Phần II VẬN DỤNG TRIẾT HỌC MÁCLÊNIN ĐỂ NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN MỤC LỤC Câu 1: Vì sao nói, sự nghiệp đổi mới đất nước phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn? Câu 2: Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm phát triển trong sự nghiệp CM ở VN hiện nay? Câu 3: Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vào phân tích quan điểm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế? Câu 4: Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào phân tích quá trình xây dựng CNXH “bỏ qua chế độ tư bản CN” ở VN? Câu 5: Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc? Câu 6: Tư tưởng triết học HCM về con người? Câu 7: Vận dụng quan điểm của triết học MácLênỉn, tư tưởng HCM vào xây dựng con người VN hiện nay? Câu 8: Nhận thức mói về đấu tranh giai cấp ở VN hiện nay? Câu 9: Nhận thức và giải quyết các mồi quan hệ lớn trong quá trình đổi mới ở nước ta? Câu 10: KTTT định hướng XHCN ở VN? Câu 11: Quan điểm của ĐCS VN về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình phát triển đất nước? Câu 12: Tác động của cuộc CM công nghiệp lần thứ tư (4.0) đối với sự phát triển của LLSX ở VN hiện nay? Câu 13: Cơ sở thực tiễn nhận thức về CNXH và con đường lên CNXH ở VN? Câu 14: Vai trò của tổng kết thực tiễn đối với sự phát triển của lý luận? Câu 15: Nhân thức về mâu thuẫn XH ở nước ta hiên nay? Câu 16: Những mặt tích cực và hạn chế trong quá trình thực hiện đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay trên cơ sở ỉý luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Câu 17: Cơ sở triết học trong đường lối của Đảng về phát triển KT nhiều thành ở nước ta từ khỉ đổi mói đất nước đến nay? Câu 18: Cơ sở triết học trong đường lối của Đảng về phát triển KT tư nhân, coi KT tư nhân là động lực quan trọng ở nước ta hiện nay? Câu 19: Tại sao phải đổi mới đồng bộ giữa KT và chính trị? Câu 20: Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể để phân tích việc phát huy nhân tố con người ở VN hiện nay? Câu 21: Vận dụng phép biện chứng duy vật trong nhận thức CN tư bản? Câu 22: Vận dụng phép biện chứng duy vật trong việc nhận thức CNXH? Câu 23: Tính khoa học và CM của CN MácLênin? Câu 24: Những giá trị bền vững của CN MácLênin? Câu 25: Sự lựa chọn con đường phát triển XHCN của Đảng và nhân dân ta là hoàn toàn đúng đắn? Phần II VẬN DỤNG TRIẾT HỌC MÁCLÊNIN ĐỂ NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN Câu 1: Vì sao nói, sự nghiệp đổi mới đất nước phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn? Đại hội VI (1986) Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đến năm 2016, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã trải qua 30 năm (19862016). Đại hội XII của Đảng nhìn lại 30 năm đổi mới, đánh giá những thành tựu đạt được, chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, rút ra những bài học. Thực tế chỉ rõ: Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, NN và nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa CM, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp CM to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong các Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo toàn bộ quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn về quá trình đổi mói đất nước. Những quan điểm này dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học MácLênin và quá trình tổng kết 30 năm đổi mới đất nước. Đó là: đổi mới phải... tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn.... Đổi mới phải tôn trọng quy luật khách quan Bất cứ lĩnh vực nào của thể giới vật chất đều có những quy luật khách quan, từ quy luật của tự nhiên đến các quy luật XH; từ quy luật chung, có tính bao quát đến những quy luật trong từng lĩnh vực cụ thể. Do vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan. Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người chỉ có thề vận dụng quy luật khách quan để nâng cao việc quả hoạt động của mình chứ con người không thề chống lại được quy luật. Nếu nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phù hợp với quy luật khách quan thì hoạt động sẽ đem lại hiệu quả, còn nếu không phù hợp với quy luật khách quan thì hoạt động thực tiễn sẽ thất bại, Thực tế lịch sử cho thấy, mỗi khi làm trái quy luật, con người đều phải trả giá, thậm chí trả giá đắt. Bài học của thời kỳ bao cấp trước đây đã cho thấy, không thể lấy nguyện vọng tốt đẹp thay cho thực tế khách quan mà phải xuất phát từ hiện thực khách quan và phải hành động theo quy luật. Chẳng hạn, không thể giải quyết tốt mối quan hệ giữa LLSX và QHSX nếu xuất phát từ đổi mới QHSX, mà phải xuất phát từ trình độ của LLSX. Như vậy, muốn nhận thức hay cải tạo sự vật phải xuất phát từ chính bản thân nó. Con người không thể áp đặt cho sự vật những cái mà vốn nó không có hoặc nó chưa thể có. Con người chỉ có thể phân tích chính bản thân sự vật, nhận thức bản chất của nó để từ đó có thể tìm ra phương thức cải tạo nó, làm ngược lại nhất định sẽ thất bại. Đổi mới phải bám sát thực tiễn Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạch định đường lối chiến lược, sách lược CM và sự cụ thể hóa đường lối đó bằng các chủ trương, chính sách và pháp luật, nếu bị sự can thiệp, áp đặt cùa ý muốn chủ quan tự phát sẽ làm nguy hại nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước, mà trước mắt cũng như lâu dài, hậu quả của nó khó có thể lường trước được, về vấn đề này, V.I.Lênin đã cảnh báo: Đối với một chính Đảng vô sản, không sai lầm nào nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan. Định ra một sách lược vô sản trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại. Do vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn bao giờ cũng phải xuất phát từ những điều kiện, những hoàn cảnh thực tế, đặc biệt là từ điều kiện vật chất. Mọi mục tiêu đặt ra cho hoạt động của con người cũng đều phải xuất phát từ những tiền đề vật chất đã có. Khi điều kiện KT còn thấp kém, lạc hậu mà đề ra những đường lối, chính sách với mục tiêu quá cao là không phù hợp, không thể thực hiện được. Ngược lại các mục tiêu đặt ra quá thấp so với điều kiện KT hiện có lại làm hạn chế khả năng của con người không thúc đẩy được việc khai thác những tiềm năng đã có.
Trang 1Phần II VẬN DỤNG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN ĐỂ NHẬN THỨC VÀ GIẢI
QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
MỤC LỤC Câu 1: Vì sao nói, sự nghiệp đổi mới đất nước phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn?
Câu 2: Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm phát triển trong sự nghiệp CM ở VN hiện nay?
Câu 3: Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vào phân tích quan điểm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế?
Câu 4: Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào phân tích quá trình xây dựng CNXH “bỏ qua chế độ tư bản CN” ở VN?
Câu 5: Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?
Câu 6: Tư tưởng triết học HCM về con người?
Câu 7: Vận dụng quan điểm của triết học Mác-Lênỉn, tư tưởng HCM vào xây dựng con người VN hiện nay?
Câu 8: Nhận thức mói về đấu tranh giai cấp ở VN hiện nay?
Câu 9: Nhận thức và giải quyết các mồi quan hệ lớn trong quá trình đổi mới ở nước ta?
và đấu tranh của các mặt đối lập?
Câu 17: Cơ sở triết học trong đường lối của Đảng về phát triển KT nhiều thành ở nước ta từ khỉ đổi mói đất nước đến nay?
Câu 18: Cơ sở triết học trong đường lối của Đảng về phát triển KT tư nhân, coi KT tư nhân là động lực quan trọng ở nước ta hiện nay?
Câu 19: Tại sao phải đổi mới đồng bộ giữa KT và chính trị?
Câu 20: Vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể để phân tích việc phát huy nhân tố con người ở VN hiện nay?
1
Trang 2Câu 21: Vận dụng phép biện chứng duy vật trong nhận thức CN tư bản? Câu 22: Vận dụng phép biện chứng duy vật trong việc nhận thức CNXH? Câu 23: Tính khoa học và CM của CN Mác-Lênin?
Câu 24: Những giá trị bền vững của CN Mác-Lênin?
Câu 25: Sự lựa chọn con đường phát triển XHCN của Đảng và nhân dân ta
là hoàn toàn đúng đắn?
2
Trang 4Phần II VẬN DỤNG TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN ĐỂ NHẬN THỨC VÀ GIẢI
QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
Câu 1: Vì sao nói, sự nghiệp đổi mới đất nước phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn?
Đại hội VI (1986) - Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đến năm
2016, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã trải qua 30 năm (1986-2016) Đại
hội XII của Đảng nhìn lại 30 năm đổi mới, đánh giá những thành tựu đạt được, chỉ
rõ những hạn chế, khuyết điểm, rút ra những bài học Thực tế chỉ rõ: Ba mươi nămđổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta,đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, NN và nhân dân ta Đổi mới mangtầm vóc và ý nghĩa CM, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sựnghiệp CM to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh" Trong các Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta đã đưa ranhững quan điểm chỉ đạo toàn bộ quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn về quátrình đổi mói đất nước Những quan điểm này dựa trên cơ sở phương pháp luận củatriết học Mác-Lênin và quá trình tổng kết 30 năm đổi mới đất nước Đó là: "đổi mớiphải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn ".
Đổi mới phải tôn trọng quy luật khách quan
- Bất cứ lĩnh vực nào của thể giới vật chất đều có những quy luật khách quan, từquy luật của tự nhiên đến các quy luật XH; từ quy luật chung, có tính bao quát đếnnhững quy luật trong từng lĩnh vực cụ thể Do vậy, trong nhận thức và hoạt độngthực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người chỉ có thề vận dụng quy luậtkhách quan để nâng cao việc quả hoạt động của mình chứ con người không thềchống lại được quy luật Nếu nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phùhợp với quy luật khách quan thì hoạt động sẽ đem lại hiệu quả, còn nếu không phùhợp với quy luật khách quan thì hoạt động thực tiễn sẽ thất bại,
- Thực tế lịch sử cho thấy, mỗi khi làm trái quy luật, con người đều phải trả giá,thậm chí trả giá đắt Bài học của thời kỳ bao cấp trước đây đã cho thấy, không thểlấy nguyện vọng tốt đẹp thay cho thực tế khách quan mà phải xuất phát từ hiện thựckhách quan và phải hành động theo quy luật Chẳng hạn, không thể giải quyết tốtmối quan hệ giữa LLSX và QHSX nếu xuất phát từ đổi mới QHSX, mà phải xuấtphát từ trình độ của LLSX Như vậy, muốn nhận thức hay cải tạo sự vật phải xuấtphát từ chính bản thân nó Con người không thể áp đặt cho sự vật những cái mà vốn
nó không có hoặc nó chưa thể có Con người chỉ có thể phân tích chính bản thân sựvật, nhận thức bản chất của nó để từ đó có thể tìm ra phương thức cải tạo nó, làmngược lại nhất định sẽ thất bại
Đổi mới phải bám sát thực tiễn
- Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạch định đường lối chiến lược, sách lược CM và
sự cụ thể hóa đường lối đó bằng các chủ trương, chính sách và pháp luật, nếu bị sự
Trang 5can thiệp, áp đặt cùa ý muốn chủ quan tự phát sẽ làm nguy hại nghiêm trọng đến sựphát triển của đất nước, mà trước mắt cũng như lâu dài, hậu quả của nó khó có thể
lường trước được, về vấn đề này, V.I.Lênin đã cảnh báo: Đối với một chính Đảng
vô sản, không sai lầm nào nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ýmuốn chủ quan Định ra một sách lược vô sản trên cơ sở đó có nghĩa là làm chosách lược đó bị thất bại
- Do vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn bao giờ cũng phải xuất phát từnhững điều kiện, những hoàn cảnh thực tế, đặc biệt là từ điều kiện vật chất Mọimục tiêu đặt ra cho hoạt động của con người cũng đều phải xuất phát từ những tiền
đề vật chất đã có Khi điều kiện KT còn thấp kém, lạc hậu mà đề ra những đườnglối, chính sách với mục tiêu quá cao là không phù hợp, không thể thực hiện được.Ngược lại các mục tiêu đặt ra quá thấp so với điều kiện KT hiện có lại làm hạn chếkhả năng của con người không thúc đẩy được việc khai thác những tiềm năng đãcó
- Trước năm 1986, nhiều quan điểm, đường lối phát triển KT-XH ở VN đã viphạm quy luật khách quan, bệnh chủ quan, duy ý chí chi phối quá trình nhận thức
và hoạt động thực tiễn
+ Trong mối quan hệ giữa KT và chính trị những năm trước đồi mới, chúng ta đã
áp đặt các mệnh lệnh hành chính thay cho các quy luật KT khách quan Điều này đãdẫn đến bệnh quan liêu trong tư duy KT và bộ máy các cơ quan NN, cản trở sự pháttriển KT-XH, tạo ra nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng về KT-XH
+ Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa LLSX và QHSX, chúng ta đã nhận thứckhông đúng về thực tiễn phát triển LLSX và vai trò của QHSX đối với sự phát triểncủa LLSX Chúng ta đã xây dựng QHSX với quy mô lớn để nhanh chóng xây dựngchế độ công hữu - cơ sở KT của CNXH Trong khi đó trình độ LLSX ở VN lại thấp
và không đồng đều giữa các vùng, các miền, các ngành nghề, các lĩnh vực, cácthành phần KT Do vậy, nó đã tạo ra sự không phù hợp giữa QHSX với trình độphát triển của LLSX, qua đó cản trở sự phát triển của LLSX, làm cho sản xuất đìnhđốn, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn, tỷ lệ lạm phát tăng cao, XH mất ổnđịnh
- Trước thực trạng đó, Đại hội VI của Đảng đã đưa ra quan điểm có ỷ nghĩa quyếtđịnh đối với sự phát triển của đất nước, đó là đổi mới phải “xuất phát từ thực tếkhách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan” Chỉ trên cơ sở xuấtphát từ tình hình thực tế của đất nước, nhận thức đúng các quy luật khách quan thìđường lối, chính sách phát triển KT-XH mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.Đảng ta xác định, đổi mới trước hết là đồi mới tư duy, trong đó tư duy về KT giữvai trò quyết định Chúng ta đã xác định lại các quy luật KT khách quan và nhậnthức rõ các quy luật ấy trong đường lối, chính sách phát triển, trong đó đặc biệt làviệc nhận thức rõ về quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển củaLLSX; nhận thức rõ về vai trò của KTTT đối với việc giải phóng sức sản xuất XH;nhận thức rõ hơn về sự tác động của quy luật giá trị trong nền KT Chính nhậnthức này đã tác động rất lớn đến việc xây dựng đường lối, chính sách phát triển KT-
Trang 6XH và nó đã tạo cơ sở cho những thành công to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sựnghiệp đổi mới, phát triển đất nước của VN từ năm 1986 đến nay.
Như vậy, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, khi nhận thức và hoạt động thực tiễncần nắm vững nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải tôn trọng sự thật, tránh thái độnóng vội, định kiến không trung thực và chủ quan duy ý chí đồng thời phải tôntrọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan
Câu 2: Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm phát triển trong sự nghiệp
CM ở VN hiện nay?
Theo triết học duy vật biện chứng thì phát triển là một phạm trù triết học dùng đểkhái quát quá trình vận động từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiên đến hoàn thiên hơncủa tự nhiên, của XH và của tư duy
- Nguồn gốc của sự phát triển là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong bản thân sựvật Quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng không chỉ có nhữngbiến đổi theo chiều hướng đi lên, nhiều khi còn bao hàm cả những biến đổi thụt lùi;
là quá trình tích lũy về lượng đến mức nào đó sẽ làm thay đổi về chất trong sự vật,hiện tượng Khuynh hướng của sự phát triển là quá trình phủ định của phủ định, cáimới ra đời thay thế cái cũ Phát triển còn là xu hướng chung của sự vận động, mangtính khách quan, tính đa dạng và tính phổ biến:
+ Phát triển mang tính khách quan, đó là quá trình tự thân của sự vật, không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của con người Nguồn gố, động lực của sự phát triểnnằm trong bản thân sự vật, hiện tượng; việc giải quyết mâu thuẩn sẽ làm cho sự vật,hiện tượng vận động và phát triển
+ Phát triển mang tính phổ biến, vì nó diễn ra cả trong tự nhiên, XH và tư duy,trong mọi không gian và thời gian Tính phổ biến của sự phát triển theo nghĩa nó làkhuynh hướng chung, phổ biến và diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực từ tự nhiên đến XH
và tư duy, từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánhhiện thực ấy
+ Phát triển mang tính đa dạng, phong phú, tức là tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của vật chất mà phát triển diễn ra nhiều hình thức khác nhau Mỗi sự vật,hiện tượng được cấu tạo, hình thành không giống nhau, tồn tại trong không gian,thời gian khác nhau
- Quan điểm phát triển đòi hỏi, khi nhận thức sự vật phải nhận thức được khuynhhướng của nó trong mớ hỗn độn các sự kiện, hiện tượng ngẫu nhiên C.Mác vàPh.Ăngghen ghi nhận công lao phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấpcủa các học giả tư sản trước đó Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tìm thấy tínhtất yếu của CM và nền chuyên chính, cũng như sự ra đời của CN cộng sản từ những
“mớ hỗn độn” các sự kiện ngẫu nhiên của các XH tư bản CN Trong thư gửiVâyđơmâye (1850) C.Mác viết, đấu tranh giai cấp nhất thiết dẫn đến chuyên chính
vô sản và bản thân nền chuyên chính này cũng chỉ là bước quá độ để đi đến thủ tiêumọi giai cấp Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh rằng, cuộc CM dogiai cấp vô sản tiến hành không thể thực hiện một cách dễ dàng, nhanh chóng Dovậy, cuộc CM do giai cấp vô sản còn có những khó khăn và cả thất bại tạm thời ở
Trang 7những thời kỳ lịch sử, mỗi quốc gia nhất định Nhưng theo C.Mác và Ph.Ăngghen,
sự thắng lợi của CM vô sản là tất yếu Tính tất yếu đó do sự chi phối bởi các quyluật khách quan Đây là điều hết sức quan trọng đối với việc củng cố niềm tin vàothắng lợi của người CM
- Quan điểm phát triển còn đòi hỏi tư duy phản ánh sự phát triển của sự vật cũngphải “mềm dẻo”, linh hoạt, phải luôn được bổ sung, thay đổi cho phù hợp với sựphát triển của bản thân sự vật, hiện tượng Nắm vững điều này sẽ khắc phục đượcnhận thức cứng nhắc, máy móc về sự phát triển
- Tư tưởng về CM không ngừng của CN Mác- Lênin đã cho thấy rất rõ về quanđiểm phát triển Khi luận chứng về mặt lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng,quá trình CM do giai cấp vô sản tiến hành phát triển không ngừng nhưng phát triểnqua từng giai đoạn tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể mà có những yêu càu và nhiệm
vụ cụ thể cần giải quyết Do đó, lý luận CM của C.Mác và Ph.Ảngghen đã liên tục
có sự bổ sung, phát triển để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn CM Điều này đã đượcV.I.Lênin tiếp tục thể hiện trong lý luận của minh về sự biến đồi của CN tư bản giaiđoạn đế quốc CN và tính tất yếu CM dân chủ tư sản kiểu mới ờ Nga
- Trên cơ sở phương pháp luận của quan điểm phát triển, ĐCS VN nhận định,trong những năm tới, tinh hình thế giới và trong nước sẽ còn nhiều diễn biến phứctạp
+ Chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh chóng, khó lường; cục diện thế giớitheo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn
+ Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninhnguồn nước, an ninh lương thực, biến đồi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễnbiến phức tạp; KT thế giới phục hồi chậm, gặp nhiều khó khăn, thách thức và còn
có nhiều biến động khó lường
+ Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiếptục diễn ra gay gắt, phức tạp
+ Cùng với đó là những khó khăn, hạn chế trong nước mà chúng ta đang phải đốimặt, đó là: KT phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu
và thực tế nguồn lực được huy động; việc tạo nền tảng để cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được mục tiêu đề ra
+ Bốn nguy cơ mà Hội nghị ĐB toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng(1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí,
“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là việcchúng triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên Internet để chống
phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hỏa” trong nội bộ Niêm tincủa cán bộ, đang viên và nhân dân vào Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút Điều nàytạo ra cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đềmới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đấtnước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của TQ Tuynhiên, trên cơ sở của quan điểm phát triển Đảng ta vẫn khẳng định: “Đường lối đổimới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH của nước ta là phù
Trang 8hợp với thực tiễn của VN và xu thế phát triền của lịch sử” “Theo quy luật tiến hóacủa lịch sử, loài người nhất định tiến lên CNXH”.
Câu 3: Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vào phân tích quan điểm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế?
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra rằng, mọi sự vật đềuchứa đựng những mặt (những yếu tố, những thuộc tính, những bộ phận) có đặcđiểm, hoặc khuynh hướng vận động trái ngược nhau tồn tại khách quan trong sự vậtgọi là những mặt đối lập Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn Cácmặt đối lập vừa thống nhất với nhau vừa đấu tranh với nhau làm mâu thuẫn đượcgiải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ
- Nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập giúp cho chúng
ta biết được nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, qua đótìm biện pháp tác động phù hợp, tạo điều kiện cho sự vật phát triển
- Quy luật cũng yêu cầu khi phân tích mâu thuẫn phải xem xét toàn diện các mặtđối lập, theo dõi quá trình phát sinh, phát triên của chúng để có biện pháp giải quyếtmâu thuẫn tốt nhất; mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi,không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa có đủ điều kiện; mâuthuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh, chứ không phải bằng điều hòamâu thuẫn
Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vào phân tích quan điểm của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế Trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” Văn kiện
ĐH XII của Đảng lại nhấn mạnh và cụ thể hơn là mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”
Để nhận thức đúng và xử lý tốt mối quan hệ đó, Đảng đã chỉ rõ nguyên tắc và phương châm, phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn đất nước, chú trọng nghiên cứu dự báo xu hướng phát triển của của đất nước và thế giới, những diễn biến của khu vực, quốc tế tác động tới nước ta trên cả hai mặt thuận lợi và khó khăn, tích cực và tiêu cực để đón kịp, tận dụng thời cơ, chủ động vượt qua thách thức và nguy cơ, tôn trọng quy luật khách quan, “không phiến diện, cực đoan, duy
Trang 9nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ.
- Quá trình hội nhập quốc tế luôn chứa đựng nhiều cơ hội và nhiều thách thức Hộinhập quốc tế trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt về chính trị, KT, sự chiphối của các nước lớn và những diễn biến phức tạp, hết sức khó lường của thế giới,đòi hỏi phải giữ vững độc lập, tự chủ, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lành thổ đấtnước
- Mỗi quốc gia và mỗi giai cấp nắm chính quyền đều theo đuổi các mục tiêu và lợiích khác nhau, thậm chí đối lập, nên hội nhập quốc tế càng sâu rộng thì tính phứctạp của quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh càng gia tăng
- Đảng ta luôn quan tâm sâu sắc đến việc phân tích bối cảnh quốc tế, bám sát bước
đi của nhân loại, tận dụng sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, đưa đất nướcvượt qua nhiều khó khăn, thách thức, vừa phát triển nhanh, bền vững, vừa bảo đảm
an ninh, quốc phòng, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN Để làm đượcđiều đó, cần xác định rõ những tác động hai mặt của hội nhập quốc tế và đưa ranhững định hướng, chính sách xác đáng
* Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vào hội nhập QT, cần lưu ý những nội dung sau:
Thứ nhất, hội nhập quốc tế phải thực hiện vừa hợp tác vừa đấu tranh Hợp tác mà
không có đấu tranh thì mất độc lập, tự chủ; đấu tranh mà không hợp tác thì không
“kết hợp được các mặt đối lập”
+ Giữa các mặt đối lập vẫn có những nhân tố “giống nhau” “đồng nhất” với nhau.Chính vì có những nhân tố “giống nhau”, “đòng nhất” với nhau này mà trong sựtriển khai mâu thuẫn đến một lúc nào đó và ở một điều kiện nào đó (khi nhân tố
“giống nhau”, “đồng nhất” nhau này chiếm xu thế chi phối của mặt đối lập) thì mặtđối lập này có thể chuyển hóa sang mặt đối lập kia hoặc chuyển hóa sang một mặtđối lập khác - khi xét trong một mối quan hệ cụ thể nào đó Chẳng hạn, sự pháttriển KT tư bản CN là phục vụ giai cấp tư sản, nhưng rõ ràng là sự phát triển KT tưbản CN này lại tạo ra những tiền đề vật chất để xây dựng CNXH
+ Không nên hiểu một cách giản đơn rằng, nếu hai mặt đối lập với nhau trong mộtmâu thuẫn thì mặt này không thể hàm chứa những yếu tố thuộc mặt đối lập kia.Thực tế cũng cho thấy, trong những người cộng sản, luôn có thể nảy sinh nhữngyếu tố của mặt đối lập với nó (tức đối lập với những người cộng sản) Cũng tương
tự như vậy, không thể nói trong giai cấp tư sản không có những yếu tố, thuộc tính,đặc điểm tích cực nào của giai cấp vô sản Hay như trong CN tư bản không cónhững yếu tố, thuộc tính của CNXH
+ Tất nhiên, như V.I.Lênin nói, “những yếu tố, thuộc tính, đặc điềm giống nhaunày, tương đồng, đồng nhất với nhau này là phải có điều kiện “không phải chỉ là sự
thống nhất của các mặt đối lập, mà còn là những chuyển hóa của mỗi quy định, chất đặc trưng, mặt, thuộc tính sang mồi cái khác [sang cái đối lập với nó?]”.
+ Cũng chính vì vậy, đối với V.I.Lênin: “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đổi lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất -
Trang 10trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau, tạisao lý trí con người không nên xem những mặt đối lập ấy là chết, cứng đờ, mà làsinh động, có điều kiện, năng động, chuyền hóa lẫn nhau”2 Chỉ trên tinh thần nàycủa V.I.Lênin chúng ta mới hội nhập quốc tế một cách chủ động, tích cực.
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, môi trường hòa bình, ổn định để chúng ta phát triển đất nước, trên cơ sở đó góp phần giữ vững độc lập, tự chủ Là một dân tộc đã trải qua nhiều năm chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, VN hiểu rõ
và khát khao hơn bất cứ quốc gia, dân tộc nào sự hòa bình, ổn định để chấn hưng đất nước Chúng ta đều rõ, hiện nay trên bình diện an ninh, đang nổi lên nhiều vấn
đề an ninh đáng lo ngại như CN khủng bố, xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc, CN
ly khai, nguy cơ bất ổn chính trị… Những vấn đề này đang đe dọa trực tiếp đến sự
ổn định và phát triển của từng quốc gia cũng như từng khu vực và cả thế giới Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng cùng một cơ chế thống nhất
có hiệu quả trên cơ sở hợp tác giữa các nước, giữa các khu vực cũng như toàn thế giới Muốn vậy các nước phải cùng nhau hợp tác
Thứ hai, hội nhập tạo nên sự phụ thuộc, làm xuất hiện điều kiện, thời cơ để giữ
+ Các nước lớn vẫn luôn duy trì trạng thái “vừa hợp tác vừa cạnh tranh” theophương châm: đấu tranh nhưng tránh xung đột, đối đầu trực tiếp, hòa hoãn nhưngtránh sa vào liên minh chống nước khác, xu thế đa phương ngày càng nở rộ vớihàng trăm sự tập hợp khu vực, liên khu vực, toàn cầu
+ Các nước lớn đều đã có những sự điều chỉnh chính sách đối ngoại nhằm thựchiện mục tiêu riêng của mình trong cục diện chính trị những năm đầu thế kỷ XXI.+ VN cũng cần xử lý tốt các mối quan hệ quốc tế để tạo điều kiện, tiền đề giữvững độc lập, tự chủ Những năm qua, trên tinh thần đó, Đảng và NN ta đã thựchiện đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Trong đó xác định, quan hệquốc tế được thực hiện đối với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị.Trong các quan hệ quốc tế VN luôn xác định các mối quan hệ cơ bản, trọng yếu,chiến lược, có những mối quan hệ là đối tác chiến lược, có quan hệ là hợp tác toàndiện lâu dài, láng giềng, đồng chí đặc biệt
Hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cho chúng ta những cơ hội thuận lợi để huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển KT-XH trong nước Để phát triển KT-XH, giữ vững độc lập, tự chủ, chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát triển đất nước Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy phải coi
Trang 11trọng huy động các nguồn lực bên ngoài Muốn phát huy được các nguồn lực bên ngoài thì phải thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế Chính hội nhập quốc tế cho chúng ta những điều kiện để tận dụng được lợi thế của các nguồn lực bên ngoài như nguồn lực vốn, nguồn lực kỹ thuật, nguồn lực quản lý Tất cả những thuận lợi này cũng như các nguồn lực bên ngoài chỉ được phát huy có hiệu quả thông qua nội lực Do vậy, phải chủ động, tích cực trong hội nhập quốc tế
Thứ ba, phải thấy rằng, ngay trong sự thống nhất của các mặt đôi lập, với bản chất
của mình, các mặt đối lập luôn có xu hướng phát triển trái ngược nhau, bài trừnhau Do vậy, đến một thời điểm nhất định, các mặt đôi lập ấy sẽ trở nên gay gắtvới nhau - tức tạo thành mâu thuẫn - đấu tranh với nhau Điều này có nghĩa là, ngaytrong sự thống nhất của các mặt đối lập ấy cũng hàm chứa những yếu tố dẫn tới đấutranh của các mặt đối lập Do vậy, các mối quan hê quốc tế không bất biến, cầnnhận diện và phân tích các mối quan hệ cụ thể trong điều kiện cụ thể và phải có sựđiều chỉnh linh hoạt phù hợp với mục đích đặt ra
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế giúp chúng ta thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển KT tri thức Chính quá trình toàn cầu hóa đang làm thay đổi phân công LĐ trên từng khu vực và trên toàn thế giới Chúng ta có thể tận dụng sự tái phân công LĐ này để phát huy mặt mạnh và lợi thế
so sánh cho phát triển KT Trên cơ sở đó, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN Chủ động hội nhập KT quốc tế sẽ cho chúng ta những cơ hội để rút ngắn quá trình này Bởi lẽ, hội nhập KT trong điều kiện toàn cầu hóa sẽ có cơ hội tiếp nhận và ứng dụng nhanh chóng những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến để rút ngắn quá trình phát triển
Thứ tư, một sự vật, hiện tượng có thể có nhiều mâu thuẫn cơ bản nhưng trong
cùng một thời điểm, một điều kiện, một mối liên hệ xác định chỉ có một mâu thuẫn
cơ bản Bởi mâu thuẫn cơ bản phải là mâu thuẫn quy định bản chất sự vật, hiệntượng tồn tại với tư cách là chính nó Khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết, thì sựvật, hiện tượng sẽ chuyển sang trạng thái tồn tại khác của nó Tất nhiên, trong một
sự vật, hiện tượng có thể có nhiều mâu thuẫn khác nhau (xét trong các mối liên hệkhác nhau) cùng tồn tại Các mâu thuẫn này có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau vàgiải quyết các mâu thuẫn này đều có ảnh hưởng tới giải quyết mâu thuẫn cơ bản của
sự vật, hiện tượng Nhưng giải quyết các mâu thuẫn không cơ bản này chưa thể làmcho sự vật, hiện tượng thay đồi về chất Ở trạng thái khác, sự vật hiện tượng lại cómâu thuẫn cơ bản mới trong điều kiện mới, trong mối liên hệ mới Trên tinh thần
đó, khi giải quyết các vấn đề, các mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế, cần phải có thái
độ bình tĩnh, thận trọng, có sự phân tích, phân loại các mâu thuẫn để có quan điểm
và giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế và lợi ích của VN
Thứ năm, phê phán quan điểm chỉ nhấn mạnh hợp tác quên đấu tranh, dẫn tới mất
cảnh giác; hoặc chỉ nhấn mạnh đấu tranh quên hợp tác, dẫn tới quan đỉểm cứngnhắc, khó hội nhập
Trang 12Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ giúp chúng ta hội nhập đầy đủ, sâu rộnghơn vào các thể chế KT thế giới cũng như thể chế KT khu vực, như Tổ chức thươngmại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngânhàng phát triển châu Á (ADB) Trên cơ sở đó, góp phần thúc đẩy phát triển KT vàgiữ vững độc lập, tự chủ Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Triển khai mạnh mẽđịnh hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Bảo đảm hội nhậpquốc tế là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh hội nhập trên
cơ sở phát huy tối đa nội lực, gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình nâng cao sứcmạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh của đất nước; hội nhập KT là trọng tâm, hộinhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập KT; hội nhập là quátrình vừa hợp tác vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống,không thể rơi vào thế bị động, đối đầu bất lợi”
Ngoài ra, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế còn tạo điều kiện, cơ hội cho chúng
ta xuất khẩu LĐ Khi xuất khẩu được LĐ, chúng ta sẽ có cơ hội để nguồn LĐ đượctiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của những nước khác; tiếpthu được phong cách làm việc; phương thức tổ chức sản xuất của các nước Điềunày góp phần trực tiếp vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, thực hiện đột phá về nhân lực chất lượng cao Hơn nữa, XKLĐcòn tạo thêm công việc cho số LĐ có tay nghề Điều này góp phần giải quyết việclàm, giảm thiểu thất nghiệp, trên cơ sở đó giảm thiểu tệ nạn XH Đồng thời, XKLĐcòn góp phần tăng thu nhập trực tiếp cho người LĐ, tăng thu ngân sách cho quốcgia
Độc lập, tự chủ về đối ngoại là một vấn đề rất quan trọng Độc lập, tự chủ trongquan hệ quốc tế và đối ngoại thể hiện trước hết ở tư duy, nhận thức độc lập, sángtạo, xuất phát từ lợi ích tối cao của đất nước - dân tộc, không giáo điều, rập khuôn,máy móc trong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại, trong xácđịnh đối tác, đối tượng và tập hợp lực lượng quốc tế Hệ thống các quan hệ đốingoại rộng lớn hiện nay của VN là kết quả của một quá trình thực hiện các bước độtphá: từ phá thế bao vây, cấm vận, bình thường hoá quan hệ với các nước lớn, cảithiện quan hệ với các nước trong khu vực , đến thực hiện chính sách đối ngoạirộng mở, hợp tác bình đẳng cùng có lợi, là bạn với tất cả các nước, tích cực, chủđộng hội nhập quốc tế
Trước thềm đại hội XIII của Đảng, trong dự thảo các văn kiện lấy ý kiến chuẩn bịtrình đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nhận định sau gần 35 năm đổi mới và gần 30năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, từnhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã chỉ rõ nhiều mối quan hệ diễnbiến hết sức nhanh chóng, đan xen, phức tạp, khó lường,… đòi hỏi toàn Đảng phảinâng cao quyết tâm chính trị, dự báo chính sách tình hình, chủ động thích ứng vớimọi tình huống, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc độclập,chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thỗ của Tổ quốc và những thành quả pháttriển đã đạt được Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là “Kết hợp sức mạnh dân tộc với
Trang 13sức mạnh thời đại, nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập vànâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, tranh thủ ngoại lực,trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất Trên
cơ sở đó, Đảng ta đề ra 5 định hướng sau:
- Giữu vững độc lập, tự chủ trong xác định chủ trương, đường lối, chiến lược pháttriển KT đất nước
- Phát triển doanh nghiệp VN lớn mạnh, làm nòng cốt của KT đất nước; giữ vữngcác cân đối lớn, bảo đảm an ninh KT; không ngừng tăng cường tiềm lực KT quốcgia
- Đa phưng hóa, đa dạng hóa quan hệ KT quốc tế, thực hiện nhiều hình thức hộinhập quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác
- Nâng cao khả năng chống chịu của nền KT trước tác động tiêu cực từ những tácđộng của nền KT thế giới, khu vực; chủ động hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệthống phòng vệ, bảo vệ nền KT, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp vớicác cam kết quốc tế
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thươngmại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế Xây dựng nềnngoại giao KT phục vụ phát triển đất nước
Câu 4: Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào phân tích quá trình xd CNXH “bỏ qua chế độ TBCN” ở VN?
Quy luật phủ định của phủ định
- Quy luật phủ định của phủ định dùng để chỉ khuynh hướng của sự vận động, pháttriển của sự vật, ít nhất thông qua hai lần phủ định biện chứng, sự vật dường nhưquay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng ở trình độ mới cao hơn
- Phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc một chu kỳ phát triển, đồng thời lại làđiểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo, tạo ra đường “xoáy ốc” của sựphát triển
- Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở để hiểu sự ra đời của cái mới, mối liên hệgiữa cái mới và cái cũ, góp phần xây dựng quan điềm kế thừa biện chứng
- Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra rằng, phát triển là quá trình phức tạp, theođường xoáy ốc đi lên Do vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần bình tĩnh,chủ động, khắc phục khó khăn đề thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ
Phân tích quá trình xd CNXH “bỏ quan chế độ TBCN” ở VN trên cơ sở vận dụng quy luật phủ định của phủ định
- Phủ định CNTB bằng tư duy biện chứng Trước đây, đã có thời kỳ, các nướcXHCN phủ định “sạch trơn” CNTB Điều này không chỉ cản trở việc kế thừaCNTB trong xây dựng CNXH mà còn hình thành tư duy siêu hình, cản trở sự pháttriển cùa chính các nước XHCN C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho rằng, chúng takhông thể thủ tiêu một LLSX nếu điều kiện cho sự tồn tại của nó chưa mất đi, nênchúng ta không thể phù định CNTB bằng khát vọng, bằng ý muốn
- Cần nhận thức đúng về vai trò, địa vị lịch sử của giai cấp tư sản đối với sự pháttriển của nền văn minh nhân loại
Trang 14+ Các nhà kinh điển của CN Mác đã chỉ ra, ở mỗi hình thái KT-XH có một giaicấp đứng ở trung tâm của thời đại Ở thời kỳ hình thành, phát triển và thống trị của
CN tư bản, thì giai cấp tư sản chính là giai cấp ấy
+ Khi còn là giai cấp CM, giai cấp tư sản đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽLLSX trong CN tư bản; góp phần phá bỏ thành lũy phong kiến, thống nhất quốc giadân tộc tư sản; thúc đẩy giải phóng con người, giải phóng tư tưởng sau sự thống trịchuyên quyền, độc đoán của CN phong kiến
+ Giai cấp tư sản hết vai trò lịch sử khi nó bộc lộ tính chất lỗi thời, phản động, cảntrở sự phát triển của LLSX Khi đó giai cấp vô sản xuất hiện và thực hiện sứ mệnhlịch sử của mình là giải phóng XH loài người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công.+ Theo nghĩa đó, cần thấy vai trò lịch sử của giai cấp tư sản và cần tranh thủ giaicấp này trong sự nghiệp xây dựng CNXH
- Khẳng định tính quy luật của sự phát triển lịch sử
+ Toàn bộ sự phân tích của C.Mác và Ph.Ăngghe thông qua học thuyết hình tháiKT-XH đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển các hình thái KT-XH là quá trình lịch
sử - tự nhiên”, có nghĩa là sự phát triển này theo quy luật tất yếu khách quan, khôngchịu sự chi phối bởi ý muốn chủ quan của bất kỳ giai cấp nào trong lịch sừ
+ Tuy nhiên, trong Lời tựa cho bộ Tư bản xuất bản lần thứ nhất, C.Mác vạch rõ:
“một XH, ngay cả khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động củanó, cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắclệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó Nhưng nó có thể, rút ngắn và làm dịu bớt đượcnhững cơn đau đẻ” Khi Ph.Angghen nghiên cứu về tình hình nước Nga và CM
1875, trong tác phẩm vấn đề XH Nga, Ph.Ăngghen đã đưa ra tư tưởng về sự phát
triển rút ngắn lên CNCS Khi C.Mác tìm hiểu sâu về nước Nga, ông đã đồng ý vớiPh.Ăngghen về quan điểm đó Quan điểm của V.I.Lênin sau này cũng thống nhấtvới những ý kiến đó Ông khẳng định quan điểm về khả năng phát triển rút ngắnngay ở những nước chưa trải qua chế độ tư bản CN Điều này vẫn là quá trình lịch
sử - tự nhiên
- Tránh tư tưởng tả khuynh, hữu khuynh về vấn đề phủ định CNTB Tư tưởng tảkhuynh, nóng vội khi phủ định CNTB, dẫn đến những sai lầm nguy hại to lớn tronglịch sử, thì tư tưởng hữu khuynh, mơ hồ khi cho rằng không cần phải đấu tranh giaicấp, thực hiện “dung hợp giai cấp” để xây dựng “XH siêu giai cấp” thì cũng pháhoại thành quả của CNXH
- Xác định đúng những nội dung cốt yếu để phủ định CNTB Trong điều kiện hiệnnay, Đảng ta đã khẳng định, con đường xây dựng CNXH ở VN là “bỏ qua chế độ tưbản CN”, tức là bỏ qua việc xác lập địa vị thống trị của QHSX và kiến trúc thượngtầng TBCN, còn chúng ta vẫn kề thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được trongCNTB
- Phủ định CNTB là quá trình khó khăn, phức tạp nên càn có quan điểm phươngpháp luận khoa học, tránh vấp váp, rủi ro Chế độ phong kiến mất 400 năm để phủđịnh chế độ chiếm hữu nô lệ Chế độ tư bản mất gần 300 năm để phủ định về đạithể chế độ phong kiến Do vậy, chế độ XHCN – chế độ XH phủ định hoàn toàn chế
Trang 15độ người áp bức, bóc lột thì chắc chắn sẽ còn khó khăn và phức tạp hơn.
Câu 5: Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào xây dựng nền văn hóa
VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?
Quy luật phủ định của phủ định cho ta cơ sở để hiểu sự ra đời của cái mới, mốiliên hệ giữa cái mới và cái cũ, góp phần xây dựng quan điểm kế thừa biện chứng,chống thái độ phủ định siêu hình, phủ định “sạch trơn”
Hiện nay, bên cạnh nhiệm vụ phát triển KT-XH, chúng ta phải xây dựng một nềnvăn hóa mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước.Ngày nay trước xu thế toàn cầu hóa, hợp tác hóa trên tất cả các lĩnh vực của đờisống XH giúp cho chúng ta có cơ hội để tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhânloại, làm giàu thêm bản sắc văn hóa dân tộc mình Hơn nữa, trong quá trình xâydựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN thì vấn đề giữ gìn nền văn hóamang đậm tính dân tộc ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng Bên cạnh những mặttích cực, mặt trái của KTTT, hội nhập quốc tế đã và đang làm chao đảo nhiều giá trịtinh thần nói chung, nhân cách con người nói riêng Đặc biệt, một số giá trị đạo đứctốt đẹp, thiêng liêng vốn có vị trí quan trọng trong hệ thống giá trị văn hóa truyềnthống của dân tộc VN đang có nguy cơ bị mai một và tha hóa Đồng thời, ở nước tavẫn tồn tại những tàn dư của XH cũ để lại, đó là những hủ tục lạc hậu, bảo thủ,mêtín dị đoan, Chính vì vậy, việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc trên cơ sở quán triệt quy luật phủ định của phủ định của CN duy vật biệnchứng là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và NN ta Trong các Vănkiện, Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng gần đây, Đảng ta đã nhận thức rõ điềunày và đã đưa ra quan điểm chỉ đạo cho việc xây dựng nền văn hóa mới: coi vănhóa là nền tảng tinh thần của XH, là động lực, là mục tiêu của CNXH Đặc biệttrong Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII Đảng ta đãkhẳng định: “Xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Từ Đạihội IX đến Đại hội XI, trực tiếp là Hội nghị Trung ương mười khóa IX ban hành kếtluận “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa
VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” và Hội nghị TW chín khóa XI ban hành Nghịquyết “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người VN đáp ứng yêu cầu pháttriển bền vững đất nước”
Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định đối với việc xâydựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện ở những nộidung sau:
- Kế thừa, phát huy những giá trị tích cực của truyền thống văn hóa VN
+ Kế thừa là một trong hai đặc trưng của phủ định biện chứng Phủ định biệnchứng bao hàm trong nó việc giữ lại những nhân tố tích cực của cái bị phủ định Do
đó, phủ định biện chứng là phủ định có kế thừa - nó duy trì những nhân tố có ýnghĩa tích cực đối với sự ra đời và phát triển của cái mới
+ Quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới kháchquan là quá trình liên tục thực hiện những bước phủ định kế tiếp nhau Sự phủ định
ấy không chỉ đơn thuần là thủ tiêu, phá hủy cái cũ, mà còn là sự giữ lại và phát triển
Trang 16những nhân tố tích cực đã có, tức là kế thừa Trong quá trình phát triển, giữa cái cũ
và cái mới, sự vật cũ và sự vật mới bao giờ cũng có mối liên hệ ràng buộc, tươngtác qua lại, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau và làm tiền đề của nhau Cái
cũ, sự vật cũ khi mất đi không có nghĩa là mất đi hoàn toàn, mà trong nó vẫn đượcbảo tồn và giữ lại những yếu tố tích cực, những “hạt nhân hợp lý” để tạo tiền đề,nền tảng cho sự phát triển tiếp theo Thực chất nó là mắt khâu trung gian liên hệgiữa cái cũ, sự vật cũ với cái mới, sự vật mới Ngược lại, cái mới, sự vật mới pháttriển cao hơn không phải từ hư vô, trên mảnh đất trống không, mà là kết quả pháttriển hợp quy luật từ những gì hợp lý của cái cũ, sự vật cũ; là kết quả của sự đấutranh và kế thừa tất cả những yếu tố còn tích cực của cái cũ, sự vật cũ
+ V.I Lênin viết: “Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định
không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng
không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng, - dĩnhiên, phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố phủ định, và thậm chí với tínhcách là nhân tố quan trọng nhất của nó, - không, mà là sự phủ định coi như là vòngkhâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định”
+ Do vậy, kế thừa là đặc trưng rất quan trọng của phủ định biện chứng Nó là sựbiểu hiện mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới (tự nhiên,
XH, tư duy) khi cái mới thay thế cái cũ nhưng vẫn giữ lại một hoặc một số yếu tốcủa cái cũ cần thiết cho sự ra đời và phát triển của cái mới Trong phủ định biệnchứng, kế thừa và phát huy những giá trị hợp lý có ý nghĩa quyết định khuynhhướng phát triển của sự vật
+ Những giá trị của văn hóa truyền thống cần kế thừa trong giai đoạn hiện nay là:tinh thần yêu nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự hào dân tộc; truyền thống cần cù LĐ;lòng nhân ái khoan dung; tinh thần hiếu học; tinh thần đoàn kết
- Phủ định những truyền thống lạc hậu, phản tiến bộ Chủ tịch HCM khẳng định:
“Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở CMtiến bộ”1 Chủ tịch HCM nhắc nhở đảng viên và cán bộ những căn bệnh sinh ra từ
CN cá nhân cần tránh như: Bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnhhiếu danh, thiếu kỷ luật, tư tưởng trọng nam khinh nữ, gia trưởng, hẹp hòi, ích kỷ,
tư tưởng cản trở cái mới, háo danh, địa vị, đẳng cấp, bệnh hình thức
- Tiếp biến giá trị văn hóa nhân loại theo phương thức “gạn đục khơi trong” để hìnhthành lối sống mới, tư tưởng mới, cách nhìn mới, qua đó cải biến, nâng tầm nhữnggiá trị văn hóa VN và mở rộng sự ảnh hưởng của những giá trị văn hóa VN ra thếgiới
- Xác định rõ chủ thể và tính mục đích của việc xây dựng nền văn hóa mới
+ Chủ thể của nền văn hóa mới là quần chúng nhân dân - chủ nhân sáng tạo ra mọigiá trị vật chất và tinh thần cho dân tộc, nhân loại
+ Mọi sáng tạo văn hóa, tinh thần không gắn với chủ thể ấy thì cũng sẽ mất tínhmục đích, làm phai nhạt các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc ấy
- Phủ định truyền thống lạc hậu, xây dựng nền văn hóa mới là quá trình đấu tranhlâu dài, phức tạp Vì, trong XH có một bộ phận muốn giữ lại, thậm chí khôi phục
Trang 17lại những mặt hạn chế, lỗi thời, lạc hậu của truyền thống, khôi phục cách sống cũ,
hủ tục lạc hậu để nhằm những mục đích nhất định Điều này làm cho quá trình phủđịnh truyền thống lạc hậu, xây dựng nền văn hóa mới là quá trình đấu tranh lâu dài,phức tạp hơn
- Có thái độ đúng đắn, tiến bộ, có phương pháp khoa học để phủ định và kế thừatruyền thống và xây dựng nền văn hóa mới
- Cần tránh các khuynh hướng sau:
+ Giữ lại tất cả những gì thuộc về truyền thống, không phân biệt mặt tích cực vàhạn chế, lấy đó như là giá trị để định hướng cho sự suy nghĩ và hành động củamình Những người này thường có thái độ bảo thủ, hoài cồ, khư khư ôm lấy những
gì thuộc về quá khứ, họ ngại thay đổi, không muốn thay đồi
+ Một số người có quan điểm chiết trung, không có đủ trình độ để phân biệt, nhậnthức đâu là giá trị, đâu là lạc hậu, lỗi thời
- Cần phân biệt cái mới thật và cái mới giả tạo Cái mới giả tạo thực chất chỉ là cái
cũ, cái lỗi thời được ngụy trang Trong điều kiện nào đó, để kéo dài sự tồn tại củamình, cái cũ, cái lỗi thời có thể tái sinh dưới hình thức mới Do vậy, không được lẫnlộn cái cũ và cái mới Nếu không chú ý đúng vấn đề này có thể dẫn đến việc kếthừa, phát huy những yếu tố tiêu cực làm cản trở sự phát triển chung của sự vật
- Tính kế thừa còn bao hàm trong nó tính phê phán Nghĩa là nó kế thừa trên cơ sởphê phán, kế thừa có chọn lọc Nếu bỏ qua tính phê phán có thể làm cho nội dung
kế thừa trở nên không phù hợp với sự phát triển Theo đó, việc kế thừa cần phải
trên tinh thần phê phán Phải biết gạt bỏ những truyền thống tư duy lỗi thời, cản trở
sự tiến bộ, sự phát triển của các chủ thể XH Tất nhiên, tính phê phán đòi hỏi phải
có quan điểm khách quan, trung thực Nếu chủ thể thực hiện sự phê phán có quanđiểm trái với quan điểm của xu hướng tiến bộ XH, nó có thể thực hiện sự phê phánkhông khách quan nhằm bôi đen đối tượng Điều này không những không đảm bảotính kế thừa đúng đắn mà còn cản trở sự phát triển của XH Do vậy, tính chất, nộidung kế thừa phụ thuộc vào nhiều yếu tố: địa vị và lợi ích giai cấp; tính khoa họccủa những nội dung được kế thừa, tính CM, tiến bộ hay bảo thủ lạc hậu, phản độngcủa chủ thể thực hiện việc kế thừa đó
Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về xu hướngphát triển của sự vật Quá trình phát triển của bất kỳ sự vật nào cũng không bao giờ
đi theo đường thẳng mà diễn ra quanh co, phức tạp trong đó bao gồm nhiều chu kỳkhác nhau Chu kỳ sau bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước Vì vậy quá trình đổimới của nước ta cũng đều diễn ra theo chiều hướng đó Hiện nay, hội nhập là conđường tất yếu, là lẽ sống của cả dân tộc Vấn đề đặt ra là chúng ta hội nhập như thếnào Rõ ràng, chúng ta với tư thế chủ động, hội nhập trên cơ sở tự khẳng định mình,
nổ lực để vượt lên chính mình, nghĩa là, thông qua quá trình hội nhập, chúng ta cóthể nhận thức đầy đủ hơn, có ý thức hơn trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc củadân tộc mình Đồng thời trong quá trình đó, chúng ta sẽ thấy được những hạn chếcủa những truyền thống có khả năng cản trở sự tiến bộ để tìm cách khắc phục Mộtkhi đã nhận thức được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ kết hợp hài hòa các giá trị
Trang 18truyền thống với các giá trị hiện đại, trên cơ sở bảo tồn bản sắc dân tộc, giữ lấynhững gì là tinh hoa, loại bỏ dần các yếu tố cốt lõi lỗi thời, tăng cường giao lưu,học hỏi với bân ngoài thì sẽ vượt qua được những thử thách, sẽ khơi dậy được vaitrò động lực của giá trị truyền thống Với tinh thần và bản lĩnh của người VN,chúng ta sẽ “phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảmđộc lập tự chủ và định hướng XHCN”, kết hợp sức mạnh dân tộc với những ưu thếcủa thời đại để phát triển đất nước và từng bước khẳng định vị thế bản lĩnh của dântộc mình trước cộng đồng.
Câu 6: Tư tưởng HCM về con người?
Tư tưởng HCM về con người
Tư tưởng HCM về con người là một bộ phận quan trọng hợp thành hệ tư tưởngHCM, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo CN Mác-Lênin vào điềukiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dântộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại trong việc xem xét, đánh giá và pháthuy vai trò to lớn của con người Tư tưởng triết học đó là cơ sở để hình thành nên
lý luận giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng XH Đó là CN nhânvăn sâu sắc, là CN nhân đạo hiện thực
Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ ChíMinh về con người
* Cách tiếp cận của Hồ Chỉ Minh về con người
- Con người đối với HCM vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên củagia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa,phong phú Người đã nêu: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, bầu bạn, họhàng Nghĩa rộng, là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người" Con người, với
tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biệnchứng với cộng đồng dân tộc và cả loài người trên thế giới
- Tuy nhiên, HCM quan tâm trước hết và hơn cả là tuyệt đại bộ phận dân tộc, vớithành phần chủ yếu là toàn thể nhân dân LĐ Nhân dân LĐ là tất cả những ngườitham gia vào sự phát triển XH Đó là công nhân, nông dân, trí thức, các tầng lớp
XH, với những nghề nghiệp khác nhau
- Con người trong tư tưởng của HCM là nhân dân, là đồng bào - những người laokhổ đang bị áp bức đang cần có cái ăn, cái mặc, đang cần được giải phóng, chứkhông phải con người chung chung, trừu tượng, phi giai cấp, phi lịch sử
- Xuất phát từ cách tiếp cận đó, HCM đã thấu hiểu được nhân dân mình, đồng bàomình và tìm được con đường CM chân chính để giải phóng, đem lại hạnh phúc chonhân dân “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no,mặc đủ”1
- Theo Người, “mục đích của CM là xây dựng một nước VN độc lập, thống nhất, tự
do, giàu mạnh Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một XHsung sướng, vẻ vang”
* Về bản chất con người
- HCM cho rằng, con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu.Người nói: “Theo nghía rộng thì cả thế giới và trong một nước có THIỆN và có Ác
Trang 19Theo nghĩa hẹp thì trong bản thân và tư tưởng của mỗi một người cũng có THIỆN
và có ÁC” Nhưng trong quan niệm của Người, thiện và ác cũng có những nội dung
riêng “Nói về mỗi một người chúng ta, nếu hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc,phục vụ nhân dân Thế là THIỆN Nếu chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không lođến lợi ích chung của nước nhà, của dân tộc thế là Ác Thực hành chí công vô tư,cần kiệm liêm chính, thế là THIỆN Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô,lười biếng Thế là ÁC”
- Thống nhất với quan điểm của CN Mác-Lênin, HCM cho rằng, con người mangbản chất XH Bản chất của con người do hoàn cảnh XH quy định nên nó khôngphải là cái sẵn có, con người không phải là thần thánh, mà cũng có tính tốt, tínhxấu, “người thế này người thế khác” Người cho rằng, “hiền dữ phải đâu là tínhsẵn” Người phủ nhận quan điểm cho rằng, đức tính con người là thiên tính, bẩmsinh Theo Người, bản tính con người là do môi trường XH quy định, do giao lưu
XH mà hình thành, trong đó “phần nhiều do giáo dục mà nên”
- Người cho rằng, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng Ta phải biết làmcho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mấtdần đi, đó là thái độ của người CM”1 Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lươngtâm, đánh thức những gi tốt đẹp trong con người Ngay cả đối với những người lầmđường lạc lối, Chủ tịch HCM cũng rất khoan dung, độ lượng: “Năm ngón tay cũng
có ngón vắn, ngón dài Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấytriệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòngdõi của tồ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ”
- Từ việc xác định bản chất của con người, HCM cũng nêu ra nhiều phương thức đểgiáo dục, xây dựng bản chất con người mới XHCN, đó là thông qua LĐ, thông quarèn luyện, tu dưỡng, nhất là rèn luyện đạo đức CM “Muốn xây dựng CNXH, trước
hết cần có những con người XHCN” Muốn có con người XHCN thỉ nhất thiết phải
có đạo đức CM, mà “đạo đức CM không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh,rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càngsáng, vàng càng luyện càng luyện càng trong” Người nói, với “sự cố gắng học tập
và cải tạo của mọi người, thi cái Ác trong mình chúng ta sẽ ngày càng bớt, cáiTHIỆN ngày càng tăng”
* Về vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng CNXH
- Khi nói về vai trò của con người trong sự nghiệp CM, HCM viết, CM là sự nghiệpcủa quần chúng, vì vậy phải động viên quần chúng đứng lên làm CM “Quyền hành
và lực lượng đều ở nơi dân”, “Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc củadân”3 Nếu không có nhân dân thì không có đủ lực lượng làm CM Chỉ có huy độngđược toàn thể nhân dân thi sự nghiệp CM mới thành công
- HCM tin ở sức mạnh của con người, của quần chúng nhân dân Người cho rằng,con người có khả năng làm biến đổi hoàn cảnh, biến đổi lịch sử thông qua hoạtđộng thực tiễn của mình Để làm CM thì phải biết dựa vào dân, tin dân Muốn CMthành công thì phải lấy dân làm gốc “Trong bầu trời không gì quỷ bằng nhân dân.Trong thế giới không gi mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”4 Điều quan
Trang 20trọng là HCM không chỉ nhìn thấy sức mạnh của nhân dân mà Người còn động viênnhân dân tự đứng lên làm CM giải phóng cho mình Đó là tư tưởng về con người
CM, con người thực tiễn
- Có thể nói, hạt nhân trong tư tưởng triết học HCM là tư tưởng về con người Tưtường về con người lại là cội nguồn của CN nhân văn, nhân đạo hiện thực, là nộidung cốt lõi của tư tưởng giải phóng và phát triển Với ý nghĩa đó, có thể nói tưtưởng triết học về con người của HCM mang tính triệt để, CM sâu sắc
Câu 7: Vận dụng quan điểm của triết học Mác-Lênin, tư tưởng HCM vào xây dựng con người VN hiện nay?
- Con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là mục đích cao nhất củatriết học Mác Triết học Mác xuất phát từ con người và nhằm mục đích cao nhất làgiải phóng con người, phát triển con người
- Vận dụng những tư tưởng khoa học và CM của triết học Mác-Lênin, ĐCS VNkhẳng định, việc xây dựng một quan hệ XH tiến bộ, lành mạnh, dân chủ, côngbằng, khắc phục những tha hóa bản chất người của XH cũ, tạo điều kiện để giảiphóng triệt đề và phát triển toàn diện con người là mục tiêu cao nhất trong đườnglối chính trị Trên tinh thần đó, sau CM Tháng Tám năm 1945, đặc biệt là từ khi cảnước bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, các quan hệ XH đã được cải tạo cơ bản,tạo cơ sở để phát triển cá nhân, XH tạo ra mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và XH
- Trong những năm đổi mới, vai trò của cá nhân được khẳng định, năng lực sáng tạocủa cá nhân được đề cao, đặc biệt là việc phát huy tính tích cực XH của người LĐtrong phát triển KT, qua đó thúc đẩy nền sản xuất XH phát triển mạnh mẽ Bêncạnh đó, ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của các cá nhân trong XH cũng ngàycàng được nâng cao, qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của XH Tuy nhiên,dưới tác động mặt trái của KTTT, trước sức ép về nhu cầu vật chất, KT, nhiều cánhân làm KT, kiếm tiền, bất chấp những lợi ích chung của tập thể XH, trốn tránhnghĩa vụ đối với XH, thậm chí vi phạm, xâm hại, chà đạp lên lợi ích của tập thể,của XH Hiện tượng trốn thuế, tham nhũng với quy mô ngày càng lớn, tính chấtngày càng phức tạp không chỉ là sự tồn hại về giá trị vật chất, KT mà quan trọnghơn nó làm xói mòn cấu trủc XH, làm suy yếu nền tảng đạo đức, làm tha hóa cánhân, phá vỡ mối liên kết giữa các thành viên trong XH, cản trở sự tiến bộ XH
- Trong XH hiện nay, nhiều hiện tượng tiêu cực và những bất cập do điều kiện
KT-XH còn thấp kém đã cản trở sự phát triển cá nhân, ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa
cá nhân và XH
+ Hiện tượng nhiều cá nhân người LĐ chưa được hường thành quả LĐ tươngxứng với mức đóng góp cho XH đang làm mất đi tính tích cực XH của người LĐ.+ Đời sống, việc làm của nhiều giai tầng trong XH rất còn nhiều khó khăn, ảnhhưởng him đến hiệu quả nền sản xuất XH
+ Mâu thuẫn giữa cá nhân với XH về mặt nghĩa vụ, quyền lợi ừong việc thụ hưởngcác lợi ích, mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp về việc thụ hưởng lợi ích XH.Tình trạng bóc lột sức LĐ, bất công XH còn tồn tại đang tạo ra những bất ổn XH
vả những hệ lụy xấu đối với sự phát triển đất nước
Trang 21- Ngoài ra, trong điều kiện hiện nay, khi các điều kiện vật chất trong XH cònnhiều bất cập, hạn chế, thiếu thốn cũng cản trở rất nhiều việc phát huy tính tích cực,năng động, sáng tạo, sở trưởng của các cá nhân, tạo ra khoảng cách nhất định giữa
cá nhân và XH Trong những năm qua, tình trạng thừa LĐ, thiếu việc làm, thời gian
LĐ nhàn rỗi còn lớn, nhất là ờ các vùng nông thôn; tình trạng đói nghèo còn phổbiến ở vùng sâu, vùng xa; tình trạng thiếu thốn trường lớp, cơ sở đào tạo nâng caochất lượng LĐ chắc chắn đã tạo ra những lực cản đối với sự phát triển của các cánhân trong XH
- Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, mối quan hệ giữa cá nhân và XHchưa đạt đến sự hài hoà cũng là tất yếu không thể tránh khỏi Bởi lẽ, XH đang tồntại một cơ cấu giai cấp đa dạng, phức tạp, với những nhóm lợi ích khác nhau, thậmchí đối lập nhau Đó còn là cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cáilạc hậu ngay trong bản thân mỗi cá nhân và trên quy mô toàn XH Muốn giải quyếthài hoà mối quan hệ giữa cá nhân và XH, tạo động lực cho sự phát triển XH theođịnh hướng XHCN, đòi hỏi chúng ta phải có những phương thức điều chỉnh, tácđộng hợp lý, trong đó cơ bản nhất là điều chỉnh quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợiích XH theo những nguyên tắc nhất định
- Trong khi giải quyết vấn đề lợi ích cần ừánh thái độ tả khuynh và hữu khuynh,cần tiến hành thận trọng, từng bước, ưên cơ sở nắm rõ xu hướng vận động của cáclợi ích và thái độ của các giai cấp, tầng lớp, các nhóm, các cá nhân gắn liền với cáclợi ích đó Điều này sẽ tạo ra một trạng thái tâm lý ổn định cho các chủ thể lợi ích,tránh được tâm lý chống đối, phản kháng, tạo ra sự hỗn loạn XH Nếu không cómột thái độ, cách thức giải quyết đúng chúng ta có thể tạo ra một dạng mâu thuẫnlợi ích mới với tính chất và mức độ cao hon, hoặc có thể làm mất đi những điểmtương đồng có thể sừ dụng, kết hợp để giải quyết mâu thuẫn thúc đẩy sự phát triểnXH
- Ngoài ra, để tạo ra môi trường XH cho sự phát triển của các cá nhân, cân phảixây dựng một hệ thong pháp luật, cơ chế đầy đủ đồng bộ tạo cơ sở pháp lý cho việcgiải quyết các vấn đề XH, đồng thời đẩy mạnh phát triển KT tạo ra tiền đề vật chất
để phát triển cá nhân Có như vậy mới giải quyết tốt hài hoà mối quan hệ giữa cánhân và XH, tạo động lực cho sự phát triền đất nước theo định hướng XHCN
- Thực tiễn CM nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảngnhững nguyên lý lý luận của CN Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo, phù hợp điềukiện của VN, ĐCS VN đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp CM đúng đắn
để lãnh đạo nhân dân VN giành thắng lợi trong cuộc CM mùa Thu năm 1945, sánglập NN VN Dân chủ Cộng hòa; trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp
và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,đưa cả nước cùng đi lên CNXH Thời đại ngày nay toàn Đảng nói chung, mỗi cán
bộ, đảng viên cần phải: Một là, Chú trọng học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả
việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển CN Mác - Lênin, tư tưởng HCM
để hiểu sâu sắc bản chất và tin tưởng vững chắc vào CN Mác - Lênin, tư tưởng
Trang 22HCM, vào con đường đi lên CNXH và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng,lãnh đạo; để mỗi người không chỉ nói, viết và làm theo đúng chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của NN mà còn vận dụng sáng tạo vào thực tiễn
công tác, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó; Hai là, Thường xuyên tu
dưỡng đạo đức CM, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phòng và chống những biểu hiệnsuy thoái về tư tưởng chính trị, đạo lức, lối sống như phai nhạt mục tiêu, lý tưởngXHCN, giảm sút niềm tin vào CN Mác - Lênin, tư tưởng HCM, vào xu thế kháchquan của lịch sử và sự thắng lợi của CNXH, chạy theo lối sống thực dụng, vị kỷ…Đồng thời, chủ động phòng, chống và đấu tranh phản bác các luận điểm sai trái, thùđịch, xuyên tạc về CN Mác - Lênin, tư tưởng HCM, về mục tiêu, lý tưởng XHCN
và chống phá Đảng, NN, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước…bằng những việc làm cụ thể phù hợp chức năng, nhiệm vụ mình đảm nhiệm
Câu 8: Nhận thức mới về đấu tranh giai cấp ở VN hiện nay?
Những tư tưởng cơ bản và những nhận thức mới của ĐCS VN về đấu tranh giaicấp của ĐCS VN thể hiện ở những nội dung sau:
Đấu tranh giai cấp vẫn là một tất yếu
- Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung,
phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhận định: “Các mâu thuẫn cơ bản trên thếgiới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển.Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; nhưng đấutranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung độtsắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranhchấp lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích KT tiếp tụcdiễn ra phức tạp”1 Trong xu thế đó, các thế lực thù địch với CNXH đang ráo riếttiến hành mọi biện pháp và âm mưu chống phá sự nghiệp CM và độc lập dân tộccủa các quốc gia theo chế độ XHCN
- Ở nước ta vẫn còn những lực lượng đi ngược lại lợi ích của nhân dân LĐ vàcủa dân tộc nên việc thực hiện đấu tranh giai cấp để bảo vệ thành quả CM, bảo vệlợi ích của nhân dân là một tất yếu
Nội dung của đấu tranh giai cấp có nhiều thay đổi trong điều kiện hiện nay
* Trong lĩnh vực KT
- Thực hiện đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực KT thực chất là để phát triểnLLSX, phát triển mọi tiềm năng để chuẩn bị cơ sở vật chất để xây dựng CNXH.V.I.Lênin từng nói, nếu không có sự tăng lên nhanh chóng của LLSX thì chúng takhông có cơ sở vật chất để xây dựng CNXH
- Thực chất của đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực KT là củng cố, duy trì sự thốngtrị của QHSX XHCN; giữ vững độc lập, tự chủ về KT; chống áp bức bóc lột, bấtcông; thực hiện kiểm soát chặt chẽ của cải, tài sản của NN và nhân dân
* Trong lĩnh vực chính trị: Đấu tranh giai cấp là để bảo vệ thành quả CM; duy trì
và củng cố hệ thống chính trị XHCN, bảo vệ Đảng, bảo vệ NN; đấu tranh ngănchặn các thế lực thù địch, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân
Trang 23* Trong lĩnh vực tư tưởng: Giai cấp công nhân và ĐCS vạch trần âm mưu của các
thế lực thù địch, phản động; truyền bá thế giới quan khoa học, CM của CN Lênin; xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh; phát huy được tính tích cực CM củaquần chúng nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tồ quốc; đấu tranh bảo vệ
Mác-CN Mác-Lênin, bảo vệ đường lối của Đảng
* Trong lĩnh vực văn hóa - XH: Đấu tranh chống lại tư tưởng phản văn hóa,
chống lối sống lai căng; xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc; đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bất công; xây dựng quan hệ XH lành mạnh,tiến bộ, văn minh, vì sự phát triển
Có thể nói, cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở nước ta nằm trong quyluật chung của thời đại quá độ từ CN tư bản lên CNXH, thời đại giải phóng dân tộc,thời đại của những hình thức đấu tranh giai cấp mới Song, bên cạnh quy luật chung
đó, đấu tranh giai cấp ở VN có những biểu hiện đặc thù, những đặc điểm riêng biệt,độc đáo, sinh động ờ mỗi quốc gia Vì vậy, những nội dung, hình thức của cuộc đấutranh giai cấp phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể
- Đấu tranh giai cấp ở nước ta diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập KTquốc tế ngày càng sâu rộng, tình hình thế giới có nhiều phức tạp, phong trào CMthế giới có những biến đồi to lớn Do vậy, Đảng ta yêu cầu phải nhận thức cho đúngthực chất, tính chất, nội dung, hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp Giải quyết vấn
đề giai cấp phải trên quan điểm biện chứng, có thái độ thận trọng, bình tĩnh, có sựxem xét vấn đề một cách thấu đáo, tránh thái độ tả khuynh, hữu khuynh Quan điểmbảo thủ, hẹp hòi, xơ cứng về vấn đề này không chi gây trở ngại cho công cuộc mởcửa, hòa nhập vào đời sống KT quốc tế - một yêu cầu khách quan của thời đại hiệnnay, mà còn là nguy cơ chệch hướng XHCN
- Đảng ta xác định, mặc dù thực chất đấu tranh giai cấp không thay đổi, nhưng ởmỗi thời kỳ, do yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của CM mà nội dung, hình thức đấu tranhgiai cấp có thể thay đổi cho phù hợp Trong điều kiện hiện nay, nhiệm vụ cơ bảncủa đấu tranh giai cấp là tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tăng cườngliên minh giai cấp vững mạnh Bởi vì, “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lốichiến lược của CM VN; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ýnghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Câu 9: Nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn trong quá trình đổi mới
ở nước ta?
- Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn có ýnghĩa lịch sử Những thành quả to lớn đó là kết quả của quá trình nhận thức và thựchiện đúng chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, tập trung là Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, được thông qua tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 và được bổ sung, phát triển năm 2011.Trong đó, cốt lõi là việc nhận thức và xử lý các mối quan hệ lớn, có ý nghĩa như làtính quy luật trong quá trình xây dựng CNXH
- Trong giai 1986-2006, các mối quan hệ lớn chưa được Đảng ta nêu ra riêng biệt,
mà được gắn vói nhận thức trong tổng thể các vấn đề lớn, như: đẩy mạnh công
Trang 24nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền KTTT định hướng XHCN và xây dựng NNpháp quyền VN.
- Đến Đại hội XI và Đại hội XII, việc nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn
đã tạo dựng toàn bộ diện mạo những vấn đề lớn cơ bản cần giải quyết trong suốtquá trình đổi mới vì CNXH ở nước ta Đó là các mối quan hệ:
+ Mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển : Đảng ta xác định đổi mới làđộng lực; ổn định là điều kiện, tiền đề; phát triển nhanh và bền vững là mục đích.Đổi mới, ổn định và phát triển đều do con người và vì con người Con người vừa làmục tiêu, động lực vừa là chủ thể của đổi mới, ổn định và phát triển
+ Mối quan hệ giữa đổi mới KT và đổi mới chính trị: Đại hội VI xác định bắt đầu
từ đổi mới KT đến đổi mới chính trị và các lĩnh vực khác; Đại hội VII xác địnhđông thời đổi mới về KT phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động
tổ chức chính trị; Đại hội VIII, Đảng ta rút ra kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới
KT với đổi mới chính trị, lấy đổi mới KT làm trọng tâm; Đến Đại hội X Đảng tamột lần nữa xác định đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức
và cách làm phù hợp; Đại hội XI chỉ rõ kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới Đổimới chính trị phải kết hợp với đổi mới KT theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoànthiện thể chế KTTT định hướng XHCN
+ Mối quan hệ giữa tuân theo quy luật của thị trường và bảo đảm định hướngXHCN Điểm đột phá trong nhận thức của Đảng ta là đã khẳng định KTTT khôngphải là sản phẩm riêng của CNTB mà là thành tựu chung của nhân loại KTTT địnhhướng XHCN tuân theo những quy luật của KTTT đồng thời được định hướng, dẫndắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH trong từng chặng đườngphát triển của thời kỳ quá độ
+ Mối quan hệ giữa phát triển LLSX và xây dựng hoàn thiện từng bước QHSXXHCN Trong tiến trình đổi mới KT, từ áp dụng cơ chế thị trường đến phát triểnmạnh mẽ nền KTTT định hướng XHCN , Đảng ta đã nổ lực đổi mới tư duy KT, kịpthời điều chỉnh các mặt cấu thành QHSX nhằm giải phóng và thúc đẩy phát triểnmạnh mẽ LLSX
+ Mối quan hệ NN - thị trường
+ Mối quan hệ giữa tăng trưởng KT và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ vàcông bằng XH Đảng ta luôn nhấn mạnh phát triển KT, văn hóa, XH đều vì conngười; tăng trưởng KT tạo nguồn lực để phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, côngbằng XH; giải quyết tốt các vấn đề XH sẽ tạo động lực phát triển KT, văn hóa; pháttriển văn hóa tạo nền tảng tinh thần XH và nguồn lực nội sinh để phát triển bềnvững
+ Mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN Xây dựng CNXH
và bảo vệ Tổ quốc là quy luật phát triển của CM nước ta Bảo vệ là điều kiện đểxây dựng; xây dựng tạo sức mạnh để bảo vệ, trong bảo vệ có xây dựng, trong xâydựng có bảo vệ phòng ngừa nguy cơ chệch hướng XHCN
+ Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế Độc lập tự chủ nhưngkhông biệt lập, cô lập với thế giới mà chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, là thành
Trang 25viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại
+ Mối quan hệ giữa giữa Đảng lãnh đạo, NN quản lý, nhân dân làm chủ.Đây làmối quan hệ chính trị-XH và pháp lý giữa các chủ thể có vai trò, vị trí, chức năng
và nhiệm vụ khác nhau song đều hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH,thực hiện dân chủ, bảo đảm và phát triển quyền làm chủ nhân dân
Các mối quan hệ nêu trên có ý nghĩa như là tính quy luật trong quá trình đổi mới.Nhận thức các mối quan hệ lớn và liên hệ hữu cơ giữa chúng, Đảng ta xác định :Phát triển KT là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa – nềntảng tinh thần XH, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thườngxuyên Từ thực tiễn đổi mới, nhất là trong điều kiện phát triển mạnh mẽ nền KTTT
và hội nhập quốc tế, chúng ta đạt được nhận thức mới về giải quyết các vấn đề XH
và giữ gìn bảo vệ môi trường đó là điều kiện để phát triển bền vững, để đạt mụctiêu nhân văn của phát triển là phát triển vì con người
- Việc nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn trong 30 năm (1986-2016) đãđạt được những thành tựu cơ bản sau:
+ Góp phần làm rõ hơn những đặc trưng bản chất của CNXH
+ Góp phần vào sự hoàn thiện lý luận về CNXH, tạo ra bước phát triển toàn diệncủa đất nước ta trong thời kỳ đổi mới
- Tuy vậy, việc nhận thức và giải quyết các mối quan hệ ở nước ta trong gần 30năm qua vẫn còn những mặt hạn chế nhất định, đòi hỏi cần tiếp tục phải giải quyết
Cụ thể là:
+ Chưa nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa, vị trí, tầm quan trọng của việc giải quyếtcác mối quan hệ, cũng như mối liên hệ hữu cơ của việc giải quyết chúng với nhữngđặc trưng, phương hướng xây dựng CNXH
+ Nhiều nội dung của các mối quan hệ chưa được làm rõ, chủ yếu mới mang tínhphương pháp luận Do vậy, trong tổ chức thực hiện trên thực tế nhất là ở các bộ,ban, ngành và cấp cơ sở còn lúng túng, bị động, thiếu nhất quán
+ Mặt khác, những mối quan hệ nêu trên chỉ là những mối quan hệ chủ yếu, trongđiều kiện hiện nay Khi công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, thì xuất hiện nhữngquan hệ mới cần chú ý nhận thức và giải quyết Đó là quan hệ giữa mục tiêu chiếnlược và mục tiêu sách lược; quan hệ giữa phát huy nội lực và phát huy ngoại lực;quan hệ giữa thực hành dân chủ và thực hiện kỷ cương, pháp luật
- Đến nay, qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnhđạo, mặc dù trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhanhchóng, khó dự báo.Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, toàn Đảng,toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, vượt qua muôn vànkhó khăn, thách thức và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử,được thế giới ghi nhận, đánh giá cao Đúng như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nướcNguyễn Phú Trọng đã từng nhận xét: “Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, vịthế và uy tín trên trường quốc tế như ngày nay”
Trang 26Trong Bài viết "Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất
Phú Trọng đánh giá:
"Quá trình 35 năm đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiệnCương lĩnh, trong đó có 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm2011), Chiến lược phát triển KT-XH 2011 - 2020 và 5 năm thực hiện Nghị quyếtĐại hội XII, cho thấy, cần nhận thức sâu sắc hơn, tiếp tục bổ sung, phát triển vànâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mối quan hệ lớn về mặt tư tưởng, lýluận, đề ra các quyết sách, tháo gỡ những rào cản, vướng mắc, tiếp tục phát triểnđất nước nhanh và bền vững, đặc biệt chú trọng xử lý tốt hơn các mối quan hệ:Giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới KT và đổi mới chính trị; giữatuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triểnLLSX và xây dựng, hoàn thiện từng bước QHSX XHCN; giữa NN, thị trường vàXH; giữa tăng trưởng KT và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng XH,bảo vệ môi trường; giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; giữa độc lập,
tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, NN quản lý và nhân dân làm chủ;giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương XH Đó lànhững mối quan hệ lớn phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề
lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới ở nước ta, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toànquân ta phải nhận thức đầy đủ, thật sự thấm nhuần, quán triệt sâu sắc và thực hiệnthật tốt, có hiệu quả
Do vậy, cần liên tục bổ sung và phát triển nhận thức về các mối quan hệ trong điềukiện lịch sử cụ thể
Câu 10: KTTT định hướng XHCN ở VN?
Nền KTTT định hướng XHCN ở VN là nền KT vận hành đầy đủ, đồng bộ theo cácquy luật của KTTT, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giaiđoạn phát triển của đất nước Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sựquản lý của NN pháp quyền XHCN do ĐCS VN lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XII, thể chế KTTT địnhhướng XHCN ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn trênthực tế khi đã giúp đất nước ta thoát khỏi thời kỳ khó khăn về KT, đạt tốc độ tăngtrưởng có lúc thuộc nhóm cao nhất thế giới Từ nước nghèo, thu nhập thấp, VN đãgia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với
KT thế giới
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của nền KT VN để đạt tốc độ tăng trưởng nhanh,bền vững, Đảng và NN đang nghiên cứu, xem xét những vấn đề đặt ra để hoànthiện hơn thể chế KTTT định hướng XHCN ở VN Trong đó, vai trò kiến tạo của
NN, vai trò của doanh nghiệp NN, vai trò của KT tư nhân được nhìn nhận sẽ lànhững trụ cột để tạo nên sức mạnh KT cho quốc gia Nhận diện và chấn chỉnh cácbiểu hiện chệch hướng trong quá trình xây dựng KTTT định hướng XHCN ở VNcũng là vấn đề thường xuyên, không thể xem nhẹ
Trang 27Đến Đại hội XII, mô hình KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã được khắc họa rõnét và đầy đủ hơn, đã nhấn mạnh: “Thống nhất nhận thức nền KTTT định hướngXHCN VN là nền KT vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT; đồngthời, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đấtnước Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của NN phápquyền XHCN, do ĐCS VN lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”.
Một trong những thành tựu lý luận của ĐCS VN trong quá trình đồi mới là quan
điểm: phát triển nền KTTT định hướng XHCN Đảng ta coi đây là mô hình KT tổng
quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH
- Đảng ta khẳng định: “KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại Thực tiễnđổi mới ở nước ta đã chứng minh đầy sức thuyết phục về việc sử dụng KTTT làmphương tiện xây dựng CNXH” KTTT đã góp phần giải phóng mạnh mẽ sức sảnxuất XH, tạo tiền đề vật chất to lớn cho sự nghiệp xây dựng CNXH
- Thực tế lịch sử nhân loại cũng chứng tỏ rằng, KTTT cùng với những mặt tíchcực, cũng có những mặt tiêu cực Do vậy, để phát huy mặt tích cực, ngăn ngừa, hạn
chế mặt tiêu cực của KTTT và bảo đảm mục tiêu phát triển KT phục vụ nâng cao
đời sống nhân dân chúng ta cần giữ vững định hướng XHCN của sự phát triểnKTTT Do đó, nền KTTT mà Đảng ta chủ trương phát triển là nền KTTT địnhhướng XHCN
+ Định hướng XHCN trong KTTT không có nghĩa là bất chấp quy luật KTTT Dovậy, định hướng XHCN trong phát triển KTTT đòi hỏi phải có sự lãnh đạo củaĐCS, sự quản lý của NN XHCN
+ Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của NN đối với KTTT cũng tuân theo quy luậtKTTT, không chủ quan, tùy tiện Chính vì vậy, Đảng ta yêu cầu NN “quản lý nềnKTTT bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thịtrường, áp dụng các hình thức KT và phương pháp quản lý của KTTT để kích thíchsức sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phụcmặt tiêu cực cùa cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân LĐ, cùa toàn thể nhândân”
+ Ngay cả các phương tiện mà NN sử dụng để quản lý nền KTTT cũng chỉ là công
cụ, phương tiện để đạt mục tiêu giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt mạnh củaKTTT, hạn chế tối đa mặt tiêu cực của KTTT, chứ không được vi phạm quy luật
KT khách quan
- Thực tiễn 35 năm đổi mới ở nước ta đã chứng minh quan điểm đó là đúng đắn.+ Hiện nay, nền KTTT định hướng XHCN ờ nước ta đang phát triển với nhiềuhình thức sở hữu, nhiều thành phần KT, nhiều hình thức tồ chức kinh doanh, nhất làcông ty cồ phần sở hữu hỗn hợp ngày càng phát triển
+ KT NN và KT tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền KT quốcdân, KT tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền KT
Trang 28+ Mối quan hệ NN - thị trường - XH được giải quyết ngày càng phù hợp hơn NNquản lý, điều tiết nền KTTT thông qua pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,chính sách, các công cụ KT và các lực lượng vật chất cần thiết nhưng vẫn tuân thủquy luật, nguyên tắc của KTTT Mặc dù còn những hạn chế như KT chủ yếu pháttriển theo chiều rộng, thiếu bền vững, nhưng “Thực lực của nền KT tăng lên; KT vĩ
mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng KT được duy trì hợp lý
và được đánh giá thuộc nhóm nước có mức tăng trưởng khá và cao trên thế giới”
Từ thực tiễn sau gần 35 năm đổi mời đất nước và từ những luận cứ trên chúng ta
có thể khẳng định rõ rằng, KTTT định hướng XHCN là một mô hình KT thốngnhất Những ý kiến ngược lại hoặc là cứng nhắc, bảo thủ không chịu đồi mới nhậnthức lý luận trước thực tiễn đã thay đổi, hoặc cố tình phản bác do không cùng lợiích với nhân dân ta, Đảng và NN ta
Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đảng khóa XIII đã chỉ ra thực tiễn sau gần 35năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Thế
và lực của nước ta đã lớn mạnh hơn nhiều; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền
KT được nâng lên; tính độc lập, tự chủ được cải thiện; tích lũy thêm nhiều kinhnghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển KT - XH Vị thế và uy tíncủa nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Tuy nhiên, nền KT vẫn còn nhữngtồn tại, hạn chế và tiềm ẩn nhiều rủi ro, khả năng chống chịu, thích ứng với tác độngbên ngoài còn yếu, năng lực tiếp cận nền KT số, XH số còn hạn chế
Câu 11: Quan điểm của ĐCS VN về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình phát triển đất nước?
- Đại đoàn kết toàn dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn của dân tộc ta Truyềnthống ấy đã được hun đúc qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước
Nó trở thành giá trị vững bền, là “chất keo” kết dính tự nhiên, là mạch nguồn, lànhân tố quyết định sự tồn vong của dân tộc ta qua suốt chiều dài lịch sử và sự thànhcông của sự nghiệp CM trong thời kỳ mới Nhận thức rõ ý nghĩa đó, Đảng ta khẳngđịnh: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của CM VN, là động lực và
là nguồn lực to lớn trong xay dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Đảng ta đã khẳng định đại đoàn kết toàn dân là động lực chủ yếu để phát triểnđất nước
+ Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đấtnước là đại đoàn kết toàn dân”
+ Đại hội làn thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảngliên mình giai cấp công nhân vói giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnhđạo của Đảng là đường lối chiến lược của CM VN; là nguồn sức mạnh, động lựcchủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
+ Đại hội lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của đại đoàn kếttrong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đảng ta cho rằng: “Đại đoàn kếttoàn dân tộc là đường lối chiến lược của CM VN, là động lực và nguồn lực to lớntrong xây dựng và bảo vệ Tồ quốc”1
Trang 29- Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định, trong giai đoạn hiện nay cần: “Tăngcường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo Phát huy mạnh mẽ mọinguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;lấy mục tiêu xây dựng một nước VN hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnhthổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng;tổn trọng những khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đềcao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp,đoàn kết mọi người VN ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữanhân dân với Đảng, NN, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” Nộidung quan điểm này thể hiện những khía cạnh sau:
Trước hết, Đảng ta xác định, khối đại đoàn kết toàn dân được xây dựng và tăng
cường trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũtrí thức do Đảng lãnh đạo Bởi lẽ, đây chính là lực lượng XH cơ bản trong sựnghiệp giải phóng dân tộc và trong thời kỳ xây dựng, phát triển đất nước Do vậy,
sự vững chắc của liên minh này là cơ sở khối đại đoàn kết toàn dân và cả hệ thốngchính trị
+ Ở nước ta, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đã liênminh chặt chẽ trong sự nghiệp CM giải phóng dân tộc, đã đưa dân tộc ta đến độclập, tự do, thống nhất đất nước Ngày nay, liên minh giữa giai cấp công nhân, giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức không chi để bảo vệ thành quả CM mà còn có sựhợp tác chặt chẽ trong LĐ, sản xuất phát triển KT trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, thực hiện cải tạo XH, xây dựng đời sống văn hóa mới, conngười mới
+ Đảng ta xác định, cơ sở để xây dựng và tăng cường liên minh giai cấp đó chính
là sự thống nhất về lợi ích cơ bản, lợi ích chủ yếu giữa giai cấp công nhân, nôngdân và đội ngũ trí thức Lợi ích đó được thể hiện qua mục tiêu độc lập dân tộc vàCNXH; dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Do vậy, những nămqua, Đảng ta đã có những quan điểm, đường lối chính sách đảm bảo lợi ích cơ bàn,lợi ích chủ yếu và tạo ra sự gắn kết lợi ích giữa giai cấp công nhân, giai cấp nôngdân và đội ngũ trí thức
Thứ hai, trong điều kiện hiện nay, cần phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm
năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vê Tổ quốc Trong đó, cân pháttriển giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân, thế hệ trẻ
và các tầng lớp XH khác Mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo trong các giaicấp, tầng lớp này nếu được tập họp, đoàn kết sẽ là cơ sở, là nguồn lực to lớn quyếtđịnh cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước
+ Trong điều kiện hiện nay, là chủ thể trực tiếp nhất và chủ yếu nhất của quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân là lực lượng LĐ tạo racủa cải chủ yếu cho toàn XH LĐ của giai cấp công nhân phù hợp với yêu cầu củanền sản xuất hiện đại, có tính quốc tế hóa cao vói trình độ sản xuất hiện đại Dovậy, chỉ có thể xây dựng và phát triển đất nước theo hướng hiện đại, dân giàu, nước
Trang 30mạnh nếu chúng ta biết phát huy tốt nguồn lực của giai cấp công nhân.
+ Giai cấp nông dân chiếm gần 70% dân số, là lực lượng LĐ cơ bản của XH trênđịa bàn nông thổn, là chủ thể trực tiếp của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nrng thổn Nông dân cũng là giai cấp đảm bảo lương thực chủ yếu chotoàn XH, tạo cơ sở cho sự phát triển công nghiệp chế biến ở nước ta Do vậy, pháthuy tốt vai trò, nguồn lực của giai cấp nông dân là cơ sở để góp phần thực hiệnthành công sự nghiệp đổi mới đất nước
+ Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay đặt ra yêu cầu pháttriển mạnh mẽ nguồn nhân lực chất lượng cao với trình độ khoa học công nghệ hiệnđại, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ cao góp phần nâng cao năng suất LĐcủa các ngành sản xuất vật chất Yêu cầu dó chi c - > thể được thực hiện nếu chúng
ta phát huy dứng tiềm năng và nguồn lực của trí thức Hi n nay, trí thức ở nước takhông chỉ góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho XH, phát triển khoahọc công nghệ mà còn trực tiếp tham gia vào các quy trình khác nhau của sản xuấtvật chất, thúc đẩy sự phát triển chung của XH
+ Ngoài những giai tầng LĐ cơ bản của XH, Đảng ta cho rằng, cần phát huy tiềmnăng, nguồn lực của đội ngũ doanh nhân, của thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh,người cao tuổi và các tầng lớp XH khác Chỉ khi nào tiềm năng, nguồn lực của cácgiai tầng này được phát huy mạnh mẽ chúng ta mới có cơ sở để xây dựng thànhcông CNXH
Thứ ba, thực hiện đoàn kết trên cơ sở những điểm tương đồng của các giai cấp,
tầng lớp trong XH Trong thời kỳ hiện nay, điểm tương đồng chung đó là “mục tiêuxây dựng một nước VN hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Thứ tư, can đoàn kêt các dan tộc, các tổn giáo, các tâng lớp nhân dân ở trong nước
và người VN định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử vềquá khứ, thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau hướng tớitương lai; cần tổn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung củadân tộc
Thứ năm, nhân tố có ỹ nghĩa quyẽt định đôi với việc tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân tộc chính là sự đoàn kết trong Đảng Bởi lẽ, Đảng lãnh đạo sự nghiệp CM,xây dựng đất nước; mọi thành công hay thất bại của sự phát triển đều quyết định ởvai trò lãnh đạo của Đảng Tinh thần đoàn kết, thống nhất bảo đảm cho Đảng vữngmạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức, thống nhất trong ý chí và hành động, qua đóđảm bảo cho sự thành công của các quyết sách lãnh đạo của mình Văn kiện Đại hộiXII đã xác định: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhán, là cơ sở vững chắc để xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc” Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựngĐảng để tạo sự đoàn kết, thống nhất, góp phân nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiên đâu; là nơi tập hợp mọi ý nguyện, lợi ích của nhân dân
Câu 12: Tác động của cuộc CM công nghiệp lần thứ tư (4.0) đối với sự phát triển của LLSX ở VN hiện nay?
* Cuộc CM công nghiệp lần thứ tư
Trang 31- Lịch sử phát triển công nghệ và công nghiệp, nhân loại đã chứng kiến ba cuộc
CM công nghiệp:
+ Cuộc CM công nghiệp đầu tiên từ năm 1784 đến năm1840, giai đoạn này conngười sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Nó đánh dấu
sự khởi đầu của kỷ nguyên sản xuất cơ khí thay thế hệ thống kỹ thuật cũ
(Đây là thời kỳ mà hầu hết nông nghiệp, XH nông thôn đã trở thành công nghiệp
và đô thị Ngành công nghiệp luyện kim (luyện gang, sắt), ngành công nghiệp dệt,ngành giao thông (đường sắt, đường thủy) cùng với sự phát triển của động cơ hơi
nước, đóng vai trò trung tâm trong CM Công nghiệp này.).
+ Cuộc CM công nghiệp lần thứ hai từ năm 1870 đến 1914, loài người phát minh
ra động cơ điện, sử dụng năng lượng điện để tạo nên nền sản xuất với các dâychuyền lắp ráp
(Đây là giai đoạn tăng trưởng của các ngành công nghiệp đã có từ trước và mởrộng các ngành mới, như thép, dầu, điện (động cơ điện) và sử dụng điện để vậnhành các động cơ điện để sản xuất hàng loạt Các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu tronggiai đoạn này bao gồm điện thoại, bóng đèn, đĩa hát và động cơ đốt trong)
+ Cuộc CM công nghiệp lần thứ ba xuất hiện từ năm 1969 khi con người phátminh ra máy tính, Internet nên còn được gọi là cuộc CM số Đây là thời kỳ mà máymóc cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất đã thaythế phần lớn chức năng của con người Và bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn đầucủa cuộc CM công nghiệp lần thứ tư đang được xây dựng trên nền tảng cuộc CMlần ba với CM kỹ thuật số đã xuất hiện từ giữa thế kỷ trước
- CM công nghiệp lần thứ tư xuất hiện từ những năm 2000 Bản chất của cuộc CMnày là mang thế giới thực và ảo xích lại gần nhau dựa trên nền tảng công nghệ số vàtích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sảnxuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, ngườimáy, Các công nghệ mới không chỉ tác động về sản xuất, mà còn ảnh hưởng sâurộng đến đời sống XH, LĐ, việc làm, an ninh, chính trị,
Với bản chất ấy, cuộc CM công nghiệp 4.0 mang trong mình các đặc trưng sau:
Thứ nhất, kết hợp giữa các thế giới ảo và thực thể Cuộc CM công nghiệp 4.0 đặc
trưng bởi sự hợp nhất, không có ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ, vật lý, kỹthuật số và sinh học
+ Đây là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nốiInternet (IoT) và các hệ thống kết nối Internet (IoS) Sự phổ biến của các công nghệnhư vạn vật kết nối, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, đang xóa nhòa mọi ranhgiới, giúp cho con người, sản phẩm và máy móc tự kết nối, giao tiếp với nhau
+ Vì thế, CM công nghiệp lần thứ tư đã và đang làm thay đổi những thói quentruyền thống của mỗi người dù là những việc đơn giản nhất như: gọi một chiếc taxi,đặt chỗ một chuyến bay, mua một sản phẩm, thực hiện thanh toán, nghe nhạc, xemmột bộ phim, đến những việc phức tạp hơn như lái xe ô tô, thiết kế nhà thông
Trang 32minh, phẫu thuật bằng rôbót, tất cả đều có thể thực hiện từ xa.
Thứ hai, quy mô và tốc độ phát triển - chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại.
+ Nếu như các cuộc CM công nghiệp trước đây diễn ra với tốc độ theo cấp sốcộng thì tốc độ phát triển của CM công nghiệp 4.0 này là theo cấp số nhân
+ Thời gian từ khi các ý tưởng về công nghệ và đổi mới sáng tạo được phôi thai,hiện thực hóa các ý tưởng đó trong các phòng thí nghiệm và thương mại hóa ở quy
mô lớn các sản phẩm và quy trình mới được tạo ra trên phạm vi toàn cầu được rútngắn đáng kể
Thứ ba, tác động mạnh mẽ và toàn diện với thế giới đương đại.
+ Cuộc CM công nghiệp lần thứ tư có những tác động to lớn về KT, XH và môitrường ở tất cả các cấp - toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia
+ Ở những nước tư bản phát triển nhất đang diễn ra một mâu thuẫn mang tính nền
tảng của KTTT: dưới tác động của cuộc CM công nghiệp 4.0, cung gia tăng mạnh
mẽ, trong khi đó cầu không theo kịp do nhiều người LĐ bị thay thế bởi quá trình tự
động hóa nên không có thu nhập Phổ thu nhập ở nhiều nước phát triển mang tínhlưỡng cực với sự phân hóa rất rõ nét, tạo nên một khoảng trống lớn ở giữa Đâycũng là mâu thuẫn đã được C.Mác chỉ ra giữa sự phát triển LLSX ở mức cao vàphương thức phân phối của CN tư bản
- Trước bối cảnh đó, yêu cầu những quốc gia bước vào cuộc CM công nghiệp 4.0muộn như chúng ta cần phải ý thức được và kiên định lập trường, quan điểm của
CN Mác-Lênin rằng: khoa học và công nghệ có thể là động lực phát triển KT-XH,nhưng tự nó không trở thành động lực phát triển KT-XH Nó chỉ trở thành động lựcphát triển KT-XH khi được định hướng, quản lý nhằm đem lại lợi ích chung choquần chúng nhân dân, vì mục tiêu phát triển, công bằng và tiến bộ XH Nếu đingược mục tiêu đó, nó sẽ tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn XH, thúc đẩy sự phân hóa XH
và cản trở sự phát triển bền vững của XH, thậm chí trở thành nhân tố phá hoại sựtiến bộ XH
* Tác động của cuộc CM công nghiệp lần thứ tư tới sự phát triển của LLSX ở
VN hiện nay
Thứ nhất, cuộc CM công nghiệp lần thứ tư đã tác động làm thay đổi trình độ của
người LĐ trong LLSX Khoa học đã làm thay đổi trình độ, kỹ năng của người LĐ,qua đó làm thay đổi cường độ, năng suất LĐ, thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ hai, cuộc CM công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi công cụ LĐ, như máy móc,
trang thiết bị kỹ thuật qua đó góp phần thay đổi trình độ của lực lượng sàn xuất
Thứ ba, CM công nghiệp lần thứ tư tác động tới hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất,
nhất là hạ tầng công nghệ thông tin Thời gian qua VN đã tăng tốc phát triển hạtầng thông tin để đáp ứng kịp xu thế phát triển của thời đại Hạ tầng kỹ thuật viễnthông và Internet được đầu tư với công nghệ hiện đại, có độ bao phủ rộng khắp trên
cả nước với dung lượng lớn Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của LLSX
Thứ tư, CM công nghiệp lần thứ tư tác động đến phương thức sản xuất vật chất.
Hiện nay, chỉ với máy tính xách tay trên cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt, mọingười đều có thể tham gia quá trình sản xuất vật chất
Trang 33Câu 13: Cơ sở thực tiễn nhận thức về CNXH và con đường lên CNXH ở VN?
Nhận thức về CNXH và con đường lên CNXH ở VN là một quá trình được ĐCS
VN thường xuyên bổ sung, phát triển, hoàn thiện Một trong những cơ sở để Đảng
ta bổ sung, phát triển, hoàn thiện nhận thức lý luận về CNXH và con đường lênCNXH ở VN chính là tổng kết thực tiễn đất nước và thời đại
1 Tổng kết thực tiễn lịch sử phát triển của nhân lơại, chúng ta rút ra được những bài học cơ bản sau
Một là, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH Đó là quy luật khách quan tất yếu
của lịch sử Chính từ việc tổng kết thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại, Đảng
ta đã vững tin khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất đinh
sẽ tiến tới CNXH”
Hai là, gắn độc lập dân tộc với CNXH là con đường tất yếu của CM VN Trên cơ
sở niềm tin vào quy luật khách quan rằng, nhân loại nhất định sẽ tiến tới CNXH,Đảng ta quyết tâm đi theo và thực hiện tư tưởng HCM về gắn độc lập dân tộc vớiCNXH Bởi lẽ:
- Độc lập dân tộc là điều kiện, cơ sở, tiền đề để xây dựng chũ nghĩa XH và CNXH là sự bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
- Hơn nữa, chỉ có CNXH mới là cách thức tổ chức XH tốt nhất làm cho dân tộc quốc gia trường tồn, phát triển, con người trong dân tộc - quốc gia đó được pháttriển toàn diện; quan hệ giữa cá nhân - tập thể - XH, giữa giai cấp và dân tộc đượchài hòa
Để độc lập dân tộc được bền vững, trường tồn thì nhất định phải gắn liền vớiCNXH Chỉ có đi lên CNXH, thì độc lập dân tộc mới trở thành thực tế và bền vững.Thực tế lịch sử nhân loại cũng đã chứng tỏ, có những quốc gia, dân tộc sau khigiành được độc lập lại lựa chọn con đường phát triển phi CNXH, tuy KT có tăngtrưởng nhanh, đời sống vật chất của nhân dân có được cải thiện nhưng lại không cóđược độc lập dân tộc đúng nghĩa, trọn vẹn và rất nhiều vấn đề XH đặt ra không giảiquyết được
Ba là, từ thực tiễn lịch sử cho thấy chúng ta phải học được những bài học kinh nghiệm của giai cấp tư sản khi họ đảnh đổ chế độ phong kiến xây dựng chế độ tư bản CN.
- Bài học đầu tiên là để đánh đổ giai cấp phong kiến càn đánh đổ thế giới quanđịa tâm - thế giới quan mà trên đó Kitô giáo xây dựng hệ thống giáo lý, nhà nhà thởcủa mình và là nền tảng thế giới quan của CN phong kiến châu Âu
- Bài học thử hai là phải đánh đổ triệt để những lực cản từ tàn dư của CN phongkiến Đó là tư tưởng đặc quyền, đặc lợi, tư tưởng gia trưởng, cục bộ địa phương,trọng nam, khinh nữ, coi thường lớp trẻ, những truyền thống lạc hậu của CN phong
kiến,… Những tàn dư của chế độ phong kiến rất nặng nề Chúng cũng thuộc kẻ thù
tàng hình và rất nguy hiểm vì chúng len lỏi, tồn tại trong từng con người
- Bài học thứ ba mà giai cấp tư sản đã làm đó là giải phóng cá nhân con người đểgiải phóng sức sản xuất Con người dưới chế độ phong kiến bị phụ thuộc vào vua,chúa, lãnh chúa, nhà thờ, giáo hội Do vậy, cá nhân con người bị đè nặng bởi rất
Trang 34nhiều tầng lớp thống trị, giáo lý của giáo hội Để giải phóng sức sản xuất phải giảiphóng con người Do đó, hiện nay để phát triển sức sản xuất, giải phóng mọi tiềmnăng, chúng ta cần khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân con người, chống CN
cá nhân thì mới giữ vững được định hướng XHCN của sự phát triển
Bổn là, giai cấp tư sản chủ ý phát triển khoa học, kỹ thuật Để phát triển LLSX tư
bản chù nghĩa, ngoài việc giải phóng con người, phát triển sở hữu tư nhân về đấtđai, giai cấp tư sản châu Âu còn chú ý phát triển khoa học - kỹ thuật để phát triểncông cụ sản xuất Hiện nay, chúng ta đang phát triển KTTT định hướng XHCN, đểkhông rơi vào bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước công nghiệp hiện đại,chúng ta càng phải đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, mà trước đây là khoahọc, kỹ thuật
2 Tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH hiện thực trên thế giới và VN để bể sung, hoàn thiện, phát triển nhận thức lý luận về CNXH VN
Từ những bài học kinh nghiệm thực tiễn xây dựng CNXH ở Liên Xô và một sốnước XHCN ở Đổng Âu, ĐCS VN đã rút ra nhiều bài học nhận thức mới về CNXH
và con đường lên CNXH ở VN Tiêu biểu là những bài học:
Thứ nhất, kiên trì CN Mác-Lênin.
- Thực tế đã chứng minh những sai lầm chù quan của ĐCS Liên Xô cũng nhưmột số ĐCS và công nhân ở Đông Âu là đã không kiên trì và vận dụng thiếu sángtạo CN Mác-Lênin khi cải tổ
- Đối với ĐCS VN thì kiên trì không chỉ với CN Mác-Lênin mà còn đối với tưtưởng HCM Bởi lẽ, tư tưởng HCM chính là sự vận dụng sáng tạo CN Mác-Lêninvào điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn VN Không những thế, quan điểm của ĐCS VN
là vừa kiên trì, vừa vận dụng sáng tạo, vừa góp phần phát triển CN Mác- Lênin, tưtưởng HCM Bởi vậy, ngay từ năm 1991, sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô vàĐổng Âu sụp đổ cho đến nay, Đảng ta đều khẳng định phải kiên trì, vận dụng sángtạo và góp phàn phát triển CN Mác-Lênin, tư tưởng HCM Đây là bài học vô cùngquan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới vì CNXH ở VN
Thứ hai, nhận thức lại những bản chất đặc trưng của CNXH Từ Cương lĩnh (1991), đến Cương lĩnh (Bồ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta đã đưa ra được 8
đặc trưng cơ bản của CNXH VN Trong đó, đặc trưng bao trùm, cơ bản là: “Dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và có những đặc trưng rất mới là:
có NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do ĐCS lãnhđạo
Thứ ba, nhận thức lại về thời kỳ quá độ.
- Trước đây, chúng ta có dấu hiệu chủ quan, nóng vội trong nhận thức về thời kỳ
quá độ, nên chưa lường hết được tỉnh chất phức tạp, khó khăn và lâu dài của thời
kỳ quá độ lên CNXH Thậm chí, đã có lúc chúng ta quan niệm sai lầm khi coi thời
kỳ quá độ chỉ là một khoảng thời gian của vài kế hoạch 5 năm
- Từ tổng kết kinh nghiệm xây dựng chù nghĩa XH của những nước XHCN trướcđây và thực tiễn của VN, chúng ta nhận thấy: Những nước đã trải qua giai đoạnphát triển tư bản chù nghĩa, việc thực hiện quá độ trực tiếp từ chù nghĩa tư bản lên
Trang 35chù nghĩa XH vốn đã rất khó khăn và phức tạp, thỉ đối với các nước lạc hậu, nửathuộc địa, nửa phong kiến, chưa qua chế độ tư bản CN như VN đi lên CNXH thì
tinh phức tạp và sự khó khăn còn lớn gấp nhiều phần.
Thứ tư, nhận thức lại vấn đề quả độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản CN.
- Trước đổi mới, ĐCS VN xác định quá độ lên CNXH ở nước ta là sự “quá độ gián tiếp”, nghĩa là “Bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản CN”.
- Trong công cuộc đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quả độ lên CNXH (1991) đã sử dụng cụm từ “bỏ qua chế độ tư bản” và xác định: “Nước ta
quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản từ một XH thuộc địa, nữa phong kiến,LLSX rất thấp”
- Đến Đại hội IX, ĐCS VN đã chỉ ra cụ thể hơn: “Con đường đi lên của nước ta
là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản CN, tức là bỏ qua việc xáclập vị trí thống trị của QHSX và kiến trúc thượng tầng tư bản CN, nhưng tiếp thu,
kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản CN, đặc biệt
về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh LLSX, xây dựng nền KT hiện đại”.Đây là bước phát triển quan trọng của lý luận về con đường lên CNXH bỏ qua chế
- Phát triển nền KT thị trưởng định hướng XHCN
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người,nâng cao đòi sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công băng XH
- Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn XH
- Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợptác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quôc tê
- Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường
và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất
- Xây dựng NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
- Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Trong các phương hướng này có những phương hướng moi so với trước do Đảng
ta tổng kết thực tiễn Chẳng hạn, phát triển nền KT thị trưởng định hướng XHCN;xây dựng N"hà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;chủ động và tích cực hội nhập quôc tê, V.V
Thứ sáu, trước đây do ảnh hưởng quan niệm giáo điều, giản đơn về CNXH, cho
nên chúng ta cho rằng con đường lên CNXH sẽ thuận lợi, chủ nghía XH sẽ khôngcòn mâu thuẫn Nhưng tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở Liên Xô và Đông Âu,chung ta đã thấy rõ, đây là một quá trình rất khó khăn, gian kho, đày mâu thuẫn nảysinh Đặc biệt, đối với VN đi lên CNXH từ xuất phát điểm thấp, trong quá trìnhthực hiện 8 phương hướng xây dựng CNXH trên phải giải quyết tốt 8 mối quan hệ
Trang 36lớn như là những mâu thuẫn lớn Đến Đại hội XII, Đảng ta bổ sung thêm quan hệ
NN - thị trường Tất nhiên, đây không phải là những mâu thuẫn lớn duy nhất trongthời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta mà đây là những mâu thuẫn lớn cơ bản tất yếuphải giải quyết
Tóm lại, Đảng ta luổn dựa trên cơ sở tồng kết thực tiễn VN và thực tiễn thế giới để
bổ sung, hoàn thiện, phát triển nhận thức lý luận về CNXH và con đường lênCNXH Mỗi kỳ Đại hội trong thời gian hơn 35 năm đổi mới là mỗi lần Đảng tatổng kết thực tiễn để rút ra các bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó bổ sung, hoànthiện, phát triển lý luận về CNXH Đồng thời, cũng xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta
đã xử lý một loạt vấn đề đặt ra như: xóa thế bao vậy, cấm vận; chủ động và tích cựchội nhập quốc tế; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa KT với chính trị, giữa pháttriển KT với phát triển văn hóa, giáo dục; vấn đề đảng viên được làm KT tư nhân;vấn đề đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới, v.v Chính vì dựa trên cơ sở thựctiễn, xuất phát từ thực tiễn nên những bổ sung, hoàn thiện, phát triển nhận thức lýluận của Đảng ta về CNXH và con đường lên CNXH ở nước ta mới có sức sống làvậy
Câu 14: Vai trò của tổng kết thực tiễn đối với sự phát triển của lý luận?
1 Tổng kết thực tiễn là cơ sở để phát triển lý luận
Theo HCM: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các
cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại
đem nó chứng minh với thực tế”; “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của
loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và XH tích trữ lại trong quá trìnhlịch sử” Còn “lý luận của CN Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong
trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước” Nghĩa là, lý luận phải được tổng kết từ kinh nghiệm thực tiễn Không có kinh nghiệm thực tiễn, rõ ràng là
không thể có lý luận Nhưng kinh nghiệm thực tiễn tự thân chúng chưa phải là lýlụân Những kinh nghiệm này phản ánh đúng quy luật vận động, phát triển của sựvật, hiện tượng một cách khái quát thì mới được coi là lý luận
Như vậy, lý luận phải gắn với thực tiễn, có cơ sở là kinh nghiệm thực tiễn và phải
có tính khái quát cao vì nó được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn bởi chủ thểtổng kết thực tiễn
- Lý luận là kết quả tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Sau khi ra đời, lý luận phải
được chứng minh bằng thực tiễn, thực tế Lý luận nói chung, là hệ thống những trithức khoa học được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối liên hệbản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giớikhách quan
+ Tổng kết thực tiễn cón cho ta cơ sở đế đặt ra những vấn đề thực tiên và lý luận đòi hỏi các nhà lý luận phải giải qưyêt Trên cơ sở đó cũng thúc đẩy lý luận phát
Trang 37nhà lý luận Nhưng nhờ có tổng kết thực tiễn thì nhiệm vụ, khuynh hướng phát triểncủa lý luận nhanh được phát hiện hơn Trên cơ sở đó, thông qua hoạt động củamình con người chủ động điều chỉnh sự phát triển của lý luận chính trị theo hướngphục vụ mục đích của mình cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.
- Tổng kết thực tiễn trực tiếp góp phần hoàn thiện phương pháp tư duy biện chứng duy vật của các nhà lý luận Trên cơ sở đó, lý luận có cơ hội phát triển Bởi lẽ, sự
phát triển của lý luận không thể thiếu sự phát triển về mọi mặt, nhất là phương pháp
tư duy biện chứng duy vật của các nhà lý luận - những người khái quát thực tiễnthành lý luận Có thể nói, càng tham gia tổng kết thực tiễn thì các nhà lý luận càng
có cơ hội, điều kiện để rèn luyện, trau dồi năng lực khái quát hóa, trừu tượng hóa;năng lực phát hiện vấn đề Không những vậy, trong quá trình tổng kết thực tiễn tưduy lý luận của các nhà lý luận được trau dồi, rèn luyện, nâng cao Trên cơ sở đó, lýluận càng có điều kiện phát triển Trình độ tư duy lý luận của các nhà lý luận thamgia tồng kết thực tiễn ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển lý luận Tổng kết thựctiễn lại góp phần trực tiếp nâng cao trình độ của các nhà lý luận Như vậy, tổng kếtthực tiễn vừa gián tiếp vừa trực tiếp góp phần phát triển lý luận
3 Tổng kết thực tiễn là cơ sở để kiểm tra sự đúng sai của lý luận Trên cơ sở đó
bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận
- Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, chân lý ià những tri thức phản ánhđúng hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Nhưng tự thân thực tiễnkhông thể kiểm nghiệm được chân lý mà phải thông qua quá trình tổng kết thựctiễn, chủ thể tổng kết đối chiếu, so sánh lý luận với thực tiễn Trên cơ sở đó mớiphát hiện lý luận đúng, sai ở chỗ nào, chưa đầy đủ ở điểm nào, lý luận nào đã đúngnhưng không còn phù hợp với tình hình mới; lý luận nào trước đúng, trong thực
tiễn hiện nay vẫn đúng, V.V Từ đó, có cơ sở bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý
luận
- Trong quá trinh đổi mới ở nước ta việc tăng cường tổng kết một cách có lý luận
đã góp phàn “cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bồ sung và pháttriển đường lối đổi mới của Đảng; góp phàn tăng cường sự thống nhất trong Đảng,
sự đồng thuận trong XH” Có thể nói, tổng kết thực tiễn đóng vai trò quan trọng,mang tính quyết định đối với sự phát triển của lý luận
4 Tổng kết thực tiễn một cách khoa học, đúng đắn sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm có giá trị chỉ đạo thực tiễn và lý luận
- Tổng kết thực tiễn một cách khoa học, đúng đắn có kết quả sẽ rút ra đượcnhững bài học kinh nghiệm góp phần trực tiếp phát triển thực tiễn và lý luận, tiếptheo bổ sung, hoàn chỉnh đường lối đổi mới, nâng tầm lý luận, làm rõ hơn conđường lên chù nghĩa XH ở nước ta
- Những bài học kinh nghiệm rút ra từ tổng kết thực tiễn đã góp phần trực tiếpkhông chỉ phát triển KT-XH mà cả phát triển lý luận
5 Tổng kết thực tiễn góp phần ngăn ngừa và khắc phạc có hiệu quả bệnh kinh nghiệm CN
- Bệnh kinh nghiệm là căn bệnh tuyệt đối hóa kinh nghiệm cá biệt, cụ thể; biến
Trang 38chúng thành những kinh nghiệm phổ biến nhằm áp dụng những kinh nghiệm nàycho mọi trường hợp, mọi điều kiện, hoàn cảnh Những người này cũng là nhữngngười nhân danh đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận, coi thường lý luận Kinhnghiệm có những ưu điểm của nó, nhưng nhìn chung còn rời rạc, chấp vá, thiếu tính
hệ thống, V.V
- Vì vậy, chỉ trên cơ sở tổng kết thực tiễn, chúng ta mới thấy được những ưuđiểm của kinh nghiệm cũng như những hạn chế của nó Từ đó mới có cơ sở thựctiễn để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm; xem xét lại, sửa đổi, bổ sung lýluận cũ, phát triển lý luận mới
- Bệnh kinh nghiệm CN có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng cơ bản là sự viphạm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không hiểu vai trò của lý luận đối vớithực tiễn Nếu thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn sẽ góp phần nâng cao vai trò của
lý luận, chỉ rõ mặt mạnh cũng như hạn chế của kinh nghiệm Trên cơ sở đó, có căn
cứ để khắc phục bệnh kinh nghiệm, đồng thời bổ sung, hoàn thiện, phát triển lýluận
Tổng kết thực tiễn góp phần ngăn ngừa, khắc phục bệnh giáo điều
- Bệnh giáo điều có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là người giáođiều đã vi phạm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không hiểu vai trò của thựctiễn trong mối quan hệ với lý luận
- Để phù hợp với điều kiện thực tiễn mới, rõ ràng, lý luận và cả kinh nghiệm cầnđược bổ sung bằng những kết luận mới từ tồng kết thực tiễn Làm được điều này sẽngăn ngừa, hạn chế, khắc phục được bệnh giáo điều Đồng thời, làm cho lý luận vàkinh nghiệm phát huy được vai trò của mình Đây cũng là biện pháp quan trọng gópphần trực tiếp bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận Nếu tổng kết thực tiễn mộtcách khoa học còn góp phần khắc phục được những biểu hiện của bệnh dân tộc, hẹphòi cũng như CN xét lại
Câu 15: Nhận thức về mâu thuẫn XH ở nước ta hiện nay?
- Vấn đề các mâu thuẫn của CNXH đã được các nhà kinh điển mácxít, nhất làV.I.Lênin trình bày tương đối rõ nét trong các quan điểm của mình ngay sau thắnglợi của CM Tháng Mười Nga Đây là cơ sở lý luận quan trọng để các ĐCS ở cácnước XHCN giải quyết những vấn đề mâu thuẫn XH
- Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, mâu thuẫn XH cò hai loại:
+ Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người
có sự đối lập về lợi ích cơ bản
+ Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn
người về lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời
Trong mỗi chế độ XH khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn XH khác nhau vàmỗi loại mâu thuẫn lại có cách thức giải quyết khác nhau, tùy vào tính chất của mâuthuẫn và trình độ phát triển của XH
- Trên cơ sở phân biệt hai loại mâu thuẫn cơ bản của XH chúng ta cần có nhậnthức đúng và có phương thức giải quyết phù hợp, tránh việc không giải quyết phùhợp mà làm cho mâu thuẫn thay đồi về tính chất, chuyển từ mâu thuẫn không đối
Trang 39kháng sang mâu thuẫn đối kháng, làm cho những vấn đề XH khó giải quyểt hài hòa,ảnh hưởng đến sự phát triển XH Do vậy, giải quyết mâu thuẫn trong cuộc đấu tranhgiai cấp phải có quan điểm giai cấp, quan điểm lịch sử, quan điểm lợi ích giai cấpphù hợp Cần tránh vội vàng, nôn nóng, tùy tiện trong giải quyết mâu thuẫn XH,nhưng cũng không được bảo thủ, chậm trễ trong việc giải quyết chúng Việc giảiquyết mâu thuẫn XH không kịp thời có thể đẩy tới bùng nổ mâu thuẫn lớn hơn,xung đột XH lớn hơn.
- Trong các tác phẩm viết vào những năm 1918-1919, V.I.Lênin đã phân tích mộtcách cụ thể các dạng mâu thuẫn không đối kháng khác nhau trong bản thân khu vựcXHCN V.I.Lênin nhận xét rằng, trong CNXH, sự đối kháng sẽ biến mất, nhưngmâu thuẫn thì vẫn tồn tại Luận điểm này là một bước phát triển sáng tạo phép biệnchứng duy vật, có ý nghĩa phương pháp luận to lớn đối với việc phân tích mâuthuẫn của CN tư bản cũng như thời kỳ quá độ từ CN tư bản lên CNXH
- V.I.Lênin đã phân biệt ba dạng mâu thuẫn không đối kháng tiêu biểu cho lôgícphát triển nội tại của khu vực XHCN
+ Đó là mâu thuẫn gắn liền với sự tồn tại những tàn dư của CN tư bản trong bảnthân khu vực XHCN, đó là tàn dư của cái cũ trong cái mới, vì XH mới thoát thai từtrong lòng XH cũ
+ Trong sự phát triển của CNXH cũng có những mâu thuẫn nảy sinh do nhữngnhiệm vụ mới tiếp tục đặt ra, khi những hiện tượng tự bản thân chúng hoàn toànkhông phải là những tàn dư của CN tư bản Trong một giai đoạn phát triển nhấtđịnh, có những cái đóng vai trò tiến bộ, nhưng sau đó đã biến thành vật kìm hãm sựphát triển tiếp tục, trờ nên già cỗi, lỗi thời
+ Đó là những mâu thuẫn của sự phát triển, tuy trực tiếp không phải là quan hệgiữa cái cũ và cái mới, mà là đặc trưng cho mối liên hệ mâu thuẫn giữa bộ phận vàtoàn thể, giữa cái đặc thù và cái phổ biến, giữa cái duy nhất và cái nhiều, giữa cáiđồng nhất và khác biệt ở trong bản thân cái mới
- Theo tư tưởng của V.I.Lênin, cái mới và cái cũ chỉ được hiểu theo nghĩa nhữngmặt mâu thuẫn trong đó một mặt (cái mới) thúc đẩy sự phát triển trong những điềukiện nhất định, còn mặt kia (cái cũ) lại kìm hãm nó cũng trong những điều kiện ấy.Tiêu chuẩn của cái mới và cái cũ ờ đây là mối quan hệ với quá trình phát triển chứkhông phải là những đặc điểm thời gian - những đặc điểm cũng thường là đặc trưngtrong khái niệm cái cũ và cái mới Chẳng hạn, khi người ta nói rằng nếu hiện tượngxuất hiện muộn hơn về mặt thời gian, “trè hơn” thì nó là “cái mới”, mặc dủ nó cóthể ưa thích cái cũ, đóng vai trò kim hãm trong sự phát triển
Khi phân tích phức hợp tất cả các dạng cụ thể của các mâu thuẫn không đối kháng
là cơ sở quan trọng để chúng ta nhận thức và giải quyết những mâu thuẫn XH ởnước ta hiện nay
Để giải quyết các mâu thuẫn XH ở nước ta hiện nay cần:
1 Nhận thức về kiểm soát, xử lý mâu thuẫn, xung đột XH.
Trang 40Nền KTTT (và nói chung mọi nền KT) đều có 2 mặt: tích cực và tiêu cực Cạnhtranh là chất xúc tác có tác dụng kích thích tính năng động sáng tạo, huy động tối
đa tiềm lực trí tuệ của con người, cộng đồng và XH Song cạnh tranh cũng làm xuấthiện những thứ không lành mạnh như CN cá nhân cực đoan, tính cơ hội và nóichung là thói ích kỷ, sự xấu xa vốn là mặt trái trong bản năng của con người Chủtịch HCM từng nhận xét: “mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng”.Mâu thuẫn và xung đột XH cũng từ đây mà ra Mọi mâu thuẫn XH đều có nguồngốc từ mâu thuẫn giữa các cá nhân, nhóm, cộng đồng, tầng lớp, giai cấp, quốc gia
mà ra Theo “Từ điển sơ lược XH học”, xung đột XH là giai đoạn phát triển caonhất của mâu thuẫn trong hệ thống các quan hệ giữa con người, các tập đoàn XH,các thiết chế XH, XH nói chung; được đặc trưng bằng sự đẩy mạnh các khuynhhướng và lợi ích đối lập nhau giữa các cộng đồng XH và các cá nhân với nhau
Nhiều mâu thuẫn và xung đột hôm nay còn là sự tích tụ của mâu thuẫn và xungđột trước đây, là kết quả của việc xử lý các mâu thuẫn và xung đột trước đây Xungđột XH là một hiện tượng đã tồn tại lâu dài trong lịch sử và sẽ còn tồn tại cùng với
sự phát triển của XH loài người Xung đột XH một mặt là hiện tượng khách quan,tất yếu, mặt khác là kết quả của hoạt động có chủ đích của con người Do đó, vấn
đề là phải thấy được quá trình vận động và sự đấu tranh của 2 mặt thiện ác, giữa cáitốt và cái xấu, giữa cái đúng và cái sai và quan trọng hơn là phải làm cho cái tốt, cáiđúng được thắng thế, được phát huy, được đơm hoa kết trái
Quá trình phát triển luôn có sự chuyển đổi các giá trị đạo đức và mối quan hệ giữađạo đức và pháp luật và điều này đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữađạo đức và pháp luật trong quản lý phát triển XH Hêghen nói: “đạo đức là hìnhthái cao nhất trong sự phát triển của ý niệm pháp lý” Do đó, khi nói đến kiểm soát,
xử lý mâu thuẫn, xung đột XH thì không thể không bàn đến mối quan hệ gắn bóhữu cơ giữa đạo đức và pháp luật Ở đây xuất hiện 2 câu hỏi (1) đạo đức bàn ở đây
là đạo đức nào và (2) pháp luật là phục vụ ai Để kiểm soát, xử lý mâu thuẫn, xungđột XH nhất thiết phải có các bộ công cụ mà trước hết là các chuẩn mực và quyphạm; cần có hệ thống kiểm soát, xử lý mâu thuẫn, xung đột XH vận hành với cácthiết chế phù hợp và con người đủ năng lực (thể lực, trí lực và tâm lực) Việc giảiquyết mâu thuẫn và xung đột XH có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm XH vận động theohướng phát triển hơn Đối với chúng ta, đương nhiên là xây dựng đạo đức và phápluật trên cơ sở quan điểm của CN Mác-Lênin và quan hệ giữa đạo đức và pháp luật
là trong phát triển nền KTTT định hướng XHCN
2 Những mâu thuẫn, xung đột XH, nguyên nhân và các giải pháp xử lý trong thời gian vừa qua.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đời sống KT-XH, mâu thuẫn
và xung đột XH đang có chiều hướng gia tăng trên rất nhiều lĩnh vực, tính chất củacác xung đột XH cũng ngày càng phức tạp Ngoài ra, cuộc sống nhiều áp lực, căng