Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam mẫu 4 Bài văn miêu tả vẻ đẹp của cây tre, một loài cây giàu sức sống, thanh cao mà giản dị.. Tre là bạn đồng hành của dân tộc ta trên con đường đi tới
Trang 1Tóm tắt Bạch tuộc - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Bạch tuộc - Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Bạch tuộc (mẫu 1)
Cuộc chiến đấu đầy nguy hiểm giữa con người và thiên nhiên mà cụ thể ở đây là loài bạch tuộc, chúng như loài quái vật đe dọa tới con người Từ đó cho thấy sự mãnh mẽ, kiên cường của con người chế ngự thiên nhiên
Tóm tắt tác phẩm Bạch tuộc (mẫu 2)
Giáo sư A-rô-nác cùng anh bạn giúp việc vui tính Công-xây là những người say mê khám phá sinh vật biển Họ đã quyết định khám phá bí mật của quái vật biển Được sự giúp đỡ của anh chàng săn cá voi siêu hạng Nét-Len, họ đã sẵn sàng cho một cuộc đi săn mà có không biết bao nhiêu nguy hiểm đang chờ mình Bất ngờ, ba người bị bắt làm tù binh trên chiếc tàu của thuyền trưởng Nê-mô Họ bất đắc dĩ tham gia chuyến hành trình dài ngày Trong hành trình đó, họ đã phải chiến đấu với bạch tuộc khổng lồ Cuộc giáp chiến kéo dài mười lăm phút Lũ bạch tuộc chiến bại, phần bị chết, phần bị thương, cuối cùng phải bỏ chiến trường mà lặn xuống biển sâu
Tóm tắt tác phẩm Bạch tuộc (mẫu 3)
Tàu No-ti-lớt lặn xuống sâu hai, ba ngàn mét rồi lại nổi lên cách mặt biển một ngàn năm trăm mét Khoảng 11 giờ, Nét Len đã nói với giáo sư A-rô-nác về một sinh vật rất đáng sợ giữa đám tảo Đó là một con bạch tuộc dài chừng tám mét, đang bơi lùi rất nhanh về phía tàu Thuyền trưởng Nê-mô ra lệnh cho các thủy thủ sẵn sàng chiến đấu Mọi người trên thuyền cùng nhau chiến đấu với bạch tuộc Giáo sư A-rô-nác, Công-xây
và Nét Len cũng tham gia Một thủy thủ bị bạch tuộc quấn, Nê-mô xông đến, chặt đứt luôn cái vòi Khi Nét Len bị một con bạch tuộc quật ngã, Nê-mô cứu thoát Nét Len trong gang tấc Cuộc giáp chiến kéo dài mười lăm phút Lũ bạch tuộc chiến bại, phần
bị chết, phần bị thương, cuối cùng phải bỏ chiến trường mà lặn xuống biển sâu Thuyền trưởng Nê-mô đứng lặng người, ứa lệ khi thủy thủ bị bạch tuộc quấn mãi mãi ở dưới lòng đại dương
Tóm tắt tác phẩm Bạch tuộc (mẫu 4)
Tàu No-ti-lớt đụng độ phải lũ bạch tuộc Thuyền trưởng Nê-mô ra lệnh cho các thủy thủ chuẩn bị chiến đấu Mọi người trên thuyền cùng nhau chiến đấu với bạch tuộc Một thủy thủ bị bạch tuộc quấn, Nê-mô xông đến, chặt đứt luôn cái vòi Nét Len bị một con bạch tuộc quật ngã, Nê-mô cứu thoát Nét Len trong gang tấc Cuộc chiến kéo dài khoảng mười lăm phút Lũ bạch tuộc bại trận, phần bị chết, phần bị thương Cuối cùng chúng
Trang 2phải bỏ chiến trường mà lặn xuống biển sâu Ở trên tàu, thuyền trưởng Nê-mô buồn bã khi một người đồng hương đã hy sinh
Tóm tắt tác phẩm Bạch tuộc (mẫu 5)
Văn bản kể lại cuộc chiến đầy nguy hiểm giữa các thành viên trên tàu Nau-ti-lớt và con bạch tuộc khổng lồ dưới dại dương cùng đàn của nó Cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt và đã khiến họ mất đi một người đồng đội Với sự mạnh mẽ, kiên cường họ đã chiến thắng đàn bạch tuộc và thể hiện sự chế ngự thiên nhiên
ta sẽ có sức mạnh phi thường để vượt qua hoạn nạn
Tóm tắt tác phẩm Bạch tuộc (mẫu 8)
Văn bản kể về cuộc chiến đấu dũng cảm của đoàn thủy thủ trên tàu No-ti-lớt với quái vật của biển cả - những con bạch tuộc khổng lồ, hung dữ Qua đó, độc giả thấy được lòng dũng cảm, kiên cường, trách nhiệm, tinh yêu thương và tinh thần đồng đội của những người thủy thủ
Bố cục Bạch tuộc
Chia văn bản thành 2 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu đến “Nét la lên”:Cuộc trò chuyện của A- rôn- nát, Công – xây và Nét – Len về con quái vật biển “bạch tuộc”
- Đoạn 2: Còn lại: Trận “giáp chiến” giữa những người trên tàu ngầm và quái vật biển
“bạch tuộc”
Trang 3Nội dung chính Bạch tuộc
Đoạn trích kể về cuộc chiến đấu mãnh mẽ dũng cảm giữa giáo sư A- rôn- nác và những người đồng hành trên con tàu No -ti -lớt và lũ quái vật “bạch tuộc” Trong trận chiến đó bằng sự thông minh, mưu trí, dũng cảm những con người đã chiến thắng được bọn “bạch tuộc” nhưng cũng thật buồn vì lũ bạch tuộc đã cướp đi người thủy thủ xấu số vào đại dương mênh mông
Xem thêm các bài Tóm tắt Ngữ văn lớp 7 sách Cánh diều hay, ngắn gọn khác:
Tóm tắt Chất làm gỉ
Tóm tắt Nhật trình Sol 6
Tóm tắt Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam”
Tóm tắt Vẻ đẹp của bài thơ “Tiếng gà trưa”
Tóm tắt Sức hấp dẫn của tác phẩm “Hai vạn dặm dưới đáy biển”
Trang 4Tóm tắt Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 1)
Tay, Miệng, Răng so bì với lão Bụng chỉ ăn không làm nên bàn nhau không làm gì để Bụng không có gì ăn Nhưng mấy ngày sau cả thảy đều mệt mỏi rã rời vì Bụng không
ăn thì tất cả đều bị tê liệt, trì trệ Nhận ra sai lầm, mọi người tới xin lỗi và Bụng Từ đó
họ sống hòa thuận với nhau
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 2)
Một ngày, mấy thành viên cơ thể bỗng thấy mình phải cong lưng làm việc cho anh Bụng đánh chén Họ bàn bạc rồi quyết định đình công để anh Bụng phải cùng làm Nhưng chỉ mấy hôm sau, người thì rã rời, Tay oặt ẹo, Miệng khô đắng ngắt, Chân mệt mỏi không mang nổi thân gầy Cuối cùng họ nhận ra Bụng cũng chẳng được nghỉ ngơi và quay trở lại đoàn kết với nhau
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 3)
Ngày nọ, Răng, Miệng, Chân, Tay cảm thấy mình phải làm việc vất vả, còn Bụng chỉ việc hưởng thụ Tất cả bàn nhau rồi quyết định đình công để Bụng phải lao động Chỉ mấy ngày sau, Tay oặt ẹo, Miệng khô đắng ngắt, Chân mệt mỏi không mang nổi thân gầy Họ nhận ra Bụng cũng phải làm việc, và quay trở lại đoàn kết như trước
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 4)
Các bộ phận trên cơ thể gồm Răng, Miệng, Tay, Chân phải làm việc vất vả Họ cảm thấy bất công vì Bụng chỉ biết hưởng thụ Họ quyết định đình công để Bụng cũng phải làm việc Chỉ vài ngày sau, tất cả đều cảm thấy mệt mỏi, không còn sức lực Họ nhận
ra Bụng cũng phải làm việc, lại sống hoà thuận, ai làm việc nấy, không ai còn ghen tị với ai nữa
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 5)
Một ngày đẹp trời, các bộ phận trên cơ thể gồm Tay, Miệng, Răng, Chân ghen tị với Bụng rằng mình phải làm việc cực nhọc nên đã đình công không chịu làm gì để trừng phạt Bụng Nhưng được mấy ngày thì thấy mệt mỏi rã rời, oặt ẹo, tất cả đều hiểu ra và quay trở lại đoàn kêt với nhau
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 6)
Trang 5Các thành viên trong cơ thể đều cho rằng mình phải làm việc vất vả và anh Bụng chỉ việc ăn không ngồi rồi nên họ quyết định đình công và không làm gì cả Hậu quả là chỉ sau mấy ngày, họ quá mệt mỏi và nhận ra tầm quan trọng của anh Bụng và quyết định tiếp tục chung sống hòa thuận, đoàn kết
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 7)
Truyện thơ ngụ ngôn "Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân" kể về các bộ phận trên cơ thể con người là Bụng, Răng, Miệng, Tay, Chân Một ngày, các bộ phận ghen tị với anh Bụng chỉ biết ăn còn họ phải làm việc vất vả Họ rủ nhau bỏ việc và không làm chịu làm lụng Cuối cùng vì không có gì bỏ vào miệng nên họ trở nên mệt mỏi, rời rạc Nhận
ra được tầm quan trọng của anh Bụng, họ đã quay trở lại sống hòa thuận với nhau
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 8)
Truyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói chuyện con người: Bụng, Răng Miệng, Tay Chân họp bàn nhau cùng “đình công” chống lại Bụng Bụng chỉ ngồi không, nhưng sau đó họ đã nhận ra sai lầm, lại thân mật với nhau, mỗi người một việc, không
ai tị ai cả Từ đó, truyện nêu lên bài học nhân sinh sâu sắc: trong một tập thể, mỗi thành viên không thể sống tách biệt, mà phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại; do đó, phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng công sức của nhau
Tóm tắt tác phẩm Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân (mẫu 9)
Vào một ngày đẹp trời, các thành viên trên cơ thể họp nhau lại và đình công bởi lí do là Bụng nhàn nhã không phải làm việc còn các thành viên khác phải làm việc vất vả Hành động cụ thể của các nhân vật là Tay bỏ hẳn gắp thịt, Miệng nhất quyết không xơi, Răng ngồi chơi Và kết quả là các thành viên đều mệt mỏi rã rời và nhận ra hành động sai trái của mình và cùng nhau đoàn kết để có cơ thể khỏe mạnh
Bố cục Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân
Chia bài thơ làm 3 đoạn
- Đoạn 1: 3 khổ thơ đầu: Các thành viên Chân, Tay, Miệng, Răng họp bàn nhau “đình công” vì anh Bụng chẳng làm gì
- Đoạn 2: 2 khổ thơ tiếp: Các thanh viên mệt mỏi, không còn sức lực
- Đoạn 3: Khổ cuối: Mọi người hiểu ra và đoàn kết trở lại
Nội dung chính Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân
Trang 6Tay, Miệng, Răng so bì với Bụng chỉ “ung dung chén tràn” không làm gì nên bàn nhau không làm gì để anh Bụng phải lao động Nhưng mấy ngày sau cả thảy đều mệt mỏi rã rời, tất cả đều bị tê liệt Lúc này họ mới nhận ra anh Bụng cũng không phải chỉ ngồi không Mọi người đến xin lỗi anh bụng và hòa thuận trở lại.
Xem thêm các bài Tóm tắt Ngữ văn lớp 7 sách Cánh diều hay, ngắn gọn khác:
Tóm tắt Tục ngữ về thiên nhiên, lao động và con người, xã hội 2
Trang 7Tóm tắt Buổi học cuối cùng - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều
Bài giảng Ngữ văn 7 Buổi học cuối cùng - Cánh diều
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 1)
Câu chuyện về buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp đầy xúc động giữa thầy trò và người dân ở vùng đất bị quân Phổ chiếm đóng Theo lời kể của cậu bé Phrăng ham chơi, không khí của buổi học hôm ấy thật khác lạ, thấm đẫm tình yêu tiếng nói dân tộc
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 2)
Câu chuyện được kể bởi Phrăng về buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở vùng An-dát bị quân Phổ chiếm đóng Buổi học diễn ra với không khí khác lạ, trang nghiêm và đầy xúc động giữa thầy Ha-men và người dân địa phương
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 3)
Buổi học cuối cùng kể lại câu chuyện cảm động về một buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở một trường làng thuộc vùng An-dát qua lời kể của cậu học trò Phrăng Trước giờ học, Phrăng định trốn học vì muộn giờ và không thuộc bài Trên đường đến trường cậu thấy nhiều điều khác lạ Khi đến lớp, cậu ngạc nhiên vì thầy Ha-men mặc lễ phục, không nổi cáu khi cậu đến muộn và cuối lớp có cả dân làng ngồi dự Trong buổi học, khi nghe thầy Ha-men thông báo đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng, Phrăng ân hận, xúc động, nuối tiếc Trong buổi học kéo dài đến 12 giờ, thầy Ha-men hiện lên thật lớn lao, thầy nghẹn ngào không nói nên lời, thầy cố viết thật to lên bảng: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 4)
Phrăng đi học muộn và định trốn học nhưng rồi em vẫn đến trường dù đã trễ giờ Em đi qua trụ sở xã, thấy có nhiều người đứng trước bảng cáo thị nhưng
em không để ý Em vào lớp muộn và rất ngạc nhiên khi thầy Ha-men không mắng như mọi khi Em còn ngạc nhiên vì trong lớp có cả ông xã trưởng, cụ Hô-
de và những người khác, họ ăn mặc rất trang trọng
Thầy Ha-men đã thông báo cho cả lớp biết đó là bài học tiếng Pháp cuối cùng bởi quân Phổ đã ra lệnh chỉ được dạy tiếng Đức ở các trường trong vùng An-đát và Lo-ren Phrăng choáng váng, ân hận vì mình đã lười học tiếng Pháp Trong buổi học cuối cùng đó, thầy Ha-men đã nói với tất cả mọi người trong lớp về tiếng Pháp, khuyên mọi người giữ lấy nó bởi "Một dân tộc rơi vào vòng
nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác nào nắm
Trang 8được chìa khoá chốn lao tù" Thầy đã cho học sinh tập viết tên quê hương dát, Lo-ren Trong tâm trạng ân hận, Phrăng và cả lớp đã tập trung hết sức vào bài học
An-Đồng hồ nhà thờ điểm 12 tiếng, tiếng kèn của bọn lính Phổ vang lên Thầy men dùng hết sức viết lên bảng bốn chữ "Nước Pháp muôn năm" và kết thúc buổi học trong nỗi xúc động tận cùng
Ha-Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 5)
Phrăng là một câu bé ham chơi và chưa chăm học Một lần, trên đường tới trường quang cảnh khác lạ đã thu hút cậu và khi đến trường thì không khí lớp học bỗng trở nên bình lặng, không ồn ào, hỗn độn như mọi khi, có cả những người dân làng đến tham dự, thậm chí thầy Ha-men không hề tức giận khi Phrăng đi học muộn Hoá ra đây là buổi học cuối cùng cậu được học tiếng Pháp và cũng là buổi cuối cùng thầy Ha-men dạy học cho lớp bởi có lệnh của Béc-lin là tất cả các trường từ giờ trở đi chỉ được dạy tiếng Đức Qua những lời nói về việc học tiếng Pháp, cử chỉ, thái độ nhẹ nhàng của thầy, Phrăng đã thay đổi cách suy nghĩ và nhận thức về tiếng mẹ đẻ, về việc học tập Cho dù rất buồn khi phải rời xa mái trường đã gắn bó suốt bao nhiêu năm, không được dạy cho học trò chính ngôn ngữ của dân tộc, thầy Ha-men vẫn can đảm dạy cho đến cuối buổi học Đồng hồ điểm 12 giờ, đứng trên bục thầy như đã mất hết sức lực, tái nhợt, xúc động không nói nên lời nhưng vẫn cố viết dòng chữ "NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM" thật to lên bảng
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 6)
Câu chuyện kể về một buổi sáng - như thường lệ, cậu bé Phrăng đến lớp Dọc đường cậu thấy có những điều khác hẳn mọi hôm Phrăng vào lớp càng thấy ngạc nhiên hơn Thầy Ha-men ăn mặc tề chỉnh như trong ngày lễ Thầy không quở mắng mà còn nói với Phrăng bằng giọng dịu dàng Không khí trong lớp trang trọng Cuối lớp có cụ già Hô-de, bác phát thư và nhiều người khác Hoá
ra đó là buổi học tiếng Pháp cuối cùng Phrăng ân hận vì mình đã không thuộc bài - nhất là khi thầy Ha-men giảng bài học cuối cùng thật xúc động Kết thúc buổi học thầy Ha-men viết lên bảng dòng chữ thể hiện lòng yêu nước của mọi người: "Nước Pháp muôn năm"
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 7)
Chuyện kể về buổi học tiếng Pháp cuối cùng ở vùng An-dát qua lời kể của cậu học trò Phrăng Sáng hôm ấy, cậu bé Phrăng đến lớp hơi muộn và ngạc nhiên khi thấy lớp học có vẻ khác thường Cậu thực sự choáng váng khi nghe thầy Ha-men nói đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường Trong buổi học cuối cùng đó không khí thật trang nghiêm Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp, đã giảng bài say sưa cho đến khi đồng hồ điểm 12 giờ Kết thúc buổi học, thầy nghẹn ngào không nói nên lời, thầy cố viết thật to lên bảng:
"NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM"
Trang 9Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 8)
Phrăng là một cậu bé ham chơi lười học Một lần, vì muộn học và chưa thuộc bài về phân từ, cậu định bỏ học Tuy nhiên, cậu đã cưỡng được ý muốn đó và chạy đến lớp Đến nơi, cậu thấy lớp học thật khác lạ: mọi người vô cùng trật tự, những người trong xã ngồi ở cuối lớp, còn thầy giáo Hamel mặc rất đẹp Mặc dù cậu đi học muộn nhưng thầy lại không mắng cậu mà còn rất dịu dàng với cậu Vào lớp, thầy Hamel công bố tin buồn: từ mai chỉ dạy tiếng Đức ở trường và đây là buổi học cuối cùng Phrăng choáng váng Cậu không thể thuộc nổi một quy tắc về phân từ, thầy Hamel không trách cậu mà tự dằn vặt, trách cứ mình Suốt buổi học, cậu chăm chú nghe giảng và cảm thấy hối hận vì khoảng thời gian trước đây mình đã không chú ý vào việc học Thầy Hamel bắt đầu giảng về tiếng Pháp, thầy nói rằng khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khoá chốn lao tù Cậu kinh ngạc khi thấy mình hiểu bài đến thế, cậu thấy thầy thật lớn lao Hết buổi học, mặt thầy Hamel tái đi Thấy cố viết thật to, dằn mạnh hết sức câu: NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM! Thầy xúc động không nói nên lời, đành phải ra hiệu cho mọi người kết thúc buổi học
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 9)
Truyện ngắn Buổi học cuối cùng được An-phông-xơ Đô-đê viết trong hoàn cảnh Pháp thua trận trong trận chiến Pháp - Phổ (1870 - 1871) Nước Pháp buộc phải chia hai vùng An-dát và Lo-ren cho quân Phổ, đồng nghĩa với việc các trường học ở hai nơi này bắt buộc phải học tiếng Đức Câu chuyện cảm động
đã tái hiện lại không khí buổi học tiếng Pháp cuối cùng với nhân vật chính là cậu bé Phrăng và thầy giáo Ha-men Phrăng là một cậu học trò lười học, ham chơi, cậu đi học muộn và định trốn học để rong chơi nhưng sau đó vẫn quyết định chạy đến trường Khi vào lớp học, cậu đã nhận thấy không khí lớp học khác hẳn mọi lần Phrăng ngạc nhiên khi dân làng tập trung đầy đủ tại lớp, từ người già đến người trẻ, càng ngạc nhiên hơn nữa khi thầy Ha-men không mắng hay phạt cậu vì lỗi đến lớp muộn như mọi hôm mà ngược lại, vô cùng dịu dàng Thầy cũng như mọi người đều ăn mặc trang trọng, đẹp đẽ trong không khí vô cùng trang nghiêm, vẻ mặt ai nấy đều buồn rầu Khi buổi học bắt đầu, thầy Ha-men đã thông báo với mọi người đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng Cậu học trò Phrăng bấy giờ đã vỡ lẽ ra tất cả song đã quá muộn Cậu thậm chí đọc ấp úng tiếng mẹ đẻ, không thuộc quy tắc về phân từ nhưng thầy Ha-men không trách phạt mà chỉ giảng giải những lời lẽ hết sức ngắn gọn, sâu sắc về tiếng mẹ
đẻ Điều này càng khiến Phrăng xấu hổ, hối hận và dằn vặt bản thân khi đã không chăm chú học hành từ ban đầu Thầy Ha-men say sưa giảng về tiếng Pháp, rằng “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ được tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nằm được chìa khóa chốn lao tù” Mọi người chăm chú lắng nghe và cậu bé Phrăng kinh ngạc vì mình hiểu bài đến vậy Kết thúc buổi học, thầy Ha-men nghẹn ngào không nói hết câu, cố gắng
Trang 10viết thật to, dằn mạnh hết sức dòng chữ trên bảng “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM!” rồi ra hiệu kết thúc buổi học
Tóm tắt tác phẩm Buổi học cuối cùng (mẫu 10)
Buổi sáng hôm ấy, cậu bé Phrăng đến lớp hơi muộn và ngạc nhiên khi thấy lớp học có vẻ khác thường Cậu thực sự choáng váng khi nghe thầy Ha-men nói đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường Trong buổi học cuối cùng đó không khí thật trang nghiêm Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp, đã giảng bài say sưa cho đến khi đồng hồ điểm mười hai giờ Kết thúc buổi học, thầy nghẹn ngào không nói nên lời, thầy cố viết thật to lên bảng: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”
- Phần 3 (còn lại): Cảnh kết thúc buổi học cuối cùng
Nội dung chính Buổi học cuối cùng
Chuyện kể về buổi học tiếng Pháp cuối cùng ở vùng An-dát qua lời kể của cậu học trò Phrăng Sáng hôm ấy, cậu bé Phrăng đến lớp hơi muộn và ngạc nhiên khi thấy lớp học có vẻ khác thường Cậu thực sự choáng váng khi nghe thầy Ha-men nói đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường Trong buổi học cuối cùng đó không khí thật trang nghiêm Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp, đã giảng bài say sưa cho đến khi đồng hồ điểm 12 giờ Kết thúc buổi học, thầy nghẹn ngào không nói nên lời, thầy cố viết thật to lên bảng:
"NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM"
Trang 11Tóm tắt Ca Huế - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Ca Huế - Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 1)
Những đặc trưng nổi bật của ca Huế từ môi trường diễn xướng, số lượng người trình diễn, số lượng khán giả, số lượng nhạc công, nhạc cụ và phong cách biểu diễn ca Huế
Từ đó thấy được nét đặc sắc, độc đáo của bộ môn nghệ thuật này
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 2)
Ca Huế trên sông Hương là bài viết về vẻ đẹp của ca Huế - một nét sinh hoạt văn hóa ở
cố đô Huế, một vùng dân ca phong phú về nội dung, giàu có về làn điệu và những con người rất đỗi tài hoa
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 3)
Xứ Huế nổi tiếng với các điệu hò, mỗi câu hò như gửi gắm những tâm tình, tình cảm của người hò vào đó Ngoài ra, hò Huế còn thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng thiết tha của tâm hồn Huế Ban đêm, các lữu khách chèo thuyển rồng đi lại trên sông Hương nghe những câu hò quả là một thú vui Ca Huế được hình thành từ dòng
ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, thể hiện qua hai dòng điệu Bắc và điệu Nam
Ca Huế là thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 4)
Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò Mỗi câu hò dù ngắn hay dài đều gửi gắm những tâm tình, tình cảm trọn vẹn Ngoài ra, hò Huế còn thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng tha thiết Vào ban đêm, các lữ khách chèo thuyền rồng đi lại trên sông Hương nghe những câu hò quả là một thú vui Ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, thể hiện qua hai dòng điệu Bắc và điệu Nam Ca Huế là thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ Còn người con gái Huế nội tâm lại thật phong phú
và âm thầm, kín đáo
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 5)
Huế nổi tiếng với các điệu hò, các làn điệu dân ca Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều được gửi gắm ít ra một ý tình trọn vẹn Ca Huế trên sông Hương là một sinh hoạt văn hoá tao nhã, đầy sức quyến rũ, được các ca sĩ, nhạc công tài hoa biểu diễn trên thuyền rồng
Trang 12Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 6)
Huế là thành phố nổi tiếng với rất nhiều điệu hò: Chèo cạn, bài thai, hò đưa linh buồn
bã, hò giã gạo, ru em, giã vôi, giã điệp, bài chòi, bài tiệm Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều được gửi gắm ít ra một ý tình trọn vẹn Ban đêm, khi thành phố đã lên đèn, các lữ khách lên đi thuyền trên sông sẽ được nghe các điệu hò Ca Huế có nguồn gốc từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình Thú nghe ca Huế rất tao nhã và đầy sức quyến rũ
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 7)
Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò, Mỗi câu hò đều gửi gắm một ý tình trọn vẹn Hò Huế thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng thiết tha của tâm hồn Huế Ban đêm, các lữ khách chèo thuyền rồng đi lại trên sông sẽ được nghe các điệu hò Ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, thể hiện qua hai dòng điệu Bắc và điệu Nam Ca Huế là thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ của mảnh đất này
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 8)
Xứ Huế nổi tiếng với các điệu hò: hò khi đánh cá trên sông, biển cả, hò lúc cấy cày, gặt hái, chăn tằm Mỗi câu hò Huế đều gửi tắm một ý tình trọn vẹn Ngoài ra, còn có các điệu lí như lí con sáo, lí hoài xuân, lí hoài nam… Đêm, thành phố lên đèn, tác giả như một người lữ khách bước lên thuyền rồng, ngồi nghe ca Huế Nguồn gốc của ca Huế được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình Thể điệu ca Huế có sôi nổi, vui tươi, có buồn cảm, bâng khuâng, có bi thương ai oán Lời ca thong thả, trang trọng, trong sáng gợi lên tình người, tình đất nước Có thể nói, nghe ca Huế là một thú vui tao nhã, đầy sức quyến rũ
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 9)
Huế là mảnh đất, là cái nôi sinh ra những làn điệu dân ca Các làn điệu phong phú và
đa dạng, sâu sắc, chan chứa tình cảm Không những vậy, ca Huế mang trong mình những đặc sắc về cách thức biểu diễn, thưởng thức, nguồn gốc và thể điệu Làn điệu này vừa trang trọng, vừa sôi nổi, uy nghi Nghe ca Huế là một thú vui tao nhã
Tóm tắt tác phẩm Ca Huế (mẫu 10)
Cố đô Huế nổi tiếng không phải chỉ có các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử mà còn nổi tiếng bởi các làn điệu dân ca và âm nhạc cung đình đặc biệt là ca Huế Ca Huế hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình nên có thần thái của ca nhạc thính phòng thể hiện theo hai dòng lớn điệu Bắc và điệu Nam Ca Huế cất lên có lúc buồn man mác, thương cảm, có lúc không vui, không buồn, có lúc lại sôi nổi, tươi, vui,
Trang 13tiếc thương ai oán, Mỗi câu hò như gửi gắm những tâm tình, tình cảm của những người con gái Huế
Bố cục Ca Huế
Chia văn bản thành 3 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu đến “tầng lớp công chúng”: Nguồn gốc của ca Huế
- Đoạn 2: Tiếp theo đến “nhạc đệm hoàn hảo”: Quy định và luật lệ của ca Huế
- Đoạn 3: Còn lại: Giá trị nghệ thuật và thành tựu của ca Huế
Nội dung chính Ca Huế
Văn bản tập trung trình bày nguồn gốc, quy định, luật lệ và giá trị nghệ thuật, thành tựu của thể loại âm nhạc Ca Huế
Xem thêm các bài Tóm tắt Ngữ văn lớp 7 sách Cánh diều hay, ngắn gọn khác:
Tóm tắt Hội thi thổi cơm
Tóm tắt Ếch ngồi đáy giếng
Tóm tắt Đẽo cày giữa đường
Tóm tắt Tục ngữ về thiên nhiên, lao động và con người, xã hội 1
Tóm tắt Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân
Trang 14Tóm tắt Cây tre Việt Nam - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều
Bài giảng Ngữ văn 7 Cây tre Việt Nam - Cánh diều
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 1)
Cây tre là bạn thân của nhân dân Việt Nam Tre là loài cây có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước ta Tre có vẻ đẹp giản dị và nhiều phẩm chất đáng quý Tre gắn bó lâu đời với con người trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất và trong chiến đấu bảo vệ qê hương Tre là bạn đồng hành cùa dân tộc trên con đường đi tới ngày mai
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 2)
Cây tre Việt Nam nói lên sự gắn bó thân thiết và lâu đời của cây tre và con người Việt Nam trong đời sống, sản xuất và chiến đấu Cây tre có vẻ đẹp bình
dị và nhiều phẩm chất quý báu Cây tre đã trở thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 3)
Cây tre Việt Nam nói lên sự gắn bó thân thiết và lâu đời của cây tre và con
người Việt Nam trong đời sống, sản xuất, chiến đấu Cây tre có những đức tính quý báu như con người Việt Nam: nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm Cây tre sẽ đồng hành với người Việt Nam đi tới tương lai
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 4)
Bài văn miêu tả vẻ đẹp của cây tre, một loài cây giàu sức sống, thanh cao mà giản dị Cây tre gắn bó với con người từ rất lâu, trong sinh hoạt, sản xuất cũng như trong chiến đấu Hình ảnh cây tre cũng giống như những con người Việt Nam, sống ngay thẳng, chung thủy và can đảm Cây tre mang phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 5)
Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam Tre (và những cây cùng họ)
là thứ cây có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước ta Tre có một vẻ đẹp giản dị và nhiều phẩm chất đáng quý Tre gắn bó lâu đời với con người (đặc biệt là người nông dân) trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất và trong chiến
Trang 15đấu bảo vệ quê hương, đất nước Tre là bạn đồng hành của dân tộc ta trên con đường đi tới tương lai.
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 6)
Tác phẩm đã tái hiện được những phẩm chất tốt đẹp của cây tre, giống như người dân Việt: nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm Đồng thời khẳng định được mối quan hệ thân mật, khăng khít giữa cây tre và người dân Việt Nam trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 7)
Hình ảnh cây tre đã được khắc họa sống động với những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý, như nhũn nhặn, ngay thẳng, chung thủy, can đảm Những đức tính
ấy, cũng giống như người dân Việt Nam ta bao đời nay Bởi vậy, cây tre đã đã trở thành biểu tượng của người dân ta, đất nước ta Và dù cho là quá khứ, hiện tại, hay tương lai, cây tre vẫn mãi là người bạn thân thiết của người dân Việt Nam
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 8)
Từ xưa, cây tre đã là người bạn thân thiết của người dân Việt Cũng như dân ta, cây tre có những phẩm chất quý giá như nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm Chính vì vậy, mà cây tre đã trở thành một biểu tượng của người dân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 9)
Cây tre là bạn thân của nông dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam Tre có mặt ở hầu khắp mọi nơi trên đất nước ta Tre thanh cao mà giản dị Tre gắn bó lâu đời với con người trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong lao động sản xuất hay chiến đấu bảo vệ quê hương Tre là người bạn đồng hành của dân tộc trên con đường đi tới ngày mai
Tóm tắt tác phẩm Cây tre Việt Nam (mẫu 10)
Bài “Cây tre Việt Nam” của Thép Mời là lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba Lan Bài viết đã khẳng định cây tre chính là người bạn của
Trang 16nhân dân Việt Nam Đó là loài cây có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước ta Tre
có vẻ đẹp giản dị và nhiều phẩm chất đáng quý Cây tre gắn bó với con người
từ cuộc sống hàng ngày đến lao động sản xuất cũng như trong chiến đấu bảo vệ quê hương Tre là bạn đồng hành của dân tộc trên con đường đi tới ngày mai
Bố cục Cây tre Việt Nam
Chia văn bản 3 đoạn:
- Phần 1 (từ đầu đến “chí khí con người”): Giới thiệu chung về cây tre
- Phần 2 (tiếp đó đến “tiếng hát giữ trời của trúc, của tre”): Sự gắn bó của cây tre với con người trong lao động sản xuất và chiến đấu
- Phần 3 (còn lại): Tre vẫn còn mãi với đất nước trong tương lai
Nội dung chính Cây tre Việt Nam
Cây tre Việt Nam nói lên sự gắn bó thân thiết và lâu đời của cây tre và con người Việt Nam trong đời sống, sản xuất và chiến đấu Cây tre có vẻ đẹp bình
dị và nhiều phẩm chất quý báu Cây tre đã trở thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam
Trang 17
Tóm tắt Chất làm gỉ - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Chất làm gỉ - Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 1)
Văn bản nói đến ý tưởng “chất làm gỉ” tuyệt vời của anh trung sĩ trẻ và sự độc ác, tham lam của viên đại tá Nhưng cuối cùng những lí tưởng chính nghĩa vì hòa bình dân tộc
sẽ vẫn luôn chiến thắng
Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 2)
Văn bản kể về cuộc nói chuyện giữa đại tá và viên trung sĩ về sự chểnh mảng, không tập trung của anh ta Tại đây, viên trung sĩ đã nêu ý tưởng về một chất có thể biến những cỗ đại bác trên toàn thế giới thành sắt gỉ, những vi khuẩn trong ruột các quả bom trở thành vô hại, những chiếc xe bỗng đổ rụi, chui qua mặt đường nhựa và giống như những con quái vật thời tiền sử, chúng nằm im trong các hố có lấp đầy nhựa đường Trước suy nghĩ này, đại tá không hề tin tưởng anh ta và nghĩ anh ta cần phải gặp bác sĩ Cuộc nói chuyện kết thúc, viên trung sĩ đã khiến đại tá tức điên vì mọi đồ dùng bằng sắt của đại
tá đều biến thành đống vụn
Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 3)
Câu chuyện kể về ước mơ của một viên trung sĩ quân đội muốn biến vũ khí, bom đạn trở thành đống vụn, kết thúc chiến tranh Trước ý tưởng có vẻ điên rồ này, đại tá cho rằng viên trung sĩ cần phải gặp bác sĩ Kết thúc cuộc tranh luận, đại tá vô cùng tức giận
vì bút và súng của ông đều đã biến thành đống cát vụn
gì được, vì khẩu súng của họ đã biến thành gỉ sắt Lúc này, viên đại tá tức giận vớ một cái ghế tựa bằng gỗ và đuổi theo anh trung sĩ
Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 5)
Viên đại tá đã cho gọi anh trung đến nói chuyện về việc anh ta đã bị căng thẳng thần kinh và làm việc gì cũng không thành Anh đã chia sẻ về mong muốn hòa bình cũng
Trang 18như chất làm gỉ Đó là một chất có thể biến những cỗ đại bác trên toàn thế giới thành sắt gỉ, những vi khuẩn trong ruột các quả bom trở thành vô hại, những chiếc xe bỗng đổ rụi, chui qua mặt đường nhựa và giống như những con quái vật thời tiền sử, chúng nằm im trong các hố có lấp đầy nhựa đường Sau khi nghe xong, viên đại tá cho rằng anh trung sĩ cần đến gặp bác sĩ Cuộc nói chuyện kết thúc, viên đại tá vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện chiếc bút của mình đã biến thành gỉ sắt Ông gọi điện và ra lệnh cho lính gác phải giết chết anh trung sĩ Nhưng ngay cả súng của họ cũng đã biến thành gỉ sắt
Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 6)
Một hôm, viên đại tá đã gọi anh trung sĩ để trao đổi về việc anh ta đã bị căng thẳng thần kinh và làm việc gì cũng không thành Ông sẽ cân nhắc để chuyển anh đến một nơi khác Lúc này, anh đã chia sẻ cho ông về mong muốn cuộc sống của hòa bình của mình Anh còn kể cho ông nghe về một loại chất làm gì Chất đó có thể biến những cỗ đại bác trên toàn thế giới thành sắt gỉ; những vi khuẩn trong ruột các quả bom trở thành vô hại; những chiếc xe bỗng đổ rụi, chui qua mặt đường nhựa và giống như những con quái vật thời tiền sử, chúng nằm im trong các hố có lấp đầy nhựa đường Nghe xong điều đó, viên đại tá cho rằng anh trung sĩ cần đến gặp bác sĩ Mét-thiu Khi anh trung sĩ rời đi, viên đại tá phát hiện ra chiếc bút của mình đã biến thành gỉ sắt Ông ra lệnh cho lính gác phải giết chết anh trung sĩ Nhưng họ không thể làm gì, vì ngay cả súng cũng bị biến thành gỉ sắt Viên đại tá tức giận, vớ lấy một chiếc ghế tựa bằng gỗ, chạy ra ngoài đuổi theo anh trung sĩ
Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 7)
Ở một đơn vị, viên đại tá đã cho gọi một anh trung sĩ vào để trao đổi về việc anh ta bị căng thẳng, làm việc gì cũng không thành Ông sẽ cân nhắc chuyển anh đến một đơn vị khác Trước đó, viên đại tá nói rằng muốn nghe nguyện vọng của anh trung sĩ Vì vậy, anh đã chia sẻ về mong ước có cuộc sống hòa bình và về chất làm gỉ Anh đã cố giải thích cho viên đại tá nghe Nhưng ông cho rằng những nghiên cứu của anh trung sĩ là hão huyền, không thể thực hiện được Viên đại tá yêu cầu anh đến gặp bác sĩ Mét-thiu Ông còn gọi điện trao đổi với bác sĩ Mét-thiu về vấn đề của anh trung sĩ Sau đó, viên đại tá rất bất ngờ khi chiếc bút bi đã biến gỉ sắt Ông gọi cho lính gác, ra lệnh cho họ hãy giết chết anh trung sĩ Nhưng những người lính không thể làm gì được, vì khẩu súng của họ đã biến thành gỉ sắt Lúc này, viên đại tá tức giận vớ một cái ghế tựa bằng gỗ và chạy ra ngoài để tìm anh trung sĩ
Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 8)
Trang 19Văn bản ca ngợi trí tuệ thông minh và tấm lòng tốt bụng cao cả của người trung sĩ, thể hiện ước mơ về một thế giới hòa bình của tác giả Đồng thời lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa, những cuộc chạy đua vũ trang khốc liệt giữa các đế chế bạo tàn
Tóm tắt tác phẩm Chất làm gỉ (mẫu 9)
Truyện kể về mong muốn chấm dứt chiến tranh của viên trung sĩ bằng cách làm gỉ tất
cả các loại súng máy, xe tăng đồng thời thể hiện một ước mơ về một chất có thể giúp xóa bỏ các loại vũ khí chết chóc, hướng đến mục đích vì hòa bình của thế giới
Bố cục Chất làm gỉ
Chia văn bản làm 2 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu đến “Tạm biệt đại tá”: Cuộc trò chuyện về chất làm gỉ của đại tá và trung sĩ trẻ tuổi
- Đoạn 2: Còn lại: Chất làm gỉ của viên trung sĩ phát huy tác dụng
Tóm tắt Thiên nhiên và con người trong truyện “Đất rừng phương Nam”
Tóm tắt Vẻ đẹp của bài thơ “Tiếng gà trưa”
Tóm tắt Sức hấp dẫn của tác phẩm “Hai vạn dặm dưới đáy biển”
Tóm tắt Những nét đặc sắc trên “đất vật” Bắc Giang
Trang 20Tóm tắt Đẽo cày giữa đường - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Đẽo cày giữa đường - Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 1)
Chuyện kể rằng có một bác nông dân rất nghèo, cả đời sống bằng nghề đồng áng, bác muốn làm một cái cày thật tốt để làm công việc đồng áng năng suất và đỡ vất vả hơn Một hôm, bác rất vui vì đã xin được một cây gỗ tốt nhưng bác chưa làm cái cày bao giờ, bác bèn mang khúc gỗ ra ven đường ngồi đẽo và hỏi ý kiến mọi người Nhưng ai bảo làm gì bác cũng làm theo, và những chiếc cày của bác mỗi chiếc một hình thù và chẳng ai mua cày của bác cả
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 2)
Truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường kể về một người thợ mộc đẽo cày bên đường, luôn nghe theo lời người qua đường mà đẽo cày theo ý người khác, mỗi người một ý nên anh ta vừa không bán được cày, vừa hỏng gỗ, mất cả cơ nghiệp
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 3)
Câu chuyện kể về một chàng nông dân có được khúc gỗ to muốn làm một cái cày để bán thu lợi nhuận và tăng năng suất lao động Không biết sự vô tình hay cố ý, anh ta ngồi đẽo cày giữa đường Kết cục từ một khúc gỗ có ích trở thành một mẩu gỗ vô dụng bởi anh không bảo vệ được chính kiến của mình, nghe hết lời người này đến lời người khác Giá mà anh ta nghiên cứu thật kỹ nhưng yêu cần cần đạt của sản phẩm mình đã chọn thì sẽ không đến nỗi làm người khác phì cười
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 4)
Truyện ngụ ngôn kể về chàng thợ mộc không có chính kiến, đẽo cày giữa đường và nghe tất cả những lời góp ý của những người xa lạ, dẫn đến kết cục tạo ra những sản phẩm thất bại, việc buôn bán cũng từ đó đi tong
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 5)
Câu chuyện kể về một anh nông dân, ban đầu anh ta hoàn toàn có thể hoàn thiện một cái cày theo ý muốn của mình nhưng vì không có chủ kiến, đẽo cày giữa đường mỗi người đi qua góp ý và ai nói gì anh ta cũng làm theo, nghe theo sự phán xét của nhiều người nên cuối cùng cái cày ban đầu chỉ còn là một mẩu gỗ không bán được, mất thời gian phí công sức lại bị thiên hạ chê cười
Trang 21Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 6) Một chàng thợ mộc đẽo cày giữa đường, ai đi ngang qua góp ý anh ta cũng nghe theo
và đẽo cày theo ý của họ Cuối cùng, anh ta vừa không đẽo được chiếc cày ưng ý, lại hỏng hết gỗ, mất thời gian và mất cả cơ nghiệp
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 7)
Câu chuyện về một anh thợ mộc mang hết vốn liếng ra mua gỗ để đẽo cày Tuy nhiên
cứ ai bảo làm to anh lại đẽo to, ai bảo đẽo nhỏ anh lại đẽo nhỏ Kết quả là anh đã đẽo hết số gỗ mà chẳng bán được chiếc nào cả
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 8)
Chuyện kể rằng có một bác nông dân rất nghèo, cả đời sống bằng nghề đồng áng, bác muốn làm một cái cày thật tốt để làm công việc đồng áng năng suất và đỡ vất vả hơn Một hôm, bác rất vui vì đã xin được một cây gỗ tốt nhưng bác chưa làm cái cày bao giờ, bác bèn mang khúc gỗ ra ven đường ngồi đẽo và hỏi ý kiến mọi người Mỗi người một ý, nói gì bác cũng đều làm theo Và cuối cùng, hết ngày hôm đấy bác nông dân chỉ còn một khúc gỗ nhỏ, bác không còn cơ hội để đẽo cái cày theo ý mình nữa, cây gỗ quý
đã thành một đống củi vụn Bác buồn lắm nhưng cuối cùng bác đã hiểu: “Làm việc gì cũng vậy, mình phải có chính kiến của mình và kiên trì với một con đường đã chọn.”
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 9)
Một anh nông dân làm nghề thợ mộc đã lâu, nay bỏ ra ba trăm quan tiền mua gỗ về đẽo cày bán kiếm sống Người đầu tiên nói anhhãy đẽo cày cho cao, cho to thì mới dễ cày Người thứ hai nói anh phải đẽo cày nhỏ hơn, thấp hơn thì mới dễ cày Người khác nữa lại mách nước rằng trên ngàn người ta đang phá hoang nhiều đồng ruộng và cày bằng voi, phải đẽo cày thật cao, to gấp đôi gấp đôi cho voi cày được Ai nói gì anh ta cũng nghe Cuối cùng, số cày đẽo ra không bán được, mọi vốn liếng mất sạch
Tóm tắt tác phẩm Đẽo cày giữa đường (mẫu 10)
Anh thợ mộc nọ bỏ ra ba trăm quan tiền mua gỗ về đẽo cày bán Cửa hàng của anh ta ở bên đường nhiều người qua lại Có người nói anh phải đẽo cày cho cao, có người nói anh phải đẽo cày nhỏ thấp hơn, có người lại nói phải đẽo thật to gấp đôi, gấp ba Anh
ta nghe mọi lời khuyên của những người đi đường Cuối cùng tất cả số cày đều hỏng và
Trang 22Bố cục Đẽo cày giữa đường
Chia văn bản thành 2 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu đến “tha hồ mà lãi”: Anh thợ mộc đẽo cày theo sự chỉ đạo góp ý của mọi người mà không có chính kiến của mình
- Đoạn 2: Còn lại: Kết cục đáng buồn anh chẳng bán được chiếc cày nào
Nội dung chính Đẽo cày giữa đường
Câu chuyện về một anh thợ mộc mang hết vốn liếng ra mua gỗ để đẽo cày Tuy nhiên
cứ ai bảo làm to anh lại đẽo to, ai bảo đẽo nhỏ anh lại đẽo nhỏ Kết quả là anh đã đẽo hết số gỗ mà chẳng bán được chiếc nào cả
Xem thêm các bài Tóm tắt Ngữ văn lớp 7 sách Cánh diều hay, ngắn gọn khác:
Tóm tắt Tục ngữ về thiên nhiên, lao động và con người, xã hội 1
Tóm tắt Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân
Tóm tắt Tục ngữ về thiên nhiên, lao động và con người, xã hội 2
Tóm tắt Những cánh buồm
Tóm tắt Mây và sóng
Trang 23Tóm tắt Dọc đường xứ Nghệ - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 1)
Câu chuyện kể lại chuyến đi thăm bạn bè của ông Sắc cùng hai người con là Khiêm
và Côn Dọc đường đi hai người con đã đặt cho cha rất nhiều những câu hỏi về cảnh sắc thiên nhiên đất nước, ông Sắc nổi tiếng là người học rộng biết nhiều nên đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các con Qua cuộc trò chuyện của ba cha con trên đường đã bộc
lộ phẩm chất riêng biệt của hai người con Khiêm và Côn
Bố cục Dọc đường xứ Nghệ
Chia văn bản thành 4 đoạn
- Đoạn 1: Từ đầu đến “nộp mình cho giặc”: Ông Phó bảng giải thích cho hai con nghe
về đền thờ Thục Phán An Dương Vương và câu chuyện tình sử của Mỵ Châu – Trọng Thủy
- Đoạn 2: Tiếp đó đến “khát vọng quê hương”: Ông Phó bảng giải thích cho hai con nghe về hòn Hai Vai
- Đoạn 3: Tiếp đó đến “có chức trọng quyền cao đó, con ạ”: Ông Phó bảng giải thích cho hai con nghe về đền Quả Sơn
- Đoạn 4: Con lại: Những suy tư chăn chở của ba cha con về việc đời
Nội dung chính Dọc đường xứ Nghệ
Đoạn trích thuật lại chuyến đi về xứ Nghệ của ba cha con Phó bảng Đi đến đâu ông Phó bảng cũng giải thích cho hai cậu con trai Côn và Khiêm về những địa danh lịch sử, những phong cảnh đất nước và những câu chuyện gắn với địa danh đó Qua đó ta thấy được sự ham thích học hỏi của hai cậu bé, nổi bật là những nhận xét, đánh giá của cậu
bé Côn về đất nước và con người
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 2)
Ba cha con Phó bảng lại tiếp tục đi Dọc đường, hai người con đã đặt cho ông rất nhiều câu hỏi về cảnh sắc thiên nhiên đất nước Ông đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các con Ông kể về câu chuyện tình sử Mị Châu - Trọng Thủy, dạy các con là người thì phải biết giữ trọn khí tiết giống như vua Thục Phán Ông giải thích cho con về hòn Hai Vai, hòn Trống Thủng, núi Cờ Rách Ông dẫn hai con trai đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về
Trang 24phong cảnh đẹp, di tích lịch sử của Nghệ An Ông còn đưa hai con sang Hà Tĩnh, thăm
mộ Đại thi hào Nguyễn Du
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 3)
Dọc đường xứ Nghệ kể lại chuyến đi thăm bạn bè của quan phó Bảng cùng hai người con là Khiêm và Côn Dọc đường đi, hai người con đã đặt cho cha rất nhiều những câu hỏi về cảnh sắc thiên nhiên đất nước Ông Sắc nổi tiếng là người học rộng biết nhiều nên đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các con Qua cuộc trò chuyện của ba cha con trên đường đã bộc lộ phẩm chất riêng biệt của hai người con Khiêm và Côn
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 4)
Quan phó Bảng đưa hai người con là Khiêm và Côn đi thăm bạn bè của ông Qua nhiều vùng đất quê hương, hai người con đã đặt cho ông rất nhiều câu hỏi Quan phó Bảng đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các con Ông đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các con Ông kể
về câu chuyện tình sử Mị Châu - Trọng Thủy, dạy các con là người thì phải biết giữ trọn khí tiết giống như vua Thục Phán Ông giải thích cho con về hòn Hai Vai, hòn Trống Thủng, núi Cờ Rách Ông dẫn hai con trai đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về phong cảnh đẹp, di tích lịch sử của Nghệ An Ông còn đưa hai con sang Hà Tĩnh, thăm
mộ Đại thi hào Nguyễn Du Cuộc trò chuyện đã bộc lộ được những phẩm chất riêng biệt của hai người con Khiêm và Côn
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 5)
Văn bản kể về chuyến đi của ba cha con quan phó Bảng Trên đường đi, qua biết bao địa danh nổi tiếng gắn với các câu chuyện, nhân vật lịch sử đã thể hiện sự thông minh, lỗi lạc của quan phó Bảng Đồng thời bộc lộ phẩm chất, suy nghĩ của hai người con
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 6)
Văn bản kể về chuyến đi của ba cha con quan phó Bảng Trên đường đi, qua biết bao địa danh nổi tiếng gắn với các câu chuyện, nhân vật lịch sử đã bộc lộ phẩm chất riêng biệt của hai người con Khiêm và Côn
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 7)
Câu chuyện kể về hành trình đi qua các địa danh của cha con cụ Phó Bảng Mỗi địa danh họ đi qua gắn với một câu chuyện lịch sử Qua các câu chuyện đó, cụ Phó Bảng
Trang 25đã giáo dục các con những phẩm chất, đức tính làm người
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 8)
Câu chuyện kể lại chuyến đi thăm bạn bè của ông Sắc cùng hai người con là Khiêm và Côn Dọc đường đi hai người con đã đặt cho cha rất nhiều những câu hỏi về cảnh sắc thiên nhiên đất nước, ông Sắc nổi tiếng là người học rộng biết nhiều nên đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các con Qua cuộc trò chuyện của ba cha con trên đường đã bộc lộ phẩm chất riêng biệt của hai người con Khiêm và Côn
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 9)
Câu chuyện kể lại chuyến đi thăm bạn bè của ông Sắc cùng hai người con là Khiêm và Côn Dọc đường đi hai người con đã đặt cho cha rất nhiều những câu hỏi về cảnh sắc thiên nhiên đất nước, ông Sắc nổi tiếng là người học rộng biết nhiều nên đã giải thích cặn kẽ, tỉ mỉ cho các con Qua cuộc trò chuyện của ba cha con trên đường đã bộc lộ phẩm chất riêng biệt của hai người con Khiêm và Côn
Tóm tắt tác phẩm Dọc đường xứ Nghệ (mẫu 10)
Kể về tuổi thơ của Bác Hồ Khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Côn, Người đã cùng anh trai là Nguyễn Sinh Khiêm theo cha vào kinh thành Huế Sau khi đỗ Phó bảng ông Sắc vinh quy về quê Văn bản trong SGK kể chuyện người cha sau khi về quê đi thăm bạn
bè và cho hai con theo cùng
Xem thêm các bài Tóm tắt Ngữ văn lớp 7 sách Cánh diều hay, ngắn gọn khác:
Trang 26Tóm tắt Đức tính giản dị của Bác Hồ - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Đức tính giản dị của Bác Hồ - Cánh diều
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 1)
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người có lối sống vô cùng đơn giản Ngài tối giản về đời sống cá nhân, nếp sinh hoạt, về lời ăn tiếng nói và cả về mối quan
hệ với mọi người Thế nhưng, thật sai khi cho rằng ngài sống giản dị như một
vị hành tu Vì ẩn sau sự giản dị ấy là cả một thế giới tinh thần phong phú đến khổng lồ, với vô vàn những lý tưởng và tình cảm lớn lao, cao thượng
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 2)
Bác Hồ là một vị lãnh tụ có đời sống tinh thần vô cùng giàu có, phong phú Với những lý tưởng tiến bộ, cao thượng cùng thế giới tình cảm giàu đẹp Đồng điệu với đời sống tinh thần ấy là một đời sống vật chất, sinh hoạt giản
dị Giản dị từ lời nói, bài viết, từ đời sống cá nhân đến cả trong mối quan hệ với mọi người Tất cả tạo nên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của dân tộc ta
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 3)
Bác Hồ là một người vô cùng giản dị Bác giản dị từ trong đời sống sinh hoạt, đến trong quan hệ với mọi người, và cả trong từng lời nói, bài viết Tuy nhiên, đời sống tinh thần của Bác lại vô cùng phong phú, với những tư tưởng và tình cảm cao đẹp Sự giản dị trong lối sống và giàu có trong tinh thần ấy được hòa hợp một cách tuyệt đối trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 4)
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người có lối sống giản dị và khiêm tốn Điều đó được thể hiện từ bữa cơm, đồ dùng, cái nhà Trong công việc, việc gì có thể tự làm Bác đều tự làm được và không cần người giúp Đời sống giản dị vật chất phù hợp với đời sống giản dị trong tâm hồn Không chỉ vậy, Bác còn giản dị trong lời nói và bài viết
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 5)
Trong đời sống cũng như công việc, Bác Hồ là người vô cùng giản dị và khiêm tốn Bác giản dị từ trong nơi ở, bữa cơm, và trang phục Trong công việc, Bác luôn tự làm mọi việc, và không cần người giúp Đời sống vật chất giản dị càng hòa hợp với đời sống tâm hồn phong phú Giản dị trong đời sống,
Trang 27trong quan hệ với mọi người và Bác còn giản dị trong cả sáng tác vì muốn quần chúng nhân dân dễ tiếp nhận
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 6)
Bác Hồ là một người có lối sống giản dị và khiêm tốn Điều đó được thể hiện
từ nơi ở, việc ăn uống và trang phục Còn trong công việc, Bác luôn tự làm những việc mà Người có thể tự làm được Đời sống giản dị vật chất phù hợp với đời sống giản dị trong tâm hồn Không chỉ vậy, Bác còn giản dị trong lời nói và bài viết để mọi người dân có thể hiểu, và nhớ được
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 7)
Đức tính giản dị là một đức tính vô cùng quý báu của dân tộc ta được truyền
từ đời này sang đời khác Đức tính quý báu đó được tác giả Phạm Văn Đồng trình bày lại vô cùng xuất sắc qua tác phẩm “Đức tính giản dị của Bác Hồ”
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 8)
(Bài “Đức tính giản dị của Bác Hồ” (tên bài do người biên soạn sách đặt) trích
từ bài “Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại” Giản dị là đức tính nổi bật ở Bác Hồ: giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong lời nói và bài viết Ở Bác, sự giản dị hào hợp với đời sống tinh thần phong phú, với tu tưởng và tình cảm cao đẹp
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 9)
Đức tính giản dị là một đức tính vô cùng quý báu của dân tộc ta được truyền
từ đời này sang đời khác, một trong những tấm gương vô cùng tiêu biểu
không thể không kể đến đó là Bác Hồ, một con người vĩ đại cả về phẩm chất lẫn nhân cách sống Ở tác phẩm tác giả vừa thể hiện về phẩm chất đáng quý của Bác vừa một lòng thể hiện sự kính mến và biết ơn đối với Bác, hơn thế nữa qua tác phẩm tác giả cũng muốn gửi gắm một bài học quý giá về đạo đức con người thông qua vị cha già vĩ đại của dân tộc ta
Tóm tắt tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ (mẫu 10)
Đức tính giản dị của Bác Hồ là một bài viết hay, sâu sắc và chân thực về hình tượng người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Bác đã sống và làm việc bằng trái tim thật cao đẹp, đáng quý, phong cách sống của Bác đã trở thành những bài học sâu sắc mà thế hệ thanh niên về sau này cần phải học tập và noi theo Văn bản
“Đức tính giản dị của Bác Hồ" của tác giả Phạm Văn Đồng đã cho người đọc cảm nhận một cách chân thực nhất vẻ đẹp của đức tính giản dị của Bác Phẩm
Trang 28chất cao quý ấy vẫn được giữ vẹn nguyên qua chặng đường 60 năm hoạt động, một sự nhất quán giữa đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn của Hồ Chủ tịch
Bố cục Đức tính giản dị của Bác Hồ
Chia văn bản thành 2 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp”): Nhận định chung về đức tính giản dị của Bác
- Phần 2 (còn lại): Những biểu hiện đức tính giản dị của Bác
Nội dung chính Đức tính giản dị của Bác Hồ
Trong đời sống chính trị cũng như trong đờ sống sinh hoạt, Bác Hồ là người
vô cùng giản dị và khiêm tốn Con người Bác giản dị từ bữa cơm, đồ dùng, cái nhà và lối sống Bác làm rất nhiều việc và việc gì Bác làm dc thì Bác không nhờ tới người giúp Đời sống vật chất giản dị càng hòa hợp với đời sống tâm hồn phong phú, với những tư tưởng, tình cảm, giá trị tinh thần cao đẹp Giản
dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người và Bác còn giản dị trong cả sáng tác vì muốn quần chúng nhân dan dễ tiếp nhận
Trang 29Tóm tắt Ếch ngồi đáy giếng - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều
Bài giảng Ngữ văn 7 Ếch ngồi đáy giếng - Cánh diều
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 1)
Trong một cái giếng, có một con ếch sống lâu ngày trong đó Ở cái giếng đó chỉ có nhái, cua, ốc và chúng rất sợ tiếng kêu của ếch Bởi thế mà Ếch nghĩ mình là chúa tể và coi cái thế giới bên ngoài bé như cái miệng giếng vậy, nó
ra oai Cho đến một năm trời mưa to, nước trong giếng dâng lên đưa ếch ra bên ngoài Quen thói cũ khi còn sống trong giếng, ếch ta đi nghênh ngang đi lại giữa đường liền bị một con trâu đi ngang giẫm bẹp Qua câu chuyện "Ếch ngồi đáy giếng" nhân dân ta gửi đến sự phê phán cho các kẻ thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết hạn hẹp, coi trời bằng vung giống như ếch coi trời bằng cái miệng giếng
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 2)
Có một con ếch sống lâu ngày trong một cái giếng, xung quanh chỉ có nhái, cua, ốc, chúng rất sợ tiếng kêu của ếch Ếch tưởng mình oai như vị chúa tể và coi trời bé bằng cái vung Năm trời mưa to khiến nước mưa ngập giếng và đưa ếch ra ngoài, quen thói cũ ếch đi lại nghênh ngang đã bị một con trâu đi ngang dẫm bẹp Qua câu chuyện nhân dân ta nhằm phê phán những kẻ hiểu biết hạn hẹp mà lại huênh hoang gọi là “Ếch ngồi đáy giếng”
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 3)
Một con ếch sống trong giếng đã lâu ngày Nó cứ nghĩ mình là chúa tể, còn bầu trời chỉ là chiếc vung Đến khi mưa to, nước dâng lên, ếch ra khỏi giếng,
đi lại nghênh ngang, không để ý đến xung quanh, nên bị một con trâu đi qua dẫm bẹp
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 4)
Có một con ếch sống lâu ngày trong một cái giếng, xung quanh chỉ có nhái, cua, ốc, chúng rất sợ tiếng kêu của ếch Ếch tưởng mình oai như vị chúa tể và coi trời bé bằng cái vung Năm trời mưa to khiến nước mưa ngập giếng và đưa ếch ra ngoài, quen thói cũ ếch đi lại nghênh ngang đã bị một con trâu đi ngang dẫm bẹp
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 5)
Trang 30Một con ếch sống lâu trong giếng nhỏ huênh hoang, tưởng rằng bầu trời chỉ bé bằng chiếc vung và mình oai như chúa tể Ra ngoài, vẫn thói huênh hoang nên
bị con trâu giẫm bẹp
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 6)
Truyện kể về một con ếch, khi ngồi ở đáy giếng, nó thấy bầu trời nhỏ hẹp chỉ
bé bằng một cái vung và nó thì oai như một vị chúa tể Một lần ra khỏi giếng, quen thói huênh hoang “chả thèm để ý đến xung quanh”, ếch bị một con trâu
đi qua dẫm bẹp
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 7)
Một con ếch sống lâu năm trong một cái giếng, nó tự cho mình là chúa tể còn bầu trời chỉ nhỏ như chiếc vung Một ngày nọ trời mưa lớn, nước tràn ra
ngoài, ếch ta huênh hoang đi lại ngang ngược trên đường nên nó bị một con trâu dẫm bẹp
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 8)
Ếch sống lâu ngày trong giếng, xung quanh nó chỉ có nhái và ốc mà chúng lại
sợ cái tiếng kêu "ộp ộp " của ếch, làm cho ếch ta hoang tưởng rằng mình là chúa tể của của bầu trời này Nó cho rằng mình là chúa tể của thiên hạ mà không biết rằng mình chỉ là một loài động vật bé nhỏ, ngoài kia có biết bao là những động vật lớn hơn nó Nó biết một mà chẳng biết mười, nó biết trong đây mình là kẻ oai vệ và to lớn nhất mà chẳng biết rằng ngoài kia có hơn mười kẻ to lớn hơn nó, sẵn sàng có thể giẫm đạp hay xẻ thịt nó ra làm thức ăn Mãi đến năm trời mưa to như trút nước, đưa ếch ta ra ngoài giếng Ếch ta quen thói cũ đi hênh hang ở trong cái giếng gần cạn nước, lúc lên bờ cũng đi lại như vậy ở ngoài đường Sau cùng thì nhận lại cái kết là có một con trâu đi ngang qua giẫm bẹp mà chết
Câu chuyện ngụ ngôn "Ếch ngồi đáy giếng" dạy con người ta phải có hiểu biết rộng, không được khinh thường người khác nếu không sẽ nhận lại kết cục giống như con ếch hênh hang kia
Tóm tắt tác phẩm Ếch ngồi đáy giếng (mẫu 9)
Trang 31Gia đình nhái nhà chúng tôi vốn từ lâu sống trong một cái giếng cạn, trong đây còn có gia đình ốc và một con ốc đáng ghét Chúng tôi vốn nhỏ bé, luôn
sợ những tiếng kêu to như "ộp ộp " của tên ếch đó Hắn không những không thấy hổ thẹn mà còn được đà lấn tới, chúng tôi càng sợ bao nhiêu thì hắn càng kêu to bấy nhiêu Cũng bởi vậy mà tên ếch luôn coi như mình là chúa tể Tôi biết kẻ xấu rồi cũng bị trừng phạt thích đáng, năm đó mưa như trút nước, nước trong giếng dâng cao đưa tất cả chúng tôi ra ngoài Ra ngoài, gia đình nhái của tôi cùng với gia đình ốc nhanh chóng tìm cái ao hồ gần đó
mà định cư, còn tên ếch quen thói coi trời bằng vung đi hênh hang khắp nơi Kết quả là bị một anh trâu đi ngang qua nhẫm chết Cũng từ cái chết của ếch, tôi cũng đã dạy được cho những đứa nhỏ trong nhà, mấy đứa cũng tự rút ra được bài học cho riêng mình, kẻ thiếu hiểu biết hoặc cố tỏ ra mình hiểu biết sẽ
có kết quả như vậy Sống trên đời không nên tự cao quá về bản thân bởi chẳng thế nào biết được ngoài kia có bao nhiêu người kém mình và hơn mình, nên biết sống khiêm nhường, chan hòa với tất cả mọi người
Bố cục Ếch ngồi đáy giếng
Chia văn bản thành 2 đoạn:
- Đoạn 1 (Từ đầu … đến "như một vị chúa tể"): Kể chuyện ếch khi ở trong giếng
- Đoạn 2 (Phần còn lại): Kể truyện ếch khi ra khỏi giếng
Nội dung chính Ếch ngồi đáy giếng
Một con ếch sống trong giếng lâu ngày Nó cứ nghĩ mình là chúa tể, còn bầu trời chỉ là chiếc vung Khi mưa to, nước dềnh đưa ếch ra ngoài Quen thói huênh hoang, ếch bị một con trâu giẫm bẹp
Trang 32Tóm tắt Ghe xuồng Nam Bộ - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Ghe xuồng Nam Bộ - Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Ghe xuồng Nam Bộ (mẫu 1)
Văn bản đề cập đến những giá trị và kinh tế và văn hóa của ghe xuồng với người dân Nam Bộ, ghe xuồng không còn chỉ là một phương tiện di chuyển, vận tải mà nó trở thành một nét văn hóa nơi đây
Tóm tắt tác phẩm Ghe xuồng Nam Bộ (mẫu 2)
Văn bản cho thấy sự phong phú về các phương tiện sông nước của vùng Nam Bộ Ghe xuồng vừa là một loại phương tiện vô cùng hữu hiệu, nó còn gắn bó vô cùng mật thiết với cư dân vùng sông nước, lại vừa ẩn chứa bên trong những giá trị văn hóa vô cùng độc đáo
Tóm tắt tác phẩm Ghe xuồng Nam Bộ (mẫu 3)
Văn bản Ghe xuồng Nam Bộ nói về những giá trị về kinh tế và văn hóa cũng như sự đa dạng của ghe xuồng với người dân Nam Bộ Ghe xuồng không còn là một phương tiện
di chuyển, vận tải mà nó đã trở thành một nét đẹp văn hóa nơi đây
Tóm tắt tác phẩm Ghe xuồng Nam Bộ (mẫu 4)
- Ghe xuồng Nam Bộ rất đa dạng, phong phú với nhiều kiểu loại, tên gọi khác nhau
- Các loại xuồng được sử dụng ở Nam Bộ: xuồng ba lá, xuồng tam bản, xuồng vỏ gòn, xuồng độc mộc, xuồng máy gắn máy
- Các loại ghe được sử dụng ở Nam Bộ: ghe bầu, ghe lồng, ghe chài, ghe cào tôm, ghe ngo, ghe hầu, ghe câu Phú Quốc, ghe cửa Bà Rịa, ghe lưới rùng Phước Hải, ghe Cửa Đại
- Ghe xuồng Nam Bộ vừa là một loại phương tiện giao thông vô cùng hữu hiệu, gắn bó mật thiết với cư dân vùng sông nước, lại vừa ẩn chứa bên trong những giá trị văn hóa
vô cùng độc đáo
Tóm tắt tác phẩm Ghe xuồng Nam Bộ (mẫu 5)
Các nội dung trình bày trong văn bản Ghe xuồng Nam Bộ đã làm sáng tỏ mục đích ấy bằng cách:
Trang 33- Miêu tả về các loại ghe, xuồng thường được sự dụng
- Giới thiệu công dụng của các loại ghe xuồng đối với đời sống của người dân Nam
Bộ
- Khẳng định giá trị văn hóa của ghe, xuồng Nam Bộ đối với văn hóa của người Nam
Bộ
Tóm tắt tác phẩm Ghe xuồng Nam Bộ (mẫu 6)
Văn bản đã giới thiệu về các loại ghe, xuồng ở Nam Bộ Các nội dung trình bày trong văn bản đã làm sáng tỏ mục đích ấy từ khái quái đến cụ thể, chi tiết
Bố cục Ghe xuồng Nam Bộ
Chia văn bản làm 4 đoạn:
+ Đoạn 1: Từ đầu đến “chia thành nhiều loại”: Sự đa dạng của các loại ghe xuồng ở Nam Bộ
+ Đoạn 2: Tiếp theo đến “trong giới thương hồ”: Tác giả giới thiệu các loại xuồng và đặc điểm của từng loại
+ Đoạn 3: Tiếp theo đến “Bình Đại (Bến Tre) đóng: Tác giả giới thiệu các loại ghe và đặc điểm của từng loại
+ Đoạn 4: Còn lại: Giá trị của các loại ghe, xuồng đối với kinh tế và văn hóa của người dân Nam Bộ
Nội dung chính Ghe xuồng Nam Bộ
Văn bản đề cập đến những giá trị và kinh tế và văn hóa của ghe xuồng với người dân Nam Bộ, ghe xuồng không còn chỉ là một phương tiện di chuyển, vận tải mà nó trở thành một nét văn hóa nơi đây
Xem thêm các bài Tóm tắt Ngữ văn lớp 7 sách Cánh diều hay, ngắn gọn khác:
Tóm tắt Cây tre Việt Nam
Tóm tắt Người ngồi đợi trước hiên nhà
Tóm tắt Trưa tha hương
Trang 34Tóm tắt Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa Tóm tắt Tổng kiểm soát phương tiện giao thông
Trang 35Tóm tắt Hội thi thổi cơm - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Hội thi thổi cơm - Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 1)
Sự đa dạng, phong phú và những nét khác biệt của các hội thi thổi cơm trên khắp mọi miền tổ quốc từ đó thấy được truyền thống văn hóa đa dạng nhiều màu sắc của các lễ hội truyền thống trên đất nước ta
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 2)
Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng giêng, làng Đồng Vân thường mở hội rước nước, hát chèo và thổi cơm thi Bắt đầu vào hội thi làm lễ dâng hương Hội thi bắt đầu bằng việc lấy lửa trên ngọn cây chuối cao Người trong đội sẽ vót mảnh tre già thành những chiếc đũa bông châm lửa Trong khi đó, người trong nhóm dự thi nhanh tay giã thóc, giần sàng thành gạo, lấy nước và bắt đầu thổi cơm Các đội thổi cơm đan xen nhau uốn lượn trên sân đình Khoảng sau một giờ rưỡi, những nồi cơm lần lượt được đem trình trước cửa đình Ban giám khảo mở nồi cơm chấm theo ba tiêu chuẩn: gạo trắng, cơm dẻo và không có cơm cháy Cuộc thi nào cũng hồi hộp và việc giật giải đã trở thành niềm tự hào khó có gì sánh nổi đối với dân làng Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân là sinh hoạt văn hóa cổ truyền được bắt nguồn từ các cuộc trẩy quân đánh giặc của người Việt cổ bên dòng sông Đáy xưa
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 3)
Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng Giêng, làng Đồng Vân (xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng) lại mở hội rước nước, hát chèo và thổi cơm thi Hội thổi cơm có nhiều nét độc đáo về quy trình, cách nấu Người dự thi được tuyển chọn từ các xóm trong làng Diễn biến của cuộc thi bắt đầu bằng việc lấy lửa, chuyền lửa, nhóm lửa; sau đó chế biến gạo; đun nấu làm chín cơm trong khoảng một giờ rưỡi Tiêu chuẩn đánh giá của ban giám khảo là gạo trắng, cơm dẻo, không cháy Hội thổi cơm thi này là sinh hoạt văn hóa cổ truyền được bắt nguồn từ các cuộc trẩy quân đánh giặc của người Việt cổ bên dòng sông Đáy xưa Với những nét đặc sắc của mình, hội thi đã góp phần gìn giữ và phát huy những nét đẹp cổ truyền trong sinh hoạt văn hóa hiện đại hôm nay
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 4)
Hằng năm, cứ đến rằm tháng giêng, làng Đồng Vân có mở hội thổi cơm thi Trước khi bắt đầu hội thi, các thành viên xếp hàng trang nghiêm làm lễ dâng hương Bắt đầu hội thi, tiếng trống hiệu vừa dứt, các thành viên trèo lên lấy lửa trên ngọn cây chuối cao Khi lấy được nén hương xuống, ban tổ chức sẽ phát diêm cho châm vào hương cháy
Trang 36thành lửa Người trong đội sẽ vót mảnh tre già thành những chiếc đũa bông châm lửa
và đốt vào những ngọn đuốc Những người còn lại, người thì giã thóc, người giần sàng thành gạo, người lấy nước, thổi cơm Sau khoảng một giờ rưỡi, những nồi cơm lần lượt được chấm điểm, theo tiêu chuẩn Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân là sinh hoạt văn hóa cổ truyền được bắt nguồn từ các cuộc trẩy quân đánh giặc của người Việt cổ bên dòng sông Đáy xưa
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 5)
Cứ đến ngày rằm tháng Giêng, làng Đồng Vân lại mở hội thổi cơm thi Hội thổi cơm thi có rất nhiều nét độc đáo từ quy trình lấy lửa cho đến cách nấu Hội thi bắt đầu bằng việc lấy lửa Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn
Có người leo lên, tụt xuống, lại leo lên… Khi mang được nén hương xuống, người dự thi được phát ba que diêm để châm vào hương cho cháy thành ngọn lửa Trong khi đó, những người trong đội, mỗi người một việc Người thì ngồi vót những thanh tre già thành những chiếc đũa bông Người thì nhanh tay giã thóc, giần sàng thành gạo, người thì lấy nước và bắt đầu thổi cơm.Mỗi người nấu cơm đều mang một cái cần tre được cắm rất khéo vào dây lưng, uốn cong hình cánh cung từ phía sau ra trước mặt, đầu cần treo cái nồi nho nhỏ Người nấu cơm tay giữ cần, tay cầm đuốc đung đưa cho ánh lửa bập bùng Các đội vừa thổi cơm vừa đan xen nhau uốn lượn trên sân đình trong sự cổ
vũ nồng nhiệt của người xem hội Sau độ một giờ rưỡi, các nồi cơm được lần lượt trình trước cửa đình Mỗi nồi cơm được đánh một số để giữ bí mật Ban giám khảo chấm theo ba tiêu chuẩn: cơm trắng, dẻo và không có cháy Cuộc thi nào cũng hồi hộp và việc giật giải đã trở thành niềm tự hào khó có gì sánh nổi đối với dân làng
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 6)
Bài văn nhằm giới thiệu cho người đọc về thời gian, địa điểm, diễn biến của hội thổi cơm thi ở Đồng Vân và ý nghĩa của lễ hội này đối với đời sống tinh thần của người lao động vùng đồng bằng Bắc Bộ
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 7)
Văn bản giới thiệu hội thi thổi cơm ở Đồng Vân Diễn biến hội thi, các công đoạn diễn
ra và ý nghĩa hội thi với đời sống văn hóa
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 8)
Hằng năm, cứ đến rằm tháng giêng, làng Đồng Vân có mở hội thổi cơm thi Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân là sinh hoạt văn hóa cổ truyền được bắt nguồn từ các cuộc trẩy
Trang 37quân đánh giặc của người Việt cổ bên dòng sông Đáy xưa Thể hiện nét đẹp truyền thống văn hóa, lịch sử
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 9)
Cứ đến ngày rằm tháng Giêng, làng Đồng Vân lại mở hội thổi cơm thi Hội thổi cơm thi có rất nhiều nét độc đáo từ quy trình lấy lửa cho đến cách nấu Mỗi nồi cơm được đánh một số để giữ bí mật Ban giám khảo chấm theo ba tiêu chuẩn: cơm trắng, dẻo và không có cháy Cuộc thi nào cũng hồi hộp và việc giật giải đã trở thành niềm tự hào đặc sắc nổi bật
Tóm tắt tác phẩm Hội thi thổi cơm (mẫu 10)
Tóm tắt ý chính của văn bản Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân:
- Ở xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng có làng Đồng Vân bên dòng sông Đáy
- Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng Giêng, làng Đồng Vân thường mở hội rước nước, hát chèo và thổi cơm thi
- Hội thi ở đây có nhiều nét độc đáo về quy trình lấy lửa cũng như cách nấu, đậm màu sắc hài hước dân gian
- Cách thi:
+ Bắt đầu hội thi, trống chiêng điểm ba hồi, các đội hình dự thi xếp hàng trang nghiêm làm lễ dâng hương
+ Cuộc thi bắt đầu bằng việc lấy lửa trên ngọn cây chuối cao có bôi mỡ trơn
+ Khi lấy được nén hương xuống, ban tổ chức phát cho 3 que diêm châm vào hương cháy thành ngọn lửa
+ Vót mảnh tre già thành những chiếc đũa bông châm lửa, người thì tay giã thóc, giần sàng thành gạo
+ Các đội thổ cơm đan xen nhau uốn lượn trên sân đình trong sự cổ vũ nồng nhiệt + Sau khoảng một giờ rưỡi, các nồi cơm sẽ được đem chấm điểm
- Với những nét đặc sắc, hội thổi cơm thi Đồng Vân đã góp phần giữ gìn và phát huy những nét đẹp cổ truyền trong sinh hoạt văn hóa hiện đại hôm nay
Bố cục Hội thi thổi cơm
Trang 38Chia văn bản làm 4 đoạn:
- Đoạn 1: Từ đầu đến “được dùng để cúng thần”: Thi nấu cơm ở hội Thị Cấm (Từ Liêm – Hà Nội)
- Đoạn 2: Tiếp theo đến “là người thắng cuộc”: Thi nấu cơm ở hội làng Chuông (Hà Nội)
- Đoạn 3: Tiếp theo đến “ngon là người thắng cuộc”: Thi nấu cơm ở hội Từ Trọng (Hoằng Hóa, Thanh Hóa)
- Đoạn 4: Còn lại: Thi nấu cơm ở hội Hành Thiện (Nam Định)
Nội dung chính Hội thi thổi cơm
Văn bản kể lại đặc điểm, hình thức của một số hội thi nấu cơm trên cả nước: Thi nấu cơm ở hội Thị Cấm (Từ Liêm – Hà Nội), thi nấu cơm ở hội làng Chuông (Hà Nội), thi nấu cơm ở hội Từ Trọng (Hoằng Hóa, Thanh Hóa), thi nấu cơm ở hội Hành Thiện (Nam Định)
Xem thêm các bài Tóm tắt Ngữ văn lớp 7 sách Cánh diều hay, ngắn gọn khác:
Tóm tắt Ếch ngồi đáy giếng
Tóm tắt Đẽo cày giữa đường
Tóm tắt Tục ngữ về thiên nhiên, lao động và con người, xã hội 1
Tóm tắt Bụng và Răng, Miệng, Tay, Chân
Tóm tắt Tục ngữ về thiên nhiên, lao động và con người, xã hội 2
Trang 39Tóm tắt Mây và sóng - Ngữ văn lớp 7 Cánh diều Bài giảng Ngữ văn 7 Mây và sóng - Cánh diều Tóm tắt tác phẩm Mây và sóng (mẫu 1)
Bài thơ phác họa những trò chơi thú vị mà em bé tưởng tượng vui đùa với các bạn trên mây và các bạn trong sóng Thế những người duy nhất em bé muốn chơi đó là mẹ của mình Qua đây, ta thấy được tình cảm mẹ con sâu sắc, da diết
Tóm tắt tác phẩm Mây và sóng (mẫu 2)
Bài thơ “Mây và sóng” của Ta-go đã ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt, hàm chứa một ý nghĩa nhân văn cao cả: chỉ cần có mẹ, có con, chúng ta sẽ sáng tạo ra cả một thế giới, cả một vũ trụ, thế giới ấy vừa hiện hữu vừa huyền
bí mà chỉ có mẹ và con biết được
Trang 40Tóm tắt tác phẩm Mây và sóng (mẫu 4)
Thông qua cuộc trò chuyện của em bé với mẹ, bài thơ “Mây và sóng” của
Ta-go ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc đồng thời chứa đựng những triết lí
giản dị nhưng đúng đắn về hạnh phúc trong cuộc đời