại hàng hóa, khi nó có giá trị sử dụng là công dụng, là tính hữu ích

và bản thân nó cũng có giá trị Bởi vì thương hiệu là kết quả của sự nỗ lực của sự hao phí sức lao động,

để rèn luyện, để được công nhận mức uy tính nhất định

Ví dụ: Như thương hiệu thời trang Prada là hãng thời trang nổi tiếng danh giá nhất của nước Ý Để

được công nhận thì chủ sở hữu tập đoàn đó ngoài việc đầu tư vốn, họ phải bỏ ra hao phí lao động, trítuệ, chiến lược, nghiên cứu, cạnh tranh thị trường,…

Thương hiệu là hàng hóa vô hình, nên chỉ có thể đánh giá chất lượng sử dụng và giá trị hàng hóa quacảm nhận, qua sự kỳ vọng Sự đánh giá này có thể đúng hoặc sai do thương hiệu mang tính ước lượng,nên rất khó để xác định giá trị thương hiệu Thượng hiệu có giá cả, nhưng giá cả chủ yếu được quyếtđịnh bởi quan hệ cung cầu hoặc sự kỳ vọng chứ nó không được quyết định bởi giá trị, là hao phí laođộng tạo ra thương hiệu

Ví dụ: Như nam ca sĩ Sơn Tùng rất có tài năng đã xây dựng được hình ảnh thương hiệu mạnh, thường

xuyên đc mời đi biểu diễn, quảng cáo => giá cả thương hiệu của ca sĩ này rất cao Tuy nhiên, nếu dínhphải scandal hình ảnh sẽ bị sụt giảm, mất hợp đồng Như vậy, giá cả thương hiệu của ca sĩ được quyếtđịnh bởi sự kỳ vọng và quan hệ cung cầu không hẳn là do hao phí lao động

3.Quan hệ trong trao đổi, mua bán: Chứng khoán, chứng quyền và các loại giấy tờ có giá:

Ngày nay, chứng khoán(cổ phiếu, trái phiếu) do các công ty, doanh nghiệp cổ phần phát hành hoặc cácgiấy tờ có giá như ngân phiếu, thương phiếu có thể trao đổi mua bán, đem lại lượng tiền lớn cho ngườimua bán Về bản chất, đây cũng được coi là hàng hóa, được mua bán trên thị trường chứng khoán Nó

có giá trị sử dụng, đó là mang lại thu nhập cho người sở hữu chứng khoán, và cổ đông lớn có thể chiphối hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp

Về mặt giá trị, khi mua chứng khoán, hình thái giá trị tiền sẽ chuyển sang hình thái giá trị chứng khoán,tức là bản thân chứng khoán có hao phí lao động kết tinh ( ở trạng thái gián tiếp)

Tuy nhiên, chứng khoán được xếp vào loại hàng hóa đặc biệt vì lý do chính như sau:

-Chứng khoán, chứng quyền là loại yếu tố phái sinh

-Nó được phát hành ở một lượng nhất định

-Giao dịch chủ yếu trên thị trường thứ cấp (thị trường chứng khoán)

-Gía cả theo cung cầu và kỳ vọng của nhà đầu tư

Trang 11

Cũng giống như quyền sử dụng đất, việc mua bán chứng khoán không hề tạo ra giá trị mới, nó là sựchuyển dịch giá trị tự người đầu tư này sang người đầu tư khác mà thôi.

Thị trường chứng khoán là kênh rất quan trọng để huy động vốn đầu tư nhưng ở thị trường này, cónhiều người giầu lên, cũng có người nghèo đi, thậm chí phá sản, khi chứng khoán mất giá hoặc doanhnghiệp làm ăn thua lỗ

Tóm lại, Các loại hàng hóa đặc biệt khác với hàng hóa thông thường có được biểu hiện ở các điểm

chính sau:

Một là, đó là hàng hóa vô hình, không cân đo, đong đếm được như các hàng hóa thông thường

Hai là, giá cả của hàng hóa được quyết định bởi quan hệ cung cầu và sự kỳ vọng chứ không phải là hao phí lao động trực tiếp như hàng hóa thông thường

Ba là, các hàng hóa đặc biệt có thể được giao dịch ở thị trường thứ cấp mà thị trường này mới là thị

trường quyết định giá cả của hàng hóa đặc biệt

8 KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG, PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC CHỨC NĂNG CHỦ YẾU CỦA THỊ TRƯỜNG.

Khái niệm thị trường

Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó là môi trường để tiến hành các hoạt động giaodịch mang tính chất thương mại của mọi doanh nghiệp công nghiệp

Thị trường là nơi mua bán hàng hoá, gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người mua và ngườibán

Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong đó những người mua và người bán bình đẳng cùngcạnh tranh Số lượng người mua và người bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ.Việc xác định nên mua hay bán bàng hoá và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do quan hệcung cầu quyết định Từ đó ta thấy thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp giữa hai khâu sản xuất vàtiêu dùng hàng hoá

Ví dụ: Quá trình sản xuất đồ hộp đông lạnh chẳng hạn., Để có được sản phẩm đồ hộp đưa ra thị

trường, cần phải nhiều quá trình sản xuất nhỏ kết hợp như : sản xuất thịt (từ nông dân), sản xuất gia vị(từ các nhà máy chế biến gia vị), sản xuất hộp (từ các nhà máy gia công), sản xuất tem mác, quảngcáo ,maketting, vận chuyển… Rất nhiều Khi thị trường chấp nhận đó là sản phẩm rất thuận tiện trong sinhhoạt của người dân, thì các loại sản xuất kia cũng sẽ được chấp nhận, nó chính là cơ hội, là chất kếtdính các quá trình sản xuất lại với nhau Cái mà chúng ta vẫn gọi là sự phân công lao động xã hội Điềuthú vị là sự phân công lao động xã hội không phụ thuộc vào địa giới hành chính, có thể sản xuất ở bất

kỳ một tỉnh thành nào nếu chi phí và chất lượng hợp lý đối với nhà sản xuất

Chức năng của thị trường

Chức năng của thị trường là trao đổi hàng hóa Sự trao đổi này chỉ diễn ra được trong những điều kiện

cụ thể, thông qua những ràng buộc, hay dàn xếp cụ thể mà những người tham gia phải tuân thủ

Trang 12

Ví dụ: Khi người sản xuất làm ra mặt hàng quần áo chẳng hạn quần áo đó có mẫu mã đẹp, vải tốt giá

cả phải chăng phù hợp với nhu cầu người mua, người mua mua nhìu thì mặt hàng đó bán đc nghĩa làchi phí làm ra mặt hàng quần áo đó đc xã hội chấp nhận, giá trị của mặt hàng đó được thực hiện

Có những điều kiện chung ràng buộc mọi thị trường Song cũng có những điều kiện riêng chỉ liên quanđến những nhóm thị trường cụ thể Vì thế, ở một số thị trường, người ta vẫn trực tiếp gặp nhau để mua,bán hàng hóa Song ở một số thị trường khác, sự mua bán hàng hóa chỉ diễn ra thông qua những ngườimôi giới, hay trung gian (như ở thị trường chứng khoán)

Ví dụ: Ở siêu thị sẽ có bảng quảng cáo các mặt hàng ở đó sẽ có đầy đủ các thông tun như: quy mô

cung- cầu, giá cả, chất lg, cơ cấu, chủng loại, điều kiện mua bán của các mặt hàng đặc biệt là thông tun

về khuyến mãi giảm giá sản phẩm vào các ngày lễ giúp người mua nhanh chóng mua những mặt hàngmình cần sao cho có lợi nhất,còn người mua sẽ thu được nhiều lợi nhuận

Tại một số thị trường, người mua và người bán mặc cả với nhau về giá cả của từng loại hàng hóa, song

ở một số thị trường khác, điều này lại không diễn ra Như một tiến trình, dù thực hiện dưới phươngthức nào, trên thị trường, người mua và người bán cũng luôn luôn tác động lẫn nhau để xác định giá cả

và số lượng hàng hóa được trao đổi Quá trình đó cũng là nội dung thực chất của thị trường

Ví dụ: Khi người sản xuất làm ra mặt hàng nào đó mà không bán chạy trên thị trường, người mua hạn

chế thì họ sẽ hạ giá sản phẩm đó và hạn chế sx mặt hàng đó hoặc chuyển sang kinh doanh mặt hàngkhác còn khi mặt hàng bán chạy thì họ sẽ nâng giá và sx ra nhìu mặt hàng bán chạy đó để bán thu lợinhuận

Phân loại thị trường

Thị trường tự do

Thị trường tự do hoạt động với chính sách tự do kinh doanh, và chính phủ không được phép can thiệpvào hoạt động của thị trường Tuy nhiên những thị trường tự do có thể bị làm méo mó nếu như ngườibán giành được sự độc quyền bằng cách điều khiển phần lớn các nguồn cung (hoặc người mua pháttriển sự độc quyền bằng cách kiềm hãm nguồn cầu) Chính phủ hoặc các cơ quan thương mại sẽ canthiệp vào hoạt động của thị trường tự do nếu như những tác động xấu này làm ảnh hưởng đến hoạtđộng của thị trường

Ví dụ: Nhiều quốc gia cấm các nhà sản xuất gây ô nhiễm, giá dưới mức chi phí hoặc độc quyền.

Thị trường tiền tệ

Thị trường tiền tệ hiện vẫn là thị trường lớn nhất trên thế giới Thị trường hoạt động 24 giờ/ngày, 7ngày/tuần, các chính phủ, ngân hàng, những nhà đầu tư và người tiêu thụ mua bán mọi loại tiền tệ, điềunày dẫn đến một dòng tiền lớn được trao tay liên tục

Thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là thị trường có tính phức tạp cao, thị trường này cho phép các nhà đầu tư mua

cổ phiếu của các công ty hoặc cổ phiếu từ các quỹ tích gộp của những công ty và các ngành công

Trang 13

nghiệp Hầu hết các thị trường chứng khoán ngày nay hoạt động chủ yếu qua mạng lưới điện tử nhưng

nó vẫn duy trì các địa điểm giao dịch để cho người mua, người bán và những nhà hoạch định thị trườngtương tác trực tiếp lẫn nhau

Các loại thị trường tiêu dung

Các loại thị trường này có nguồn gốc từ những chợ ở trung tâm của làng hoặc thị trấn, tại những chợnày xảy ra những giao dịch về sản phẩm trang trại, quần áo, và công cụ Những loại thị trường đườngphố này sau đó phát triển thành những thị trường hướng đến người tiêu dùng như thị trường chuyênviên, trung tâm mua sắm, siêu thị, hoặc thậm chí là những thị trường ảo như eBay

Thị trường hàng hóa

Cùng với sự tăng giá của dầu và thực phẩm, thị trường hàng hóa một lần nữa trở thành thị trường nổibật Hàng hóa là cơ sở cho những hoạt động kinh tế Thị trường hàng hóa bao gồm: năng lượng (dầu,khí đốt, than đá và những nguồn năng lượng có thể tái tạo như diesel sinh học), những loại hàng hóamềm và ngũ cốc (lúa mì, yến mạch, ngô, gạo, đậu nành, cà phê, cacao, đường, vải bông, nước camđông lạnh…), thịt và các loại hàng hóa tài chính như trái phiếu

Thị trường công nghiệp và thị trường hàng hóa trọng yếu

Thị trường hàng hóa trọng yếu giúp cho những doanh nghiệp có thể mua được những hàng hóa bền bỉ

có thể sử dụng được cho quy trình sản xuất công nghiệp Rất nhiều dịch vụ có liên quan đến những mặthàng hóa này Giao dịch có xu hướng buôn bán với số lượng lớn với giá thành thấp

Vai trò thị trường

Một là, thị trường thực hiện giá trị hàng hoá, là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển

Giá trị hàng hoá được thực hiện thông qua trao đổi, mua bán Việc trao đổi phải được diễn ra ở thịtrường Nếu một hàng hoá không được thị trường chấp nhận, có nghĩa là hàng hoá đó không bán được.Quá trình sản xuất sẽ bị thu hẹp thậm chí là đổ gãy

Ví dụ: Sản xuất thịt lợn đông lạnh ở các nước hồi giáo, rõ ràng là không được thị trường chấp nhận nên

không thể phát triển được

Ngược lại, nếu quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ được thị trường chấp nhận rộng rãi, thì đó làđộng lực thúc đẩy sản xuất để đáp ứng yêu cầu của thị trường đòi hỏi

Ví dụ: Thị trường điện thoại ở Việt Nam trong khoảng 15 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của thị

trường điện thoại thông minh tăng rất nhanh do thị hiếu và nhu cầu của người dân VN về đt rất lớn

=> Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng Thị trường đặt ra các nhu cầu cho sản xuất cũngnhư nhu cầu cho tiêu dùng vì vậy, thị trường có vai trò thông tin, định hướng cho mọi nhu cầu sảnxuất kinh doanh

Hai là, thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách thức phân bổ

nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế

Trang 14

Trở lại với ví dụ thị trường điện thoại ở VN, khi xã hội chấp nhận nó là động lực thúc đẩy sự sáng tạocải tiến mẫu mã, chất lượng cho điện thoại Một mặt là đáp ứng thị hiếu của người dân, mặt khác đểcạnh tranh với các đối thủ khác mở 10.NỘI DUNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ

*Nội dung của quy luật giá trị

-Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phílao động xã hội cần thiết

*Yêu cầu của quy luật giá trị:

-Trong sản xuất, người tiến hành sản xuất phải có sự hao phí sức lao động cá biệt của mình nhỏ hơn

hoặc bằng với mức hao phí sức lao động xã hội cần thiết, thì mới đạt được lợi thế trong cạnh tranh

Ví dụ: để sản xuất 1 cái áo, người sản xuất A hao phí lao động cá biệt là 50/1sản phẩm Nhưng, hao phílao động xã hội (tức là mức hao phí lao động trung bình mà xã hội chấp nhận) chỉ là 40/1sản phẩm.Như vậy, nếu bán ra thị trường theo mức hao phí lao động cá biệt là 50 thì người sản xuất A không bánđược, quy mô sản xuất bị thu hẹp

-Trong trao đổi hàng hóa phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở.

*Biểu hiện nội dung của quy luật giá trị

-Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau như:

+ Cạnh tranh

+ Cung- cầu

+Sức mua của đồng tiền

=>Giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó chính

là cơ chế hoạt động của hoạt động của quy luật giá trị

Giá cả chỉ bằng giá trị khi thị trường khi thị trường cân bằng ( cung = cầu)

Ví dụ: Một cái áo có giá xã hội là 4$ Trong trường hợp thị trường cân bằng, cung=cầu, lúc đó giá cảcái áo sẽ bằng giá trị cái áo = 4$ Nhưng trong trường hợp cung > cầu, tức là sản xuất dư thừa, buộcnhà sản xuất phải giảm giá sản phẩm xuống còn 3$, tức là giá cả < giá trị

*Tác động của quy luật giá trị

- Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.

+ Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền

kinh tế Tác lộng này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trườngdưới tác động của quy luật cung - cầu

* Nếu cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa là hàng hóa sản xuất ra có lãi, bán chạy Giá

cả cao hơn giá trị sẽ kích thích mở rộng và đẩy mạnh sản xuất để tăng cung; ngược lại cầu giảm vì giátăng

Trang 15

*Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu, giá cả thấp hơn giá trị, hànghóa khó bán, sản xuất không có lãi Thực tế đó, tự người sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sảnxuất; ngược lại, giá giảm sẽ kích thích tăng cầu, tự nó là nhân tố làm cho cung tăng.

*Cung cầu tạm thời cân bằng; giá cả trùng hợp với giá trị Bề mặt nền kinh tế người ta thường gọi là

+ Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua diễn biến giá cả trên thị trường Sự biến động

của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đólàm cho lưu thông hàng hoá thông suốt

Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế, mà còn

có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá

Ví dụ: Như vào dịp tết nguyên đán ở Việt Nam do nhu cầu chơi đào cảnh ở thành phố cao, trong khinguồn cung cây đào ở thành phố khan hiếm tiểu thương và người nông dân có xu hướng vận chuyểnđào từ vùng núi nông thôn ra thành phố để bán Hay như vào hè vải thiều ở Hải Dương rất dồi dào nếuchỉ bán ở địa phương thì không được giá do cung > cầu Nên tiểu thương và nông dân có xu hướng vậnchuyển vải sang tỉnh thành khác để bán do các tỉnh thành đó cung < cầu

- Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.

*Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể sản xuất có tính độc lập,điều kiện sản xuất hàng hóa khác nhau => sự hao tổn lao động cũng sẽ khác nhau

- Nếu người sản xuất có hao phí lao động cá biệt < hao phí lao động xã hội của hàng hoá sẽ thu đượclãi cao

- Nếu người sản xuất có hao phí lao động cá biệt > hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thua lỗ

Trang 16

*Để giành lợi thế trong cạnh tranh, và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động

cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Muốn vậy, nhà sản xuất phải dùng cácbiện pháp để tối đa hoa hóa chi phí sản xuất, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất để tăng năng suất,tạo ra cho mình những lợi thế cạnh tranh

Ví dụ: trong lĩnh vực kinh doanh điện thế này xong lĩnh vực kinh doanh điện thoại di động để hạ thấphao phí lao động cá biệt hãng điện thoại không ngừng đổi mới công nghệ cải tiến kỹ thuật đổi mớiphương thức quản trị điều này đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển giá thành sản phẩm điện thoạihiện nay rẻ tính năng chất lượng điện thoại ngày càng cao hơn nữa ngoài việc trao đổi mới kỹ thuậtcông nghệ sản xuất dịch vụ chăm sóc khách hàng họ để khách hàng của các hãng điện thoại nhữngngày càng chu đáo hơn Đó chính là tác dụng của quy luật giá trị kích thích cải tiến kỹ thuật hợp lý hóasản xuất nâng cao sản xuất

- Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá thành người giàu, người nghèo.

Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuấtthuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn haophí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất,

mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi,hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó

11.NỘI DUNG QUY LUẬT CUNG- CẦU VÀ QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ

-Quy luật cung - cầu

Quy luật cung - cầu là quy luật kinh tế điều tiết quan hệ giữa cung (bên bán) và cầu (bên mua) hànghóa trên thị trường Quy luật này đòi hỏi cung - cầu phải có sự thống nhất Quy luật cung - cầu có tácdụng điều tiết quan hệ giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa; làm thay đổi cơ cấu và quy mô thị trường,ảnh hưởng tới giá cả của hàng hóa Căn cứ vào quan hệ cung cầu, có thể dự đoán xu thế biến động củagiá cả Ở đâu có thị trường thì ở đó quy luật cung - cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan Nếunhận thức được chúng thì có thể vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng

có lợi cho quá trình sản xuất Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung cầu thông qua các chính sách,các biện - pháp kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêudùng để tác động vào các hoạt động kinh tế, duy trì những tỷ lệ cân đối cung - cầu một cách lànhmạnh và hợp lý

Ví dụ: Tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2021 nắng nóng, người tiêu dùng A sẵn sàng mua 2 kgcam với giá 30.000 đồng / kg cam cho gia đình ăn hàng ngày Tuy nhiên, khi giá lên đến 60.000 đồng /

kg cam thì người tiêu dùng chỉ muốn mua và chỉ mua được 1 kg cam

-Quy luật lưu thông tiền tệ

- Quy luật lưu thông tiền tệ yêu cầu việc lưu thông tiền tệ phải căn cứ trên yêu cầu của lưu thông hànghóa và dịch vụ Theo yêu cầu của quy luật, việc đưa số lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong mỗithời kỳ nhất định phải thống nhất với lưu thông hàng hóa Việc không ăn khớp giữa lưu thông tiền tệ

Trang 17

với lưu thông hàng hóa có thể dẫn tới trì trệ hoặc lạm phát Về nguyên lý, số lượng tiền cần thiết cholưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định được xác định bằng công thức tổng quát sau:

M= (P Q)/V

Trong đó: M là số lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong một thời gian nhất định; P là mức giá cả; Q

là khối lượng hàng hóa, dịch vụ đưa ra lưu thông; V là số vàng lưu thông của đồng tiền Quy luật này

có ý nghĩa chung cho các nền sản xuất hàng hóa Khi lưu thông hàng hóa phát triển, việc thanh toánkhông dùng tiền mặt trở nên phổ biến thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định như sau:M=( P.Q - (G1+ G2) + G3)/ V

Trong đó: P.Q là tổng giá cả hàng hóa; G1 là tổng giá cả hàng hóa bán chịu; G2 là tổng giá cả hàng hóakhấu trừ cho nhau; G3 là tổng giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán; V là số vòng quay trung bình của tiền

tệ Nội dung nêu trên mang tính nguyên lý: trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày nay việc xácđịnh lượng tiền cần thiết cho lưu thông trở nên phức tạp hơn song không vượt ra ngoài khuôn khổnguyên lý nêu trên Khi tiền giấy ra đời, nếu được phát hành quá nhiều sẽ làm cho đồng tiền bị mất giátrị, giá cả hàng hóa tăng lên dẫn đến lạm phát Bởi vậy, nhà nước không thể in và phát hành tiền giấymột cách tùy tiện mà phải tuân theo nguyên lý của quy luật lưu thông tiền tệ

Ví dụ: Trước biến động mạnh của giá thịt lợn do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi lan rộng trênphạm vi cả nước, Bộ Tài chính đã chủ động theo dõi, cập nhật diễn biến giả thịt lợn, tính toán dự báotác động đưa vào trong các kịch bản điều hành giá đảm bảo kiểm soát lạm phát chung; đồng thời, phốihợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các bộ, ngành khác đề xuất các biện pháp bình ổn thịtrường

12.NỘI DUNG QUY LUẬT CẠNH TRANH, CÁC LOẠI CẠNH TRANH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

–Nội dung của quy luật cạnh tranh: Quy luật cạnh tranh là điều tiết một cách khách quan mối quan

hệ ganh đua kinh tế giữa chủ thể sản xuất và trao đổi hàng hóa Khi đã tham gia thị trường, các chủ thểsản xuất kinh doanh, bên cạnh sự hợp tác cần chấp nhận cạnh tranh

–Các loại cạnh tranh:

Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường

+ Cạnh tranh giữa người bán và người mua

+ Cạnh tranh giữa người bán với người bán

Vd: mặc cả giá

Căn cứ vào phạm vi các ngành kinh tế

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành

+ Cạnh tranh giữa các ngành với nhau

Trang 18

Vd: gièm pha các mặt hàng khác

Căn cứ vào tính chất của việc cạnh tranh

+ Cạnh tranh hoàn hảo

+ Cạnh tranh không hoàn hảo

+ Cạnh tranh độc quyền

Vd: tạo ra các sản phẩm độc quyền, vừa rẻ nhưng kém chất lượng

Căn cứ vào thủ đoạn cạnh tranh

+ Cạnh tranh lành mạnh

+ Cạnh tranh không lành mạnh

Vd: nâng cao chất lượng sản phẩm

–Tác động của cạnh tranh đối với nền kinh tế thị trường:

Tác động tích cực

+Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất

+Cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường

+Cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ nguồn lực

+Cạnh tranh thúc đẩy năng lực thỏa mãn nhu cầu xã hội

Tác động tiêu cực

+Gây tổn hại môi trường kinh doanh

+Gây lãng phí nguồn lực xã hội

+Gây tổn hại phúc lợi xã hội

13.VAI TRÒ CỦA MỘT CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG

1 Người sản xuất

Người sản xuất hàng hóa là những người sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ ra thị trường nhằmđáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Người sản xuất bao gồm các nhà sản xuất, đầu tư, kinh doanhhàng hóa, dịch vụ Họ là những người trực tiếp tạo ra của cái vật chất, sản phẩm cho xã hội để phục

vụ tiêu dùng

Người sản xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh và thu lợi nhuận.Nhiệm vụ của họ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội, mà còn tạo ra và phục vụ cho

Trang 19

những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực có hạn Vìvậy, người sản xuất luôn phải quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu,sản xuất với các yếu tố nào sao cho có lợi nhất.

Ngoài mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, người sản xuất cần phải có trách

nhiệm đối với con người, trách nhiệm cung cấp những hàng hóa dịch vụ không làm tổn hại tới sứckhỏe và lợi ích của con người trong xã hội

2 Người tiêu dùng

Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đề thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng.Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của người sản xuất Sự pháttriển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát triển sản xuất, ảnhhưởng trực tiếp tới sản xuất

Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất Do đó, trong điều kiện nền kinh tếthị trường, người ticu cùng ngoài việc thỏa mãn nhu càu của mình, cần phải có trách nhiệm đối với sựphát triển bền vững của xã hội

Lưu ý, việc phân chia người sản xuất, người tiêu dùng chỉ có tính chất tương dối để thấy được chứcnăng chính của các chủ thề này khi tham gia thị trường Trên thực tế, doanh nghiệp luôn đóng vai tròvừa là người mua cũng vừa là người bán

3 Các chủ thể trung gian trong thị trường

Chủ thể trung gian là những cá nhân, tổ chức dảm nhiệm vai trò cầu nối giữa các chủ thể sản xuất, tiêudùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường

Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động xã hội, làm cho sự táchbiệt tương dối giữa sản xuất và trao đổi ngày càng sâu sắc Trên cơ sở đó xuất hiện những chủ thể trunggian trong thị trường Những chủ thể này có vai trò ngày càng quan trọng để kết nối, thông tin trongcác quan hệ mua, bán

Nhờ vai trò của các trung gian này mà nền kinh tế thị trường trở nên sống động, linh hoạt hơn Hoạtdộng của các trung gian trong thị trường làm tăng cơ hội thực hiện giá trị của hàng hóa cũng như thỏamãn nhu cầu của người tiêu dùng Các chủ thể trung gian làm tăng sự kết nối giữa sản xuất và tiêudùng, làm cho sản xuất và tiêu dùng trở nên ăn khớp với nhau

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian thị trường không phảichỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều các chủ thể trung gian phong phú trên tất cả cácquan hệ kinh tế như: trung gian môi giới chứng khoán, trung gian môi giới nhà đất, trung gian môi giớikhoa học công nghệ Các trung gian trong thị trường không những hoạt động trên phạm vi thị trườngtrong nước mà còn trên phạm vi quốc tế Bên cạnh đó cũng có nhiều loại hình trung gian khồng phùhợp với các chuẩn mực đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp ) Những trung gian này cần đượcloại trừ

Trang 20

có trách nhiệm trong bộ máy quản lý nhà nước cần phải nhận thức được trách nhiệm của mình là thúcđầy phát triển, không gây cản trờ sự phát triền của nền kinh tế thị trường.

Cùng với đó, nhà nước còn sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế thịtrường, làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả

Chương 3:Giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường

1.Nguồn gốc của giá trị thặng dư

a.Công thức chung của tư bản :

Để tìm ra công thức chung của tư bản cần sắp xếp vai trò của tiền trong lưu thông hàng hóa đơn giản

và tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Tiền cho người sản xuất hàng hóa đơn giản vận động theo quan hệ hàng tiền hàng(H-T-H)

Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo quan hệ tiền hàng tiền(T-H-T)

Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hình thức vận động nêu trên thể hiện ở mục đích của quá trình lưuthông Mục đích trong lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng Mục đích trong lưu thông tư bản

là giá trị lớn hơn vì nếu không thu được lượng giá trị lớn hơn thì sự lưu thông này không có ý nghĩa

Do vậy, tư bản vận động theo công thức T-H-T’.Các hình thái tư bản đều vận động theo công thức nàytrong đó đó đó đó T’=T+t (t>0)

Số tiền trội ra lớn hơn được gọi là giá trị thặng dư, Số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trịthặng dư trở thành tư bản Tiền biến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư Tư bản làgiá trị mang lại giá trị thặng dư

Vậy nguồn gốc của giá trị thặng dư từ đâu mà có? Việc mua bán hàng hóa thấp hơn hoặc không bằnggiá trị sẽ không có giá trị tăng thêm, Nếu người mua hàng hóa để bán hàng hàng hóa đó cao hơn giá trịthì chỉ được xét lại về người bán Nhưng xét về người mua thì lại bị thiệt Trong nền kinh tế thị trườngMỗi người đều đóng vai trò là người bán và đồng thời cũng là người mua Do đó, Nếu được lợi khi bánthì lại bị thiệt khi mua Lưu thông không tạo ra giá trị Tăng thêm xét trên phạm vi xã hội

Bí mật ở đây là nhà tư bản đã mua một loại hàng hóa đặc biệt nào đó mà trong quá trình sản xuất loạihàng hóa này giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bảnthân nó nó đó là hàng hóa sức lao động

Trang 21

Ví dụ: Những người bán gạo quyết định tăng giá bán cao hơn so với giá trị thực của gạo.Giả sử bán

được thì người bán gạo sẽ có lợi và kiếm lời được nhiều hơn khi bán.Tuy nhiên khi gạo lên giá đối vớinhững người mua khác thì nó sẽ có tác động gián tiếp tới các loại hàng hoá dùng gạo làm đầu vào như

là : Bánh mì , thịt, rượu , bia và thậm chí , là mức lương của ngừoi lao động sẽ yêu cầu phải tăng theo,

do chi phí sinh hoạt tăng.Người bán gạo, với tư cách là ngừoi bán sẽ có lợi khi bán gạo , nhưng với tưcách là người mua (ví dụ như mua bánh mì , mua thịt gà , ) sẽ lại bị thiệt , bởi giá các loại mặt hàngnày đã tăng

b Hàng hóa sức lao động

C.Mác viết: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồntại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất

ra một giá trị sử dụng nào đó”

Hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt khi tồn tại đủ hai điều kiện về sự tự do và nhu cầu bán sức

lao động Để duy trì điều kiện cho hàng hoá sức lao động tạo ra những giá trị thặng dư, người sử dụnglao động phải đáp ứng những nhu cầu đặc biệt về tâm lý, văn hoá và khu vực địa lý,…

* Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:

Người lao động được tự do về thân thể

Người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với sức lao động của mình tạo

ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động

Ví dụ: Người thợ may có máy may, nguyên liệu và thị trường thì họ sẽ tự sản xuất tạo ra sản phẩm chứ

không cần phải đi làm thuê cho người khác.Do đó người lao động không có bất kì tư liệu sản xuất nàothì buộc phải cung cấp và bán sức lao động của mình để duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình

* Thuộc tính của hàng hóa sức lao động:

Hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính gồm: giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sảnxuất ra sức lao động quyết định Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sảnxuất ra năng lực đó người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sản xuất sinh hoạt nhất định Dovậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian laođộng xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy.Diễn đạt theo cách khác, giá trị hàng hóasức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất rasức lao động

Giá trị của hàng hóa sức lao động do các bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra sức lao động;

Ví dụ: Đồ ăn, thức uống, quần áo, nhà ở, y tế,

Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;

Trang 22

Ví dụ: Chi phí cho việc đưa người lao động sang nước khác đào tạo để cải thiện trình độ và tích lũy

thêm nhiều kinh nghiệm

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) để nuôi con của người lao động.

Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của hàng hóa sức lao độngphải phản ánh lượng giá trị nên trên

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của người mua.

Ví dụ: Chủ tư nhân thuê công nhân dệt vải: Giá trị sử dụng sức lao động của công nhân dệt vải là kỹ

năng, năng suất lao động của người công nhân khi lao động dệt vải

Người mua hàng hóa sức lao động mong muốn thỏa mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăngthêm.Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng sức lao động

Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, mang yếu tố tinh thần và lịch sử.Giá trị sử dụng của

hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt mà không hàng hóa thông thường nào có được, đó là trongkhi sử dụng nó, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo ra được lượng giá trị lớn hơn.Đâychính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị lớn hơn giá trị thặng dư nêu trên do hao phí sức laođộng mà có

Ví dụ: Tổng số tư liệu sinh hoạt nuôi sống và duy trì sức lao động của người công nhân trong một

tháng là 500 đô bao gồm thực phẩm, y tế,giáo dục, giải trí, may mặc, Nhưng khi làm việc cho tư bảnngười sản xuất có thể tạo ra giá trị gia tăng vào sản phẩm là 800 đô.Sự chênh lệch 300 đô đó là giá trịthặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt

c Sản xuất giá trị thặng dư

Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là sự thống nhất của quá trình đó tạo ra và làm tăng giá trị

Để đạt được giá trị thặng dư, nền sản xuất xã hội phải đạt đén trình độ nhất định Trình độ đó phản ánhviệc người lao động chỉ phải hao phí một phần thời gian lao động là có thể bù đắp được giá trị hànghóa sức lao động , bộ phận này là thời gian lao động tất yếu

Ngoài thời gian lao động tất yếu , vẫn trong nguyên tắc ngang giá đã thỏa thuận , người lao động phảilàm việc trong sự quản lí của ng mua hàng hóa sức lao động phải làm việc trong sự quản lí của ngườimua hàng hóa sức lao động và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản , thời gian đó là thời gianlao động thặng dư

Như vậy, giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra ,

là kết quả của lao động không công của công nhân do nhà tư bản Kí hiệu là ‘m’

Đến đây có thể khái quát tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư.

Ví dụ: Giả định sản xuất 10 kg sợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đô Để biến số bông đó thành

sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ và hao mòn máy móc là 2 đô; giá trị sức lao động trongmột ngày của người công nhân là 3 đô; trong một giờ lao động người công nhân đã tạo ra một giá trị là

Trang 23

0.5 đô; cuối cùng, ta giả định rằng trong quá trình sản xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xãhội cần thiết.Như vậy, nếu như quá trình lao động kéo dài đến cái điểm mà ở đó bù đắp được giá trị sứclao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động cần thiết thì chưa có sản xuất giá trị thặng dư, do đótiền chưa biến thành tư bản.Như vậy, toàn bộ chi phí của nhà tư bản để mua tư liệu sản xuất và sức laođộng là 27 đô la Trong 12h lao động, công nhận tạo ra một sản phẩm mới có giá trị bằng 30 đô la, giá

tị dôi ra là 3 đô la Trong đó, phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động là giá trị thặng dư

Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản cần mua tư liệu sản xuất và hàng hoá sức lao động

d.Tư bản bất biến và tư bản khả biến

Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được lao động cụ thể của công nhânlàm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong quátrình sản xuất,được C.Mác gọi là tư bản bất biến (ký hiệu là c)

Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để quá trình tạo ra giá trị

thặng dư được diễn ra

Máy móc, nguyên nhiên, vật liệu là điều để cho quá trình làm tăng giá trị được diễn ra.Không có mátmóc, không có quá trình tổ chức kinh doanh thì đương nhiên không có quá trình sản xuất giá trị thặngdư

Ngày nay, máy móc được tự động hoá như người máy, thì người máy cũng chỉ có vai trò là máy móc,chừng nào việc sử dụng sức lao động còn có lợi hơn cho người mua hàng hoá sức lao động so với sửdụng người máy, thì chừng đó nhà tư bản còn sử dụng sức lao động của người bán sức lao động làmthuê

Tuy nhiên, cần lưu ý, việc sử dụng thiết bị công nghệ tiên tiến vào sản xuất là tiền đề để tăng năng suấtlao động xã hội, do đó, máy móc, công nghệ tiên tiến rất cần thiết cho quá trình làm tăng giá trị

Ví dụ: Công ty may thuê nhân công với tiền công là 50000d/ngày,giả sử trong ngày đó 1 công nhân

sản xuất được 10 cái áo,70000/cái thì giá trị làm việc của ngày đó là 700000d ==> giá trị thăng dư ==>

sự bốc lột của chủ nghĩa tư bản

Tư bản khả biến là bộ phận tư bản biến thành sức lao động tái hiện ra nhưng thông qua lao động trìu

tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng

Tư bản khả biến: bộ phận tư bản ứng trước dùng để mua hàng hóa sức lao động không tái hiện ra,nhưng thông qua lao động trừu tượng, người công nhân làm thuê đã sáng tạo ra một giá trị mới, lớnhơn giá trị sức lao động, tức là có sự biến đổi về số lượng Như vậy, tư bản bất biến là điều kiện cầnthiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến có vai trò quyết địnhtrong quá trình đó vì nó chình là bộ phận tư bản lớn lên

Ví dụ: Bạn bán cà phê Mỗi ngày bán được 100 ly mỗi ly 5k do doanh số là 500k -tiền vốn mỗi ly

cà phê là 3k trong đó, chia ra:

Trang 24

+Vốn khả biến: cà phê:1,5k ; đường: 1k , nước sôi: 0,5k=> Gọi nó là khả biến vì nó tăng giảm theodoanh số

Công thức tư bản khả biến:

G=c+(v+m)

Trong đó: (v+m) là bộ phận giá trị mới của hàng hóa, do hao phí lao động tạo ra

c là giá trị của những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng,là bộ phận lao động quá khứ đãđược kết tinh trong máy móc,nguyên-nhiên-vật liệu.Bộ phận này được chuyển vào giá trị sản phẩmmới

đ Tiền công

Tiền công là giá trị của hàng hóa sức lao động Đó là bộ phận của giá trị mới do chính hao phí sức laođộng của người lao động làm thuê tạo ra ,nhưng nó thường được hiểu là do người mua sức lao động trảcho người lao động làm thuê

Cứ sao một thời gian lao động nhất định, người lao động làm thuê được trả một khoản tiền công nhấtđịnh Điều đó thậm chí làm cho người lao động cũng nhầm hiểu là người mua sức lao động đã trả côngcho mình.Trái lại,Nguồn gốc của tiền công chính là do hao phí sức lao động của người lao động làmthuê tự trả cho mình thông qua sổ sách của người mua hàng hóa sức lao động

Lưu ý: Khi khẳng định nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động của người lao động làm thuê haophí tạo ra thì không có nghĩa là người mua hàng hóa sức lao động đã thu được ngay giá trị thặng dưdưới dạng hình thái tiền Trái lại, để Thu được giá trị thặng dư dưới hình thức tiền gọi là thực hiện giátrị thặng dư ,thì hàng hóa được sản xuất ra ấy phải được bán đi, nghĩa là nó được thị trường chấp nhận.Khi hàng hóa không bán được chủ doanh nghiệp sẽ bị phá sản

Vì vậy C.Mac nhấn mạnh, để có giá trị thặng dư nhà tư bản không những cần phải thực hiện quá trìnhsản xuất giá trị thặng dư mà còn cần phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình đó và thực hiện,giá trị giá trị thặng dư chứa đựng trong những hàng hóa được sản xuất ra Tổng thể những hoạt động đóbiểu hiện sự vận động tuần hoàn chu chuyển của tuần hoàn

Ví dụ: Một công nhân một ngày làm việc 8 giờ, lĩnh 40 xu, như vậy mỗi giờ được trả 5 xu Nhưng nếu

nhà tư bản bắt công nhân làm 10 giờ và trả 45 xu, thì như vậy giá cả một giờ lao động đã giảm từ 5 xuxuống còn 4,5 xu

e Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản

Tuần hoàn của tư bản :

Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản lần trải qua 3 giai đoạn dưới ba hình thái kế tiếp nhau

tư bản tiền tệ tư bản sản xuất tư bản hàng hóa gắn với thực hiện những chức năng tương ứng (chuẩn bịcác điều kiện cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư thực hiện giá trị thặng dư) và quay trở về hìnhthái ban đầu cùng với giá trị thặng dư

Trang 25

Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn lưu thông

Nhà tư bản dùng tiền để mua tư liệu sản xuất và sức lao động.Chức năng giai đoạn này là biến tư bảntiền tệ thành hàng hóa dưới dạng tư liệu sản xuất và sức lao động để đưa vào sản xuất, gọi là tư bản sảnxuất

Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn sản xuất

Nhà tư bản tiêu dùng những hàng hóa đã mua, tức là tiến hành sản xuất Trong quá trình sản xuất, côngnhân hao phí sức lao động, tạo ra giá trị mới, còn nguyên liệu được chế biến, máy móc hao mòn thì giátrị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch vào sản phẩm mới Quá trình sản xuất kết thúc, lao độngcủa công nhân làm thuê đã tạo ra những hàng hóa mới mà giá trị của nó lớn hơn giá trị các yếu tố sảnxuất mà nhà tư bản đã mua lúc ban đầu, vì trong đó có giá trị thặng dư do công nhân tạo ra.Kết thúccủa giai đoạn thứ hai: tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa

Giai đoạn thứ ba: Giai đoạn lưu thông

Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóathành tiền Công thức vận động của tư bản ở giai đoạn thứ ba biểu thị như sau:

H’ – T’

Kết thúc giai đoạn ba, tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ

Mô hình của tuần hoàn tư bản là:

T-H => (SLĐ, TLLĐ) SX H’-T’

Qua mô hình này càng thấy rõ hơn nguồn gốc của giá trị thặng dư được tạo ra trong sản xuất là do haophí lao động của người lao động chứ không phải do mua rẻ bán đắt mà có có kết quả của quá trình sảnxuất là H’ trong giá trị của H’ có bao hàm giá trị thặng dư.Khi bán được H’ người ta thu được T’.Trong

đó T’có giá trị thặng dư dưới hình thái tiền

Tuần hoàn của tư bản phản ánh những mối quan hệ khách quan giữa các hoạt động cần kết hợp nhịpnhàng, kịp thời, đúng lúc trong quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nói chung vàkinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa nói riêng

Để sản xuất kinh doanh hiệu quả, chủ thể kinh doanh phaircos các yếu tố sản xuất cần thiết với sốlượng, chất lượng, cơ cấu thích hợp, phải có trình độ tổ chức sắp xếp và thực hiện công việc theo quytrình; đồng thời có những điều kiện bên ngoài thuận lợi cho việc thực thực hiện quá trình đó; do đó,không những cần có sự nỗ lực to lớn của doanh nhân, mà còn cần tới sự hỗ trợ tích cực của nhà nướcthông qua kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi

Trong điều kiện môi trường kinh doanh cụ thể nhất định, các nhà tư bản khác nhau cùng thực hiện đầy

đủ các bước của quy trình kinh doanh có thể nhận được những mức hiệu quả khác nhau do chu chuyển

tư bản của họ khác nhau

Chu chuyển của tư bản:

Trang 26

Chu chuyển của tư bản là tuần hoàn của tư bản được xét với tư cách là quá trình định kỳ, thường xuyên

lặp đi lặp lại và đổi mới theo thời gian Chu chuyển của tư bản được đo lường bằng thời gian chuchuyển hoặc tốc độ chu chuyển

Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian mà một tư bản kể từ khi được ứng ra dưới mộthình thái nhất định cho đến khi quay trở về dưới hình thái đó cùng cùng với giá trị thặng dư Thời gianchu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông

Tôc độ chu chuyển của tư bản là số lần mà một tư bản được ứng ra dưới một hình thái nhất định quaytrở về dưới được ứng ra dưới một hình thái nhất định quay trở về dưới hình thái đó cùng với giá trịthặng dư tính trong một đơn vị thời gian nhất định Thông thường, tốc độ chu chuyển được tính bằng

số vòng chu chuyển của tư bản trong thời gian 1 năm

Nếu ký hiệu số vòng chu chuyển của tư bản là n, thời gian của một năm là CH, thời gian một vòng chuchuyển là ch, thì tôc độ chu chuyển của từng bộ phận tư bản được tính như sau:

Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động tham gia toàn bộ vào

quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chỉ chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ haomòn

Hoa mòn của tư bản cố định bao gồm hao mòn hữu hình (sự mất mát về giá trị sử dụng và giá trị) do sửdụng và tác động của tự nhiên gây ra, và hao mòn vô hình ( sự mất giá thuần túy) do sự tăng lên củanăng suất lao động sản xuất tư liệu lao động và sự xuất hiện của những thế hệ tư liệu lao động mới cónăng suất cao hơn

Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao động, nguyên, nhiên, vật liệu,

vật liệu phụ, giá trị của nó được chuyển một lần, toàn phần vào giá trị sản phẩm khi kết thúc từng quátrình sản xuất

Để thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, các nhà tư bản phải nổ lực rút ngắn thời gian chuchuyển hay đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tư bản trên cơ sở nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến thờigian chu chuyển của tư bản, đồng thời sử dụng hiệu quả tư bản cố định và tư bản lưu động

Khái quát lại, nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí lao động tạo ra

2 Bản chất của giá trị thặng dư

Như vậy, nghiên cứu về nguồn gốc của giá trị thặng dự trên đây cho chúng ta thấy, giá trị thặng dư làkết quả của sự hao phí sức lao động trong sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị

Trang 27

Quá trình đó được diễn ra trong quan hệ xã hội giữa người mua hàng hóa sức lao động với người bánhàng hóa sức lao động Do đó, nếu giả định xã hội chỉ có hai giai cấp, là giai cấp tư sản và giai cấpcông nhân, thì giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mang bản chất kinh tế - xãhội là quan hệ giai cấp; trong đó, giai cấp các nhà tư bản làm giàu dựa trên cơ sở thuê mướn lao độngcủa giai cấp công nhân Ở đó, mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, người lao động làm thuếphải bán sức lao động cho nhà tư bản ấy.

Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn đang diễn ra nhưng với trình độ và mức độ rất khác, rất tinh

vi và dưới hình thức văn minh hơn so với cách mà nhà tư bản đã từng thực hiện trong thế kỷ XIX

Để hiểu sâu hơn bản chất của giá trị thặng dư, C Mác làm rõ hai phạm trù tỷ suất và khối lượng giá trịthặng dư

Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không những chỉ dừng lại ởmức có được giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu được nhiều giá trị thặng dư, do đó cần cóthước đo để đo lường thặng dư về mặt lượng

Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến để sản xuất ra giá trịthặng dư đó

Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư là:

M là khối lượng giá trị thặng dư;

m' là tỷ suất giá trị thặng dư;

V là tổng tư bản khả biến

Trang 28

Tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh trình độ khai thác sức lao động làm thuê; khối lượng giá trị thặng dưphản ánh quy mô giá trị thặng dư mà chủ sở hữu tư liệu sản xuất thu được.

Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết 4 giờ và thời gian lao động thặng dư là 4

giờ Nếu giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ thì thời gian lao động cần thiết giảm còn 3 giờ và thời gianlao động thặng dư tăng lên thành 5 giờ Và tỷ suất giá trị thặng dư m’ lúc này từ 100% tăng lên thành166%

Câu 20 : Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Để thu được nhiều giá trị thặng dư cần có phương pháp nhất định C.Mác đã chỉ ra nhà tư bản sử dụnghai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng

dư tương đối

a).Giá trị thặng dư tuyệt đối là gì ?

Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian

lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động , giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi

Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ,

tỷ suất giá trị thặng dư là 100%

Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa với mọi điều kiện không đổi thì giá trị tuyệtđối tăng thêm 4 giờ lên 6 giờ và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:

Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hoá sức lao động phải tìm mọi cách để kéo dài ngày laođộng và tăng cường độ lao động

Tuy nhiên, ngày lao động chịu giới hạn về mặt sinh lý (công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi,giải trí) nên không thể kéo dài hbằng ngày tự nhiên, còn cường độ loa động cũng không thể tăng vôhạn quá sức chịu đựng của con người

Hơn nữa, công nhân kiên quyết đấu tranh đòi rút ngắn ngày lao động, Quyền lợi hai bên có mâu thuẫn,thông qua đấu tranh, tuỳ tương quan lực lượng mà tại các dân tộc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể cóthể quy định độ dài nhất định của ngày lao động Tuy vậy, ngày lao động phải dài hơn thời gian laođộng tất yếu và cũng không thể vượt giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động

b).Giá trị thặng dư tương đối là gì ?

Trang 29

Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu; do

đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi hoặc thậm chí rút ngắn.

Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ, với 4 giờ lao động tất yếu, 4 giờ lao động thặng dư, tỷ suất giá trị thặng

dư là 100% Nếu giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động tất yếu rút xuống còn 2 giờ thì thờigian lao động thặng dư sẽ là 6 giờ Khi đó:

Nếu ngày lao động giảm xuống còn 6 giờ nhưng giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động tấtyếu rút xuống còn 1 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 5 giờ Khi đó:

Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết để tái sảnxuất sưc lao động, do đó phải tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt vàcác ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo ra tư liệu sinh hoạt đó

c).Giá trị thặng dư siêu ngạch là gì ? ý nghĩa của giá trị thặng dư siêu ngạch ? cho ví dụ?

Siêu lợi nhuận hay còn được gọi là lợi nhuận siêu ngạch hay là giá trị thặng dư siêu ngạch chính là

phần giá trị thặng dư (lợi nhuận) thu được trong một chu trình sản xuất do áp dụng công nghệ kỹ

thuật mới vào sản xuất làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.

Ý nghĩa: Giá trị thặng dư siêu ngạch là tạo ra giá trị thặng dư một cách hợp lý và hiệu quả hơn, việc áp

dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất hàng hóa cũ giúp cho doanh nghiệp đó ngày vàng tiến bộhơn, phát triển hơn, sản xuất được nhiều hàng hóa hơn, đem lại các giá trị mới cho hàng hóa cũ củamình Như vậy ý nghĩa đầu tiên đó chính là đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho doanh nghiệp

Áp dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất giúp người công nhân giảm bớt được sức lao động,không mất quá nhiều thời gian để tạo ra sản phẩm của mình Tuy nhiên nó vẫn có 2 mặt đó chính là khicông nghệ mới đồng nghĩa là người công nhân phải học thêm cái mới những ai không biết có thể bịđào thải nhanh chóng

Một vấn đề nữa đó là khi công nghệ xem vào quá nhiều thì doanh nghiệp chỉ cần đội ngũ nhân công cóchất lượng tốt chủ chốt còn lại không cần thiết, như vậy công nhân đối mặt với tình trạng mất việc

Ví dụ: Để làm 1 cái áo sơ mi thì thường các doanh nghiệp sẽ có nhiều khâu do nhiều người đảm nhận

như cổ áo do 1 người làm, tay áo do 1 người làm và vạt áo do 1 người làm, rồi ráp lại các bộ phận khácthì của 1 người khác Vậy thì nhà tư bản sẽ đưa công nghệ mới vào đó, giờ đây công nghệ mới sẽ chỉ

Trang 30

cần 2 người để hoàn thiện chiếc áo mà không cần đến 5 người như trước đây Như vậy là họ đã tạo ragiá trị thặng dư siêu ngạch cho doanh nghiệp của mình.

Câu 21 : Trình bày bản chất của tích lũy tư bản và nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản

a).Bản chất của tích lũy tư bản là gì ?

Tích lũy tư bản là biến một phần giá trị dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất, nhằm tăng

quy mô và trình độ bóc lột của tư bản đối với công nhân làm thuê.

Bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào nếu xét theo tiến trình đổi mới không ngừng của nó, thì đồng thờicũng là quá trình tái sản xuất Quá trình này là tất yếu khách quan theo hai hình thức là tái sản xuất

giản đơn và tái sản xuất mở rộng Tái sản xuất giản đơn không phải là tái sản xuất điển hình của chủ

nghĩa tư bản mà hình thái điển hình của của chủ nghĩa tư bản là tái sản xuất mở rộng Muốn tái sản

xuất mở rộng, nhà tư bản không thể sử dụng hết giá trị thặng dư cho tiêu dùng cá nhân, mà phải dùngmột phần giá trị thặng dư để tăng quy mô đầu tư so với năm trước Chính phần giá trị thặng dư đó

được gọi là tư bản phụ thêm Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay chuyển hóa giá trị thặng dư

trở lại thành tư bản tư bản gọi là tích lũy tư bản Xét một cách cụ thể, tích lũy tư bản nhằm tái sản xuất

ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hóa thành tư bản được là

vì tư bản thặng dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của một tư bản mới Tích lũy tư bản là tất yếu

khách quan do quy luật kinh tế cơ bản, quy luật giá trị và cạnh tranh của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa quy định.

b) Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích luỹ là gì ?

Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư và tư bản tích lũy chiếm một tỷ lệ ngày

càng lớn trong toàn bộ tư bản Như vậy, thực chất của tích lũy tư bản là biến một phần giá trị thặng dư

thành tư bản phụ thêm (tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụ thêm) để mở rộng sản xuất.Trong quá trình sản xuất, lãi tiếp tục được bổ sung vào vốn, vốn càng lớn thì lãi càng lớn, do đó laođộng của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện mạnh mẽ quay trở lại bóc lột chính họ

Ví Dụ : Xét một mô hình sản xuất của một nhà tư bản: Năm 1 quy mô sản xuất là:

800c + 200v + 200m Giả định 200m không bị nhà tư bản tiêu dùng tất cả cho cá nhân mà được phânthành 100m dùng để tích lũy và 100m dành cho tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản Phần 100m dùng đểtích lũy được phân thành 80c + 20v khi đó quy mô sản xuất của năm sau sẽ là: 880c + 220v + 220m( với điều kiện tỉ suất lợi nhuận m’ không đổi) Như vậy, vào năm 2 quy mô của tư bản bất biến và tưbản khả biến đều tăng lên, giá trị thặng dư cũng tăng lên tương ứng Và cứ như vậy thì quy mô sản xuấtngày càng được mở rộng, tích lũy tư bản ngày càng lớn, phần giá trị thặng dư thành tư bản ngày càngtăng lên

*Nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản

Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giữatích lũy và tiêu dùng.Nếu tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng đã được xác định, thì quy mô tích lũy tư bảnphụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Có bốn nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản:

Trang 31

Thứ nhất, trình độ khai thác sức lao động.

Tỷ suất giá trị thặng dư tăng sẽ tạo tiền đề để tăng quy mô giá trị thặng dư Từ đó tạo điều kiện để tăngquy mô tích lũy Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư, ngoài sử dụng các phương pháp sản xuất giá trịthặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, nhà tư bản còn có thể sử dụng các biện phápcắt giảm tiền công, tăng ca, tăng cường độ lao động

Thứ hai, năng suất lao động.

Năng suất lao động tăng làm cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm xuống, giá trị sức lao động giảm giúpcho nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn, góp phần tăng quy mô tích lũy

Thứ ba, sử dụng hiệu quả máy móc.

Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Theo C.Mác, máy móc được sử dụng toàn bộ tínhnăng của nó, song giá trị chỉ được tính tính vào gia strij sản phẩm qua khấu hao Sau mỗi chu kì nhưthế, máy móc vẫn hoạt động toàn bộ nhưng giá trị của bản thân nó đã giảm đầno tính gia khấu hoa đểchuyển vào giá trị sản phẩm Hệ quả là, mặc dù gia strij đã bị khấu hao, song tính năng hay giá trị sửdụng vẫn nguyên như cũ, như lực lượng phục vụ không công trong sản xuất Sự phục vụ không công

ấy được lao động sống nắm lấy và làm cho chúng hoạt động Chúng được tích lũy lại cùng với tăngquy mô tích lũy tư bản Đồng thời, sự lớn lên không ngừng của quỹ khấu hao trong khi chưa cần thiếtphải đổi mới tư bản cố định cũng trở thành nguồn tài chính có thể sử dụng cho mở rộng sản xuất

Thứ tư, đại lượng tư bản ứng trước.

Thị trường thuận lợi, hàng hóa luôn bán được, tư bản ứng trước càng lớn sẽ là tiền đề cho tăng quy môtích lũy

Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy mô của tích luỹ tư bản có thể rút ra nhận xét chung là để tăng quy mô tích luỹ tư bản, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động,

sử dụng triệt để công suất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu.

Câu 22 : Một số hệ quả của tích lũy tư bản

Theo C.Mác, quá trình tích lũy trong nền kinh tế thị trường tư bản dẫn tới các hệ quá kinh tế mang tínhquy luật như sau:

*Thứ nhất, tích lũy tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản.

Cấu tạo hữu cơ của tư bản (ký hiệu c/v) là cấu tạo giả trị được quyết định bởi câu tạo kỹ thuật và phảnánh sự biến đôi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản

C.Mác cho rằng, nền sản xuất có thề được quan sát qua hình thái hiện vật Cũng có thề quan sát quahình thái giá trị

Nếu quan sát qua hình thái hiện vật thì mối quan hệ tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sứclao động được coi là cấu tạo kỹ thuật

Trang 32

Ví Dụ: 5 máy móc/ 1 công nhân, hay 10 máy móc/1 công nhân

Cấu tạo kỹ thuật này, nếu quan sát qua hình thái giá trị nó phản ánh ở mối quan hệ tỷ lệ giữa tư bản bấtbiến với tư bản khả biến Tý lệ giá trị này được gọi là cấu tạo hữu cơ cấu tạo hữu cơ luôn có xu hướngtăng do cấu tạo kỹ thuật cũng vận động theo xu hướng táng len về lượng

Ví Dụ: một tư bản mà đại đại lượng của nó là 12000, trong đó giá trị tư liệu sản xuất là 10000, còn giá

trị sức lao động là 2000, thì cấu tạo giá trị của tư bản đó là 10000:2000= 5:1

Vì vậy, quá trình tích lũy tư bản không ngừng làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản

*Thứ hai, tích luỹ tư bản làm tăng tích tụ và tập trưng tư bản.

Trong quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy mô của tư bản cá biệt tăng lên thông qua quá trìnhtích tụ và tập trung tư bản

Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư

Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt đồng thời làm tăng quy mô tư bản xã hội do giá trị thặng

dư được biến thành tư bản phụ thêm Tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản

Ví Dụ: Cho 1 tư bản có quy mô 60c+40v+40m (140 đvtt)

Giả sử tỉ lệ tích lũy:tiêu dùng là 1:1

Với 40m được chia làm 2 phần: tích lũy 20m, tiêu dùng 20m

Với 20m tích lũy sẽ được chia thành 2 bộ phận: c1=12, v1=8

Quy mô sản xuất năm II là: (60c+12c1)+(40v+8v1)

Với m’=100%, quy mô giá trị năm II là: 72c+48v+48m (168 đvtt)

Vậy, tích tụ tư bản tăng lên từ 140 đến 168

Tập trung tư bản là sự tăng lên của quỵ mô tư bản cá biệt mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội dohợp nhât các tư bản cá biệt vào một chỉnh thề tạo thành một tư bản cá biệt lớn hơn

Tập trung tư bản có thể dược thực hiện thông qua sáp nhập các tư bán cá biệt với nhau

Ví Dụ: Cho tư bản: A: 80c+20v, B: 160c+40v, C: 40c+10v

Tổng các tư bản cá biệt là: 280c+70v

Tích tụ và tập trung tư bản đều góp phần tạo tiền đề để có thề thu được nhiều giá trị thặng dư hơn chongười mua hàng hóa sức lao động

*Thứ ba, quá trình tích luỹ tư bản làm không ngừng làm tăng chênh lệch giữa thu nhập của nhà

tư bản với thu nhập của người lao động làm thuê cả tuyệt đối lẫn tương đối.

Thực tế, xét chung trong toàn bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thu nhập mà các nhà tư bản có được, lớnhơn gấp rất nhiều lần so với thu nhập dưới dạng tiền công của người lao động làm thuê C.Mác đã quansát thấy thực tế này và ông gọi đó là sự bần cùng hóa người lao động Cùng với sự gia tăng quy mô sảnxuất và cấu tạo hữu cơ của tư bản, tư bản khả biên có xu hướng giảm tương đối so với tư bản bất biến,dẫn tới nguy cơ thừa nhân khẩu Do đó, quá trình tích luỹ tư bản có tính hai mặt, một mặt thể hiện sự

Trang 33

tích luỹ sự giầu sang về phía giai cấp tư sản, và mặt khác tích lũy sự bần cùng về phía giai cấp côngnhân làm thuê.

Có ba hình thái nhân khẩu thừa:

Nhân khẩu thừa lưu động là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này, nhưng lại tìm được việc làm ở xí

nghiệp khác Nói chung, số này chỉ mất việc làm từng lúc

Nhân khẩu thừa tiềm tàng là nhân khẩu thừa trong nông nghiệp – đó là những người nghèo ở nông

thôn, thiếu việc làm và cũng không thể tìm được việc làm trong công nghiệp, phải sống vất vưởng

Nhân khẩu thừa ngừng trệ là những người hầu như thường xuyên thất nghiệp, thỉnh thoảng mới tìm

được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt, sống lang thang, tạo thành tầng lớp dưới đáy của xã hội

Nạn thất nghiệp đã dẫn giai cấp công nhân đến bần cùng hóa Bần cùng hóa tồn tại dưới hai dạng:

Sự bần cùng hóa tuyệt đối giai cấp công nhân biểu hiện ở mức sống bị giảm sút Sự giảm sút này xảy

ra không chỉ trong trường hợp tiêu dùng cá nhân tụt xuống một cách tuyệt đối, mà cả khi tiêu dùng cánhân tăng lên, nhưng mức tăng đó chậm hơn mức tăng nhu cầu do chi phí lao động nhiều hơn

Mức sống của công nhân tụt xuống không chỉ do tiền lương thực tế giảm, mà còn do sự giảm sút củatoàn bộ những điều kiện có liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của họ như nạn thất nghiệp –một mối đe dọa thường trực, sự lo lắng cho ngày mai, sự bất an về mặt xã hội

Sự bần cùng hóa tương đối giai cấp công nhân biểu hiện ở tỷ lệ thu nhập của giai cấp công nhân trong

thu nhập quốc dân ngày càng giảm, còn tỷ lệ thu nhập của giai cấp tư sản ngày càng tăng

Ở nơi này, lúc này, bộ phận này sự bần cùng hóa biểu hiện ra một cách rõ rệt; trong khi đó, ở nơi khác,lúc khác, bộ phận khác, sự bần cùng hóa lại không rõ nét lắm Chính cuộc đấu tranh của giai cấp côngnhân đã “đặt giới hạn cho sự tiếm đoạt bạo ngược của tư bản”

I Lợi nhuận

1.Chi phí sản xuất:

a)Khái niệm: Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là phần giá trị của hàng hoá, bù lại giá cả của những tư

liệu sản xuất đã tiêu dùng và giá cả của sức lao động đã được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá ấy Đó

là chi phí mà nhà tư bản đã bỏ ra để sản xuất ra hàng hoá

Chi phí sản xuất được kí hiệu là: k

Trang 34

Nguyên, nhiên, vật liệu: 400.000 USD/ năm.

Tư bản khả biến: 100.000 USD/ năm

Tỷ suất giá trị thặng dư: 100%

Trong trường hợp như vậy, giá trị hàng hoá được tạo ra trong một năm là:

400.000 USD + 50.000 USD + 100.000 USD + 100.000 USD = 650.000 USD

Nếu trong giá trị 650.000 USD trừ đi 100.000 USD là giá trị thặng dư thì chỉ còn lại 550.000 USD.Phần này được gọi là chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất có vai trò vô cùng quan trọng: bù đắp tư bản về giá trị và hiện vật, đảm bảo điều kiệncho tái sản xuất trong kinh tế thị trường, tạo cơ sở cho cạnh tranh, là căn cứ quan trọng cho cạnh tranh

về giá bán hàng giữa các nhà tư bản

2 Bản chất lợi nhuận

Trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất có một khoản chênh lệch

Do đó sau khi bán hàng hóa (bán ngang giá), nhà tư bản không những bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra

mà còn thu được số chênh lệch bằng giá trị thặng dư Số chênh lệch này C Mác gọi là lợi nhuận (kýhiệu là p)

Khi đó giá trị hàng hóa được viết là:G = k + p

Từ đóp = G – k.

Từ cách tính toán trên thực tế như vậy, người ta chỉ quan tâm tới khoản chênh lệch giữa giá trị hànghóa bán được với chi phí phải bỏ ra mà không quan tâm đến nguồn gốc sâu xa của khoản chênh lệch đóchính là giá dự chuyển hóa thành Thậm chí, với nhà tư bản, lợi nhuận còn được quan niệm là do tưbản ứng trước sinh ra

C Mác khái quát: “Giá trị thặng dư, được quan là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình tháichuyển hóa là lợi nhuận”

Điều đó có nghĩa, lợi nhuận chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặt nềnkinh tế thị trường

Trang 35

Nhà tư bản cá biệt chỉ cần bán hàng giá cả cao hơn chi phí sản xuất là đã có lợi nhuận Trong trườnghợp bán đúng bằng chi phí sản xuất là không có lợi nhuận Bán hàng hóa thấp hơn giá trị và cao hơnchi phí sản xuất cũng có thể đã có lợi nhuận Trong trường hợp này, lợi nhuận nhỏ hơn giá trị thặng dư.Lợi nhuận chính là mục tiêu, động cơ, động lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tếthị trường.

Quan niệm của P Samuelson về lợi nhuận

Lợi nhuận là phần thu nhập thặng dư tính bằng hiệu quả giữa giá trị tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí.Lợi nhuận là phần thưởng cho việc gánh chịu rủi ro và cho sự đổi mới

Tuy nhiên, lợi nhuận khi được đo bằng số tuyệt đối chỉ phản ánh quy mô của hiệu quả kinh doanh màchưa phản ánh rõ mức độ hiệu quả của kinh doanh, do đó cần được bổ sung bằng số đo tương đối là tỷsuất lợi nhuận

C, tỷ suất lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận

3.Tỷ suất lợi nhuận

a) Khái niệm: Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của tư bản ứng

trước (ký hiệu là p’)

Tỷ suất lợi nhuận được tính theo công thức:

p’=p/c+v*100

Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mức doanh lợi đầu tư bản

Tỷ suất lợi nhuận thường được tính hàng năm từ đây hình thành khái niệm tỷ suất lợi nhuận hàngnăm Mặc dù lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với kinh doanh tư bản chủ nghĩa, vì sự hiện diện của

nó thể hiện hiệu quả kinh tế, Tuy nhiên so với lợi nhuận thì tỷ suất lợi nhuận phản ánh đầy đủ hơn mức

độ hiệu quả kinh doanh Chính vì vậy tỷ suất lợi nhuận với tư cách là số đo tương đối của lợi nhuận, đãtrở thành động cơ quan trọng nhất của hoạt động cạnh tranh tư bản chủ nghĩa

Như vậy lợi nhuận tỷ suất lợi nhuận là những phạm trù thể hiện lợi ích kinh tế của nhà tư bản trongnền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa từ đó các nhà tư bản muốn làm giàu và làm giàu nhanh cần phảitìm ra cách thức để có được tỷ suất lợi nhuận cao nhất

4.Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận:

Từ công thức tính tỷ suất lợi nhuận có thể thấy những nhân tố nào ảnh hưởng tới giá trị của tử sốhoặc mẫu số hoặc cả tử số cả mẫu số của phân thức cũng sẽ ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận C.Mácnêu ra các nhân tố sau:

Thứ nhất, một tỷ suất giá trị thặng dư Sự gia tăng của tỷ suất giá trị thặng dư sẽ có tác động trực tiếplàm tăng tỷ suất lợi nhuận

Trang 36

Thứ hai, cấu tạo hữu cơ của tư bản Cấu tạo hữu cơ của tư bản tác động tới chi phí sản xuất do đó tácđộng tới lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.

Thứ ba, tốc độ chu chuyển của tư bản Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản càng lớn thì tỷ lệ giá trịthặng dư hàng năm tăng lên do đó tỷ suất lợi nhuận tăng

Thứ tư, tiết kiệm tư bản bất biến Trong điều kiện tư bản khả biến không đổi nếu giá trị thặng dư giữnguyên tiết kiệm tư bản bất biến làm tăng tỷ suất lợi nhuận

Ví dụ:

Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản một năm 1 vòng: 80c + 20v + 20m thì p’ = 20%

Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản một năm 2 vòng: 80c + 20v + (20 + 20) m thì p’ = 40%

Vậy, tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ thuận với số vòng chu chuyển của tư bản và tỷ lệ nghịch với thời gian chuchuyển của tư bản

+ Tiết kiệm tư bản bất biến:

Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư và tư bản khả biến không đổi, nếu tư bản bất biến càng nhỏ thì

tỷ suất lợi nhuận càng lớn

5.Lợi nhuận bình quân

Cạnh tranh giữa các ngành là cơ chế cho sự hình thành lợi nhuận bình quân ở các ngành sản xuất

kinh doanh khác nhau, do có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật và tổ chức quản lý khác nhau,nên tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành cũng khác nhau

Trang 37

Ngành sản

xuất

Chi phí sảnxuất TBCN

M(m’

=100%)

Giá trị hànghoá

P’ ngành(%) p’ (%)

Giá cả sảnxuất

Ngược lại, quy mô sản xuất ở những ngành mà tư bản di chuyển đi sẽ bị thu hẹp, cung nhỏ hơn cầu, giá

cả sẽ cao hơn, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận tăng

Như vậy, sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi tỷ suất lợi nhuận củangành và dẫn đến hình thành tỷ suất lợi nhuận ngang nhau, mỗi ngành đều nhận được tỷ suất lợi nhuận30% Đó là tỷ suất lợi nhuận chung hay tỷ suất lợi nhuận bình quân, ký hiệu là p ‘

6.Tỷ suất lợi nhuận bình quân

a) Khái niệm: là ”con số trung bình” của tất cả các tỷ suất lợi nhuận khác nhau hay tỷ suất lợi

nhuận bình quân là tỷ số theo phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư và tổng tư bản xã hội

Những điều kiện hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất bao gồm:

tư bản tự do di chuyển và sức lao động tự do di chuyển Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa,lợi nhuận bình quân đã trở thành căn cứ cho các doanh nghiệp lựa chọn ngành, nghề, phương án kinhdoanh sao cho có hiệu quả nhất

Trang 38

Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khác

nhau

Sự hình thành lợi nhuận bình quân đã làm cho quy luật giá trị thặng dư, quy luật kinh tế cơ bản của chủnghĩa tư bản, bị biến dạng đi Quy luật giá trị thặng dư hoạt động trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự

do cạnh tranh thể hiện thành quy luật lợi nhuận bình quân

Lợi nhuận doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa doanh thu của doanh nghiệp và chi phí mà doanh

nghiệp đó đầu tư vào hoạt động sản xuất để đạt được mức doanh thu ấy Lợi nhuận được coi là kết quảtài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh, sản xuất…của doanh nghiệp Nó cũng chính là cơ sở,

là nền tảng để đánh giá hiệu quả kinh tế từ hoạt động của các doanh nghiệp

Lợi nhuận của doanh nghiệp có 3 loại, trong đó lợi nhuận thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh là quantrọng nhất Sau đây là cách tính các loại lợi nhuận:

Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định từng bước như sau:

a)Trước hết cần tính doanh thu thuần (thực)

DT thuần = Tổng DT – Các khoản giảm trừ và thuế gián thu phát sinh khi bán hàng

Tổng doanh thu là số tiền ghi trên hoá đơn bán hàng, hoá đơn thanh toán dịch vụ

Từ khi khách hàng chấp nhận thanh toán cho đến khi thu được tiền có thể xảy ra 1 số khoản giảm trừlàm giảm số tiền thu được so với hoá đơn

Chiết khấu bán hàng do khách hàng thanh toán trước thời hạn thoả thuận gọi là chiết khấu thanh toán.Hàng bán bị trả lại do vi phạm hợp đồng như giao hàng không đúng phẩm chất, không đúng quycách…

Bớt giá là khoản giảm trừ trên giá bán thông thường vì lý do mua với khối lượng lớn, tính theo 1 tỷ lệnào đó trên giá bán, được thực hiện ngay sau từng lần mua hàng

Giảm giá là khoản giảm trừ trên giá đã thoả thuận vì lý do hàng kém phẩm chất, không đúng quy cáchtheo quy định trong hợp đồng .Hồi khấu là khoản giảm trừ tính trên tổng số khối lượng hàng hoá đãthực hiện với 1 khách hàng trong 1 thời gian nhất định

b) Tiếp theo tính lợi nhuận gộp

Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán

c) Cuối cùng là tính lợi nhuận hoạt động SXKD

Lợi nhuận hoạt động SXKD = LN gộp – Chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN

+Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính

Được xác định bằng thu nhập hoạt động tài chính trừ chi phí hoạt động tài chính

Trang 39

+Lợi nhuận bất thường

Được xác định bằng thu nhập bất thường trừ chi phí bất thường

b) Ví dụ: Trong năm doanh nghiệp bán được 200.000 sp A, giá bán đơn vị là 100.000 đ / sp Thuế

suất thuế VAT là 10%, giá thanh toán 1 SP là 110.000đ, chi phí hợp lý cho 1 sp là 80.000đ

Thu nhập do thanh lý tài sản là 500tr đồng và thu nhập do gia công cho bên ngoài là 1.500tr

Thuế suất thuế TNDN là 22% Hãy tính thuế TNDN phải nộp

Tính toán như sau:

Doanh thu tính thu nhập chịu thuế trong kỳ:

a) Khái niệm: khoản lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh, có thể lợi nhuận từ

việc một khoản chứng khoán hoặc có thể là khoản tiền lãi thu được từ cho vay hoặc gửi tiết kiệm tạingân hàng, như vậy tuỳ từng trường hợp mà lợi tức sẽ có tên gọi khác nhau

Theo đó, trong đầu tư chứng khoán, lợi tức có thể gọi là cổ tức, trong tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn,

nó gọi là lãi hay tiền lãi Còn trong các hoạt động đầu tư kinh doanh khác, lợi tức có thể gọi là lợinhuận, tiền lời…

Dưới góc độ giữa người cho vay hay nhà đầu tư lợi tức được hiểu là số tiền tăng thêm trên số vốn đầu

tư ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định, khi nhà đầu tư tiến hành đầu tư một khoản vốn, sẽ thuđược một giá trị lơn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu và khoản chênh lệch được gọi là lợi tức

Dưới góc độ người đi vay hay người sử dụng vốn thì lợi tức này được hiểu là số tiền đi vay phải trả chongười cho vay để được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, tuy nhiên , người cho vay có thể sẽgặp rủi trong trường hợp người vay không trả tiền, rủi ro nay sẽ ảnh hưởng đến lợi tức trong tương lai

a)Ví dụ: Chị A có ý định xây nhà nên đã đi vay ngân hàng một khoản tiền là 20.000.000 đồng, trong

thời hạn 6 tháng, với lãi suất là 15%/năm Sau 6 tháng chị A phải trả cho ngân hàng 21.500.000 đồng,trong đó có 20.000.000 là số tiền gốc mà ngân hàng cho bạn vay và 1.500.000 đồng là số tiền lãi

Trang 40

Như vậy 1.500.000 đồng đồng là lợi tức mà ngân hàng thu được bằng việc cho bạn vay tiền.

2.Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản có đặc điểm:

- Thứ nhất, quyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu

Chủ thể sở hữu tư bản không phải là chủ thể sử dụng, chủ thể sử dụng tư bản chỉ được sử dụng trongmột thời hạn nhất định và không có quyền sở hữu

- Thứ hai, tư bản cho vay là hàng hóa đặc biệt

Người bán không mất quyền sở hữu, người mua chỉ được quyền sử dụng trong một thời gian Sau khi

sử dụng, tư bản cho vay không mất giá trị sử dụng và giá trị mà được bảo tồn, thậm chí còn tăng thêm.Giá cả của tư bản cho vay được quyết định bởi giá trị sử dụng của nó là khả năng thu được lợi nhuậnbình quân, do đó không những không được quyết định bởi giá trị, mà còn thích hơn nhiều so với giá trị

- Thứ ba, tư bản cho vay là hình thái tư bản phiến diện nhất, song cũng được sùng bái nhất

Tư bản cho vay vận dụng theo công thức T-T’ , Tạo ra ảo tưởng là tiền đẻ ra tiền không phản ánh rõnguồn gốc của lợi tức cho vay

- Ví dụ: Quỹ tiền lương để trả cho công nhân nhưng chưa đến kỳ phải trả.Trước thời hạn trả

lương, nhà tư bản A nắm trong tay toàn bộ quỹ tiền lương của côngnhân Ở đây, phần quỹ tiền lươngnày chính là bộ phận tư bản tiền tệ ở trạng thái tạm thời nhàn rỗi và không sinh ra một khoản lợi nàocho chủ sở hữu Trong khi đó, đối với nhà tư bản, mục tiêu kinh doanh luôn hướng đến là “tiền phảisinh ra tiền” Vì vậy, nhà tư bản cho vay mang số tiền đó cho một đối tượng khác (tư bản B đang rấtcần tiền) vay để tạo tiền lời Như vậy, tiền lương tạm thời nhàn rỗi đó chính là tư bản cho vay

Tỷ suất lợi tức chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu là tỷ suất lợi nhuận bình quân và tình hình cung

cầu về tư bản cho vay

Tỷ suất lợi tức được hiểu nôm na là lãi suất cho vay

a)Ví dụ:

Bạn vay ngân hàng 50.000.000 đồng trong 1 năm, sau 12 tháng bạn phải trả cho ngân hàng tổng số tiền

là 58.500.000 đồng, trong đó 50.000.000 đồng là tiền gốc, 8.500.000 đồng là tiền lãi

Suy ra:

Ngày đăng: 05/12/2022, 12:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Những điều kiện hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất bao gồm: tư bản tự do di chuyển và sức lao động tự do di chuyển - Đề cương ôn tập cuối kỳ Kinh tế chính trị Full
h ững điều kiện hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất bao gồm: tư bản tự do di chuyển và sức lao động tự do di chuyển (Trang 37)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm