Xuất phát từ các phân tích trên, tác giả đã lựa chọn nội dung ―Một số giải pháp về quản trị rủi ro để đảm bảo an ninh doanh nghiệp cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà‖ làm đề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
TẠ ĐĂNG HÙNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
ĐỂ ĐẢM BẢO AN NINH DOANH NGHIỆP CHO CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ XÂY DỰNG BẢO HÀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
TẠ ĐĂNG HÙNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
ĐỂ ĐẢM BẢO AN NINH DOANH NGHIỆP CHO CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG BẢO HÀ
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: 8900201.05QTD
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng bản thân tôi, không sao chép của người khác; các nguồn tài liệu trích dẫn, số liệu
sử dụng và nội dung luận văn trung thực Đồng thời cam kết rằng kết quả quá trình nghiên cứu của luận văn này chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng, Giảng viên Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nhiệt tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, anh/chị em cán bộ và nhân viên đang làm việc tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà đã chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do thời gian, phương pháp luận nghiên cứu và kinh nghiệm của bản thân tôi còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, góp ý của các Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để vận dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn công tác của tôi trong lĩnh vực kinh doanh sách
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN TRỊ RỦI RO NHẰM ĐẢM BẢO AN NINH DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VÀ THI CÔNG XÂY DỰNG 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.1.1 Rủi ro 13
1.1.2 Quản trị rủi ro 19
1.1.3 An ninh doanh nghiệp 20
1.2 Giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp thương mại và thi công xây dựng 25
1.3 Quy trình quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp thương mại và thi công xây dựng 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO NHẰM ĐẢM BẢO AN NINH DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG BẢO HÀ 32
2.1 Giới thiệu công ty BẢO HÀ 32
2.1.1 Thông tin về công ty BẢO HÀ 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 34
2.2 Thực trạng công tácquản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp tại công ty BẢO HÀ 34
Trang 62.2.1 Công tác đặt mục tiêu cho quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh
doanh nghiệp tại công ty BẢO HÀ 34
2.2.2 Công tác nhận diện rủi ro tại BẢO HÀ 35
2.2.3 Công tác đánh giá rủi ro tại BẢO HÀ 39
2.2.4 Công tác về phân loại rủi ro tại BẢO HÀ 45
2.2.5 Về công tác xử lý rủi ro tại BẢO HÀ 46
2.2.6 Công tác theo dõi và báo cáo rủi ro tại BẢO HÀ 46
2.3 Đánh giá công tác quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp thi công xây dựng tại công ty BẢO HÀ 47
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 47
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 47
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 48
CHƯƠNG 3 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO NHẰM ĐẢM BẢO AN NINH DOANH NGHIỆP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG BẢO HÀ 50
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà 50
3.1.1 Định hướng, mục tiêu của BẢO HÀ trong thời gian tới 50
3.1.2 Những yêu cầu của ban lãnh đạo đối với quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp 51
3.1.3 Phân tích SWOT của BẢO HÀ 52
3.2 Đề xuất những gải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp tại công ty BẢO HÀ 54
3.2.1 Giải pháp về đặt mục tiêu cho công tác quản trị rủi ro 54
3.2.2 Giải pháp về nhận diện rủi ro 54
3.2.3 Giải pháp về đánh giá rủi ro 57
3.2.4 Gải pháp về phân loại rủi ro 58
Trang 73.2.5 Giải pháp về xử lý rủi ro 58
3.2.6 Giải pháp về theo dõi và báo cáo công tác quản trị rủi ro 59
PHẦN KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Một số lĩnh vực an ninh doanh nghiệp trong an ninh phi truyền thống 22
Bảng 1.2 Quản trị rủi ro dựa trên ma trận của Goossens & Cooke 26
Bảng 1.3 Ma trận đánh giá rủi ro 27
Bảng 1.4 Cách thức phân hạng rủi ro theo Đại học Sydney 28
Bảng 1.5 Công cụ và căn cứ đưa ra giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp thương mại và thi công xây dựng 30
Bảng 1.6 Ma trận SWOT 31
Bảng 2.1 Thống kê phiếu khảo tại BẢO HÀ 35
Bảng 2.2 Nhận diện rủi ro tại BẢO HÀ 36
Bảng 2.3 Đánh giá khả năng xảy ra của các rủi ro hiện có tại BẢO HÀ 43
Bảng 2.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các rủi ro hiện có tại BẢO HÀ 44 Bảng 2.5 Phân loại và giá trị của rủi ro tại BẢO HÀ 45
Bảng 3.1 Ma trận SWOT của BẢO HÀ 52
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Quản trị rủi ro theo quy trình quản trị rủi ro liên tục 29 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của BẢO HÀ 34
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quản trị rủi ro là vấn đề ngày càng trở nên cấp thiết và đang trở thành một công cụ quan trọng nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh cho doanh nghiệp để quản trị doanh nghiệp hiệu quả, phát triển bền vững trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Hiện tại ở Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đang (FDI) thường có hệ thống quản trị rủi ro tốt hơn so với khu vực doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Cũng theo đánh giá dựa trên sơ đồ về mức độ trưởng thành trong công tác quản trị rủi ro của Deloitte (2016) cho thấy nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam đang ở mức
độ rời rạc, tương đương với mức độ 2 trong thang bảng 5 cấp độ Theo đó, việc xây dựng chiến lược và tổ chức công tác quản trị vẫn đang được thực hiện một cách rời rạc, thiếu tính đồng nhất ở các bộ phận, phòng ban trong doanh nghiệp và chưa có được một lộ trình, định hướng dài hạn và các phương thức hoạt động cụ thể hay một bộ phận, phòng chuyên trách quản trị rủi ro Điều này xuất phát từ nhận thức, mức độ coi trọng chưa thực sự đầy đủ của các nhà lãnh đạo công ty về quản trị rủi ro và vai trò của quản trị rủi ro trong phát triển kinh doanh và đảm bảo an ninh doanh nghiệp Riêng đối với lĩnh vực xây dựng, hiện nay, việc nhận dạng, đánh giá, kiểm soát nhằm hạn chế tác động xấu từ các ảnh hưởng tới dự án thi công xây dựng chưa được chú trọng, còn đối phó bị động Chính các tác động không ổn định từ môi trường xung quanh và sự điều chỉnh nội tại dự án dẫn đến phải thay đổi nhiều tiêu chí
cơ bản được dự tính ban đầu và làm thay đổi hiệu quả của dự án Đó chính là
sự tồn tại của rủi ro đối với quá trình thi công xây dựng Rủi ro xuất hiện khi tồn tại đồng thời hai yếu tố cơ bản: yếu tố gây rủi ro và đối tượng chịu tác động, ảnh hưởng Tình hình biến động về chính trị, kinh tế của thế giới đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế nước ta, làm cho giá cả một số
Trang 12loại vật tư xây dựng thay đổi ảnh hưởng đến kinh phí xây dựng các công trình Bên cạnh đó, trình độ nhân công, trình độ quản lý của nhân lực trong ngành xây dựng hiện nay cũng hạn chế, vẫn còn theo lề lối thủ công, không
có tác phong làm việc và quản lý chuyên nghiệp dẫn đến việc quản lý và kiểm soát còn nhiều bất cập và bị động Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại rủi ro đối với quá trình thi công xây dựng Các rủi ro thường gây ra những tổn thất đòi hỏi phải tốn kém những khoản chi phí để khắc phục Để đối phó với các rủi ro, các tổ chức phải thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro
Hiện nay đã có khá nhiều tài liệu trong nước và nước ngoài nghiên cứu về vấn
đề rủi ro Tuy nhiên các tài liệu này chỉ đề cập đến những rủi ro nói chung và các rủi ro trong một số ngành kinh doanh mang tính chất đặc biệt như kinh doanh tiền tệ, kinh doanh kim loại quý, kinh doanh bảo hiểm Trong lĩnh vực thi công xây dựng, về vấn đề rủi ro cho đến nay hầu như chưa có những nghiên cứu đầy đủ mang tính hệ thống để có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá và đặc biệt là đưa ra các phương pháp, biện pháp quản trị rủi ro, đảm bảo
an toàn
Bảo Hà là công ty xuất thân từ làm thương mại chuyên cho thuê các công cụ, giáo mác đến hiện tại phát triển thành công ty làm thêm lĩnh vực thi công xây dựng, nên Bảo Hà cũng không thể tránh khỏi những rủi ro như đã phân tích ở trên, ngoài ra Bảo Hà là đang trên đà phấn đấu thành một trong những doanh nghiệp có hoạt động thương mại và thương hiệu thi công hàng đầu trong lĩnh vực xây dựng Tuy nhiên, rủi ro luôn đồng hành và tỉ lệ thuận với quy mô hoạt động kinh doanh vì vậy doanh nghiệp đã gặp không ít rủi ro cũng như nguy cơ tiềm ẩn trong quá trình kinh doanh của mình
Trong thời gian qua công ty Bảo Hà đã thành công trong việc ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro kinh doanh hạn chế được rất nhiều hậu quả xảy ra đối với công ty như các rủi ro về thi công, mua bán nguyên vật liệu, nhân
Trang 13công, thanh toán Tuy nhiên bên cạnh đó công tác quản trị rủi ro còn một số điểm hạn chế như chưa được chú trọng cao, các rủi ro vấn xảy ra và việc ngăn ngừa giảm thiểu thường bị động, chi phí cao, một số rủi ro thường xuyên xảy
ra mà công ty chưa có biện pháp ngăn ngừa hiệu quả: Rủi ro do giá nguyên vật liệu không ổn định theo thời gian, rủi ro trong vận chuyển, an toàn lao động…
Như vậy, việc đánh giá và kiểm soát rủi ro của các dự án thi công xây dựng hiện nay còn mang tính chủ quan và chưa được xem xét một cách tổng thể, toàn diện trên nhiều mặt Sớm chủ động nhận dạng, phân tích, đánh giá,
có biện pháp kiểm soát và giảm thiểu tác động của rủi ro tới các dự án thi công xây dựng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam nhằm phân tích và đánh giá đúng hiệu quả của dự án mang lại, phục vụ công tác quản lý đầu tư và xây dựng là hết sức cần thiết
Xuất phát từ các phân tích trên, tác giả đã lựa chọn nội dung ―Một số
giải pháp về quản trị rủi ro để đảm bảo an ninh doanh nghiệp cho Công ty
Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà‖ làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
về quản trị rủi ro (Enterprise Risk Management – ERM) của các tổ chức, doanh nghiệp được thực hiện bởi rất nhiều tác giả trên thế giới
Trang 142.2 Nghiên cứu về rủi ro trong xây dựng
Jamal và cộng sự (1990) trong nghiên cứu về quản trị rủi ro theo hệ thống đối với lĩnh vực xây dựng đã khẳng định ―Rủi ro vốn có trong tất cả các
dự án xây dựng‖ Thông thường, các dự án xây dựng thường bị trễ về mặt thời gian, chưa đạt chất lượng và mục tiêu ngân sách Nên một mô hình hệ thống quản lý rủi ro xây dựng (construction risk management system - CRMS) được giới thiệu nhằm giúp các doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu xác định rủi ro của dự án để phân tích và quản lý chúng một cách có chu trình, hệ thống Mô hình CRMS là một sự thay thế hợp lý cho phương pháp truyền thống (thực hiện tự phát, theo kinh nghiệm) hiện đang được các nhà thầu sử dụng Kỹ thuật lập sơ đồ ảnh hưởng và mô phỏng Monte Carlo (mô phỏng tiến độ thi công) được sử dụng làm công cụ để phân tích, đánh giá rủi ro dự
án Các giải pháp quản lý rủi ro thay thế được đề xuất Các giải pháp này bao gồm: tránh rủi ro, duy trì rủi ro, chuyển giao rủi ro, giảm tổn thất và phòng ngừa rủi ro và bảo hiểm
Edwards và Bowen (1998 - xuất bản trong giai đoạn 1960-1997) đã nghiên cứu các tài liệu về xây dựng và quản lý rủi ro dự án để phân tích, xem xét và xác định các xu hướng, mối quan tâm trong nghiên cứu, thực hành
Phân tích này được sử dụng mục đích để xác định khoảng cách, sự không nhất quán trong việc hiểu, xử lý rủi ro trong xây dựng và dự án Các phát hiện cho thấy vấn đề đáng được quan tâm nhiều hơn là các loại rủi ro xây dựng mang tính chính trị, kinh tế, tài chính và văn hoá, cũng như những vấn đề liên quan đến trực tiếp ngành nghề là đảm bảo chất lượng, sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn Ngoài ra lĩnh vực quan trọng để điều tra đó là các khía cạnh thời gian của rủi ro và truyền thông rủi ro
Cooke and Williams (2004) đã xác định các loại rủi ro trong xây dựng gồm: rủi ro khách hàng, rủi ro nhà thầu, rủi ro an toàn và sức khỏe, rủi ro hỏa
Trang 15hoạn trong các dự án xây dựng Những rủi ro trong xây dựng thường lớn nhất
ở giai đoạn đầu khi dự án bắt đầu với những sự lựa chọn trong những khoản mục mua sắm Có rất nhiều khoản mục mua sắm mà các dự án xây dựng phải cân đối giữa khách hàng hoặc nhà thầu Ví dụ như việc thiết kế và xây dựng theo khách hàng sẽ đặt áp lực rủi ro lên phía khách hàng và vào giai đoạn thiết kế trong khi tài chính của nhà thầu hoặc PFI thì đặt áp lực rủi ro lên nhà thầu thông qua các giai đoạn thiết kế và xây dựng
Ở Trung Quốc, năm 2007, Wenzhe và cộng sự đã có nghiên cứu về quản trị rủi ro trong ngành công nghiệp xây dựng Nghiên cứu về thực tiễn quản lý rủi ro trong ngành xây dựng đã có sự tăng cao Tuy nhiên, hiện tại có
ít nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra, nghiên cứu một cách có hệ thống các khía cạnh tổng thể của quản lý rủi ro theo mỗi quan điểm của những người tham gia dự án khác nhau Nghiên cứu này tập trung vào báo cáo kết quả của một cuộc điều tra về tầm quan trọng của rủi ro dự án, tình trạng của
hệ thống quản lý rủi ro, áp dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro, và các rào cản đối với quản lý rủi ro, được các bên tham gia dự án nhận thấy tại Trung Quốc
Nghiên cứu các giải pháp quản lý rủi ro được thông qua trong Dự án Tam Hiệp cho thấy: Người tham gia dự án hầu hết thường quan tâm tới rủi ro dự
án Ngành công nghiệp đã chuyển từ chuyển giao rủi ro sang giảm rủi ro; Hệ thống quản lý rủi ro hiện tại là không đáp ứng đủ để quản lý rủi ro dự án; Và thiếu cơ chế quản lý rủi ro chung, thống nhất là rào cản chính để quản lý rủi
ro đầy đủ Các nghiên cứu trong tương lai bằng các cách tiếp cận khác nhau tạo điều kiện chia sẻ công bằng các phần thưởng thông qua quản lý rủi ro hiệu quả giữa các bên tham gia cần được tiến hành để cải tiến một cách có hệ thống việc quản lý rủi ro trong xây dựng Việc thiết lập một quy trình quản lý rủi ro truyền thông mở cần được xem xét sử dụng hiệu quả về kinh nghiệm, kiến thức và phán đoán cá nhân của các bên tham gia
Trang 16Shou và cộng sự (2010) khi nghiên cứu về khung quản trị rủi ro cho các
dự án xây dựng trong các quốc gia đang phát triển đã cho rằng, điều quan trọng là phải quản lý các rủi ro nhiều mặt liên quan đến các dự án xây dựng quốc tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển, không chỉ để đảm bảo công việc
mà còn để tạo ra lợi nhuận Nghiên cứu này nhằm xác định và đánh giá những rủi ro này và các biện pháp giảm nhẹ hiệu quả và xây dựng một khung quản
lý rủi ro mà các nhà đầu tư / nhà khai thác / nhà thầu quốc tế có thể áp dụng khi ký hợp đồng xây dựng tại các nước đang phát triển Một cuộc khảo sát đã được tiến hành và đã xác định 28 rủi ro quan trọng, được phân loại thành ba cấp độ (quốc gia, thị trường và dự án) được đánh giá mức độ và xếp hạng
Đối với mỗi rủi ro được xác định, các biện pháp giảm thiểu thực tế cũng đã được đề xuất và đánh giá Hầu như tất cả các biện pháp giảm nhẹ đã được người trả lời khảo sát nhận thấy có hiệu quả Một mô hình rủi ro, được gọi là
―Alien Eyes‖ cho thấy mức độ rủi ro và mối quan hệ ảnh hưởng giữa các rủi
ro cũng được đề xuất Dựa trên các phát hiện, một khung định tính về giảm nhẹ rủi ro được đề xuất, điều này sẽ có lợi cho việc quản lý rủi ro của dự án xây dựng ở các nước đang phát triển
Tình hình nghiên cứu trong nước, Lê Anh Dũng, Bùi Mạnh Hùng (2015), Quản lý rủi ro trong doanh nghiệp xây dựng: rủi ro ảnh hưởng không tốt tới quá trình quản lý dự án, hoặc bị thất bại hoàn toàn do các rủi ro không lường trước, chi phí tăng cao, chất lượng giảm sút Cuốn sách ―Quản lý rủi ro trong doanh nghiệp xây dựng‖ muốn giới thiệu những người quan tâm đến việc thành công của dự án
Nguyễn Liên Hương (2014) hệ thống hóa một số vấn đề lý thuyết về rủi
ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất kinh doanh xây dựng nói riêng, định lượng mưc độ rủi ro và an toàn trong sản xuất kinh doanh theo các giai đoạn quản lý sản xuất kinh doanh và theo các lĩnh
Trang 17vực hoạt động của doanh nghiệp xây dựng Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm 3 giai đoạn: giai đoạn lập chiến lược và kế hoạch, giai đoạn tham gia đấu thầu, giai đoạn thực hiện hợp đồng xây dựng sau khi trúng thầu
Nguyễn Thế Chung và Lê Văn Long (2005), nghiên cứu xác định rủi
ro hiệu quả tài chính một số dự án đầu tư sản xuất xi măng ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà QLDA xác định được hiệu quả trong việc xác suất thành công dự án; mức độ phát triển rủi ro của dự án; khả năng so sánh, lựa chọn các phương án tối ưu
Lê Văn Long, nhận thấy vấn đề cần thực hiện trong quá trình QLRR
dự án đầu tư xây dựng công trình, cụ thể là: nhận dạng đầy đủ các rủi ro diễn
ra trong vòng đời dự án Mỗi giai đoạn dự án sẽ có những rủi ro để lại hậu quả kéo dài qua các giai đoạn và những rủi ro chỉ xảy ra ở giai đoạn nhất định
Đinh Tuấn Hải (2006), cho rằng từ khi có luật doanh nghiệp các doanh nghiệp ngành xây dựng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Tác giả xác định và phân loại rủi ro tài chính đồng thời tác giả xây dựng các biện pháp phòng chống và hạn chế rủi ro thành công thì doanh nghiệp tìm được cách kiểm soát QLRR, tìm hiểu và áp dụng các biện pháp thích hợp để giảm thiểu rủi ro chính
Thân Thanh Sơn (2002), luận án tiến sĩ nghiên cứu rủi ro trong hình thức hợp tác công tư phát triển các dự án hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam Tác giả đã tổng hợp được 51 rủi ro cụ thể, đồng thời phân bổ rủi ro giữa Nhà nước và tư nhân tham gia dự án dựa trên quan điểm rủi ro nên được quản
lý bởi bên có khả năng QLRR đó tốt nhất
Nguyễn Văn Châu (2006), luận án tiến sĩ nghiên cứu rủi ro các dự án xây dựng công trình giao thông đường bộ ở Việt Nam Nghiên cứu hướng đến mục tiêu là tổng quan về rủi ro và QLRR trong các dự án xây dựng công trình
Trang 18giao thông đường bộ trên thế giới và Việt Nam phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo
Tổng quan tình hình nghiên cứu có thể dẫn tới một số kết luận:
- Ở Việt Nam và trên thế giới hiện tại có rất nhiều nghiên cứu về quản trị rủi ro đã có rất nhiều, nhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về rủi ro tài chính trong các ngân hàng Việc nghiên cứu về quản trị rủi ro trong ngành xây dựng (hiếm) chủ yếu mới là những nghiên cứu nước ngoài, nghiên cứu Việt Nam về vấn đề này còn rất ít và chưa được xét nhiều khía cạnh khác nhau
- Những nghiên cứu về quản trị rủi ro đa số được thực hiện ở cấp độ tác nghiệp, lý thuyết chứ ít thấy những nghiên cứu ở cấp độ giải pháp
- Trong các nghiên cứu trước đây việc nghiên cứu rủi ro và quản trị rủi
ro dưới góc độ đảm bảo an ninh doanh nghiệp còn chưa thấy được đề cập
3 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa vào nội dung nghiên cứu như trên, tác giả có đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Rủi ro doanh nghiệp thường gặp phải trong thương mại và thi công xây dựng ?
- Việc đo lường giá trị của rủi ro như thế nào ?
- Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà nên sử dụng những giả pháp quản trị rủi ro nào để đảm bảo an ninh cho doanh nghiệp
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: đưa ra một số giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan nghiên cứu về quản trị rủi ro, quản trị rủi ro trong thương mại và thi công xây dựng
Trang 19- Xác lập cơ cở lý luận về quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp trong thương mại và thi công xây dựng
- Xác định các căn cứ đưa ra giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo
an ninh DN cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà
- Đề xuất và lựa chọn giải pháp nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: nghiên cứu một số giải pháp quản trị rủi ro ở cấp độ
doanh nghiệp, ko nghiên cứu ở cấp độ ngành hay quốc gia Mục đích của các giải pháp quản trị rủi ro là nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp, các mục tiêu khác như thị phần, sự hài lòng của nhân viên/khách hàng, lợi nhuận, được coi
là mục tiêu tham chiếu cho mục tiêu chính là đảm bảo an ninh doanh nghiệp
Phạm vi không gian: tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà Phạm vi thời gian: nghiên cứu thực trạng của Bảo Hà trong giai đoạn
2015-2017, dữ liệu khảo sát vào năm 2018, giải pháp tới năm 2022 và định hướng tới năm 2030
6 Phương pháp nghiên cứu 6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trang 20(2) Các nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế về chủ đề này (3) Các tài liệu hội thảo, bài báo trong và ngoài nước
Việc nghiên cứu dữ liệu thứ cấp sẽ giúp tác giả xây dựng được mô hình nghiên cứu và phát triển được các giả thuyết nghiên cứu về quản trị rủi ro, rủi
ro trong doanh nghiệp đầu tư xây dựng, làm căn cứ cho việc kiểm định tại chương thực trạng và đề xuất các giải pháp
6.1.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp
a/ Bằng phiếu khảo sát
Để kiểm định các giả thuyết nêu ra từ mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ thiết kế và phát một phiếu hỏi định lượng tới các đối tượng khảo sát Phiếu khảo sát sẽ bao gồm các thông tin chung về nghiên cứu, các câu hỏi xoay quanh vấn đề giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp theo những căn cứ nghiên cứu đã đề xuất, và những nội dung thu thập thêm từ người trả lời
Thang đo: Thang Likert từ 1 đến 5 sẽ được sử dụng cho đa số các câu hỏi trong phiếu hỏi định lượng với 5 tương ứng với mức ―cao nhất‖ và 1 tương ứng với mức ―thấp nhất”
Đối tượng khảo sát: sẽ là ban lãnh, cán bộ nhân viên của BẢO HÀ Số
lượng phiếu dự kiến sẽ phát ra tầm 150 phiếu và thu về từ 70-100 phiếu với tỷ
lệ phiếu hợp lệ tầm 50-80 phiếu
Thiết kế phiếu điều tra: Phiếu điều tra được thiết kế cho phù hợp với
các mục tiêu của luận văn và khung lý thuyết một cách ngắn gọn, rõ ràng Qui trình thiết kế như sau:
- Dựa vào mục tiêu và khung lý thuyết nghiên cứu để xác định các thông tin cần: các nhân tố, biến số và các thước đo;
- Xác định loại câu hỏi;
- Xác định nội dung của từng câu hỏi;
Trang 21- Xác định từ ngữ sử dụng cho từng câu hỏi;
- Xác định tính logic cho các câu hỏi;
- Dự thảo phiếu điều tra;
- Tổ chức seminar tại bộ môn về bảng hỏi để chỉnh sửa;
- Nộp phiếu điều tra cho giảng viên hướng dẫn;
- Giảng viên hướng dẫn kiểm tra, chuẩn chỉnh lại và đồng ý cho triển khai điều tra;
Nội dung cơ bản của phiếu điều tra:
- Giới thiệu về đề tài: tên tác giả, tên đề tài, nội dung chính cần khảo sát
- Giải thích từ ngữ cần thiết cho điều tra: khái niệm chiến lược, xây dựng chiến lược; rủi ro, quản trị rủi ro, quản trị rủi ro xây dựng; an ninh, an ninh DN
- Đánh giá giá trị của từng loại rủi ro đang tồn tại trong BẢO HÀ theo
02 tiêu chí là tần suất xảy ra và mức độ ảnh hưởng
- Thông tin cá nhân của khách hàng: giới tính, tuổi, nghề nghiệp, thu nhập bình quân/tháng, tần suất sử dụng IB nói chung và IB của BIDV Thăng Long nói riêng
b/ Khảo sát thử và tư vấn chuyên gia Trước khi được phát rộng rãi tới mẫu khảo sát, tác giả sẽ phát phiếu tới
05 người trả lời phiếu, để đánh giá sơ bộ xem các câu hỏi đặt ra có dễ hiểu không, cần bổ sung hoặc loại bổ những câu hỏi nào Đồng thời tác giả cũng sẽ gửi phiếu hỏi cho các chuyên gia, giảng viên về quản trị để tham vấn và hoàn thiện phiếu khảo sát
6.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp định lượng: Tác giả sẽ sử dụng phần mềm excel để phân tích các dữ liệu đã thu thập được Mục đích của phân tích định lượng là xác định được giá trị của từng rủi ro hiện có trong công ty BẢO HÀ Từ đó, căn
Trang 22cứ vào mô hình lựa chọn chiến lược quản trị rủi ro để tác giả đưa ra đề xuất phù hợp cho công tác quản trị rủi ro của BẢO HÀ
Phương pháp định tính: song song với phương pháp định lượng, luận văn cũng sử dụng những phương pháp định tính như so sánh, phân tích, đánh giá nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của luận văn được chia thành 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp xây dựng
- Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà
- Chương 3: Giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh cho Công
ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bảo Hà
Trang 23CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN TRỊ RỦI RO NHẰM ĐẢM BẢO
AN NINH DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI VÀ THI CÔNG XÂY DỰNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Rủi ro
Đối với một tổ chức, doanh nghiệp thì rủi ro được hiểu là bất kỳ sự kiện hay hành động nào đó có thể tác động hoặc ngăn cản doanh nghiệp trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra (Hoàng Đình Phi, 2015) Trong các nghiên cứu
về rủi ro trong doanh nghiệp cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: Trường phái truyền thống rủi
ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn
có thể xảy ra cho con người Theo trường phái hiện đại, rủi ro (risk) là sự bất trắc
có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm
ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những
cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
Trong nghiên cứu của luận văn này, tác giả đưa ra quan điểm của riêng
mình “Rủi ro là những sự kiện ngoài mong đợi và thường gắn liền với tổn
Trang 24thất” Tuy nhiên, tác giả cũng có đồng ý rằng, con người, bằng nhận thức,
kinh nghiệm của mình có thể đo lường, đánh giá và kiểm soát từ đó biến rủi
ro thành cơ may cho doanh nghiệp
Cũng theo tác giả Hoàng Đình Phi (2015), rủi ro có thể phân thành những loại như sau:
(1) Phân loại theo lĩnh vực:
- Chính trị, luật pháp, chính sách, văn hóa, kinh tế, văn hóa, ngân hàng , kinh doanh, tài chính, …
- Các rủi ro do môi trường thiên nhiên…
(2) Phân loại theo cấp độ: Rủi ro mức độ từ thấp đến cao
- Có thể phân loại và thể hiện theo màu sắc: từ màu vàng đến màu cam
và màu đỏ Thang màu sử dụng: Trung bình (màu vàng); Cao (màu cam); Rất cao (màu đỏ)
- Có thể đánh giá theo thang điểm từ thấp đến cao: 1-10 (3) Phân loại theo các chức năng quản trị của doanh nghiệp hay tổ chức:
- Các rủi ro về , tài chính, chiến lược, nguồn nhân lực, marketing, bán hàng, công nghệ, sản xuất, …
- Các rủi ro từ nội bộ bên tronlg, từ môi trường bên ngoài, các rủi ro từ ngành công nghiệp, …
1.1.1.1 Rủi ro trong doanh nghiệp kinh doanh và thi công xây dựng
Các dấu hiệu rủi ro, đôi khi được gọi là ngòi nổ, thường là dấu hiệu gián tiếp của các rủi ro thực Trong lĩnh vực quản lý dự án, một sự bất trắc cao thường được xem là nguồn gốc phát sinh của rủi ro, đó là sự bất trắc vể tiến độ, về chi phí, về công nghệ Rủi ro có mặt trong hầu hết các dự án, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển Các dấu hiệu rủi ro chính gồm:
Những thay đổi mang tính ngẫu nhiên của kết quả hoạt động của các
bộ phận hoặc các hệ thống con;
Trang 25Dữ liệu không chính xác hoặc không đầy đủ và thiếu khả năng dự báo ở mức độ thoả mãn do chưa trải qua kinh nghiệm tương tự
Phân loại rủi ro
(1) Theo bản chất:
a) Các rủi ro tự nhiên: Trong dự án xây dựng các rủi ro tự nhiên thường liên quan đến việc lựa chọn địa điểm xây dựng công trình, địa điểm cung cấp cũng như tiêu thụ sản phẩm của dự án Các nhân tố về địa chất công trình, khí tượng thủy văn là phổ biến Các rủi ro tự nhiên đối với dự án xây dựng công trình xảy ra ở ba giai đoạn của quá trình xây dựng:
– Giai đoạn chuẩn bị xây dựng: các rủi ro thể hiện ở chỗ các số liệu điều tra, thăm dò, dự báo đối với dự án không chính xác;
– Giai đoạn thực hiện xây dựng: các rủi ro tự nhiên có thể làm hư hỏng công trình, gián đoạn quá trình tổ chức xây dựng;
– Giai đoạn kết thúc, đưa công trình vào sản xuất, sử dụng: các rủi ro
tự nhiên có thể làm hư hỏng công trình, thiết bị máy móc, đổ vỡ công trình đã xây dựng xong, làm gián đoạn các khâu cung cấp, vận hành và tiêu thụ sản phẩm, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm…
b) Các rủi ro về công nghệ và tổ chức – Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: các rủi ro này thể hiện ớ việc chọn sai phương án công nghệ và tố chức khi xây dựng công trình;
– Giai đoạn thực hiện đấu tư: các rủi ro này thể hiện như hỏng hóc máy móc xây dựng do độ bền và độ tin cậy của máy móc không đảm bảo, do
sử dụng máy móc và công nghệ thiếu an toàn, do phương án tổ chức xây dựng không hợp lý…;
– Giai đoạn kết thúc, dưa công trình vào sản xuất, sử dụng: đó là các
sự cố do công nghệ và các thiết bị máy móc cùa công trình thiếu độ vững chắc, an toàn cần thiết; do sai lầm của phương án tổ chức cung cấp, vận hành
và tiêu thụ
Trang 26c) Các rủi ro về tài chính, kinh tế ỏ cấp vĩ mô và vi mô: Các rủi ro về
tài chính, kinh tế ở cấp vi mô thường liên quan đến các rủi ro trong quan hệ cung cầu – giá cả của thị trường cũng như các rủi ro vể tài chính do doanh nghiệp xây dựng gây nên
Các rủi ro về tài chính, kinh tế ở cấp vĩ mô có liên quan đến sự thay đổi đường lối và chính sách của nhà nước về phía bất lợi cho dự án (như chính sách thuế, tín dụng, giá cả, xuất nhập khẩu…)
d) Các rủi ro về thông tin: Các rủi ro về thông tin thế hiện ớ tính
không đầy đủ, không chính xác của các thông tin, cũng như trình độ của con người đối với việc xử lý các thông tin này…
e) Các rủi ro về chính trị xã hội: Các rủi ro về chính trị có liên quan
đến các biến động về chính trị (thay đổi thể chế chính trị, đảo chính, chiến tranh…) có tác động tiêu cực đến dự án xây dựng Các rụi ro về xã hội là các
sự cố bất lợi cho dự án có liên quan đến mức thu nhập và mức tiêu thụ của dân chúng, dịch bệnh, đói nghèo, khan hiếm lao động, an ninh xã hội không đảm bảo…
(2) Theo tính chất chủ quan và khách quan
– Các rủi ro khách quan thuần tuý mà con người khó lường trước được Các rủi ro này thường liên quan đến thiên tai, các sự cố về công nghệ
và máy móc làm thiệt hại về vật chất Để khắc phục rủi ro này người ta thường mua bảo hiểm;
– Các rủi ro chủ quan có liên quan đến trình độ của người quyết định thi công Rủi ro loại này luôn đứng giữa cơ hội kiếm lời và nguy cơ tổn thất
Để khắc phục rủi ro này thường phải dùng biện pháp rào cản và dự phòng
Ngoài ra:
– Theo nơi phát sinh có rủi ro nội bộ dự án gây ra và rủi ro bên ngoài
dự án;
Trang 27– Theo tính hệ thống có rủi ro có tính chất hệ thống và rủi ro không
1.1.1.2 Các loại rủi ro thường có đối với những doanh nghiệp kinh doanh và thi công xây dựng:
- Rủi ro từ phía chủ đầu tư:
Khi đứng trên vai trò là nhà thầu thì rủi ro gặp từ phía chủ đầu tư là việc không thể tránh được Việc quyết định lựa chọn làm nhà thầu cho chủ đầu tư có năng lực, có nguồn tài chính ổn định, và có uy tín cũng như thương hiệu trên thị trường có thể tránh được tình trạng gây đọng vốn, hoặc thiếu vốn hay thậm chí không thể thanh toán được Mối quan hệ giữa nhà thầu và chủ đầu tư luôn được quản lý chặt chẽ bởi hợp đồng, trong hợp đồng phải quy định rõ các điều khoản tạm ứng, thanh toán, quyết toán Vì nếu chủ đầu tạm ứng quá ít hoặc chậm thanh toán dẫn đến thời gian thi công kéo dài hoặc do những nguy cơ khách quan, chính sách, pháp luật làm tăng chi phí thi công xây dựng, khi đó nếu không được trợ giá từ phía chủ đầu tư sẽ làm giảm lợi nhuận hoặc có thể gây lỗ cho doanh nghiệp nhà thầu Bên cạnh đó, bằng thực
tế làm việc và kinh nghiệm cũng như sự nhạy bén thị trường nhà thầu sẽ ưu tiên lựa chọn được những chủ đầu tư uy tín, có năng lực vốn tốt, để hạn chế
Trang 28rủi ro về thanh khoản, ép giá ở mức tối thiểu
Về phía các nhà thầu thi công, rủi ro cũng đến ở giai đoạn đấu thầu khi
có sự cạnh tranh làm giảm giá và thời gian thi công Tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể bị mất nếu nhà thầu không đáp ứng theo các điều khoản của hợp đồng
- Rủi ro từ phía nhân công:
Xây dựng là ngành nghề phụ thuộc rất lớn vào nhân công trực tiếp, việc duy trì một số lượng lớn công nhân chính quy ký hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp là không hợp lý vì vậy các doanh nghiệp xây dựng thường lựa chọn phương án thuê lại các tổ, đội nhân công theo từng thời điểm của dự án Tuy nhiên các tổ, đội này thường thiếu tính chuyên nghiệp và kỷ luật, các dịp nghỉ
lễ, Tết hay bị kéo dài làm chậm trễ tiến độ thi công dẫn đến nhà thầu bị đội chi phí và chịu phạt chậm tiến độ từ phía chủ đầu tư
- Rủi ro về phía nhà cung cấp vật liệu xây dựng:
Vào thời điểm cao điểm về xây dựng trong năm như mùa khô, dịp giáp Tết việc nhập vật liệu xây dựng thường gặp nhiều khó khăn do cung không đủ cầu, việc này cũng gây nên rủi ro cho các doanh nghiệp thi công xây dựng
Việc khan hiếm hàng có thể làm giảm chất lượng, tăng gía thành vật liệu dẫn đến tăng chi phí xây dựng, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
- Rủi ro về an toàn lao động:
Thống kê cho thấy trung bình hai người chết mỗi tuần trên các công trường xây dựng, nhưng 90% số người chết có thể tránh được (Cooke &
Williams, 2004) Rủi ro về sức khoẻ và an toàn được quản lý thông qua các quy định pháp luật trực tiếp và gián tiếp liên quan đến xây dựng (Quy chế Quản lý và thiết kế, 1994; Quy chế xây dựng - Y tế, An toàn và Phúc lợi - năm 1996) Một kế hoạch về vấn đề sức khoẻ và an toàn là cần thiết và là phương tiện truyền thông vô cùng quan trọng cho tất cả các dự án (trừ một số
Trang 29dự án rất nhỏ) Bộ luật Các quy tắc thực hiện được thông qua (HSE, 2001) đưa ra hướng dẫn liên quan đến nội dung của kế hoạch an toàn và sức khoẻ và giải thích trách nhiệm của những người có các nghĩa vụ theo quy định
- Rủi ro cháy nổ trong các dự án xây dựng:
Công trình xây dựng là nơi tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ cao, bởi tại đây luôn diễn ra các hoạt động hàn cắt, sử dụng điện công suất lớn, dự trữ các vật liệu dễ cháy trong khi đó người lao động lại thiếu kiến thức về an toàn cháy
nổ Nhiều vụ cháy nổ đáng tiếc đã xảy ra tại công trình xây dựng do không tuân thủ tốt các biện pháp an toàn cháy nổ Vì vậy để hạn chế rủi ro về cháy
nổ các Nhà thầu thi công xây dựng phải tăng cường công tác huấn luyện, tuyên truyền PCCC, thực hiện mua hợp đồng cung cấp bảo hiểm cho các công trình trong quá trình xây dựng bao gồm cả hỏa hoạn Một Bộ luật thực hành chung (theo Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 của Chính phủ), Phòng cháy chỏa trên các địa điểm xây dựng quy định rằng một Nhà thầu chính phải xây dựng một kế hoạch an toàn hỏa hoạn Tuân thủ quy định là điều khoản trong một số hợp đồng tiêu chuẩn được sử dụng trong ngành xây dựng
1.1.2 Quản trị rủi ro
Theo tác giả Hoàng Đình Phi (2015- tập bài giảng Quản trị rủi ro), Quản trị rủi ro của doanh nghiệp và tổ chức là các quy trình, mà ở đó những người có trách nhiệm (được phân công) tiến hành mọi hoạt động, sử dụng mọi công cụ có thể để nghiên cứu, dự báo, hoạch định, thực thi các chiến lược và các kế hoạch để phòng ngừa các rủi ro cũng như ứng phó với các khủng hoảng để đảm bảo duy trì được khả năng cạnh tranh bền vững hay chính là sự phát triển bền vững của tổ chức hay doanh nghiệp
Cùng với quản trị rủi ro, quản trị khủng hoảng của doanh nghiệp và tổ chức là các quy trình mà ở đó là người có trách nhiệm xây dựng, thực thi các
Trang 30kế hoạch để ứng phó với các khủng hoảng từ đó để đảm bảo doanh nghiệp có thể vượt qua được khủng hoảng
Bên cạnh đó Quản trị công ty (QTCT) là hệ thống các luật lệ, quy tắc, quy trình nội bộ và việc thực thi các nội dung đó nhằm định hướng, điều hành
và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công
ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ
đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn
1.1.3 An ninh doanh nghiệp
1.1.3.1 An ninh doanh nghiệp
Tác giả Hoàng Đình Phi (2015, tập bài giảng về An ninh doanh nghiệp)
đã xác định phương trình để tính toán an ninh doanh nghiệp:
An ninh doanh nghiệp
=
An toàn + Ổn định + Phát triển bền vững
– Rủi ro + Khủng hoảng + Chi phí khắc phục + n
Như vậy, có thể nhận thấy quản trị rủi ro góp phần cho công tác đảm bảo an ninh của doanh nghiệp Mô hình khung lý thuyết cơ bản của quản trị
an ninh phi truyền thống (Nguyễn Văn Hưởng, Hoàng Đình Phi, 2015)
Trang 31AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG CỦA 1 CHỦ THỂ
Công thức ngắn gọn S’S = (S1 + S2 + S3) – (C1 + C2 + C3)
(Nguồn: TT.TS Nguyễn Văn Hưởng & PGS.TS Hoàng Đình Phi, 2016.)
Những lĩnh vực an ninh doanh nghiệp cơ bản trong an ninh phi truyền thống được tác giả Hoàng Đình Phi (2015- tập bài giảng an ninh doanh nghiệp) chỉ ra dưới đây:
Trang 32Bảng 1.1 Một số lĩnh vực an ninh doanh nghiệp trong an ninh phi truyền thống
TT AN NINH
TÀI CHÍNH
AN NINH CÔNG NGHỆ
AN NINH CON NGƯỜI
AN NINH THƯƠNG HIỆU
1
Khái niệm
cơ bản
Khái niệm mới trong bối cảnh toàn hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu
Khái niệm mới trong bối cảnh toàn hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu
Khái niệm mới trong bối cảnh toàn hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu
Khái niệm mới trong bối cảnh toàn hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, biến đổi toàn cầu
2
Mục tiêu chính
Phòng tránh được các rủi
ro tài chính, đảm bảo nguồn lực tài chính để cạnh tranh bền vững
Phát triển, bảo
vệ, sử dụng hiệu quả các năng lực công nghệ để cạnh tranh bền vững
Phát triển,
sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững
Xây dựng,
sử dụng, bảo vệ, phát triển thương hiệu để cạnh tranh bền vững
3
Chủ thể chính
Các chủ doanh nghiệp
Các chủ doanh nghiệp
Các chủ doanh nghiệp
Các chủ doanh nghiệp
4
Công
cụ chính
Điều lệ công
ty Chiến lược tài
Chiến lược kinh doanh
và chiến lược công
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực
Chiến lược kinh doanh và chiến lược
Trang 33TT AN NINH
TÀI CHÍNH
AN NINH CÔNG NGHỆ
AN NINH CON NGƯỜI
AN NINH THƯƠNG HIỆU
Quy chế kiểm soát thu chi
Quy trình quản trị rủi
ro
nghệ Quy trình quản trị công nghệ Quy chế bảo mật công nghệ
Quy trình quản trị rủi
ro
Quy trình quản trị nhân lực Quy trình giám sát nhân lực
Quy trình quản trị rủi
ro
thương hiệu Đăng
ký bảo hộ Quy chế quản trị thương hiệu
Quy trình quản trị rủi
ro
5
Mối đe dọa chính
Mất cân đối thu chi Khủng hoảng KT-TC lớn nhỏ Tham nhũng nội bộ Lừa đảo tài chính,
KD
Năng lực công nghệ yếu kém Trộm cắp bí mật công nghệ Thiếu tiền và nhân lực cho R&D Công nghệ mới thay thế
Mất an toàn lao động Mâu thuẫn, xung đột, đình công, phá hoại, (M&A…) Đối thủ câu nhân tài Nội gián
Hàng giả, hàng nhái Cạnh tranh không lành mạnh Thương hiệu không có sức mạnh như 1 tài sản trí tuệ
Uy tín lãnh đạo DN giảm
Nguồn: Nguyễn Văn Hưởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi (2015)
1.1.3.2 Quản trị an ninh doanh nghiệp
Cũng theo tác giả Hoàng Đình Phi (2015), quản trị an ninh doanh
Trang 34nghiệp là các quy trình mà ở đó những người có trách nhiệm thường xuyên theo dõi các yếu tố liên quan, nghiên cứu, ứng dụng, xây dựng và thực thi các chiến lược và các kế hoạch quản trị rủi ro để đảm bảo DN luôn trong trạng thái an toàn, ổn định và phát triển bền vững Bên cạnh đó, hoạt động quản trị công ty cũng cần phải được thực hiện một cách có hiệu quả Muốn công ty thích ứng được với sự biến đổi không ngừng của môi trường bên trong, bên ngoài doanh nghiệp cần phải quản trị công ty một cách có hiệu quả
Doanh nghiệp, tổ chức có thể xây dựng được một hệ thống quản trị công ty có hiệu quả, tính ứng dụng cao thông qua việc xây dựng các chiến lược và kế hoạch kinh doanh có tính đến các rủi ro tiềm ẩn, thiết lập hệ thống nghiên cứu quản trị rủi ro, chính sách ứng phó với khủng hoảng phù hợp và
có thể chế hóa quy trình ra quyết định An ninh doanh nghiệp hay phát triển khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là mục tiêu cơ bản của quản trị công ty
Sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
Do vậy, quản trị công ty hay là quản trị an ninh doanh nghiệp cần đảm bảo các nguyên tắc của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế như sau:
1 Quyền và nghĩa vụ của các cổ đông
2 Lợi ích của các bên liên quan
3 Vai trò, trách nhiệm của hội đồng quản trị
Trang 354 Ứng xử có đạo đức và liêm chính
5 Công khai, minh bạch Tuân thủ tốt, đúng quy trình sẽ giúp giảm đáng kể các rủi ro, khủng hoảng từ nội bộ, từ đó giúp cho công tác đảm bảo an ninh doanh nghiệp được thực thi một cách có hiệu quả và tốt hơn
1.2 Phân hạng rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp thương mại
và thi công xây dựng
Vấn đề quản trị rủi ro DN vốn không nhận được sự quan tâm thích đáng của cả chủ sở hữu nhà nước lẫn bản thân doanh nghiệp Đây dường như cũng là ý thức chung của các DN Việt Nam, kể cả các DN trên sàn niêm yết
Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh và kinh doanh ngày càng phức tạp, phòng tránh và xử lý rủi ro ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết
Đối với DN, vấn đề quản trị rủi ro còn cấp thiết hơn vì các DN nhìn chung không quản trị rủi ro tốt bằng các DN tư nhân do không chịu sức ép phá sản,
bị thôn tính Thực tiễn hàng loạt DN vỡ nợ, kinh doanh thua lỗ, các dự án ngàn tỷ phải đắp chiếu là những bài học nhãn tiền đau lòng nhắc nhở chúng ta
về hậu quả của việc buông lỏng quản trị rủi ro tại DN
Những dự án thất bại, thua lỗ và gánh nặng nợ của DN hoàn toàn có thể phát hiện và phòng ngừa nếu có cơ chế quản trị rủi ro hiệu quả hơn Các DN cần áp dụng các thực tiễn tốt về quản trị rủi ro để áp dụng cho doanh nghiệp của mình như sau: Các DN nên học hỏi mô hình quản trị rủi ro theo 3 vòng bảo vệ để cải thiện hiệu quả về quản trị rủi ro
Đây là mô hình tiên tiến, được nhiều doanh nghiệp trên thế giới sử dụng trong hoạt động quản trị rủi ro, quản trị doanh nghiệp Với mô hình này, cấu trúc quản trị rủi ro xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Hội đồng thành viên, Ban giám đốc, các bộ phận chuyên môn trong công tác quản trị rủi ro
Cần tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động giám sát của cơ quan đại diện
Trang 36chủ sở hữu Khi phát hiện tình hình hoạt động của doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải cảnh báo kịp thời cho doanh nghiệp
Chỉ đạo doanh nghiệp có giải pháp kịp thời ngăn chặn, khắc phục các rủi ro, yếu kém; đưa ra các biện pháp chấn chỉnh và xử lý sai phạm;
Cơ quan đại diện chủ sở hữu chịu trách nhiệm cẩn trọng trong thẩm định, phê duyệt phương án huy động vốn thuộc thẩm quyền phê duyệt của cơ quan đại diện chủ sở hữu Phối hợp với cơ quan cấp bảo lãnh và các cơ quan nhà nước có liên quan để thẩm định, phê duyệt đề án vay vốn và tham gia vào tất cả các khâu của quá trình đàm phán thỏa thuận vay vốn nước ngoài có bảo lãnh Chính phủ
Đôn đốc, giám sát chặt chẽ doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với chủ nợ và bên có liên quan; theo dõi chặt chẽ tình hình tài chính của doanh nghiệp, đảm bảo các chỉ tiêu an toàn tài chính của doanh nghiệp trong giới hạn cho phép và cân đối được nguồn trả nợ; có cảnh báo kịp thời với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về rủi ro tài chính và khả năng trả
nợ của doanh nghiệp
Trường hợp phát sinh thiệt hại được xác định là thiếu cẩn trọng khi thẩm định, phê duyệt phương án huy động vốn, đàm phán thỏa thuận vay vốn hoặc không có biện pháp phòng ngừa, cảnh báo rủi ro, thì người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm theo quy định của pháp luật
Bảng 1.2 Quản trị rủi ro dựa trên ma trận của Goossens & Cooke
Trang 37Mức độ ảnh hưởng
Khả năng xảy ra
Cao Thấp
Cao
TRÁNH NÉ (Rủi ro hạng rất cao / Nguy kịch)
GIẢM NHẸ (Rủi ro hạng trung
bình)
Thấp CHUYỂN GIAO
(Rủi ro hạng cao)
CHẤP NHẬN (Rủi ro hạng thấp)
Nguồn: Goossens & Cooke (2001) và tác giả tổng hợp (2016)
Hạng của rủi ro là khái niệm thể hiện giá trị của rủi ro Giá trị rủi ro là kết quả một phương pháp định tính để đo lường rủi ro, những kỹ thuật đánh giá rủi ro thường được sử dụng gồm:
- Đánh giá Khả năng xảy ra của rủi ro (KN)
- Đánh giá Mức độ ảnh hướng của rủi ro (AH)
Có thể dùng thang 5 mức cho mỗi kỹ thuật đánh giá ở trên, ta được ma trận về đánh giá rủi ro như sau:
AH Không có
Nghiêm trọng
Nguồn: Tác giả tổng hợp (2014)
Kết quả đánh giá hay đo lường rủi ro ở trên được ước lượng bằng công thức tính giá trị rủi ro theo BSI (2004), Sydney (2015), APICS (2012) như sau:
Trang 38Giá trị rủi ro (Hạng của rủi ro) = Khả năng xảy ra * Mức độ ảnh hưởng
Mỗi tác giả sẽ có cách phân hạng rủi ro và mỗi loại rủi ro này đều phải đánh giá dựa trên nhiều yếu tố, tác giả lựa chọn cách thức phân hạng rủi ro theo nghiên cứu của Đại học Sydney (2015) để áp dụng trong luận văn này
Cụ thể cách thức này được trình bảy ở bảng sau:
Bảng 1.4 Cách thức phân hạng rủi ro theo Đại học Sydney
Nguồn: Sydney (2015)
Sydney (2015) phân hạng rủi ro thành 04 nhóm với tiêu chí ưu tiên hơn
về Khả năng xảy ra rủi ro Cụ thể:
Trang 39- Hạng trung bình: những rủi ro có giá trị > 4 và < 8 Nhưng nếu rủi ro
có giá trị bằng 8 mà Khả năng xảy ra chỉ ở mức 2 thì rủi ro này vẫn được xếp
ở nhóm trung bình
- Hạng cao: những rủi ro có giá trị giá trị ≥ 8 và < 15
- Hạng rất cao/nguy kịch: những rủi ro có giá trị ≥ 15
1.3 Quy trình quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp thương mại và thi công xây dựng
Để có giải pháp quản trị rủi ro, trước tiên cần xác định rõ được những bước trong quá trình quản trị rủi ro, theo tác giả Hoàng Đình Phi (2015 – bài giảng quản trị rủi ro) thì đây là một quá trình liên tục Hình dưới thể hiện quá trình này
Hình 1.1 Quản trị rủi ro theo quy trình quản trị rủi ro liên tục
Nguồn: Tác giả đề xuất từ mô hình của Hoàng Đình Phi (2015)
Theo quy trình này, việc quản trị rủi ro nhằm đảm bảo an ninh doanh nghiệp nhà thầu xây dựng sẽ bao gồm những bước như sau:
1 Đặt mục tiêu cần phải xác định rủi ro;
Trang 402 Xác định rủi ro trong doanh nghiệp nhà thầu xây dựng;
3 Đánh giá những rủi ro trong doanh nghiệp nhà thầu xây dựng thông qua 02 tiêu chí khả năng xảy ra và mức độ ảnh hưởng
4 Phân loại và xếp hạng rủi ro;
5 Xử lý rủi ro bằng việc đưa ra một số giải pháp dựa trên phân tích thực trạng rủi ro của công ty;
6 Theo dõi, đánh giá, báo cáo công tác quản trị rủi ro trong việc đảm bảo an ninh doanh nghiệp
Để thực hiện được quy trình này, doanh nghiệp nhà thầu xây dựng cần
có những công cụ đối, giải pháp với từng khâu cụ thể Những công cụ này được liệt kê như sau:
Bảng 1.5 Công cụ và căn cứ đưa ra giải pháp quản trị rủi ro nhằm đảm
bảo an ninh doanh nghiệp thương mại và thi công xây dựng
Bước Tên Công cụ, căn cứ
1 Đặt mục tiêu Mục tiêu, tầm nhìn, sứ mệnh của doanh nghiệp
BLĐ yêu cầu đối với quản trị rủi ro
Ma trận SWOT (Humphrey & Albert, 2005)
2 Nhận diện rủi ro Các rủi ro trong doanh nghiệp nhà thầu xây
dựng (Cooke & Williams, 2004)
An ninh doanh nghiệp trong an ninh phi truyền thống (Hoàng Đình Phi, 2015)
3 Đánh giá rủi ro Công thức tính giá trị của rủi ro theo BSI
(2004), Sydney (2015), APICS (2012)
4 Phân loại rủi ro Cách thức phân hạng rủi ro theo Đại học
Sydney (2015)
5 Xử lý rủi ro Chiến lược quản trị rủi ro dựa trên ma trận
Goossens & Cooke (2001) và tác giả tổng hợp (2016)
Mẫu biểu cho công tác quản trị rủi ro
6 Theo dõi – báo cáo Mẫu biểu theo dõi - báo cáo