1 A và B có quyền sở hữu chung đối với một căn nhà Một ngày nọ, A bán phần quyền sở hữu của mình đối với căn nhà cho một người khác mà không thông báo cho B để B thực hiện quyền ưu tiên mua B có thể l.
Trang 11 A và B có quyền sở hữu chung đối với một căn nhà Một ngày nọ, A bán phần quyền sở hữu của mình đối với căn nhà cho một người khác mà không thông báo cho B để B thực hiện quyền ưu tiên mua B có thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?
Theo khoản 3 Điều 218 BLDS về định đoạt tài sản chung:
Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thìchủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua
Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tàisản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo
về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sởhữu đó được quyền bán cho người khác Việc thông báo phải được thể hiện bằngvăn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiệnbán cho người không phải là chủ sở hữu chung
Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thìtrong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua,chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa
án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gâythiệt hại phải bồi thường thiệt hại
2 A và B có quyền sở hữu chung theo phần đối với một căn nhà A mắc nợ nhiều người và không có tài sản để trả Chủ nợ yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà
để trả nợ nhưng B phản đối Chủ nợ phải làm thế nào để thu nợ?
Theo khoản 2 Điều 219 BLDS về Chia tài sản thuộc sở hữu chung:
2 Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thựchiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tàisản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sảnchung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác
Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ
sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
3 Tất cả các tài sản đều chuyển giao được trong giao lưu dân sự Nhận định này đúng hay sai? Giải thích
Nhận định sai Một số tài sản như tang vật, vật chứng của vụ án hình sự thì khôngthể chuyển giao trong giao lưu dân sự
4 Nêu sự khác biệt giữa giấy tờ có giá và tiền giấy.
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN thì giấy tờ có giá là bằng chứngxác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữugiấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiệnkhác
Tiền là vật ngang giá chung để trao đổi hàng hóa và dịch vụ
Trang 25 Nêu sự giống nhau và khác nhau giữa sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Giống: là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản
Khác:
Khái niệm Phần quyền sở hữu của
mỗi chủ sở hữu được xácđịnh đối với tài sảnchung
Phần quyền sở hữu củamỗi chủ sở hữu chungkhông được xác định đốivới tài sản chung
Quyền, nghĩa vụ đối với
tài sản thuộc sở hữu
chung
Mỗi chủ sở hữu chungtheo phần có quyền,nghĩa vụ đối với tài sảnthuộc sở hữu chungtương ứng với phầnquyền sở hữu của mình,trừ trường hợp có thỏathuận khác
Các chủ sở hữu chunghợp nhất có quyền, nghĩa
vụ ngang nhau đối với tàisản thuộc sở hữu chung;
Quản lý tài sản chung Các chủ sở hữu chung
cùng quản lý tài sảnchung theo nguyên tắcnhất trí, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác hoặcpháp luật có quy địnhkhác
Cùng quản lý tài sảnchung theo nguyên tắcnhất trí, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác hoặcpháp luật có quy địnhkhác
Sử dụng tài sản chung Mỗi chủ sở hữu chung
theo phần có quyền khaithác công dụng, hưởnghoa lợi, lợi tức từ tài sảnchung tương ứng vớiphần quyền sở hữu củamình, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác hoặcpháp luật có quy địnhkhác
Có quyền ngang nhautrong việc khai thác côngdụng, hưởng hoa lợi, lợitức từ tài sản chung, trừtrường hợp có thỏa thuậnkhác
Định đoạt tài sản chung Mỗi chủ sở hữu chung
theo phần có quyền địnhđoạt phần quyền sở hữucủa mình
Việc định đoạt tài sảnchung hợp nhất đượcthực hiện theo thỏa thuậncủa các chủ sở hữu chunghoặc theo quy định củapháp luật
6 Vật cùng loại không thể là đối tượng của hợp đồng cho mượn Nhận định này đúng hay sai? Giải thích.
Nhận định sai
Trang 3Điều 494 Hợp đồng mượn tài sản
Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giaotài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên
mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt
2 Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báohoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất đểthông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại
Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của ngườigiao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo chongười phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu
Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sởhữu tài sản là động sản thì quyền sở hữu đối với động sản đó thuộc về người pháthiện tài sản
Sau 05 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sởhữu tài sản là bất động sản thì bất động sản đó thuộc về Nhà nước; người phát hiệnđược hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.”
Ở tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu thì người đã pháthiện, người đang quản lý tài sản vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản, trừtrường hợp có quy định khác, nếu là bất động sản thì thuộc về Nhà nước
Nhưng nếu như người phát hiện tài sản mà không xác định được ai là chủ sở hữuphải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân xã hoặc công an cấp xã nơi gànnhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại
Tại Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về Xác lập quyền sở hữu đối với tàisản do người khác đánh rơi, bỏ quên như sau:
Trang 4“1 Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉcủa người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho ngườiđó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặcgiao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thôngbáo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo chongười đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu
2 Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi,
bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thìquyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lầnmức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sởhữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của phápluật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở
do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được đượchưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trịcủa phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trịcòn lại thuộc về Nhà nước;
b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - vănhóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; ngườinhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.”
Ở trường hợp tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên thì người phát hiện tài sản dongười khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏquên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ củangười đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhândân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất đẻ thông báo công khai cho chủ sởhữu biết mà nhận lại
Điểm “mấu chốt” mà bạn có thể hiểu được trong việc xác định hai điểm này bạn cóthể tham khảo như sau:
- Đối với xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định đượcchủ sở hữu: thì đối tượng từ bỏ sẽ là động sản và bất động sản và việc xác lậpquyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên thì đối tượng bị đánhrơi, bỏ quên chỉ là động sản
Trên thực tế, thì việc xác định xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sảnkhông xác định được chủ sở hữu và việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản dongười khác đánh rơi, bỏ quên thì việc xác định này rất dễ nhầm lẫn Do đó, Ủy bannhân dân xã hoặc công an xã sẽ là người xác định rằng: vật đó đã bị chủ sở hữu từ
bỏ chưa hay chủ sở hữu đã đánh rơi, bỏ quên đối với vật đó
8
9
10 Giám hộ là gì? Vai trò của giám hộ.
Trang 5Theo Điều 46 BLDS về Giám hộ:
Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp
xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được lựa chọn làm người giám hộ theo quy địnhtại khoản 2 Điều 48 của BLDS 2015 (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thựchiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)
Vai trò:
11 Nói cha, mẹ là người giám hộ của con chưa thành niên là đúng hay sai?
(1) Căn cứ Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân như sau:
- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Người giám hộ đối với người được giám hộ Người giám hộ của người có khókhăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu đượcTòa án chỉ định
- Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diệnquy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
- Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
(2) Căn cứ Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giám hộ như sau:
- Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dâncấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộluật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung làngười được giám hộ)
- Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thìphải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tạithời điểm yêu cầu
- Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật về hộ tịch
Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiệnnghĩa vụ của người giám hộ
(3) Căn cứ Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người được giám hộ như sau:
- Người được giám hộ bao gồm:
+ Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;+ Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dânsự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn
Trang 6chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối vớicon; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu ngườigiám hộ;
+ Người mất năng lực hành vi dân sự;
+ Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám
hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu
Như vậy, trường hợp cha mẹ còn sống sẽ là người đại diện của con chưa thành niên chứ không phải người giám hộ Chỉ khi người chưa thành niên không còn
cha mẹ; cha và mẹ mất năng lực hành vi dân sự; cha và mẹ có khó khăn trong nhậnthức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều
bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiệnchăm sóc, giáo dục con; hoặc không xác định được cha mẹ mới đặt ra vấn đề ngườigiám hộ
12 Có mấy loại giám hộ?
Có hai loại giám hộ:
Một là, người giám hộ đương nhiên:
+ Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặckhông xác định được cha, mẹ; có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dânsự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha,
mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ, đượcxác định theo thứ tự sau đây:
(i) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị
cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là ngườigiám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.(ii) Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử mộthoặc một số người trong số họ làm người giám hộ
(iii) Trường hợp không có người giám hộ quy định tại điểm (i), (ii) nêu trên thì bácruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ
+ Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định nhưsau:
(i) Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giámhộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ
(ii) Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mấtnăng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì
Trang 7người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám
hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ
(iii) Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, conhoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là ngườigiám hộ
Thứ hai, người giám hộ do được cử, chỉ định:
Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không cóngười giám hộ đương nhiên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám
hộ có trách nhiệm cử người giám hộ
Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ đương nhiên của người mất
năng lực hành vi dân sự và người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên hoặc
tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ
Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổitrở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa ánchỉ định trong số những người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân
sự Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám
hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ
13 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ?
Quyền của người giám hộ
Theo quy định tại điều 58 của Bộ luật dân sự, người giám hộ có các quyền sau đây
- Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự
+ Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầuthiết yếu của người được giám hộ;
+ Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;+ Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vàthực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của người được giám hộ
- Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theoquyết định của Tòa án trong số các quyền nêu trên
Nghĩa vụ của người giám hộ
Vì người được giám hộ bao gồm các chủ thể có đặc điểm về năng lực hành vi khác nhaunên do đó nghĩa vụ của người giám hộ trong các trường hợp khác nhau là khác nhau
Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi
- Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ
Trang 8- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luậtquy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dânsự.
- Quản lý tài sản của người được giám hộ
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi
- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luậtquy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập,thực hiện giao dịch dân sự
- Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự:
Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:
+ Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
+ Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
+ Quản lý tài sản của người được giám hộ;
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
- Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi dân sự:
Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụtheo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ nêu trên
14 Điều kiện tuyên bố mất tích
Theo khoản 1 Điều 68 BLDS về tuyên bố mất tích thì:
1 Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biệnpháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫnkhông có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầucủa người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích
15 Hậu quả của tuyên bố mất tích
Hậu quả pháp lý cơ bản liên quan đến người mất tích bao gồm các yếu tố: Tưcách chủ thể, quan hệ hôn nhân và quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích
Tư cách chủ thể của cá nhăn bị tuyên bố mất tích Khi Tòa án ra quyết định
tuyên bố mất tích, tạm thời tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích bị dừnglại Tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ Tạmdừng tư cách chủ thể có thể nhận diện trong trường hợp nếu có giao dịch được xáclập sau khi cá nhân này bị tuyên bố mất tích thì cần xem xét để xác thực thông tin
Trang 9Còn về nguyên tắc, do tư cách chủ thể cá nhân này tạm dừng nên giao dịch đượcxác lập có chủ thể bị tuyên bố mất tích xác lập, thực hiện thì giao dịch này không
có hiệu lực Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều trường họp quyết định tuyên bố cánhân mất tích bị huỷ nhờ việc xác thực thông tin thông qua xuất hiện các giaodịch do người bị tuyên bố mất tích xác lập, thực hiện
Quan hệ hôn nhân Khi một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích thì
hôn nhân không chấm dứt mà là căn cứ để Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồngcủa họ ly hôn khi có yêu cầu Tại Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quyđịnh:
“Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa ángiải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình”
Điều này phù hợp với khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quyđịnh: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tíchyêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” - Xem khoản 2 Điều 68 Bộ luậtDân sự năm 2015 và Xem khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.Quy định này là cần thiết để bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ hoặc chồngngười mất tích Họ có quyền yêu cầu Tòa án cho ly hôn vì lý do người chồng hoặc
vợ của họ mất tích và nhiều quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị ảnh hưởng nghiêmtrọng
Trong trường hợp một người xin ly hôn với lý do vợ hoặc chồng của mình bịtuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan đến tài sảnthì phải xuất trình trước Tòa án bản quyết định của Tòa án trước về việc tuyên bố
vợ hoặc chồng mình mất tích Nếu Tòa án quyết định tuyên bố mất tích theo yêucầu của chồng hoặc vợ của người mất tích với mong muốn xin ly hôn vắng mặtthì hợp nhất Tòa án sẽ giải quyết cả hai yêu cầu mà không cần mở hai phiên tòa
để giải quyết hai việc khác nhau
Quản lý tài sản thuộc sở hữu của cá nhân bị tuyên bố mất tích Tài sản của
người bị Tòa án tuyên bố mất tích được giao cho người quản lý theo quy định tạiĐiều 69 Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể như sau:
Trước hết, người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy địnhtại Điều 65 Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục quản lý tài sản của người đó khingười đó bị Tòa án tuyên bố mất tích Việc quản lý tài sản của người bị tuyên bốmất tích được thực hiện theo nguyên tắc người đang quản lý tài sản (theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật Dân sự năm 2015) tiếp tục quản lý sài sản củangười bị tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 66 vàĐiều 67 Bộ luật Dân sự năm 2015 Tuy nhiên trong nhiều trường hợp có thể thayđổi người quản lý tài sản khi người đó không thể tiếp tục thực hiện việc quản lýtài sản vì những lý do chính đáng như không có khả năng để thực hiện nghĩa vụcủa người quản lý tài sản hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Ngoài raviệc thay thế người quản lý tài sản cũng đặt ra khi người đó bị tuyên bố là mấtnăng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc chết vấn đề nàychưa được Bộ luật Dân sự quy định cụ thể nhưng trong thực tế khi xảy ra vấn đề
Trang 10này thì Tòa án sẽ xem xét và có quyết định thay đổi người quản lý tài sản chongười mất tích khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan.
Tiếp theo, trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bốmất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặccha, mẹ của người mất tích quản lý Nếu không có những người này thì giao chongười thân thích của người mất’tích quản lý Neu không có người thân thích thìTòa án chỉ định người khác quản lý tài sản Người thân thích bên cạnh vợ, con,
bố, mẹ thì có thể là anh, chị, em ruột, ông bà nội, ông bà ngoại, cô, dì, chú, bác,cậu ruột của cá nhân này
Như vậy, nếu một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích thì những vấn đề liênquan đến tài sản được giải quyết như sau:
+ Đối với tài sản riêng của họ, nếu họ đang ủy quyền cho ai quản lý thì người đótiếp tục quản lý;
+ Đối với tài sản riêng của họ nhưng nằm trong tài sản thuộc sở hữu chung theophần thì chủ sở hữu chung sẽ tiếp tục quản lý;
+ Đối với tài sản riêng của họ hoặc tài sản của họ vẫn nằm trong khối tài sảnchung của vợ chồng mà người vợ hoặc người chồng đang quan lý thì người nàytiếp tục quản lý, trừ trường hợp người vợ hoặc người chồng của họ chết, mất nănglực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự Trong trường hợp đó, con đã thành niên hoặc cha, mẹcủa họ quản lý tài sản Trong trường hợp không còn ai trong số những người trênthì Tòa án chỉ định một trong số những người thân thích của họ quản lý tài sảnhoặc chỉ định người khác quản lý tài sản Điều này có thể phù hợp với nguyệnvọng của người bị tuyên bố mất tích nhưng cũng có những khó khăn nhất định đốivới người vợ hoặc người chồng trong các mối quan hệ gia đình mà phải cần dùngđến tài sản của vợ chồng hoặc tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng bịtuyên bố mất tích
Bên cạnh việc người quản lý được hưởng những quyền được quy định tại Điều 67
Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người quản lý chỉ được bán tài sản là hoa màu, sảnphẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng Tức là quyền định đoạt tài sản của người quản
lý bị hạn chế Quy định như vậy còn chưa phù hợp trong trường hợp riêng biệt
Cụ thể, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: ‘Tợ, chồng có nghĩa vụbảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” Khoản 2 Điều 79Luật HN&GĐ năm 2014 và “trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chunghoặc tài sản chung không đủ đế đáp ứng nhu câu thiết yếu của gia đình thì vợ,chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên” -Khoản 2 Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2014
Vậy, khi một bên vợ hoặc chồng là người quản lý tài sản riêng của người bị mấttích mà tài sản chung không còn thì nên cho phép người quản lý tài sản định đoạt
Trang 11tài sản riêng của người mất tích nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.Trong trường hợp vợ, chồng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận mà một bên
vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích thì pháp luật điều chỉnh quản lý tài sản vàđịnh đoạt tài sản cũng không có sự khác biệt nếu trong văn bản thỏa thuận không
dự liệu Nếu người vợ hoặc người chồng với tư cách là người quản lý tài sản củangười mất tích mà không thực hiện nghĩa vụ thông báo về chế độ tài sản theo thỏathuận trong giao dịch với người thứ ba thì người thứ ba được coi là ngay tình vàđược bảo vệ theo quy định của pháp luật
16 Phân biệt tuyên bố mất tích và tuyên bố chết
17 Pháp nhân là gì? Các điều kiện để công nhận có tư cách pháp nhân?
Pháp nhân là một chủ thể được thành lập, hoạt động và chấm dứt theo quy định củapháp luật Về nguyên tắc, mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập phápnhân, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Về điều kiện công nhận pháp nhân:
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Được thành lập theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan;
- Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật dân sự;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản của mình;
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
Việc thành lập của pháp nhân là hợp pháp khi pháp nhân đó được thành lập dựatrên những trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định hoặc được pháp luật thừa nhậndựa trên những tiêu chí đã đặt ra Cơ cấu tổ chức chặt chẽ của pháp nhân thể hiệnqua nội dung hoạt động của pháp nhân, sự phối kết hợp của mỗi bộ phận nhằm thựchiện chức năng, nhiệm vụ chung cũng như quy mô, phạm vi và lĩnh vực hoạt độngcủa pháp nhân đó Tài sản riêng, độc lập của pháp nhân nhằm đảm bảo cho việcpháp nhân đó gánh vác nghĩa vụ của chính pháp nhân khi tham gia vào các giaodịch dân sự Tính độc lập về tài sản của pháp nhân được thể hiện đó là khối tài sản
mà thuộc sở hữu của pháp nhân, hoàn toàn tách biệt với tài sản của mỗi cá nhântrong pháp nhân Pháp nhân hoàn toàn tự mình quyết định trong việc tham gia vàocác quan hệ pháp luật tương ứng với loại hình pháp nhân của mình cũng như hưởngquyền và gánh chịu các nghĩa vụ
18 Có mấy loại pháp nhân? Cho ví dụ?
Do đặc thù pháp nhân có tính chất đa dạng, nên căn cứ vào mục đích thành lập,hoạt động của pháp nhân, pháp nhân được chia thành 02 loại cơ bản:
- Pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính làtìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác - có mụctiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
Trang 12- Pháp nhân phi thương mại: Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mụctiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chiacho các thành viên.
Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổchức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp
xã hội và các tổ chức phi thương mại khác - không có mục tiêu chính là tìm kiếmlợi nhuận, nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên
19 Hộ gia đình không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Nhận định này đúng hay sai? Tại sao?
Nhận định sai.
Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thamgia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức kháckhông có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sựhoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Khi
có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sựbiết
Trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cáchpháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làmngười đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập,thực hiện
Việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.
Theo quy định tại Khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì hộ gia đình sử dụngđất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy địnhcủa pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đấtchung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sửdụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì hợp đồng,văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của
hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủyquyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên