1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam

348 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Sở Thích, Thái Độ Của Người Sản Xuất Và Người Tiêu Dùng Đối Với Phát Triển Nuôi Trồng Thủy Sản Tốt Trong Nuôi Tôm Tại Việt Nam
Tác giả Trương Ngọc Phong
Người hướng dẫn PGS.TS. Võ Tất Thắng, GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Kinh Tế
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 348
Dung lượng 6,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG NGỌC PHONG

PHÂN TÍCH SỞ THÍCH, THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI SẢN XUẤT

VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TỐT TRONG NUÔI TÔM TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Trang 2

TP Hồ Chí Minh – Năm 2022

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG NGỌC PHONG

PHÂN TÍCH SỞ THÍCH, THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI SẢN XUẤT

VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TỐT TRONG NUÔI TÔM TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 9310105

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VÕ TẤT THẮNG GS.TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI

Trang 3

TP Hồ Chí Minh – Năm 2022

LỜI CAM ĐOANTác giả cam đoan Luận án “Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại Việt Nam” do tác giả nghiên cứu và thực hiện dưới dự hướng dẫn của PGS.TS Võ

Tất Thắng và GS.TS Nguyễn Trọng Hoài Các kết quả nghiên cứu được báo cáo trungthực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các tài liệutham khảo đều có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ trong Luận án

Trước tiên, tôi xin dành lời tri ân và lòng biết ơn sâu sắc nhất đến hai Thầyhướng dẫn khoa học trực tiếp của tôi là PGS.TS Võ Tất Thắng và GS.TS NguyễnTrọng Hoài Quý Thầy đã cho tôi sự dạy bảo, và những lời khuyên quý giá cả về mặtkhoa học lẫn đạo lý làm người Những kiến thức và kinh nghiệm mà Quý Thầy truyềnthụ cho tôi trong quá trình tập sự nghiên cứu khoa học là tài sản quý giá đối với tôi.Tôi xin dành sự tri ân sâu sắc nhất đến Quý Thầy thông qua Luận án này

Tôi trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô trong Hội đồng góp ý đề cương nghiên cứu,Hội đồng chấm chuyên đề, Hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở, và Quý Thầy Côphản biện độc lập đã dành nhiều thời gian để đánh giá nghiên cứu này! Các ý kiếnphản biện sâu sắc của Quý Thầy Cô đã góp phần nâng cao chất lượng của luận án, vàcung cấp cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quí giá trong nghiên cứu

Tôi xin dành sự biết ơn chân thành nhất đến Quý Thầy Cô đã giảng dạy tôi trongthời gian tôi học nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh QuýThầy Cô cũng đã có những nhận xét, góp ý sâu sắc cho luận án từ khi còn là ý tưởngđến lúc hoàn thiện Những kiến thức mà Quý Thầy Cô đã truyền thụ rất hữu ích chonghiên cứu cũng như công việc của tôi sau này

Trang 4

Qua luận án này tôi cũng gửi lời cảm ơn đến những đồng nghiệp của tôi, nhữngngười đã gánh vác nhiều công việc để tôi được tập trung vào nghiên cứu và hoàn thànhLuận án Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đế Quý anh chị đang công tác tại cáccông ty sản xuất thủy sản và cán bộ khuyến nông địa phương đã dành nhiều thời giantham gia thảo luận và trả lời các câu hỏi của tôi trong suốt thời gian nghiên cứu.

Tôi trân trọng sự đóng góp của 450 người nuôi tôm tại Khánh Hòa, Ninh Thuận,Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Cà Mau; và 459 người tiêu dùng tại TP Hồ Chí Minh, NhaTrang, Đà Nẵng, và Hà Nôi đã dành thời gian và sự kiên nhẫn để hoàn thành cuộckhảo sát, giúp tôi có được dữ liệu tốt nhất để phục vụ nghiên cứu

Cuối cùng, tôi dành sự ghi ơn sâu sắc cho bố mẹ tôi, bố mẹ vợ tôi, và đặc biệt là

vợ và con trai tôi - những người đã phải hi sinh rất nhiều trong những năm tôi họcnghiên cứu sinh và thực hiện luận án này Họ đã luôn ở bên, động viên, và hỗ trợ tôi đểluận án này được hoàn thành, và kết quả nghiên cứu này là dành cho họ

AHP Analytical Hierarchy Pricess Quy trình phân tích thứ bậc

AIC Akaike Information Criterion

ASC Aquaculture Stewardship Council Hội đồng quản lý nuôi trồng thủy sản

BAP Best Aquaculture Practice Thực hành nuôi trồng thủy sản tốt nhấtBIC Bayesian Information Criterion

CAIC Consistent Akaike Information Criterion

CFI Comparative Fit Index

CFA Confirmatory Factor Analysis Phân tích nhân tố khẳng định

FAO Food and Agriculture Organization Tổ chức nông lương quốc tế

GAqPs Good Aquaculture Practices Thực hành nuôi trồng thủy sản tốtGIZ Deutsche Gesellschaft für Internationale

Zusammenarbeit

Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức

Trang 5

Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

IMTA Integrated Multi-TrophicAquaculture Nuôi trồng thủy sản đa năng tích hợp

MARD Ministry of Agriculture and Rural

Development

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

MIMIC Multiple Indicators Multiple Causes Mô hình Đa chỉ số, Đa nguyên nhân

TLI Tucker Lewis Index

VASEP Vietnam Association of Seafood

Exporters and Producers

Hiệp hội chế viến và xuất khẩu thủy sảnViệt Nam

Thủy sản bền vững rất ít được sản xuất và tiêu dùng trên thế giới Cho đến nay,chưa có nghiên cứu đánh giá đồng thời thái độ và sở thích đối với việc phát triển sảnxuất bền vững ở cả hai phía cung và cầu trong một chuỗi cung cấp thủy sản Mục tiêutổng quát của nghiên cứu là phân tích thái độ và sở thích của người sản xuất và ngườitiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt (GAqPs) trong nuôi tôm tại ViệtNam Nghiên cứu áp dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn và thực hiện các phân

Trang 6

tích thực nghiệm với sự kết hợp các mô hình Conditional Logit, Mixed Logit, LatentClass Model, và Multiple Indicator Multiple Cause trên hai bộ dữ liệu được thu thập từ

450 nông dân nuôi tôm, và 459 người tiêu dùng tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân thích và sẵn lòng trả để áp dụng GAqPsnhằm đạt được các lợi ích kinh tế như giảm rủi ro dịch bệnh, tăng năng suất và giá bán.Tuy nhiên, hơn một nửa nông dân trong nghiên cứu này không sẵn lòng đầu tư vàoGAqPs, ngay cả khi có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi Nông dân yêu cầu trợ cấpcho các việc xử lý nước thải và tuân thủ quy định sử dụng kháng sinh khi áp dụngGAqPs vào nuôi tôm Ngoài ra, thái độ tiêu cực đối với các tác động môi trường và xãhội từ nuôi tôm truyền thống làm tăng sở thích của nông dân đối với GAqPs và chínhsách phát triển GAqPs Người tiêu dùng Việt Nam thích và sẵn lòng trả cao hơn chotôm nuôi theo GAqPs so với tôm nuôi thông thường, tỷ lệ chênh lệch mức sẵn lòng trảgiữa tôm nuôi theo GAqPs và tôm thông thường dao động từ 39% đến 57% Sự ưathích và sẵn lòng trả cao hơn của người tiêu dùng được thúc đẩy bởi mối quan tâm đến

an toàn thực phẩm và kiến thức về các tiêu chuẩn GAqPs Người sản xuất và ngườitiêu dùng có chung có thái độ tiêu cực đối với các tác động môi trường từ hoạt độngnuôi tôm, nhưng người sản xuất thể hiện thái độ tiêu cực cao hơn Ngược lại, ngườitiêu dùng cho thấy họ lo lắng nhiều về mất an toàn thực phẩm hơn so với người sảnxuất Đáng chú ý, người sản xuất và người tiêu dùng đều có chung thái độ ủng hộ đốivới phát triển GAqPs trong nuôi tôm Các kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng pháttriển nuôi trồng thủy sản bền vững dựa trên sự ủng hộ từ thị trường bản địa, và conđường xây dựng ngành nuôi tôm bền vững là tiếp cận từ các tiêu chuẩn sản xuất thấpđến các tiêu chuẩn sản xuất cao hơn

Từ khóa: Sở thích, Thái độ, sẵn lòng trả, Nuôi trồng thủy sản tốt, Việt nam.

ABSTRCTS

ANALYSIS OF PREFERENCES AND ATTITUDES OF PRODUCERS ANDCONSUMERS TOWARDS THE DEVELOPMENT OF GOOD AQUACULTUREPRACTICES IN SHRIMP FARMING IN VIETNAM

There is little sustainable seafood produced and consumed around the world Todate, no study has evaluated attitudes and preferences towards sustainable productionand consumption development on both the supply and demand sides of a seafoodsupply chain This study's general objective is to analyze producers' and consumers'attitudes and preferences toward developing good aquaculture practices (GAqPs) inshrimp farming in Vietnam The study applies the choice experiment method with acombination of the Conditional Logit Model, Mixed Logit Model, Latent Class Model,

Trang 7

and Multiple Indicator Multiple Cause Models The two primary data were collectedfrom 450 small-scale shrimp farmers and 459 consumers in Vietnam.

The results showed that farmers preferred and were willing to pay to applyGAqPs to achieve economic benefits such as reduced disease risk and increased yieldand premium price However, more than half of the farmers in this study wereunwilling to invest in GAqPs, even with a soft loan policy Subsidies for wastewatertreatment and compliance with antibiotic use regulations are necessary to promotesmall-scale farmers applying GAqPs to shrimp farming In addition, negative attitudestowards environmental and social impacts of traditional shrimp farming increasefarmers' preferences for GAqPs and GAqPs development policy Vietnameseconsumers preferred and were willing to pay a premium price for GAqPs labeledfarmed shrimp than conventionally farmed shrimp, with the difference in willingness

to pay between GAqPs labeled shrimp and conventional shrimp ranging from 39% to57% Food safety concerns and consumers' knowledge of GAqPs standards droveconsumer preferences and willingness to pay a premium price for labeled shrimp.Producers and consumers shared a typically negative attitude towards theenvironmental impacts of shrimp farming, but producers showed a higher negativeattitude In contrast, consumers worried more about food safety loss than producers.Notably, producers and consumers shared a supportive attitude towards thedevelopment of GAqPs in shrimp farming The results show the potential forsustainable aquaculture development based on support from the local market The path

to building a sustainable shrimp farming industry is to approach step by step from low

to higher production standards.

Keywords: Preferences, Attitudes, Willingness to Pay, Good Aquaculture Practices, Vietnam.

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU1.1 Bối cảnh nghiên cứu

1.1.1 Bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu

Nuôi trồng thủy sản (NTTS) đã đóng góp vào một nửa sản lượng thủy sản toàncầu và duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình 4,5%/năm trong giai đoạn 2011-2018(FAO, 2020) Sản lượng nuôi trồng tăng đã giảm áp lực khai thác thủy sản tự nhiên,tạo điều bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Pradeepkiran, 2019) Đến nay, nuôi trồng thủy sản

đã được coi là một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều quốc gia (FAO, 2020;Sampantamit và cộng sự, 2020) Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh và thiếu quyhoạch đã gây ra những tác động tiêu cực lên môi trường và xã hội (FAO, 2020;Sampantamit và cộng sự, 2020) Tác động tiêu cực tập trung ở (1) tác động môi trườnggây ra bởi chất thải hữu cơ, hóa chất diệt khuẩn, lắng đọng trầm tích, du nhập sinh vật

Trang 8

ngoại lai gây mất cân bằng sinh thái, lây lan dịch bệnh (Alexander và cộng sự, 2016;Bjørkan và Eilertsen, 2020); và (2) tác động xã hội như mất an toàn thực phẩm (ATTP)

từ dư lượng thuốc kháng sinh, hóa chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản (Jacobs vàcộng sự, 2018), và xung đột của các bên liên quan trong sử dụng tài nguyên biển(Bjørkan và Eilertsen, 2020)

Để giảm thiểu các tác động tiêu cực, nhiều quốc gia đã thúc đẩy áp dụng dụngcác thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (Good Aquaculture Practices - GAqPs) bằngcách ban hành khung pháp lý và chính sách trợ cấp (European Commission, 2016;FAO, 2020; Sampantamit và cộng sự, 2020) GAqPs là các hoạt động, các quy trình,hoặc các cân nhắc trong nuôi trồng thủy sản nhằm tăng cường tối đa tính bền vữngmôi trường và kinh tế, chất lượng và an toàn thực phẩm, sức khỏe động vật, an toànlao động, và kiểm soát dịch bệnh tại các trang trại (Schwarz và cộng sự, 2017) Mặc dùvậy, không có nhiều trang trại áp dụng GAqPs, và chỉ khoảng 14,2% lượng thủy sảntiêu thụ trên toàn cầu đạt chứng nhận GAqPs (Potts và cộng sự, 2016), nhưng đa sốđược sản xuất bởi các trang trại qui mô lớn (European Commission, 2016) Trong khi,hầu hết trang trại nuôi trồng thủy sản có quy mô nhỏ và ở các nước đang phát triển(FAO, 2020) Mặc dù, nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ mang lại sinh kế cho hàng triệunông dân, cung cấp protein cho hàng tỷ người (FAO, 2020), và đảm bảo an ninh lươngthực cho người nghèo ở các nước đang phát triển (Pradeepkiran, 2019) Tuy nhiên, cáctrang trại này lại chính là các nguồn gây ô nhiễm môi trường (Na nakorn và cộng sự,2017) Vì vậy, việc thúc đẩy phát triển GAqPs là rất cần thiết

1.1.2 Bối cảnh ngành nuôi tôm Việt Nam

Việt Nam hiện có 30 tỉnh thành ven biển có hoạt động nuôi tôm, với diện tíchkhoảng 740 nghìn ha và sản lượng đạt 950 nghìn tấn (VASEP, 2020a) Theo kế hoạchđến năm 2025, cả nước sẽ có 750 nghìn ha nuôi tôm nước lợ, sản lượng đạt mức 1,1triệu tấn (MARD, 2018), và kim ngạch xuất khẩu tôm đạt mức 5,6 tỷ USD (VASEP,2021) Sản lượng tôm chỉ chiếm khoảng 11%, nhưng chiếm tới 44% tổng giá trị kimngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, cho thấy nuôi tôm mang lại giá trị kinh tế cao

và là ngành kinh tế quan trọng (xem Hình 1.1)

(a) Tỷ trọng sản lượng tôm (b) Tỷ trọng giá trị xuất khẩu tôm

Hình 1.1: Tỷ trọng ngành nuôi tôm nước lợ trong ngành thủy sản năm 2021

Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu của Tổng cục Thuỷ sản (2022) và VASEP (2021).

Trang 9

Việt Nam hiện là nước xuất khẩu tôm lớn thứ 3 thế giới sau Ecuador và Ấn Độ(FAO, 2019b), với thị phần lần lượt là 13,6%, 14,0%, và 15,7% (VASEP, 2021) Tômcủa Việt Nam hiện được xuất khẩu sang 100 quốc gia, với giá trị xuất khẩu đạt 3,9 tỷUSD vào năm 2021, và luôn ở mức xấp xỉ 4 tỷ USD trong giai đoạn 2016-2021 (xemHình 1.2) Thị trường xuất khẩu tôm chủ yếu của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,Trung Quốc, và Hàn Quốc, và Australia (VASEP, 2021)

Hình 1.2: Giá trị xuất khẩu mặt hàng tôm trong giai đoạn 2016-2021

Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Tổng cục Thuỷ sản (2021).

Nuôi tôm là một ví dụ về sự thành công của nuôi trồng thủy sản và đóng gópđáng kể vào sự phát triển kinh tế các vùng ven biển Việt Nam (Joffre và cộng sự,2019) Tuy nhiên, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học, và mất an toànthực phẩm đang là các vấn đề nổi cộm của ngành tôm (Chi và cộng sự, 2017; NguyễnVăn Công, 2017) Nước thải không qua xử lý là nguyên nhân gây ra ô nhiễm nguồnnước, phì dưỡng, và lắng đọng trầm tích (Nguyễn Văn Công, 2017; Trần Lê Tiểu Trúc

và cộng sự, 2018) (xem Phụ lục 1) Hoạt động nuôi tôm cũng làm suy giảm đa dạng

sinh học, giảm diện tích và chất lượng rừng ngập mặn, giảm số lượng và chất lượngthủy sản tự nhiên (Phạm Thu Thủy và cộng sự, 2019) Ô nhiễm môi trường, mất cânbằng sinh thái khiến dịch bệnh trong nuôi tôm xảy ra thường xuyên hơn, dẫn đến việcnông dân sử dụng nhiều kháng sinh và hóa chất hơn (Chi và cộng sự, 2017) Hiện cókhoảng 32 loại loại kháng sinh dùng trong nuôi tôm thịt và 39 loại dùng trong sản xuấttôm giống (Lê Hồng Phước và cộng sự, 2018) Nhiều bằng chứng cho thấy nông dân

đã sử dụng quá mức kháng sinh và hóa chất diệt khuẩn để trị bệnh và xử lý ao nuôi(Chi và cộng sự, 2017), gây ra mối lo ngại về an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng(Thuy và cộng sự, 2011; Eliot và cộng sự, 2016) và gặp khó khăn trong xuất khẩu(Hoàng Thị Thu Hiền và cộng sự, 2014; Tổng cục Thuỷ sản, 2021) Sử dụng quá mứckháng sinh và hóa chất khiến môi trường ngày càng ô nhiễm hơn (Anh và cộng sự,2010a; Nguyễn Văn Công, 2017), và các biện pháp nhằm giảm rủi ro mất mùa này lạichính là yếu tố làm cho thiệt hại trở nên trầm trọng hơn (Xuan và Sandorf 2020)

Để đạt được cả mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, Chính phủ ViệtNam đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy GAqPs (chi tiết xem Phụ lục 2) Nhìnchung, các chính sách tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau như tín dụng ưu đãi,xây dựng và cấp chứng nhận GAqPs, bảo vệ môi trường, qui định sử dụng kháng sinh

và hóa chất, phát triển sản xuất giống, và qui hoạch vùng nuôi tôm (Tam, 2015;

Trang 10

VASEP, 2020b) Trong đó, nổi bật là chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi có lãi suất thấphơn lãi suất thị trường từ 0,5% đến 1,5% so với vốn vay thương mại để nông dân đầu

tư nuôi tôm theo GAqPs (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2017) Tuy nhiên, không cónhiều nông dân Việt Nam áp dụng GAqPs vào sản xuất Hiện chỉ có khoảng 2.410 hađược cấp chứng nhận VietGap, chiếm khoảng 0,34% tổng diện tích nuôi tôm của cảnước (Tổng cục Thuỷ sản, 2021) Các chứng nhận quốc tế khác như GlobalGAP, ASC,Naturland cũng chỉ mới được cấp trên diện tích khoảng trên 9.000 ha, chiếm khoảng1,3% tổng diện tích nuôi tôm (VASEP, 2020a) Nông dân nuôi tôm ít áp dụng GAqPs

do hạn chế về năng lực tài chính và kỹ thuật, giá bán tôm thấp, hạ tầng thủy lợi thiếuđồng bộ (GIZ, 2020)

1.1.3 Bối cảnh thị trường tiêu thụ thủy sản tại Việt Nam

Ở góc độ thị trường, người tiêu dùng ngày càng quan tâm và sẵn sàng trả mộtmức giá cao hơn cho thủy sản được chứng nhận (Tsantiris và cộng sự, 2018), vì nhữngsản phẩm này đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm (Carlucci và cộng sự, 2015).Tuy nhiên, thủy sản được chứng nhận chủ yếu tiêu thụ ở Nhật Bản, Bắc Mỹ và Châu

Âu (Tsantiris và cộng sự, 2018), và chưa đầy 15% thủy sản tiêu thụ trên toàn cầu đãđược chứng nhận (Potts và cộng sự, 2016) Đa số thủy sản không có chứng nhận, đượcbày bán chủ yếu ở chợ truyền thống Do đó, người tiêu dùng khó đánh giá chất lượng

vì thông tin bất cân xứng (Verbeke và Roosen, 2009; Washington và Ababouch, 2011)

Việt Nam là 1 trong 10 nước tiêu thụ thủy sản lớn nhất toàn cầu, với mức trungbình là 36,3 kg/người/năm (FAO, 2019a), và có thể đạt mức 80,1 kg vào năm 2030

(Eliot và cộng sự, 2016) Trong đó, mức tiêu thụ tôm bình quân đạt khoảng 1,81kg/người/năm (năm 2014), và có thể đạt mức 2,27 kg/người/năm vào năm 2030 (Tổng

cụ Thủy sản, 2018) Theo dự báo, dân số Việt Nam sẽ đạt 103,9 triệu người vào năm

2030 thì nhu cầu tiêu dùng tôm trong nước sẽ đạt khoảng 235,5 nghìn tấn (Tổng cụcThuỷ sản, 2018) Bên cạnh đó, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam dự kiến

là 35 triệu khách mỗi năm sẽ tạo thêm giá trị xuất khẩu tại chỗ khoảng 700 triệu USD

(Tổng cục Thuỷ sản, 2021) Thị trường tôm nội địa cơ bản vẫn được cung cấp bởi cácnhà sản xuất nhỏ (Eliot và cộng sự, 2016) Mô hình phân phối phổ biến là tôm phải trảiqua một chuỗi gồm nhiều trung gian trước khi đến thị trường tiêu thụ Ví dụ, tôm cóthể được đổi chủ 5 lần từ trang trại đến người bán lẻ hoặc nhà máy chế biến (Tran vàcộng sự, 2013) Chuỗi trung gian phức tạp này gây khó khăn cho việc truy xuất nguồngốc và kiểm soát chất lượng khi tôm bị trộn lẫn từ nhiều trang trại khác nhau

Mối quan tâm an toàn thực phẩm (Food Safety Concerns) ngày càng lan rộng ởsau các vụ bê bối về mất an toàn thực phẩm (Ha và cộng sự, 2019; Nguyen-viet vàcộng sự, 2017) Truyền thông Việt Nam đã dành nhiều sự quan tâm về vấn đề an toàn

Trang 11

thực phẩm (Nguyen-viet và cộng sự, 2017), trong đó có hành vi bơm tạp chất, và sửdụng chất cấm để bảo quản tôm (VTV1, 2019a; 2019b) Nhận thức về rủi ro an toànthực phẩm ngày càng cao, cùng sự gia tăng thu nhập đã thúc đẩy nhu cầu tiêu dùngthực phẩm an toàn và chất lượng ở Việt Nam (Eliot và cộng sự, 2016; Ha và cộng sự,2019; Meng, 2020) Hình 1.3 mô tả mối quan tâm của người tiêu dùng Việt Nam đốivới vấn đề vi phạm an toàn thực phẩm và tìm kiếm tôm sạch.

Hình 1.3: Mối quan tâm đến ATTP và tìm kiếm tôm sạch của người tiêu dùng

Nguồn: Google Trends, tháng 4 năm 2022.

Tôm là thực phẩm phổ biến trong khẩu phần ăn của các gia đình Việt Nam Tuynhiên, hầu hết tôm là hàng tươi sống, không chứng nhận, không bao bì được bán trongchợ truyền thống, nên người tiêu dùng khó đánh giá chất lượng và tính an toàn Đểkhắc phục những vấn đề này, các chứng nhận GAqPs được xem là một giải pháp hiệuquả (Hinkes và Schulze-Ehlers, 2018) Hơn nữa, các tiêu chuẩn nghiêm ngặt củaGAqPs là một dấu hiệu cho phép người tiêu dùng đặt mối quan tâm bảo vệ môi trường

và an toàn thực phẩm của họ trong quyết định tiêu dùng (Washington và Ababouch,2011; Grunert và cộng sự, 2014) Mặc dù vậy, cho đến nay, vẫn rất ít tôm nuôi cóchứng nhận GAqPs được cung cấp trên thị trường Việt Nam

1.1.4 Bối cảnh lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm

Tầm quan trọng của nuôi trồng thủy sản bền vững đối với việc đảm bảo an ninhlương thực, cải thiện dinh dưỡng, giảm áp lực khai thác tài nguyên đã được ghi nhận(Pradeepkiran, 2019) Tuy nhiên, sự chấp nhận của nông dân, nhất là nông dân ở cácnước đang phát triển còn chậm và thấp (Bukchin và Kerret, 2018; Olum và cộng sự,2019) Vì vậy, phân tích hành vi áp dụng các qui trình sản xuất bền vững của nông dân

đã được thực hiện khá nhiều (Olum và cộng sự, 2019) Các nghiên cứu trước đâythường vận dụng (1) Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model -TAM), (2) Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB), và (3)

Lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptanceand Use of Technology - UTAUT) để phân tích hành vi của nông dân (Bukchin vàKerret, 2018) Tuy nhiên, điểm yếu của các lý thuyết này là không xuất phát từ lýthuyết kinh tế chuẩn tắc, chủ yếu nhấn mạnh vào các giá trị cá nhân (nhận thức, tháiđộ), và các yếu tố xã hội, địa lý hơn là các yếu tố kinh tế Trong khi rào cản về nhậnthức, và rào cản xã hội không giải thích toàn diện cho việc áp dụng qui trình sản xuấtmới của nông dân, vì ngay cả khi các rào cản này được dỡ bỏ, nhiều nông dân vẫnkhông áp dụng (Bukchin và Kerret, 2018)

Trang 12

Mặc dù không thể bỏ qua đóng góp của các lý thuyết này trong việc giải thíchhành vi, nhưng việc xem xét các yếu tố kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến quyết địnhcủa nông dân là cần thiết (Olum và cộng sự, 2019) Nông dân áp dụng một qui trìnhsản xuất mới đòi hỏi sự sẵn sàng và khả năng tài chính, nên mức sẵn lòng trả đượcxem là biểu hiện quan trọng của ý định áp dụng (Tey và Brindal, 2012), đặc biệt trongbối cảnh nông dân qui mô nhỏ có thể ưa thích một số khía cạnh của qui trình mớinhưng không đủ khả năng tài chính (Olum và cộng sự, 2019) Định giá kinh tế, tức là

đo lường mức sẵn lòng trả (Willingness To Pay - WTP) cho từng khía cạnh của quitrình sản xuất bền vững, cho phép xác định mức sẵn lòng trả đó là đủ hay vẫn cần một

sự hỗ trợ để nông dân áp dụng trong thực tiễn (Collier và Dercon, 2014; Olum và cộng

sự, 2019) Với những yêu cầu như vậy, phương pháp thí nghiệm lựa chọn (ChoiceExperiment – CE) dựa trên Lý thuyết lợi ích đa đặc tính (Multi-Attribute UtilityTheory) và Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên (Random Utility Theory – RUT) đang được

áp dụng phổ biến hơn vì cho phép ước tính WTP cho từng khía cạnh của qui trình sảnxuất (Olum và cộng sự, 2019)

Ở góc độ tiêu dùng, thủy sản là thực phẩm cung cấp protein quan trọng và antoàn nên được tiêu dùng phổ biến, nhất là ở các quốc gia phát triển Vì thế, nghiên cứu

sở thích tiêu dùng thủy sản được quan tâm rất sớm để xác định WTP cho một số thuộctính của thủy sản nhằm mục đích hỗ trợ cho các nhà sản xuất, người bán lẻ trong cácquyết định về sản phẩm và thị trường (Cantillo và cộng sự, 2020) Có nhiều phươngpháp để xác định WTP cho thủy sản như định giá ngẫu nhiên, qui trình phân tích thứbậc, phân tích nhân tố, và phân tích cụm Tuy nhiên, hầu hết các phương pháp nàykhông phù hợp với lý thuyết kinh tế chuẩn tắc (Cantillo và cộng sự, 2020) Nhiềunghiên cứu gần đây áp dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn để phân tích sở thích vàtính toán WTP cho thủy sản bền vững Khác với các phương pháp nêu trên, CE bắtnguồn từ một lý thuyết đã được kiểm nghiệm tốt về hành vi lựa chọn là RUT(Louviere và cộng sự, 2010) Hơn nữa, thí nghiệm lựa chọn được cho là tạo ra các kếtquả gần với hành vi của người tiêu dùng trên thị trường thực (Louviere và cộng sự,2000; Zander và Feucht, 2018; Ankamah-Yeboah và cộng sự, 2019)

Có nhiều dạng hàm lợi ích ngẫu nhiên để phân tích sở thích và ước tính WTP,trong đó phổ biến là Logit điều kiện (Conditional Logit Model - CLM), Logit đa thức(Multinomial Logit – MNL), Logit hỗn hợp (Mixed Logit – MXL), Phân lớp tiềm ẩn(Latent Class Model - LCM) (Olum và cộng sự, 2019; Cantillo và cộng sự, 2020).Trước đây, Logit điều kiện và Logit đa thức được áp dụng rất phổ biến, nhưng các môhình này giả định sở thích của người ra quyết định là đồng nhất, một giả định rất hạnchế so với bối cảnh thực tế rất đa dạng của ngành nuôi trồng thủy sản Các mô hìnhlinh hoạt hơn cho phép khám phá tính không đồng nhất trong sở thích đã được phát

Trang 13

triển như Logit hỗn hợp và Phân lớp tiềm ẩn (Train, 2003), và đang dần phổ biến hơnnhờ sự phát triển của các kỹ thuật ước lượng (Cantillo và cộng sự, 2020) Trong nhiềunghiên cứu ứng dụng mô hình Logit hỗn hợp, tham số của thuộc tính tiền tệ được ràngbuộc cố định với mục đích thuận tiện cho việc ước lượng và tính toán WTP (được gọi

là mô hình trong không gian sở thích - models in preferences space) (Train và Weeks,

2005) Giả định này là phi thực tế vì mọi người có thể có lợi ích khác nhau đối vớithuộc tính tiền tệ Do đó, việc cố định tham số tiền tệ có thể dẫn đến các ước lượng bịthiên lệch, và các kết luận về WTP không đáng tin cậy (Train và Weeks, 2005) Mộtphương pháp thay thế được Train và Weeks (2005) đề xuất là ước lượng trực tiếp cácgiá trị WTP từ mô hình Logit hỗn hợp, tránh việc chỉ định phân phối của tham số

thuộc tính tiền tệ một cách chủ quan bởi nhà nghiên cứu (được gọi là mô hình trong không gian sẵn lòng trả - models in WTP space).

Tuy nhiên, vì kỹ thuật ước lượng trong không gian WTP còn hạn chế (Lancsar vàcộng sự, 2017), nên các nghiên cứu trước đây (cả góc độ sản xuất và tiêu dùng) chỉ

ước lượng mô hình Logit hỗn hợp trong không gian sở thích (Olum và cộng sự, 2019;

Cantillo và cộng sự, 2020) Hơn nữa, đa số nghiên cứu thực nghiệm chỉ áp dụng mộtdạng hàm, mà phổ biến nhất là Logit hỗn hợp (Olum và cộng sự, 2019; Cantillo vàcộng sự, 2020) Chưa có nghiên cứu kết hợp các hàm lợi ích ngẫu nhiên nêu trên đểkhám phá tốt nhất sở thích của người trả lời, và cũng không có nghiên cứu nào ước

lượng mô hình Logit hỗn hợp trong cả không gian sở thích và không gian WTP, thực

hiện kiểm định và lựa chọn dạng hàm và không gian ước lượng phù hợp Trong khi,vấn đề thực nghiệm quan trọng là chọn được mô hình ước lượng phù hợp với dữ liệu,

từ đó có được các kết quả ước lượng phù hợp về mặt thống kê và có ý nghĩa về mặtthực tiễn Vì vậy, một qui trình phân tích, kiểm định các mô hình và không gian ướclượng, so sánh hiệu quả của các mô hình và lựa chọn mô hình phù hợp là điều quantrọng với người nghiên cứu

Cho đến nay, nghiên cứu phân tích đồng thời sở thích của người sản xuất vàngười tiêu dùng đối với phát triển sản xuất bền vững vẫn chưa nhận được nhiều sựquan tâm (Bergleiter và Meisch, 2015; Mogendi và cộng sự, 2016; Weitzman vàBailey, 2018), và khung lý thuyết kết hợp các giá trị và mối quan tâm của cả người sảnxuất và người tiêu dùng nhằm giải thích hành vi sản xuất tiêu dùng bền vững các ở sảnphẩm nông nghiệp cũng chưa được tổng hợp Các nghiên cứu hiện vẫn chỉ phân tích

sở thích và ước tính WTP hoặc của nông dân (Ortega và cộng sự, 2013; Ngoc và cộng

sự, 2016), hoặc của người tiêu dùng (Cantillo và cộng sự, 2020) đối với sản xuất vàtiêu dùng thủy sản bền vững Do đó, việc giải thích sự chấp nhận của các bên liên quanđối với sản xuất và tiêu dùng bền vững chưa đạt hiệu quả (Mogendi và cộng sự, 2016)

Trang 14

Vì vậy, cần có một khung phân tích kết hợp các giá trị của người sản xuất và ngườitiêu dùng nhằm giải thích hành vi sản xuất và tiêu dùng thủy sản bền vững.

1.2 Vấn đề nghiên cứu

Phát triển nuôi trồng thủy sản tốt (GAqPs) đòi hỏi phải có sự tham gia của cảngười sản xuất và người tiêu dùng trong chuỗi cung ứng sản phẩm (Bergleiter vàMeisch, 2015; Mogendi và cộng sự, 2016) Một mức giá cao hơn cho thủy sản đượcchứng nhận sẽ thúc đẩy nông dân đầu tư cho nuôi trồng thủy sản bền vững (Ortega

và cộng sự, 2013; Ngoc và cộng sự, 2016; Perdikaris và cộng sự, 2016; Kim và Lee,2018) Ngược lại, nếu giá bán của thủy sản bền vững không đủ cao thì nông dân có thểchuyển sang sản xuất các sản phẩm dành cho các thị trường ít khó tính hơn (Bergleiter

và Meisch, 2015) Luôn tồn tại sự không chắc chắn về một mức giá cao hơn cho cácnông sản được sản xuất bền vững vì người tiêu dùng có nhiều lựa chọn khác trên thịtrường với giá rẻ hơn, và họ cũng thường kỳ vọng sẽ mua được thực phẩm với giá thấp(Grover và Gruver, 2017) Khi người tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm có giá rẻ hơn, sảnxuất phải thân thiện với môi trường hơn, đó thực sự là một thử thách lớn đối với nôngdân (Ahnström và cộng sự, 2009), và đó cũng là rào cản trong việc áp dụng nôngnghiệp bền vững (Grover và Gruver, 2017) Tuy nhiên, đến nay, chưa có nghiên cứunào đánh giá tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững dựa trên sự sẵn lòngtrả để sản xuất và sẵn lòng trả để tiêu dùng của hai phía cung và cầu trong chuỗi cungcấp thủy sản Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu đánh giá đơn lẻ sở thích và ước tínhmức sẵn lòng trả của nông dân (Ortega và cộng sự, 2013; Ngoc và cộng sự, 2016) hoặc

của người tiêu dùng (Cantillo và cộng sự, 2020) Vậy, người sản xuất và người tiêu dùng bản địa có thể cùng nhau thúc đẩy phát triển nuôi tôm bền vững thông qua việc sẵn lòng đầu tư sản xuất và sẵn lòng trả giá cao hơn cho tôm nuôi theo GAqPs hay không?

Ở phía cung, nhiều nghiên cứu đã báo cáo rằng nông dân thích và sẵn lòng trả để

áo dụng GAqPs (Ortega và cộng sự, 2013; Ngoc và cộng sự, 2016), cũng như các thựchành nông nghiệp bền vững (Olum và cộng sự, 2019) Tuy nhiên, đa số các nghiên cứuđều tập trung khám phá sự ưa thích và ước tính WTP của nông dân đối với lợi ích kinh

tế của GAqPs (Ortega và cộng sự, 2013; Ngoc và cộng sự, 2016) Nghiên cứu xem xét

sở thích của nông dân đối với việc tuân thủ qui định của GAqPs như bảo vệ môitrường, đảm bảo an toàn thực phẩm vẫn chưa được thực hiện Trong khi nuôi trồngthủy sản sử dụng một lượng lớn tài nguyên đất và nước, và có tác động tiêu cực lên

môi trường và xã hội (Chi và cộng sự, 2017; Na nakorn và cộng sự, 2017) Vậy, nông dân nuôi tôm có thích và sẵn lòng trả để tuân thủ qui định bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm không?

Trang 15

Ở phía cầu, sở thích của người tiêu dùng đối với thủy sản bền vững đã đượcnghiên cứu rất sớm ở các nước phát triển (Carlucci và cộng sự, 2015; Cantillo và cộng

sự, 2020), nhưng vẫn chưa được thực hiện ở các nước đang phát triển (Tsantiris vàcộng sự, 2018) Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu phân tích tiềm năng thị trường thủysản bền vững (Kehoe và cộng sự, 2016), sự sẵn lòng trả để có thông tin về an toàn thựcphẩm (Danso và cộng sự, 2017; Zou, 2017), và hành vi của nhà sản để thúc đẩy xuấtkhẩu thủy sản (Tsantiris và cộng sự, 2018) Thiếu vắng các nghiên cứu ở lĩnh vực nàydẫn đến sự hiểu biết không đầy đủ về hành vi tiêu dùng thủy sản bền vững ở các nướcđang phát triển Hệ quả là việc triển khai các chính sách thúc đẩy tiêu dùng thủy sảnbền vững ở khu vực này gặp nhiều khó khăn (Tsantiris và cộng sự, 2018), trong khiđây là nơi sản xuất và tiêu thụ 2/3 lượng thủy sản toàn cầu (FAO, 2020) Việc tập trungvào các mặt hàng xuất khẩu giá trị cao cũng hạn chế tiềm năng cải thiện chất lượngthủy sản tiêu dùng tại chỗ và phúc lợi của người tiêu dùng trong nước, làm mất đi cơhội sửa đổi đời sống của các hộ sản xuất quy mô nhỏ và tính bền vững của ngành thủysản địa phương Bên cạnh đó, sự thiếu hiệu quả của các chính sách trợ cấp công chophát triển nuôi trồng thủy sản bền vững cho thấy cần phải xem xét các khuyến khích từthị trường nội địa như là một động lực để thúc đẩy nông dân áp dụng GAqPs (Xuan,2021) Cuối cùng, rất ít nghiên cứu đo lường mức sẵn lòng trả cho các chứng nhậnGAqPs, các nghiên cứu hiện tại chủ yếu phân tích sở thích tiêu dùng đối với các thuộctính của thủy sản (Carlucci và cộng sự, 2015; Cantillo và cộng sự, 2020) Trong khi,xác định được các mức sẵn lòng trả cho từng chứng nhận là thông tin hữu ích hỗ trợngười sản xuất trong việc ra quyết định lựa chọn phương pháp sản xuất và thị trường

(Bergleiter và Meisch, 2015) Vậy, người tiêu dùng ở thị trường đang phát triển có sẵn lòng trả cao hơn cho thủy sản được chứng nhận bền vững không, và chứng nhận nào được ưa thích nhất?

Mặc dù các nghiên cứu sở thích của nông dân và người tiêu dùng đối với các sảnphẩm nông nghiệp và thủy sản bền vững được thực hiện khá nhiều (Olum và cộng sự,2019; Cantillo và cộng sự, 2020) Tuy vậy, những nghiên cứu này áp dụng đơn lẻ mộttrong các dạng hàm như Logit điều kiện, Logit đa thức, Logit hỗn hợp, và Phân lớptiềm ẩn, phổ biến nhất là Logit hỗn hợp (Olum và cộng sự, 2019; Cantillo và cộng sự,2020) Chưa có nghiên cứu nào thực hiện ước lượng đồng thời các dạng hàm này vàkiểm định, đánh giá mức độ phù hợp với dữ liệu để lựa chọn dàng hàm tốt nhất cho

phân tích, và hỗ trợ tốt hơn cho mục tiêu phân tích sở thích Vậy, kết hợp ước lượng các các mô hình Logit điều kiện, Logit hỗn hợp, và Phân lớp tiềm ẩn có hiệu quả hơn trong việc phân tích sở thích hay không? Dạng hàm nào phù hợp hơn với dữ liệu từ thí nghiệm lựa chọn?

Trang 16

Bên cạnh đó, mô hình Logit hỗn hợp được áp dụng phổ biến để phân tích sựkhông đồng nhất trong sở thích trong các nghiên cứu thực nghiệm (Olum và cộng sự,2019; Cantillo và cộng sự, 2020) Tuy nhiên, Logit hỗn hợp chỉ được ước lượng trongkhông gian sở thích vốn được cho là có thể làm thiên lệch các kết quả ước lượng, vàphóng đại các giá trị WTP, một hệ quả của việc chỉ định tham số của thuộc tính tiền tệ

là cố định (Train và Weeks, 2005; Hole và Kolstad, 2012) Ước lượng mô hình Logithỗn hợp trong không gian WTP được cho là có thể tránh được việc chỉ định phân phốicủa các tham số ước lượng một cách chủ quan bởi người nghiên cứu, và hạn chế sựphóng đại các giá trị WTP (Train và Weeks, 2005; Hole và Kolstad, 2012; Lancsar vàcộng sự, 2017) Tuy nhiên, nghiên cứu ước lượng Logit hỗn hợp trong không gianWTP, hoặc ước lượng đồng thời mô hình Logit hỗn hợp trong không gian sở thích vàkhông gian WTP, sau đó kiểm định và lựa chọn không gian ước lượng phù hợp với dữliệu, và xác định các mức WTP xác thực vẫn chưa được thực hiện ở cả hai phía cung

và cầu Vậy, không gian sở thích hay không gian sẵn lòng trả phù hợp với dữ liệu hơn,

và cho các ước lượng WTP xác thực hơn?

Để phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, các mối quan tâm của xã hội về tácđộng tiêu cực lên môi trường và xã hội cần được giải quyết (Valenti và cộng sự, 2018;Ahmed và Thompson, 2019) Tuy nhiên, tác động của nuôi trồng thủy sản chủ yếuđược đánh giá thông qua các chỉ số hóa học và vật lý (Chi và cộng sự, 2017; NguyễnVăn Công, 2017) Một số nghiên cứu đánh giá thái độ của công chúng, nhưng tậptrung xác định các mối quan tâm khác nhau của các bên liên quan đến nuôi trồng thủysản (Alexander và cộng sự, 2016; Hynes và cộng sự, 2017; Jacobs và cộng sự, 2018;Bjørkan và Eilertsen, 2020) Nghiên cứu đánh thái độ các bên liên quan đối với cùngmột vấn đề là các tác động tiêu cực từ nuôi trồng thủy sản truyền thống, và phát triểnnuôi trồng thủy sản bền vững vẫn chưa được thực hiện, nhất là thái độ của người sảnxuất và người tiêu dùng (Hynes và cộng sự, 2017) Kết hợp phân tích các giá trị phitiền tệ như kiến thức và thái độ của cả người sản xuất và người tiêu dùng giúp xác địnhmức độ quan tâm, sự tương đồng và khác biệt về quan điểm của hai phía cung và cầutrong cùng một vấn đề Kết quả phân tích này rất hữu ích cho việc xây dựng chínhsách truyền thông xã hội nhằm gia tăng sự ủng hộ phát triển GAqPs (Valenti và cộng

sự, 2018; Ahmed và Thompson, 2019) Vậy, thái độ đối với các tác động tiêu cực lên môi trường và xã hội từ nuôi tôm truyền thống của người sản xuất và người tiêu dùng

là tương đồng hay khác biệt? Người sản xuất và người tiêu dùng có chung thái độ ủng

hộ phát triển GAqPs trong nuôi tôm hay không?

Cuối cùng, trong khi các đặc điểm cá nhân, đặc điểm kinh tế xã hội được phân tíchtrong hầu hết các nghiên cứu, đạt được sự thống nhất cả về kết quả phân tích và cách

thức đo lường, thì ảnh hưởng thái độ vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở cả phía cung

Trang 17

(Liu và cộng sự, 2018; Olum và cộng sự, 2019), và phía cầu (Carlucci và cộng sự,2015; Cantillo và cộng sự, 2020; Smetana và cộng sự, 2021) Thái độ vẫn được xem làyếu tố ảnh hưởng quan trọng đến ý định hành vi và hành vi (Ajzen và Cote, 2008),trong đó có hành vi tiêu dùng thủy sản bền vững (Hinkes và Schulze-Ehlers, 2018;Zander và Feucht, 2018) và hành vi sản xuất bền vững của nông dân (Tey và Brindal,2012) Một vài nghiên cứu đã khám phá ảnh hưởng của thái độ lên sở thích, nhưngđánh giá thái độ đối với các vấn đề môi trường chung, hoặc thái độ đối với sản xuấtthực phẩm (Hinkes và Schulze-Ehlers, 2018; Yi, 2019), chứ không đánh giá thái độ đốivới các vấn đề liên quan trực tiếp đến nuôi trồng thủy sản Hiểu biết hơn về mối quan

hệ giữa thái độ và sở thích của cả người sản xuất và người tiêu dùng sẽ hữu ích trongviệc giải thích hành vi sản xuất và tiêu dùng thủy sản bền vững (Bergleiter và Meisch,

2015) Ngoài ra, tích hợp thái độ vào mô hình đánh giá có thể cải thiện khả năng dự

báo của mô hình, đặc biệt trong các trường hợp định giá sẵn lòng trả cho hàng hóa phi

thị trường (Luzar và Cossé, 1998; Greiner, 2015) Vậy, thái độ đối với các tác động tiêu cực lên môi trường và xã hội từ nuôi tôm truyền thống có làm gia tăng sở thích của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi tôm theo GAqPs hay không?

Nông dân và người tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc hình thành chuỗicung ứng thủy sản bền vững (Bergleiter và Meisch, 2015) Vì vậy, khám phá đồng thời

sở thích, thái độ, và mối quan hệ giữa thái độ và sở thích rất cần thiết trong việc thiếtlập các tiêu chuẩn sản xuất cho nông dân, và cũng là phương thức truyền đạt giá trị củasản phẩm được chứng nhận bền vững đến người tiêu dùng một cách đáng tin cậy vàthuyết phục (Bergleiter và Meisch, 2015; Mogendi và cộng sự, 2016) Từ các xuhướng nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu tiềm năng được đề cập thông qua các

câu hỏi nghiên cứu trên đây, nghiên cứu “Phân tích sở thích và thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển GAqPs trong nuôi tôm tại Việt Nam”

là cần thiết và hữu ích Kết quả nghiên cứu là một nỗ lực để khỏa lấp các khoảng trống

đã đề cập ở trên, và cũng là tài liệu hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong việcxây dựng các chiến lược thúc đẩy phát triển bền vững ngành nuôi tôm ở Việt Nam.Việt Nam là một nghiên cứu điển hình thú vị cho thị trường sản xuất và tiêu dùngthủy sản vì là quốc gia nằm trong nhóm 10 nước có mức tiêu thụ thủy sản bình quânđầu người cao nhất thế giới (36,3 kg/người/năm) (FAO, 2019a), và có thể tăng lên mức80,1 kg vào năm 2030 (Eliot và cộng sự, 2016) Trong đó, mức tiêu thụ tôm bình quânđầu người là 1,81 kg/người/năm (năm 2014), và có thể đạt mức 2,27 kg/người/nămvào năm 2030 (Tổng cục Thủy sản, 2018) Việt Nam cũng là nhà cung cấp thủy sảnlớn thứ tư thế giới, và lớn thứ 3 nếu tính riêng mặt hàng tôm (FAO, 2019b, 2020) ViệtNam đang thực hiện nhiều chính sách để thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững

Trang 18

(Thong và cộng sự, 2017), trong đó có ngành nuôi trồng thủy sản (SBV, 2017; MARD,2018).

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Xuất phát từ bối cảnh và vấn đề nghiên cứu đã trình bày tại Mục 1.1 và Mục 1.2,nghiên cứu này có mục tiêu tổng quát là đánh giá tiềm năng phát triển GAqPs trongnuôi tôm tại Việt Nam dựa trên thái độ, sở thích và sự sẵn lòng chi trả của người sảnxuất và người tiêu dùng Để đạt được mục tiêu tổng quát này, nghiên cứu này phải đạtđược các mục tiêu cụ thể sau

Mục tiêu 1: Xây dựng khung phân tích kết hợp thái độ và sở thích của người sản xuất và người tiêu dùng đánh giá tiềm năng phát triển GAqPs trong nuôi tôm

Phát triển GAqPs là một quá trình đòi hỏi sự tham gia của các bên liên quan, nhất

là nông dân và người tiêu dùng (Bergleiter and Meisch, 2015; Weitzman và Bailey,2018) Vì vậy, cần phải xem xét đến mối quan tâm và các giá trị của cả phía cung vàphí cầu (Mogendi và cộng sự, 2016) Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có khung lý thuyếtphân tích kết hợp các giá trị và mối quan tâm của cả phía cung và phía cầu để đánh giátiềm năng phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững nói chung và nuôi trồng thủy sảnbền vững nói riêng Sự khiếm khuyết này có thể làm giảm hiệu quả giải thích sự chấpnhận sản xuất và tiêu dùng bền vững trong các nghiên cứu thực nghiệm (Mogendi vàcộng sự, 2016) Trong mục tiêu này, dựa trên kết quả tổng quan lý thuyết và các kếtquả nghiên cứu thực nghiệm, Luận án sẽ xây dựng một khung phân tích kết hợp sởthích và thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng nhằm đánh giá tiềm năng pháttriển nuôi tôm theo GAqPs Sau đó, khung phân tích được kiểm nghiệm bằng các phântích thực nghiệm đồng thời thái độ và sở thích của nông dân nuôi tôm và người tiêudùng

Mục tiêu 2: Phân tích sở thích và ước tính WTP của nông dân đối với việc tuân thủ qui định bảo vệ môi trường và an toàn thực phẩm trong nuôi tôm theo GAqPs.

Các nghiên cứu trước đây báo cáo rằng nông dân thích và sẵn lòng trả để áp dụngGAqPs Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chủ yếu đánh giá sở thích đối với các lợi íchkinh tế mà GAqPs mang lại như giá bán cao hơn, gia tăng năng suất và vụ mùa(Ortega và cộng sự, 2013; Ngoc và cộng sự, 2016) Chưa có nghiên cứu nào phân tích

sở thích của nông dân đối với việc tuân thủ các qui định bảo vệ môi trường và đảm bảo

an toàn thực phẩm, trong khi đây là những qui định bắt buộc của GAqPs Vì vậy, trongMục tiêu 2, nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn và các ước lượngcác mô hình lợi ích ngẫu nhiên để khám phá sở thích và ước tính WTP của nông dâncho việc chấp hành qui định bảo vệ môi trường, qui định đảm bảo an toàn thực phẩmtrong phát triển nuôi tôm theo GAqPs Các mức WTP của nông dân cho các lợi ích

Trang 19

kinh tế (giá bán cao hơn, năng suất ổn định hơn, và giảm rủi ro) cũng được ước tính đểđánh giá tiềm năng của GAqPs trong nghề nuôi tôm qui mô nhỏ Kết quả phân tích sẽ

trả lời cho câu hỏi: Nông dân nuôi tôm có thích và sẵn lòng trả để tuân thủ qui định bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm không?

Mục tiêu 3: Phân tích sở thích và ước tính WTP của người tiêu dùng đối với tôm nuôi được chứng nhận GAqPs.

Cho đến nay, nghiên cứu về sở thích và sự sẵn lòng trả cho thủy sản bền vữngvẫn chưa được thực hiện ở các nước đang phát triển (Tsantiris và cộng sự, 2018), trongkhi đây là nơi sản xuất và tiêu thụ 2/3 lượng thủy sản toàn cầu (FAO, 2020) Bên cạnh

đó, rất ít nghiên cứu đo lường mức sẵn lòng trả cho các chứng nhận GAqPs (Carlucci

và cộng sự, 2015; Cantillo và cộng sự, 2020) Trong khi, xác định được mức sẵn lòngtrả cho từng chứng nhận rất hữu ích đối với người sản xuất trong việc ra quyết định lựachọn phương pháp sản xuất và thị trường (Bergleiter và Meisch, 2015) Vì vậy, trongMục tiêu 3, nghiên cứu áp dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn dán nhãn (labelledchoice experiment) để đánh giá sở thích và ước lượng mức sẵn lòng trả của người tiêudùng cho các loại tôm nuôi được chứng nhận GAqPs (VietGap, Global G.A.P, ASC, vàNaturland) Trong đó, các phương án lựa chọn là các logo của các tiêu chuẩn GAqPsđang được áp dụng trong nghề nuôi tôm tại Việt Nam Kết quả phân tích sẽ trả lời cho

câu hỏi: Người tiêu dùng ở thị trường đang phát triển có sẵn lòng trả cao hơn cho thủy sản được chứng nhận bền vững không, và chứng nhận nào được ưa thích nhất?

Mục tiêu 4: Phân tích ảnh hưởng của thái độ đối với các tác động tiêu cực từ nuôi tôm truyền thống lên sở thích của nông dân và người tiêu dùng đối với phát triển GAqPs trong nuôi tôm.

Ảnh hưởng của thái độ đối với các tác động môi trường và xã hội lên sở thích đốivới các thực hành sản xuất bền vững vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ ở cả phía cung(Liu và cộng sự, 2018; Olum và cộng sự, 2019), và phía cầu (Cantillo và cộng sự,2020; Smetana và cộng sự, 2021) Vì vậy, trong Mục tiêu 4, nghiên cứu sẽ áp dụngphương pháp biến tương tác để kiểm tra ảnh hưởng của thái độ lên sở thích của ngườisản xuất và người tiêu dùng đối với nuôi tôm theo GAqPs Khác với các nghiên cứutrước xem xét ảnh hưởng của thái độ đối với các vấn đề môi trường chung hoặc thái độđối với các động sản xuất thực phẩm (Hinkes và Schulze-Ehlers, 2018), nghiên cứunày đo lường và xem xét ảnh hưởng của thái độ liên quan trực tiếp đên các tác độngtiêu cực lên môi trường và xã hội của hoạt động nuôi tôm truyền thống Kết quả

nghiên cứu sẽ trả lời cho câu hỏi: Thái độ đối với các tác động tiêu cực lên môi trường

và xã hội từ nuôi tôm truyền thống có làm gia tăng sở thích của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi tôm theo GAqPs hay không?

Trang 20

Mục tiêu 5: Ước lượng các mô hình lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng theo các dạng hàng Logit điều kiện, Logit hỗn hợp, Phân lớp lớp tiềm ẩn, so sánh

và lựa chọn mô hình phù hợp nhất với dữ liệu nghiên cứu.

Cho đến nay, các nghiên cứu sở thích của người sản xuất và người tiêu dùngthường áp dụng đơn lẻ một trong các mô hình nêu trên Logit điều kiện (CLM), Logit

đa thức (MNL), Logit hỗn hợp (MXL), Phân lớp tiềm ẩn (LCM), trong đó phổ biến làLogit hỗn hợp (Olum và cộng sự, 2019; Cantillo và cộng sự, 2020) Chưa có nghiêncứu nào thực hiện ước lượng đồng thời các dạng hàm này và kiểm định, đánh giá mức

độ phù hợp với dữ liệu để lựa chọn dàng hàm tốt nhất cho phân tích, và hỗ trợ tốt hơncho mục tiêu phân tích sở thích Vì vậy, trong Mục tiêu 5, nghiên cứu thực hiện ướclượng mô hình lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng với các dạng hàm Logitđiều kiện, Logit đa thức, Logit hỗn hợp, Phân lớp tiềm ẩn, sau đó thực hiện các kiểm

định Likelihood ratio test cùng với các chỉ số mức độ phù hợp của mô hình (model fit

statistics) để so sánh và lựa chọn mô hình phù hợp nhất với dữ liệu Kết quả phân tích

sẽ trả lời cho câu hỏi: Kết hợp ước lượng các các mô hình Logit điều kiện, Logit đa thức, Logit hỗn hợp, Phân lớp tiềm ẩn, có hiệu quả hơn trong việc phân tích sở thích hay không? Dạng hàm nào phù hợp hơn với dữ liệu từ thí nghiệm lựa chọn?

Mục tiêu 6: Ước lượng mức sẵn lòng trả của người sản xuất và người tiêu dùng trong cả không gian sở thích và không gian WTP, kiểm định và lựa chọn không gian ước lượng phù hợp với dữ liệu nghiên cứu

Các nghiên cứu về sở thích của nông dân và người tiêu dùng đối với nuôi trồng

thủy sản trước đây đều ước tính WTP trong không gian sở thích (Olum và cộng sự,

2019; Cantillo và cộng sự, 2020) Trong khi các ước lượng trong không gian sở thích

có thể bị thiên lệch và phóng đại giá trị WTP (Train và Weeks, 2005; Hole và Kolstad,2012) Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào (ở cả phía cung và phía cầu) ước tính

WTP trong không gian WTP, hoặc ước tính đồng thời WTP trong không gian sở thích

và không gian WTP, thực hiện kiểm định và lựa chọn không gian ước lượng phù hợp

với dữ liệu Vì vậy, trong Mục tiêu 6, nghiên cứu thực hiện ước lượng các mô hình lợiích của người sản xuất và người tiêu dùng theo dạng hàm Logit hốn hợp trong cả

không gian sở thích và không gian WTP, sau đó thực hiện các kiểm định Likelihood ratio test, so sánh các giá trị WTP, và lựa chọn không gian ước lượng phù hợp nhất với

dữ liệu từ thí nghiệm lựa chọn Kết quả phân tích sẽ trả lời cho câu hỏi: Không gian sở thích hay không gian sẵn lòng trả phù hợp với dữ liệu hơn và cho các ước lượng WTP xác thực hơn?

Mục tiêu 7: Đánh giá thái độ đối với các tác động tiêu cực lên môi trường và xã hội từ nuôi tôm truyền thống, và thái độ đối với phát triển GAqPs trong nuôi tôm của người sản xuất và người tiêu dùng tại Việt Nam.

Trang 21

Nghiên cứu đánh thái độ các bên liên quan đối với cùng một vấn đề là các tácđộng tiêu cực từ nuôi trồng thủy sản truyền thống, và phát triển nuôi trồng thủy sảnbền vững vẫn chưa được thực hiện, nhất là thái độ của người sản xuất và người tiêudùng (Hynes và cộng sự, 2017) Vì vậy, trong Mục tiêu 7, nghiên cứu sẽ đo lường thái

độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với hai vấn đề được quan tâm nhất trongnghề nuôi tôm ở Việt Nam là tác động tiêu cực lên môi trường và mất an toàn thựcphẩm Thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng sau đó được so sánh để làm rõ

sự khác biệt và tương đồng thông qua việc áp dụng mô hình Đa chỉ số, Đa nguyênnhân (Multiple Indicators Multiple Causes – MIMIC) để bối cảnh hóa thái độ củangười trả lời bằng cách phân tích đồng thời yếu tố đo lường và yếu tố dự báo cho thái

độ (Chang và cộng sự, 2020) Cuối cùng, mục tiêu này cũng đánh giá thái độ của nôngdân và người tiêu dùng đối với việc phát triển GAqPs trong nuôi tôm Kết quả phân

tích sẽ trả lời cho các câu hỏi: Thái độ đối với các tác động tiêu cực lên môi trường và

xã hội từ nuôi tôm truyền thống của người sản xuất và người tiêu dùng là tương đồng hay khác biệt? Người sản xuất và người tiêu dùng có chung thái độ đối với phát triển GAqPs trong nuôi tôm hay không?

Sự quan tâm và ưa thích của nông dân và người sản xuất có vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy phát triển sản xuất bền vững (Bergleiter và Meisch, 2015; Mogendi

và cộng sự, 2016) Vì vậy, tiềm năng phát triển GAqPs trong nuôi tôm có thể được xácnhận nếu người sản xuất có thái độ tích cực đối với GAqPs và sẵn lòng trả phát triểnGAqPs trong trang trại của họ, và người tiêu dùng có thái độ tích cực và sẵn lòng trả

để tiêu dùng các loại tôm nuôi theo GAqPs Kết quả phân tích từ các mục tiêu nghiêncứu trên đây, cho phép nghiên cứu đánh giá tiềm năng phát triển nuôi tôm theo GAqPsdựa trên thái độ, sở thích của người sản xuất và người tiêu dùng tại Việt Nam, và sẽ trả

lời cho câu hỏi: Người sản xuất và người tiêu dùng bản địa có thể cùng nhau thúc đẩy phát triển nuôi tôm bền vững thông qua việc sẵn lòng đầu tư sản xuất và sẵn lòng trả giá cao hơn cho tôm nuôi theo GAqPs hay không?

1.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên lý thuyết lợi ích đa đặc tính, lý thuyếtlợi ích ngẫu nhiên đã được công nhận và áp dụng trong rất nhiều các nghiên cứu thựcnghiệm về mô hình hóa hành vi lựa chọn và phân tích sở thích của cả người sản xuất

và người tiêu dùng (Olum và cộng sự, 2019; Cantillo và cộng sự, 2020)

Đối với các mục tiêu liên quan đến khám phá sở thích của người sản xuất vàngười tiêu dùng (Mục tiêu 2 Mục tiêu 3), nghiên cứu áp dụng phương pháp thí nghiệmlựa chọn (Choice Experiment – CE) để khám phá sở thích và đo lường WTP của ngườisản xuất và người tiêu dùng Các hàm lợi ích của nông dân và người tiêu dùng được

Trang 22

ước lượng theo các dạng hàm Logit điều kiện, Logit hỗn hợp, và Phân lớp tiềm ẩnnhằm phân tích tốt nhất sự khác biệt trong sở thích Chi tiết phương pháp thực hiện đolường sở thích của người sản xuất và người tiêu dùng bằng phương pháp thí nghiệmlựa chọn được trình bày tại Mục 3.3 Ảnh hưởng của thái độ lên sở thích của người sảnxuất và người tiêu dùng (Mục tiêu 4) được phân tích dựa vào phương pháp biến tươngtác (xem Mục 3.3.6.1) Đối với Mục tiêu 5 và Mục tiêu 6, sau khi ước lượng các dạnghàm gồm Logit điều kiện, Phân lớp tiềm ẩn, và Logit hỗn hợp trong cả không gian sở

thích và không gian WTP, nghiên cứu thực hiện các kiểm định Likelihood ratio test,

đánh giá các chỉ số mức độ phù hợp của mô hình ước lượng (model fit statistics), và sosánh các giá trị WTP để xác định dạng hàm và không gian ước lượng phù hợp nhất Đối với Mục tiêu 7 nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tíchnhân tố khám phá, và mô hình Đa chỉ số, Đa nguyên nhân (MIMIC) để đánh giá thái

độ của người sản xuất và người tiêu dùng Trước tiên, nghiên cứu thực hiện đo lườngthái độ của người trả lời đối với các tác động môi trường và xã hội của nuôi trồng thủysản Trong đó, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng được đánh giá bằngphương pháp tự báo cáo (self-report) và sử dụng thang đo Likert (chi tiết được trìnhbày tại Mục 4.2) Tiếp theo, mô hình MIMIC được áp dụng để đánh giá thái độ dưới sựảnh hưởng của các biến nguyên nhân (đặc điểm kinh tế, xã hội của người trả lời)

1.4.2 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng hai nguồn số liệu gồm số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp Sốliệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo Tổng cục Thủy sản Việt Nam, Hiệp hội chếbiến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), Sở NN&PTNT các tỉnh Khánh Hòa,Ninh Thuận, Sóc Trăng, Bạc Liêu, và Cà Mau Dữ liệu thứ cấp chủ yếu được sử dụng

để phân tích hiện trạng ngành nuôi nuôi tôm và thị trường tiêu dùng tôm tại Việt Nam

Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ hai cuộc khảo sát đối với nông dân và người tiêudùng Trong đó, (1) Dữ liệu phân tích thái độ, sở thích của nông dân được thu thập qua

450 cuộc phỏng vấn trực tiếp tại nhà của nông dân nuôi tôm qui mô nhỏ ở 5 tỉnh códiện tích nuôi tôm lớn nhất tại Việt Nam (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Sóc Trăng, BạcLiêu, và Cà Mau) (2) Dữ liệu phân tích thái độ, sở thích của người tiêu dùng bao gồm

459 cuộc phỏng vấn trực tiếp người tiêu dùng tại 4 thành phố (TP Hồ Chí Minh, NhaTrang, Đà Nẵng, và Hà Nội) Các cuộc phỏng vấn trực tiếp chủ yếu được thực hiện tạicác siêu thị, cửa hàng tiện lợi nhằm tiếp cận được người trả lời tiềm năng một cách tốtnhất

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là sở thích và thái độ của người tiêudùng và người sản xuất đối với chính sách phát triển GAqPs trong nuôi tôm ở Việt Nam

Trang 23

Đối tượng khảo sát: Đối tượng khảo sát là người nuôi tôm qui mô nhỏ và người tiêudùng tại Việt Nam.

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

1.5.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung 4 nội dung chính:

Nội dung 1: Đánh giá tổng quan tài liệu và xây dựng khung phân tích Nội dungnày tập trung tổng quan tài liệu liên quan đến đánh giá thái độ, sở thích và mức sẵnlòng trả của người sản xuất và người tiêu dùng đối với thủy sản cũng như một số cácsản phẩm nông nghiệp được sản xuất bền vững khác Trên cơ sở đó, nghiên cứu xácđịnh các khoảng trống tiềm năng và đề xuất khung phân tích của luận án

Nội dung 2: Xây dựng công cụ đo lường Nội dung này tập trung trình bày sự lựachọn phương pháp đo lường và xây dựng công cụ đo lường thái độ, sở thích của ngườisản xuất và người tiêu dùng

Nội dung 3: Đánh giá thái độ Nội dung này tập trung đánh giá thái độ của nôngdân và người tiêu dùng đối với các tác động tiêu cực của nuôi tôm truyền thống và thái

độ đối với nuôi tôm theo GAqPs

Nội dung 4: Khám phá sở thích và ước tính WTP của người sản xuất và ngườitiêu dùng Đối với người sản xuất, nghiên cứu tập trung khám phá sở thích và mứcWTP của nông dân để tuân thủ các qui định bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn thựcphẩm Sở thích và mức WTP của nông dân đối với các lợi ích kinh tế cũng được đánhgiá để xác định tiềm năng của GAqPs Đối với người tiêu dùng, nghiên cứu tập trungphân tích sở thích, ước tính mức WTP cho tôm được chứng nhận GAqPs Nghiên cứucũng đánh giá ảnh hưởng của thái độ lên sở thích của người sản xuất và người tiêudùng

1.5.2.2 Phạm vi không gian nghiên cứu

Đối với người sản xuất: Nghiên cứu khảo sát dữ liệu tại 5 tỉnh nuôi tôm lớn nhấttại Việt Nam là: Khành Hòa, Ninh Thuận, Bạc Liêu, Sóc Trăng, và Cà Mau

Đối với người tiêu dùng: Nghiên cứu được khảo sát dữ liệu tại 4 thành phố gồm:

TP Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Nẵng, và Hà Nội

1.5.2.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ Tháng 2/2018 đến tháng 2/2021 Trong đó, dữ liệukhảo sát người tiêu dùng được thu thập từ tháng 7/2019 đến tháng 9/2019; dữ liệukhảo sát người nuôi tôm được thu thập từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019 Các dữliệu thứ cấp về thực trạng nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm nói riêng đượcthu thập trong gia đoạn từ năm 2015 đến năm 2021

Trang 24

1.6 Ý nghĩa của luận án

1.6.1 Ý nghĩ về mặt lý thuyết

Đầu tiên, khung phân tích của luận án kết hợp sở thích và thái độ của hai phía

cung và cầu giúp đánh giá tốt hơn về tiềm năng phát triển sản xuất bền vững dựa trênquan đểm của hai tác nhân quan trọng của một chuỗi cung cấp Khung phân tích củaluận án có thể là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu trong cùng lĩnh

vực Thứ hai, nghiên cứu cung cấp một ví dụ thực nghiệm điển hình trong đó có sự kết

hợp giữa các mô hình Logit điều kiện, Logit hỗn hợp, và Phân lớp tiềm ẩn và ước

lượng mức sẵn lòng trả từ mô hình Logit hỗn hợp trong cả không gian sở thích và không gian sẵn lòng trả để nắm bắt tốt nhất về sở thích của người trả lời.

Phân tích sở thích của người tiêu dùng cung cấp các ước lượng mức sẵn lòng trảcho tôm được chứng nhận GAqPs Kết quả ước lượng là cơ sở khoa học để các nhàbán lẻ thực phẩm có thể thiết kế chính sách sản phẩm và chính sách giá phù hợp đểthúc đẩy tiêu dùng thủy sản được chứng nhận tại Việt Nam

Kết quả đánh giá thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với tác độngtiêu cực của nuôi trồng thủy sản truyền thống, và thái độ đối với phát triển GAqPs hỗtrợ cho việc xây dựng các chiến lược truyền thông nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêudùng thủy sản bền vững

1.7 Bố cục của luận án

Luận án này gồm 5 chương Ngoài Chương 1 đã giới tiệu tổng quát

về nghiên cứu Chương 2 trình bày tổng quan về lý thuyết nghiên

cứu, tập trung vào các lý thuyết phân tích sở thích và thái độ.Chương này cũng tổng quan về các nghiên cứu thực nghiệm, xácđịnh các khoảng trống nghiên cứu, và xây dựng khung phân tích của

luận án Chương 3 trình bày chi tiết các phương pháp nghiên cứu

được sử dụng trong luận án Trong đó, các nội dung trọng tâm làthiết kế thí nghiệm lựa chọn, đo lường thái độ, và các mô hình và

phương pháp ước lượng Chương 4 trình bày chi tiết kết quả phân

tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng Trong

đó, trọng tâm là kết quả ước lượng và thảo luận kết quả nghiên cứucủa các mục tiêu phân tích sở thích của người sản xuất, phân tích sởthích của người tiêu dùng, ảnh hưởng của thái độ lên sở thích, kếtquả ước lượng từ các mô hình Logit điều kiện, Logit hỗn hợp, Phânlớp tiềm ẩn và lựa chọn mô hình phân tích phù hợp, kết quả ướclượng WTP trong không gian sở thích và không gian sẵn lòng trả, và

Trang 25

kết quả đánh giá thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đốivới hoạt động nuôi tôm truyền thống và nuôi tôm theo GAqPs.

Chương 5 trình bày tóm lược các kết quả nghiên cứu, và một số đề

xuất nhằm phát triển các GAqPs trong nuôi tôm và thúc đẩy phát

triển bền vững nghề nuôi tôm tại Việt Nam

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Trọng tâm của nghiên cứu này là tập trung đo lường sở thích của người sản xuất

và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt Việc đo lường sở thíchđược dựa trên nền tảng lý thuyết lợi ích đa thuộc tính và lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên.Nghiên cứu này cũng phân tích ảnh hưởng của thái độ lên sở thích, và so sánh thái độgiữa người sản xuất và người tiêu dùng đối với việc phát triển GAqPs trong nuôi tôm.Mối quan hệ này được giải thích bởi lý thuyết về thái độ môi trường và hành vi sinhthái Vì vậy, chương này sẽ trình bày tổng quan về lý thuyết lợi ích đa thuộc tính, lýthuyết lợi ích ngẫu nhiên, và các lý thuyết về mối quan hệ giữa thái độ môi trường vàhành vi sinh thái Chương 2 cũng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, xácđịnh khoảng trống nghiên cứu, và đề xuất khung phân tích của Luận án

2.1 Lý thuyết đo lường sở thích và mức sẵn lòng trả

Áp dụng GAqPs vào nuôi tôm có thể tạo ra lợi ích kinh tế như giảm dịch bệnh,tăng năng suất, sản phẩm an toàn và chất lượng hơn (gọi là giá trị sử dụng) và lợi íchngoại tác như bảo vệ môi trường (gọi là giá trị phi sử dụng) Sở thích đối với các hànghóa đa thuộc tính như vậy thường được phân tích dựa trên Lý thuyết lựa chọn củangười tiêu dùng của Lancaster, còn được gọi là Lý thuyết lợi ích đa thuộc tính (Multi-Attribute Utility Theory) (Lancaster, 1966) Cơ sở kinh tế lượng của tiếp cận này dựavào Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên (Random Utility Theory - RUT) (McFadden, 1974),

và cơ sở phân tích thực nghiệm dựa vào các mô hình kinh tế lượng có biến phụ thuộchạn chế (limited dependent variable econometrics) (Hanley và cộng sự, 1998) Nộidung tiếp theo trình bày về Lý thuyết lợi ích đa thuộc tính và Lý thuyết lợi ích ngẫunhiên

2.1.1 Lý thuyết lợi ích đa thuộc tính (Multi-Attribute Utility Theory)

Lý thuyết kinh tế học vi mô cổ điển cho rằng lợi ích của một cá nhân khi tiêu

dùng một loại hàng hóa (z) phụ thuộc vào số lượng hàng hóa mà người đó tiêu dùng (U = U(z)) Lý thuyết lợi ích đa thuộc tính của Lancaster (1966) giả định rằng lợi ích

có được từ tiêu dùng một hàng hóa phụ thuộc vào các thuộc tính của hàng hóa đó Ví

dụ, lợi ích từ tiêu dùng tôm phụ thuộc vào giá bán, độ tươi, độ lớn của tôm, và mức độ

an toàn cảm nhận được Theo Lancaster (1966), người tiêu dùng chọn sản phẩm với sự

kết hợp các thuộc tính của sản phẩm để tối đa hóa lợi ích tiêu dùng Lợi ích (U) mà người tiêu dùng n có được từ các thuộc tính (x) của hàng hóa được biểu thị như

phương trình (2.1)

Trang 26

Unlk = Unlk(x1; x2; ; xm) (2.1)

Trong đó, xl = alkqk là số lượng thuộc tính thứ l có được từ việc tiêu thụ sản phẩm thứ k, với alk là số lượng thuộc tính thứ l trên mỗi đơn vị của sản phẩm thứ k và qk là lượng tiêu thụ sản phẩm thứ k (l = 1, , m và k = 1, …, v).

Lý thuyết lợi ích đa thuộc tính là cơ sở hình thành Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên.Nội dung tiếp theo trình bày chi tiết về Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên

2.1.2 Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên (Random Utility Theory – RUT)

Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên được phát triển bởi (McFadden, 1974, 1986).McFadden (1974) cho rằng hành vi lựa chon được mô tả bởi (1) mục tiêu của lựa chọn

và tập hợp các lựa chọn thay thế có sẵn cho người ra quyết định, (2) các đặc điểm quansát được của người ra quyết định, và (3) mô hình hành vi lựa chọn cá nhân và phânphối của mô hình lựa chọn trong quần thể Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên dựa trên giảthuyết rằng mọi cá nhân hành động hợp lý và lựa chọn để lợi ích mà họ nhận được làtối đa từ các tình huống lựa chọn, cụ thể là giả định sau:

(1)Người ra quyết định n với các đặc điểm S sẽ xem xét các phương án lựa chọn loại trừ

lẫn nhau khi ra quyết định để tạo thành một tập hợp lựa chọn của mình

(2)Người ra quyết định n đánh giá mỗi phương án lựa chọn i trong tập lựa chọn t (t=1,

…,T) và chọn phương án mang lại lợi ích Unit lớn nhất hoặc hấp dẫn nhất.

(3)Lợi ích (U) của mỗi phương án lựa chọn phụ thuộc vào số thuộc tính có thể quan sát được của phương án và người ra quyết định được viết dưới dạng Unit = Un(Xnit, Sn) Trong đó Xnit là một vector thuộc tính của phương án lựa chọn i được người ra quyết định n lựa chọn trong tập lựa chọn t, Sn là các đặc điểm cá nhân của người trả lời n.

(4)Lợi ích của người ra quyết định n cho phương án lựa chọn i không được biết một cách chắc chắn bởi người quan sát (nhà nghiên cứu) Do đó, Unit phải được trình bày dưới

dạng tổng quát bởi một biến ngẫu nhiên

Từ các giả định trên, không thể dự đoán chắc chắn phương án mà người ra quyếtđịnh sẽ chọn trong tập lựa chọn của họ Tuy nhiên, có thể xác định xác suất có điều

kiện mà người ra quyết định chọn một phương án i trong tập lựa chọn t, đó chính là xác xuất mà lợi ích của phương án i lớn hơn tất cả các phương án thay thế khác trong tập lựa chọn t của người ra quyết định n (Cascetta, 2009) Giả sử rằng người ra quyết định n có thể lựa chọn giữa hai phương án i và j, xác suất mà phương án i được lựa

chọn được cho bởi phương trình (2.2)

Pnit = Pr[Unit > Unjt] ∀ i ≠ j; i,j ∈ T (2.2) Lợi ích Unit của người ra quyết định n khi lựa chọn phương án i có thể biểu diễn

dưới dạng một hàm của các thuộc tính của phương án lựa chọn, bao gồm hai phần: các

yếu tố quan sát được (ký hiệu là Vnit) và yếu tố không quan sát được (ký hiệu là εnit) Lợi ích quan sát được Vnit biểu thị cho lợi ích trung bình được cảm nhận bởi tất cả

Trang 27

những người ra quyết định có cùng bối cảnh lựa chọn với người ra quyết định n Sai số ngẫu nhiên εnit là độ lệch (phần không quan sát được) so với giá trị trung bình của lợi ích mà người ra quyết định n cảm nhận được εnit nắm bắt các tác động tổng hợp của

các yếu tố khác nhau dẫn đến sự không chắc chắn trong mô hình lựa chọn (Cascetta,

2009) Hàm lợi ích của người ra quyết định n với các đặc điểm cá nhân Sn khi lựa chọn phương án i được viết như phương trình (2.3).

Unit = Vnit + εnit = Vnit(Xnit, Sn) + εnit(Xnit, Sn) ∀ i ∈ T (2.3)Thay thế phương trình (2.3) vào phương trình (2.2), xác xuất lựa chọn phương án

i của người ra quyết định n được trình bày như phương trình (2.4)

Pnit = Pr[Vnit(Xnit, Sn) - Vnjt(Xnjt, Sn) > εnjt(Xnjt, Sn) - εnit(Xnit, Sn)] ∀ i≠j; i,j∈T (2.4)

Phương trình (2.4) cho biết xác suất lựa chọn cho một phương án phụ thuộc vàothành phần lợi ích hệ thống (systematic utilitiy components) của tất cả các phương áncạnh tranh và qui luật xác xuất kết hợp (joint probability law) của các sai số ngẫu

nhiên εi (Cascetta, 2009).

Các mô hình lợi ích ngẫu nhiên và các biến trong mô hình có thể biểu diễn tómtắt dưới dạng vector Khi đó, phương trình (2.3) có thể được viết lại dưới dạng vectornhư phương trình (2.5)

Trong đó, Un là vector các lợi ích nhận thức (perceived utilities) với các phần tử Unit; Vn là vector các thành phần lợi ích hệ thống với các phần tử Vnit; εn là vector các các phần dư ngẫu nhiên với các phần tử εnit, tất cả các vector đều có (mi x 1) chiều

(dimension) (Cascetta, 2009)

Phương trình (2.4) được viết lại dưới dạng vector như phương trình (2.6)

Phương trình (2.6) được gọi là hàm lựa chọn kết hợp một vector xác suất lựa chọn (pn) với mỗi vector thành phần lợi ích hệ thống (Vn) và một qui luật phân phối xác xuất cho

trước của sai số ngẫu nhiên (Cascetta, 2009)

Trong đó: pn là vector xác suất lựa chọn với các phần tử pnit.

Mô hình lợi ích ngẫu nhiên được cho là bất biến (invariant) nếu cả dạng hàm và

tham số của hàm mật độ xác suất chung của các phần dư ngẫu nhiên f(ε) phụ thuộc vào vector V của các thành phần lợi ích hệ thống:

Phần dư ngẫu nhiên εn được giả định tuân theo phân phối Gumbel có hàm phân

bố xác suất và hàm xác xuất tích lỹ được viết như phương trình (2.8) và (2.9)

(2.8) (2.9)

Trang 28

Trong đó, f(ε) là hàm mật độ xác suất chung của các sai số ngẫu nhiên; F(ε) là

hàm phân phối xác suất chung của các sai số ngẫu nhiên; là tham số vị trí (location

parameter) và là tham số tỷ lệ (scale parameter) Khi phần dư ngẫu nhiên εn có phân phối Gumbel, thì xác suất để người ra quyết định n chọn phương án i là:

(2.10)Với

Giả định rằng , xác suất người ra quyết định n với các đặc điểm cá nhân Sn chọn phương án i trong tính huống lựa chọn t có thể viết như phương trình (2.11).

(2.11)

Nếu giả định thì kết quả ước lượng của hàm lợi ích hệ thống Vnit sẽ tính toán được xác suất lựa chọn phương án i của người ra quyết định.

Thành phần lợi ích hệ thống là lợi ích nhận thức trung bình của tất cả cá nhân có

cùng đặc điểm, được biểu thị dưới dạng hàm Vnit(Xnkit) của các thuộc tính Xnkit theo các thuộc tính và người ra quyết định Về nguyên tắc hàm Vnit(Xnit) có thể là bất kỳ dạng hàm nào, nhưng thuận tiện cho việc phân tích, hàm Vnit được giả định là hàm tuyến tính với hệ số βk của các thuộc tính Xnki và được viết như phương trình (2.12) (Catestta,

2009)

(2.12)Hoặc:

Mỗi cá nhân đều thực hiện một sự lựa chọn rời rạc và chỉ chọn phương án i hoặc

j Tỷ lệ chọn phương án i được hiểu là xác suất mà một người với các đặc điểm cá nhân Sn lựa chọn phương án i Khi chất lượng của các thuộc tính của lựa chọn thay thế

i tăng so với thay thế j, xác suất lựa chọn i sẽ hội tụ về giá trị 1 (100%) Tức là, xác suất của các lựa chọn thay thế i làm tăng sự khác biệt trong lợi ích ước lượng giữa hai

lựa chọn thay thế Trong trường hợp, xác suất của các lựa chọn thay thế là 50 – 50, lợiích cho từng phương án là như nhau, và nó không thể quyết định phương án mà người

n sẽ lựa chọn Khi đó, sự lựa chọn được xem là lựa chọn ngẫu nhiên.

Có nhiều phương pháp mô hình hóa lựa chọn có nền tảng lý thuyết dựa trên RUTnhư Thí nghiệm lựa chọn (Choice experiments - CE); Xếp hạng lựa chọn (Choice

Trang 29

Ranking), Cho điểm lựa chọn (Choice Rating), So sánh cặp (Paired Comparisons),trong đó CE được áp dụng phổ biến nhất

Nghiên cứu này phân tích lựa chọn các phương án đầu tư và các gói chính sáchcủa nông dân, cũng như lựa chọn tôm nuôi theo GAqPs của người tiêu dùng Cácphương án đầu tư, các gói chính sách, và các loại tôm có chứng nhận bền vững là cácphương án lựa chọn đa thuộc tính Ví dụ, các gói chính sách phát triển nuôi tôm theoGAqPs là sự kết hợp của các khuyến khích (lãi suất ưu đãi, bảo hiểm nuôi trồng thủysản, hỗ trợ kỹ thuật), và các qui định ràng buộc (bảo vệ môi trường, bảo đảm an toànthực phẩm) Lợi ích mà người sản xuất có được khi lựa chọn chính sách phát triểnGAqPs là sự kết hợp các lợi ích của các thuộc tính nêu trên Do đó, lý thuyết lợi ích đathuộc phù hợp để phân tích lợi ích của nông dân và người tiêu dùng Đứng trước cácphương án lựa chọn, người sản xuất và người tiêu dùng sẽ so sánh và lựa chọn phương

án có các kết hợp giữa các thuộc tính mang lại lợi ích cao nhất Người nghiên cứukhông thể biết chắc chắn sự lựa chọn của người ra quyết định Vì vậy, lý thuyết phùhợp nhất để phân tích hành vi lựa chọn của người sản xuất đối với các phương ánchính sách và người tiêu dùng đối với các sản phẩm tôm nuôi theo GAqPs là Lý thuyếtlợi ích ngẫu nhiên

Việc sản xuất và tiêu dùng tôm nuôi theo GAqPs là một loại hành vi sinh thái, vànhững hành vi sinh thái thường được thúc đẩy bởi thái độ và mối quan tâm đến môitrường (Milfont, 2009; Best, 2010; Singh và Gupta, 2013) Nội dung tiếp theo trìnhbày khái quát về mối quan hệ giữa thái độ môi trường và hành vi sinh thái

2.2 Mối quan hệ giữa thái độ môi trường và hành vi sinh thái

2.2.1 Khái niệm về thái độ môi trường và hành vi sinh thái

Cho đến nay, thái độ môi trường (Environmental Attitudes – EA) vẫn là một kháiniệm chưa có sự thống nhất Tuy nhiên, hầu hết các khái niệm này đều xuất phát từ địnhnghĩa rằng thái độ là một xu hướng tâm lý được thể hiện bằng cách đánh giá một thựcthể cụ thể với một số mức độ ủng hộ hoặc phản đối (Eagly và Chaiken, 1993) Trên cơ

sở đó, nhiều khái niệm môi trường đã được phát biểu Yin (1999) cho rằng thái độ môitrường là định hướng của con người đối với các vấn đề môi trường và hành động gảiquyết các vấn đề đó Trong khi Jones và Dunlap (2002) định nghĩa thái độ môi trường

là mối quan tâm đến chất lượng môi trường của con người Gần đây, thái độ môitrường được định nghĩa là một xu hướng tâm lý với các đánh giá của con người về cácvấn đề môi trường, hoặc các hoạt động liên quan đến môi trường, được thể hiện bằngviệc phản ứng với các mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ (Giff và Sussman, 2005;Schultz và cộng sự, 2005; Milfont và Duckitt, 2010)

Có hai loại thái độ môi trường được sử dụng để dự đoán hành vi sinh thái là (i) thái độ đối với môi trường (attitudes toward the environment) và (ii) thái độ đối với

Trang 30

hành vi sinh thái (attitudes toward the ecological behavior) (Hines và cộng sự, 1987; Kaiser và cộng sự, 1999; Durpoix, 2010) Thái độ đối với môi trường thường đề cập

đến mối quan tâm môi trường nói chung hoặc một khía cạnh hay một vấn đề môi

trường cụ thể Trong khi đó, thái độ đối với hành vi sinh thái, còn được gọi là thái độ

đối với hành vi bảo vệ môi trường (attitudes toward pro-environmental behavior)(Durpoix, 2010) Mục tiêu của nghiên cứu này đánh giá thái độ của nông dân và ngườitiêu dùng đối với các tác động tiêu cực lên môi trường và xã hội từ hoạt động nuôi tômtruyền thống và thái độ đối với áp dụng GAqPs vào nuôi tôm Vì vậy, thái độ môi

trường trong nghiên cứu này được hiểu theo tiếp cận thái độ đối với hành vi sinh thái.

Từ đó, nghiên cứu này định nghĩa thái độ môi trường là phản ứng tâm lý của nông dân và người tiêu dùng đối với các tác động môi trường và xã hội liên quan đến hoạt động nuôi tôm được thể hiện thông qua việc ủng hộ hay phản đối

Hành vi sinh thái (ecological behavior) là hành vi của con người liên quan đếnviệc tìm cách giảm tác động tiêu cực lên môi trường tự nhiên và bảo vệ hệ sinh thái(Kaiser và cộng sự, 1999; Singh và Gupta, 2013) Hành vi sinh thái gồm hai loại làhành vi trực tiếp và hành vi gián tiếp Hành vi sinh thái trực tiếp là hành vi mà conngười trực tiếp hành động để giảm tác động tiêu cực lên môi trường, ví dụ dọn rác thải,làm sạch biển Hành vi sinh thái gián tiếp là các hành động được thể hiện thông quacác lựa chọn sản xuất sạch hơn và tiêu dùng xanh (Stern, 2000) Trong nghiên cứu này,

hành vi sản xuất và tiêu dùng tôm nuôi theo GAqPs được định nghĩa là các hành vi sinh thái gián tiếp.

Thái độ môi trường được cho là yếu tố dự báo cho hành vi sinh thái Nội dung

tiếp theo trình bày về mối quan hệ giữa thái độ môi trường và hành vi sinh thái

2.2.2 Mối quan quan hệ giữa thái độ môi trường và hành vi sinh thái

Thái độ môi trường được xem là một yếu tố dự báo trực tiếp về ý định hành visinh thái, qua đó ảnh hưởng đến hành vi sinh thái (Kaiser và cộng sự, 1999; Bamberg,2003; Milfont và Duckitt, 2004; Davis và cộng sự, 2009; Milfont, 2009; Best, 2010;Singh và Gupta, 2013) Nếu một người quan tâm đến môi trường, thì người đó cónhiều khả năng hành động hoặc điều chỉnh hành động theo cách có lợi cho môi trường(Best, 2010; Singh và Gupta, 2013), và tuyên truyền cho các hành vi sinh thái (Singh

và Gupta, 2013) Khi con người tin rằng họ là một phần của tự nhiên, thì họ có nhiềukhả năng bảo vệ môi trường và hành xử theo cách bảo vệ môi trường (Goldberg vàcộng sự, 2018) Một thái độ môi trường tích cực sẽ thúc đẩy hành vi có trách nhiệmvới môi trường (Davison và cộng sự, 2014; Zheng và cộng sự, 2018) Ngoài ra, thái độbảo vệ môi trường mạnh mẽ cũng làm giảm mức độ ảnh hưởng tiêu cực của chi phíthực thi cao đối với hành vi sinh thái (Geiger và cộng sự, 2018) Mặc dù giữa thái độmôi trường và hành vi sinh thái vẫn tồn tại một khoảng cách Tuy nhiên, không thể phủ

Trang 31

nhận rằng thái độ môi trường là một nhân tố quan trọng để dự báo cho hành vi sinhthái, và không thể khẳng định rằng thái độ môi trường không ảnh hưởng đến hành visinh thái (Tarfaoui và Zkim, 2017).

Sự ưa thích và sẵn lòng trả được xem là tín hiệu quan trọng cho thấy ý định thamgia phát triển sản xuất bền vững của người sản xuất (Tey và Brindal, 2012; Olum vàcộng sự, 2019) và ý định tiêu dùng bền vững của người tiêu dùng (Singh và Gupta,2013; Zheng và cộng sự, 2018) Ý định hành vi là điều kiện tiên quyết dẫn đến hành vi(Ajzen, 1985), và thái độ là yếu tố dự báo quan trọng cho hành vi (Ajzen và Cote2008), nhất là ý định dẫn đến các hành vi liên quan đến môi trường (Calkins và Thant,2011; Tey và Brindal, 2012) Trong nghiên cứu này, thái độ với các tác động tiêu cựclên môi trường và xã hội từ nuôi tôm truyền thống được định nghĩa là thái độ môitrường Sự sẵn lòng trả để sản xuất và tiêu dùng tôm nuôi theo GAqPs được định nghĩa

là hành vi sinh thái Vì vậy, mối quan hệ giữa thái độ môi trường và hành vi sinh tháiđược áp dụng để phân tích ảnh hưởng của thái độ với các tác động môi trường và xãhội lên sở thích sản xuất và tiêu dùng tôm nuôi theo GAqPs

Lý thuyết lợi ích ngẫu nhiên được áp dụng rộng rãi trong phân tích sở thích tiêudùng thủy sản bền vững (Cantillo và cộng sự, 2020) và sở thích của người sản xuất đốivới sản xuất nông nghiệp bền vững (Olum và cộng sự, 2019), bao gồm cả các nghiêncứu trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (Ortega và cộng sự, 2013; Ngoc và công sự,2016) Nội dung tiếp theo trình bày tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnhvực này nhằm cung cấp sự hiểu biết chi tiết hơn về vai trò của Lý thuyết lợi ích ngẫunhiên trong phân tích sở thích, và hình thành khung phân tích phù hợp cho luận án này

2.3 Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Phần tổng quan này cung cấp một đánh giá chi tiết về các nghiên cứu để nhậndạng các xu hướng và khoảng trống nghiên cứu tiềm năng Các tóm lược nghiên cứuđược bắt đầu với các nghiên cứu sở thích của nông dân, tiếp theo là các nghiên cứu sởthích của người tiêu dùng, và cuối cùng là các nghiên cứu đánh giá thái độ

2.3.1 Tóm tắt nghiên cứu sở thích của nông dân đối với nông nghiệp bền vững

Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu về sở thích của nông dân nuôi trồng thủysản đối với phát triển GAqPs, các nghiên cứu trong lĩnh vực này chủ yếu khám phá cácyếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng hay không áp dụng công nghệ, một đổi mới trongnuôi trồng thủy sản của nông dân (Kumar và cộng sự, 2018) Vì vậy, ngoài các nghiêncứu đo lường sở thích của nông dân nuôi trồng thủy sản, các nghiên cứu sở thích củanông dân đối với nông nghiệp bền vững cũng được tóm lược nhằm cung cấp một đánhgiá tổng quan về sở thích và các yếu tố tác động đến sở thích của nông dân

Trang 32

2.3.1.1 Sở thích của nông dân đối với phát triển GAqPs và nông nghiệp bền vững

Bảng 2.1 tóm tắt kết quả phân tích sở thích và mức sẵn lòng trả của nông dân đểphát triển GAqPs và nông nghiệp bền vững Một số ít nghiên cứu gần đây đã báo cáorằng nông dân thích và sẵn lòng trả để áp dụng GAqPs (Ortega và cộng sự, 2013;Ngoc và cộng sự, 2016) Ví dụ, nông dân nuôi cá tra ở Đồng Bằng Sông Cửu Longthích và sẵn lòng áp dụng hệ thông nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RecirculatingAquaculture System – RAS) (Ngoc và cộng sự, 2016) Nông dân Trung Quốc cũng sẵnlòng áp dụng các phương pháp nuôi cá đảm bảo an toàn thực phẩm (Ortega và cộng

sự, 2013) Nhiều kết quả tương tự cũng được báo cáo trong các nghiên cứu về sở thíchcủa nông dân đối với nông nghiệp bền vững (Garming và cộng sự, 2009; Han và cộng

sự, 2016; Schreiner và Latacz-Lohmann, 2015; Ayedun và cộng sự, 2017; Kpadé vàcộng sự, 2017) Ví dụ, nông dân Việt Nam thích và sẵn lòng áp dụng thực hành nôngnghiệp tốt (Good Agriculture Practices – GAP) cho trang trại vải thiều nhằm giảm tácđộng tiêu cực đến các sinh vật khác (Han và cộng sự, 2016) Nông dân trồng lúa cũngthích và sẵn lòng trả để kiểm soát cỏ bằng phương pháp thủ công và máy móc thay vì

sử dụng hóa chất trong nông nghiệp sinh thái (Jaeck và Lifran, 2014) Tương tự nhưvậy, nông dân cũng sẵn lòng trả để áp dụng các thực hành nông nghiệp có tính an toànhơn như giảm ô nhiễm aflatoxin cho cây trồng (Ayedun và cộng sự, 2017) và sản xuấtsữa không có yếu tố biến đổi gen (Schreiner và Latacz-Lohmann, 2015)

Mặc dù GAqPs và nông nghiệp bền vững có những lợi ích rõ ràng, và được ưathích hơn các qui trình sản xuất thông thường Tuy nhiên, việc áp dụng vào sản xuấtdiễn ra rất chậm, nhất là ở các trang trại qui mô nhỏ (Grover và Gruver, 2017) Do đó,một số nghiên cứu trong thời gian gần đây đã chú trọng đến việc khám phá sở thích và

đo lường mức sẵn lòng trả (WTP) hoặc sẵn lòng chấp nhận (Willingness To Accept WTA) của nông dân cho các chương trình môi trường nông nghiệp (Agri-Environmental Schemes – AES), nông nghiệp bảo tồn (Conservation Agriculture), vàchương trình thích ứng với biến đổi khí hậu (Khanal và cộng sự, 2018) (xem Bảng2.1) Trong đó, rất nhiều nghiên cứu khám phá sở thích của nông dân đối với chươngtrình môi trường nôn nghiệp và cho thấy nông dân sẵn lòng chấp nhận tham gia cácchương trình này nếu nhân được một khoản trợ cấp để bù đắp cho những tổn thất kinh

-tế mà họ gánh chịu khi tham gia chương trình (Buckley và cộng sự, 2012; Ghorbani vàKulshreshtha, 2013; Kaczan và cộng sự, 2013; Richardson và cộng sự, 2013; Jaeck vàLifran, 2014; Larue và cộng sự, 2014; Villanueva và cộng sự, 2015) Sự sẵn lòng chấpnhận của nông dân phụ thuộc vào mức chi trả trợ cấp và mức độ giám sát của cơ quanquản lý (Espinosa-Goded và cộng sự, 2010; Villanueva và cộng sự, 2015) Ví dụ,những nông dân trồng Oliu ở Tây Ban Nha sẵn lòng cung cấp thêm 1% diện tích trangtrại được che phủ bởi cây tự nhiên nhằm cải thiện chất lượng môi trường nếu nhậnthêm 9 €/1ha/năm, nhưng họ sẽ chấp nhận giảm 6% đến 10% trợ cấp để được tự chọn

Trang 33

đất tham gia chương trình, và cần tăng trợ cấp từ 6% đến 8% nếu các chương trình môitrường nông nghiệp có giám sát chặt chẽ hơn (Ruto và Garrod, 2009)

Nhiều nghiên cứu khác báo cáo rằng nông dân sẵn lòng tham gia các chính sáchnông nghiệp bảo tồn như bảo vệ hệ sinh thái rừng (Mulatu và cộng sự, 2014), bảo tồnđất đai (Chellappan và Sudha, 2015; Gulati và Rai, 2015; Barrowclough và cộng sự,2016), bảo tồn nguồn nước (Aydogdu và Bilgic, 2016; Houessionon và cộng sự, 2017;Lalika và cộng sự, 2017), sử dụng các phế phẩm nông nghiệp và rác thải làm phân bón(Danso và cộng sự; 2002; Ward và cộng sự, 2016; Shittu và cộng sự, 2018), và thíchứng với biến đổi khí hậu (Khanal và cộng sự, 2018) Ví dụ, nông dân trồng chè ở Ấn

Độ sẵn lòng trả lần lượt 4.687 và 19.239 Rupee/ha cho công nghệ trồng chè theo tường

đá và công nghệ rãnh so le để bảo tồn đất ở các vùng trồng chè (Chellappan và Sudha,2015) Hay nông dân ở Burkina Faso sẵn lòng trả lần lượt 181,8 và 112,5 USD/ha để ápdụng tưới nhỏ giọt và bón phân hữu cơ để bảo tồn nguồn nước (Houessionon và cộng

sự, 2017) Nhìn chung, nông dân thích và sẵn lòng trả để phát triển nông nghiệp bềnvững, mặc dù các mức WTP là khác nhau và phụ thuộc vào các đặc điểm của chươngtrình, chính sách (Tey và Brindal, 2012; Olum và cộng sự, 2019)

Bảng 2.1: Tóm tắt sở thích và mức WTP của nông dân đối với sản xuất bền vững

Tác giả Nghiên cứu (Quốc gia) Kết quả nghiên cứu chính

Sở thích và WTP của nông dân đối với các qui trình NTTS bền vững

Nông dân áp dụng VietGap nếu giá vải cao hơn 16-60%

Ayedun và cộng

sự (2017)

WTP cho chế phẩm Aflasafe để giảm ô nhiễm aflatoxin cho cây trồng (Nigeria)

WTP từ 13,01-13,04 và 3,55-7,46 $/10kg lần lượt cho nông dân có và không có kinh nghiệm

Espinosa-Goded

và cộng sự (2010)

WTP cho trồng cây cố định đạm trong AES (Tây Ban Nha)

WTA= 24,6 € ⁄ha để tăng 50% diện tích tham gia AES, và giảm 13% trợ cấp nếu EAS có hỗ trợ kỹ thuật

Trang 34

Tác giả Nghiên cứu (Quốc gia) Kết quả nghiên cứu chính

Kaczan và cộng sự

(2013)

Sở thích và WTA để giảm nạn phá rừng (Tanzania)

WTA= 28 $/mẫu Anh/năm Richardson và

cộng sự (2013)

WTP cho quản lý môi trường trồng dứa (Costa Rica)

WTP = 190 Colon/tháng Jaeck và Lifran

WTA = 135,4 và 7,7 $/ha/năm để canh tác thân thiện môi trường, và tái trồng rừng Chellappan và

Sudha (2015)

WTP cho bảo tồn đất của nông dân trồng chè (Ấn Độ)

WTP = 4.687 và 19.239 Rupee/ha cho công nghệ tường đá & rãnh so le

Barrowclough và

cộng sự (2016)

Sở thích của nông dân với chính sách nông nghiệp bảo tồn (Ecuador)

WTP tăng thêm từ 0,11–1,77% chi phí sản xuất để giảm xói mòn, giảm ngày công

Ward và cộng sự

(2016)

Sở thích sử dụng phế phẩm của cây trồng cải thiện đất (Malawi)

Nông dân không sẵn lòng áp dụng nếu không có các khuyến khích

(2018)

WTP để áp dụng nông nghiệp thông minh (Nigeria)

WTA = 122 và 22,2 $/ha cho GAP dùng

và không dùng phân chuồng

Sở thích của nông dân đối với chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu

Khanal và cộng sự

(2018)

WTP cho chương trình thích ứng biến đổi khí hậu (Nepal)

WTP = 10,81 –16,41 $/tháng cho lợi ích của chương trình

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ lược khảo tài liệu nghiên cứu.

Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây tập trung ước tính WTP để tham gia hoặckhông tham gia chương trình, hoặc để tuân thủ các yêu cầu của chính sách Trong giớihạn hiểu biết của người viết, không có nhiều nghiên cứu thực hiện phân tích sở thích

và ước lượng WTP của nông dân để cải thiện chính sách phát triển sản xuất bền vữngngoại trừ nghiên cứu của Espinosa-Goded và cộng sự (2010) Xem xét các mối quantâm của nông dân sẽ gia tăng mức độ phù hợp và khả năng thành công của chính sách(Kumar và cộng sự, 2018) Hơn nữa, nghiên cứu khám sở thích của nông dân đối vớiphát triển GAqPs vẫn ít được thực hiện Nghề nuôi tôm khác với các hoạt động sảnxuất nông nghiệp khác vì yêu cầu vốn đầu tư ban đầu rất lớn, nhưng rủi ro cao (Joffre

và cộng sự, 2018) Do đó, hiểu rõ hơn về sở thích và hành vi của nông dân trong bốicảnh sản xuất của họ sẽ hỗ trợ tích cực cho việc thiết kế chính sách phát triển GAqPs

để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, và bảo vệ môi trường (Grover và Gruver,

Trang 35

2017) Sở thích và mức WTP của nông dân phụ thuộc vào đặcđiểm của phương án sản xuất hoặc chính sách được đề xuất (Tey và Brindal, 2012;Olum và cộng sự, 2019) Vì vậy, việc tóm lược sở thích của nông dân đối với từng đặcđiểm của phương án sản xuất và chính sách giúp phân tích sở thích của nông dân cụthể hơn Nội dung tiếp theo sẽ tổng quan về sở thích của nông dân đối với từng đặcđiểm của phương án sản xuất và chính sách phát triển GAqPs và nông nghiệp bềnvững.

2.3.1.2 Sở thích của nông dân đối với các thuộc tính của chính sách

Nhìn chung, các nghiên cứu sở thích của nông dân đối phát triển sản xuất bềnvững tập trung vào 5 nhóm thuộc tính gồm (1) Các lợi ích kinh tế, (2) Các khuyếnkhích, hỗ trợ, (3) Chi phí, (4) Tuân thủ các qui định đảm bảo an toàn thực phẩm, và (5)Tuân thủ qui định bảo vệ môi trường Bảng 2.2 tóm tắt sở thích của nông dân đối vớicác thuộc tính của GAqPs và nông nghiệp bền vững

(1) Các lợi ích kinh tế

Các thuộc tính lợi ích kinh tế luôn xuất hiện trong các nghiên cứu đo lường sởthích, và được xem là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng chấp nhân sảnxuất bền vững của nông dân (Olum và cộng sự, 2019) Các thuộc tính này gồm: giátăng thêm cho sản phẩm, thay đổi năng suất, tăng mùa vụ, giảm lao động

Giá tăng thêm của sản phẩm là thuộc tính phổ biến trong các nghiên cứu về sở

thích của nông dân đối với các qui trình sản xuất bền vững Trong thực nghiệm, giá tăng thêm (premium price) thường được xây dựng dưới dạng phần trăm chênh lệch giá của sản phẩm bền vững so với sản phẩm thông thường Nhìn chung, giá tăng thêm là

một động lực quan trọng gia tăng khả năng nông dân áp dụng nuôi trồng thủy sản bềnvững (Ortega và cộng sự, 2013; Ngoc và cộng sự, 2016) Ví dụ, nông dân Trung Quốcsẵn lòng nuôi cá đảm bảo an toàn thực phẩm nếu giá tăng thêm trung bình khoảng 2,5%(Ortega và cộng sự, 2013) Khả năng áp dụng mô hình nuôi thủy sản tuần hoàn củangười nuôi cá tra Việt Nam sẽ tăng khoảng 1,2% nếu giá tăng thêm khoảng 10%(Ngoc và cộng sự, 2016) Kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở các nghiên cứu sở thíchcủa nông dân đối với GAP (Asrat và cộng sự, 2010; Schulz và Tonsor, 2010; Schreiner

và Latacz-Lohmann, 2015; Han và cộng sự, 2016) Chẳng hạn, nông dân Việt Nam sẵnlòng áp dụng VietGap nếu giá vải thiều tăng thêm từ 16% đến 60% (Han và cộng sự,2016) Khả năng nông dân nuôi bò sữa ở Đức tham gia sản xuất sữa không có yếu tốbiến đổi gen tăng lên 29% nếu giá loại sữa này cao hơn 1 EURO/kg so với sữa bòđược nuôi thông thường (Schreiner và Latacz-Lohmann, 2015) Các kết quả trên ủng

hộ cho lập luận rằng việc đảm bảo mức giá cao hơn sẽ làm tăng sự sẵn lòng áp dụngGAqPs của nông dân

Trang 36

Thay đổi năng suất: Nông dân thích sự gia tăng hơn là suy giảm năng suất

(Ngoc và cộng sự, 2016; Xuan và Sandorf, 2020) Một mức tăng năng suất 1 tấn/vụnuôi sẽ làm gia tăng 0,2% khả năng áp dụng hệ thống tuần hoàn vào các trang trại nuôi

cá tra ở ĐBSCL (Ngoc và cộng sự, 2016), hoặc tăng thêm 20% năng suất thì nông dânViệt Nam sẵn lòng trả lãi suất khoảng 3,3%/năm cho khoản vay ưu đãi để đầu tư vàonuôi tôm công nghệ cao Ngược lại, nếu sản lượng giảm 20% thì nông dân yêu cầumột khoản trợ cấp lãi suất khoảng 0,9%/năm (Xuan và Sandorf, 2020) Trong sản xuấtnông nghiệp, nông dân thích các phương án sản xuất mới cho năng suất cao hơn cácphương thức sản xuất thông thường ( Dupraz và cộng sự 2003; Roessler và cộng sự,2008; Asrat và cộng sự, 2010; Jaeck và Lifran, 2014; Ortega và cộng sự, 2016; Khanal

và cộng sự, 2018) Ví dụ, nông dân Camargue ở đồng bằng sông Rhone thích và sẵnlòng trả để áp dụng công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường trong canh tác lúamang lại năng suất cao hơn với thực hành hiện tại (Jaeck và Lifran, 2014) Trong mộtnghiên cứu khác, Ortega và cộng sự (2016) chỉ ra rằng để nông dân chấp nhận canhtác xen canh giữa ngô và đậu nhằm cải thiện chất lượng đất trồng thì năng suất ngô(cây trồng chính) phải được đảm bảo Trong trường hợp cây trồng phải đối mặt với cácrủi ro như hạn hán, suy thoái đất đai thì các yếu tố liên quan đến khả năng thích ứngmôi trường và năng suất ổn định sẽ được nông dân ưu tiên hàng đầu (Asrat và cộng sự,2010) Nông dân cũng sẵn sàng chấp nhận một sự suy giảm năng suất nhẹ trong ngắnhạn để đổi lấy sự gia tăng năng suất bền vững trong dài hạn (Barrowclough và cộng

sự, 2016) Ở Việt Nam, một nghiên cứu của Roessler và cộng sự (2008) cho thấy nôngdân nuôi heo qui mô nhỏ thích các giống heo có hiệu suất tăng trưởng cao và khả năngsinh sản tốt Các kết quả này cho thấy rằng nếu các chính sách phát triển GAqPs thiếu

sự hài hòa giữa tính bền vững môi trường và duy trì hoặc cải thiện năng suất sẽ rất khó

để thu hút nông dân

Một số lợi ích khác cũng được phân tích như tăng vụ mùa, và giảm lao động

(Barrowclough và cộng sự, 2016; Xuan và Sandorf, 2020) Ví dụ, nông dân nuôi tômsẵn lòng trả lãi suất khoảng 1,4%/năm cho khoản vay ưu đãi để đầu tư vào nuôi tômcông nghệ cao nếu gia tăng thêm 1 vụ nuôi trong năm (Xuan và Sandorf, 2020) Trongkhi đó, nông dân Ecuador thích và sẵn lòng áp dụng nông nghiệp bảo tồn nếu thựchành này làm giảm ngày công trồng cây và làm cỏ (Barrowclough và cộng sự, 2016)

(2) Các khuyến khích/hỗ trợ nông dân

Trợ cấp tài chính được quan tâm nhiều nhất trong các nghiên cứu về sở thích của

nông dân đối với các chương nông nghiệp bảo tồn (Mulatu và cộng sự, 2014; Ward vàcộng sự, 2016; Shittu và cộng sự, 2018), chương trình môi trường nông nghiệp (Ruto

và Garrod, 2009; Kaczan và cộng sự, 2013; Villanueva và cộng sự, 2015), chương trình sinh thái nông nghiệp (Jaeck và Lifran, 2014) Một khoản trợ cấp tài chính hoặc

Trang 37

một khoản chi trả dịch vụ môi trường sẽ thúc đẩy sự sẵn lòng tham gia vào các chương

trình nông nghiệp bền vững (xem Bảng 2.2) Nông dân ưa thích các chương trình môitrường nông nghiệp có mức trợ cấp cao và khuyến khích tài chính là rất quan trọng đểthúc đẩy họ tham gia (Ruto và Garrod, 2009; Jaeck và Lifran, 2014; Villanueva vàcộng sự, 2015) Ví dụ, một khoản trợ cấp chi trả một lần làm gia tăng sự sẵn lòng thamgia chương trình sinh thái nông nghiệp để giảm tác động môi trường từ việc sử dụnghóa chất diệt cỏ của nông dân trồng lúa (Jaeck và Lifran, 2014) Các chương trình môitrường dài hạn, có các ràng buộc khắt khe cần tăng tỷ lệ trợ cấp hoặc mức chi trả đểthúc đẩy nông dân tham gia (Ruto và Garrod, 2009; Kaczan và cộng sự, 2013) Ngượclại, nông dân không sẵn lòng áp dụng nông nghiệp bảo tồn nếu không có trợ cấp tàichính, cho dù họ nhận thức được lợi ích của nông nghiệp bảo tồn (Ward và cộng sự,2016) Ngoài ra, việc cung cấp dịch vụ khuyến nông, tư vấn và hỗ trợ miễn phí sẽ làmtăng sự ưa thích của nông dân đối với việc áp dụng các cải tiến trong nông nghiệp(Ngoc và cộng sự, 2016; Ayedun và cộng sự, 2017; Khanal và cộng sự, 2018)

(3) Chi phí áp dụng hoặc chi phí tham gia các chương trình/chính sách

Chi phí áp dụng có thể là chi phí đầu tư hoặc lợi ích mà nông dân phải hi sinh khitham gia một chương trình Chi phí đầu tư hoặc lợi ích suy giảm là rào cản đối với việc

áp dụng sản xuất bền vững của nông dân Nông dân nuôi cá tra ở Việt Nam thích môhình nuôi thủy sản tuần hoàn nhưng chi phí đầu tư ban đầu quá lớn làm giảm khả năng

áp dụng mô hình này vào sản xuất (Ngoc và cộng sự, 2016) Mức thuế hoặc phí dịch

vụ mà nông dân phải đóng để nhận được lợi ích của chương trình môi trường nôngnghiệp và nông nghiệp bảo tồn làm giảm sự sẵn lòng tham gia của nông dân (Larue vàcộng sự, 2014; Houessionon và cộng sự, 2017; Khanal và cộng sự, 2018) Một sốchương trình nông nghiệp bảo tồn yêu cầu nông dân phải đóng một khoản phí cố định

để được hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật (Espinosa-Goded và cộng sự, 2010), hoặc phải góp đấtđai để làm các khu vực bảo tồn hoặc vùng đệm (Buckley và cộng sự, 2012; Richardson

và cộng sự, 2013) đã làm giảm sự sẵn lòng tham gia của nông dân

(4) Tuân thủ các qui định đảm bảo an toàn thực phẩm

Trước những vấn đề mất an toàn thực phẩm trong các sản phẩm nông nghiệp,một số nghiên cứu đã phân tích về sự sẵn lòng tuân thủ qui định đảm bảo an toàn thựcphẩm trong sản xuất của nông dân Nhìn chung, nông dân sẵn lòng tuân thủ qui địnhbảo đảm an toàn thực phẩm nếu như việc làm đó được bù đắp lại bởi sự tăng giá củasản phẩm (Ortega và cộng sự, 2013; Latacz-Lohmann, 2015; Han và cộng sự, 2016),hoặc được bù đắp bằng khuyến khích tài chính (Richardson và cộng sự, 2013) Ví dụ,nông dân nuôi cá ở Trung Quốc yêu cầu một mức giá cao hơn để tuân thủ qui địnhkhông sử dụng kháng sinh (Ortega và cộng sự, 2013) Nông dân trồng vải ở Việt Namsẵn sàng tuân thủ qui định sử dụng thuốc trừ sâu để nhận được chứng nhận VietGap,

Trang 38

nhằm bán vải thiều với giá cao hơn (Han và cộng sự, 2016) Tương tự như vây, nôngdân Costa-Rica sẵn sàng giảm việc dùng thuốc trừ sâu trong trồng dứa (Richardson vàcộng sự, 2013)

Để ứng phó với mức độ rủi ro dịch bệnh cao trong nuôi tôm, nông dân đã sửdụng nhiều loại kháng sinh và hóa chất diệt khuẩn Điều này gây ra mối lo ngại về mất

an toàn thực phẩm, và xuất khẩu tôm gặp khó khăn khi các thị trường nhập khẩu cảnhbáo về dư lượng kháng sinh và chất cấm vượt mức cho phép Mặc dù an toàn thựcphẩm là vấn đề đáng quan tâm trong nuôi tôm Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu kiểm tra sởthích của nông dân đối với qui định sử dụng kháng sinh và hóa chất diệt khuẩn trongnuôi trồng thủy sản, ngoại trừ nghiên cứu của Ortega và cộng sự (2013) (xem Bảng2.2)

(5) Tuân thủ qui định bảo vệ môi trường

Sự sẵn lòng trả để tuân thủ các qui định về bảo vệ môi trường của nông dân trongsản xuất nông nghiệp vẫn là vấn đề chưa có sự thống nhất (xem Bảng 2.2) Một sốnghiên cứu cho thấy nông dân sẵn lòng áp dụng các qui trình canh tác nông nghiệp bềnvững như phương pháp trồng xen canh và sử dụng chất thải nông nghiệp để cải tạo đất(Ward và cộng sự, 2016), làm cỏ bằng tay thay cho sử dụng hóa chất diệt cỏ (Jaeck vàLifran, 2014), sử dụng các kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh thủ công trong trồng vải thiều(Han và cộng sự, 2016), hoặc giảm nồng độ Phốt pho và Coliform trong nước (Larue

và cộng sự, 2014), và sử dụng phân bón hữu cơ (Houessionon và cộng sự, 2017) đểkhông làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra nông dân không thích các chươngtrình môi trường nông nghiệp có các tiêu chuẩn khắt khe (Dupraz và cộng sự, 2003;Richardson và cộng sự, 2013; Greiner, 2015; Villanueva và cộng sự, 2015), hoặc sẵnlòng trả cho lợi ích môi trường thấp hơn rất nhiều so với các lợi ích kinh tế(Barrowclough và cộng sự, 2016) Ví dụ, nông dân ở Tây Ban Nha không thích cácchương trình môi trường nông nghiệp yêu cầu một tỷ lệ lớn diện tích đất trang trạiđược che phủ bởi các loại cây tự nhiên (không phải cây trồng), và yêu cầu nhận đượccác mức chi trả cao nếu muốn họ chấp nhận các chương trình có độ che phủ cây tựnhiên cao (Richardson và cộng sự, 2013) Nông dân nuôi trồng thủy sản muốn duy trìviệc thay nước trong ao nuôi thường xuyên hơn là giảm tần suất thay nước để bảo vệmôi trường (Xuan và Sandorf, 2020) Tương tự, thời gian cấm chăn thả gia súc kéo dài

đã làm giảm sự ưa thích của nông dân đối với hợp đồng bảo tồn đa dạng sinh học(Greiner, 2015) Nguyên nhân chính là việc tuân thủ qui định bảo vệ môi trường có thểlàm giảm lợi ích kinh tế của nông dân (Richardson và cộng sự, 2013; Greiner, 2015;Villanueva và cộng sự, 2015), trong khi mối quan tâm chính của nông dân là duy trì lợiích kinh tế (Richardson và cộng sự, 2013)

Trang 39

Bảo vệ môi trường là một trong những yêu cầu bắt buộc của GAqPs Tuy nhiên,chưa có nghiên cứu phân tích sở thích của nông dân đối với yêu cầu về bảo vệ môitrường trong nuôi trồng thủy sản (xem Bảng 2.2) Trong khi, nuôi trồng thủy sản sửdụng một lượng lớn tài nguyên đất và nước và đã có những tác động tiêu cực đến môitrường (Nguyễn Văn Công, 2017) Vì vậy, sở thích của nông dân đối với qui định bảo

vệ môi trường vẫn là một vấn đề cần được nghiên cứu, và rất có ý nghĩa trong bối cảnh

ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản ngày càng đáng lo ngại

Bảng 2.2: Tóm tắt sở thích của nông dân đối với đặc tính của GAqPs và GAP

Nhóm Thuộc

tính

Sở thích

(+/-)

Lĩnh vực nghiên cứu Nuôi trồng thủy

Asrat và cộng sự (2010); Schulz và Tonsor (2010); Schreiner và Latacz- Lohmann (2015); Han và cộng sự (2016) Năng suất +

Ngoc và cộng sự (2016); Xuan và Sandorf (2020)

Dupraz và cộng sự (2003); Roessler và cộng sự (2008); Asrat và cộng sự (2010); Jaeck và Lifran (2014); Barrowclough và cộng sự (2016); Ortega và cộng sự (2016); Khanal và cộng sự (2018)

Ruto và Garrod (2009); Kaczan và cộng

sự (2013); Jaeck và Lifran, 2014; Mulatu

và cộng sự (2014); Villanueva và cộng sự

(2015); Ward và cộng sự (2016); Shittu và cộng sự (2018)

Khuyến

Ngoc và cộng sự (2016)

Khanna (2001); Schreiner và Lohmann (2015)

Latacz-Chi phí

Chi phí áp

-Ngoc và cộng sự (2016)

Dupraz và cộng sự (2003); Goded và cộng sự (2010); Buckley và cộng sự (2012); Richardson và cộng sự (2013); Larue và cộng sự (2014); Houessionon và cộng sự (2017)

Espinosa-Thuế, phí - N/A Larue và cộng sự (2014); Khanal và cộngsự (2018)

- Xuan và Sandorf (2020)

Dupraz và cộng sự (2003); Kaczan và cộng sự (2013); Richardson và cộng sự (2013); Mulatu và cộng sự (2014); Greiner (2015); Villanueva và cộng sự (2015); Kpadé và cộng sự (2017)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ lược khảo các nghiên cứu trước.

N/A - chưa được nghiên cứu.

Trang 40

Nhìn chung, các nghiên cứu trước tập trung vào đánh giá sở thích của nông dânđối với các lợi ích và chi kinh tế mà GAqPs mang lại Phân tích sở thích của nông dânđối với các yêu cầu bảo vệ môi trường và đảm bảo an toán thực phẩm còn ít được quantâm Ngoài các các thuộc tính của qui trình sản xuất và chính sách, sở thích của nôngdân còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác như đặc điểm cá nhân, đặc điểm kinh

tế - xã hội của trang trại, các yếu tố tâm lý của nông dân, và các chính sách của nhànước Nội dung tiếp theo trình bày tổng quan về ảnh hưởng của các yếu tố này lên sởthích và mức sẵn lòng trả của nông dân

2.3.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sở thích và mức sẵn lòng trả của nông dân

Ngoài các các yếu tố liên quan trực tiếp đến đặc điểm của qui trình sản xuất (tăngnăng suất, giảm chi phí đầu vào, chi phí đầu tư) và đặc điểm của chính sách, sở thích

và WTP hoặc WTA qui trình sản xuất của nông dân còn chịu tác động của rất nhiều yếu

tố khác như đặc điểm cá nhân, đặc điểm kinh tế - xã hội của trang trại, các yếu tố tâm lýcủa nông dân, chính sách của nhà nước Nội dung tiếp theo trình bày tổng quan về cácyếu tố ảnh hưởng đến sở thích và WTP hoặc WTA của nông dân

(1) Nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân của nông dân

Giới tính của nông dân: Trong các nông hộ, nam giới thường là chủ hộ, vì vậy

không có gì ngạc nhiên khi nam giới thích và có nhiều khả năng áp dụng các thực hànhnông nghiệp tốt vào trang trại hơn so với nông dân là nữ giới (Asrat và cộng sự, 2010;Richardson và cộng sự, 2013; Barrowclough và cộng sự, 2016; Ngoc và cộng sự,2016) Ví dụ, Ngoc và cộng sự (2016) báo cáo rằng các nông dân là nam giới trongnghiên cứu của họ có khả năng áp dụng RAS vào trang trại nuôi cá tra cao hơn 8% so vớinhững nông dân là nữ giới Những kết quả nghiên cứu này là phù hợp với thực tế trongnghề nuôi trồng thủy sản khi nam giới đóng vai trò quan trọng hơn nữ giới trong pháttriển nuôi trồng thủy sản (Bosma và cộng sự, 2019) Tương tự như vậy, nhiều nghiên cứukhác cũng xác nhận nông dân là nam giới có sở thích đối với nông nghiệp tốt cao hơn sovới nữ giới (Ward và cộng sự, 2016; Houessionon và cộng sự, 2017; và Lalika và cộng

sự, 2017)

Trình độ học vấn của nông dân: Để áp dụng GAqPs đòi hỏi nông dân phải có nền

tảng kiến thức nhất định để hiểu và áp dụng vào thực tiễn sản xuất Vì vậy, không có gì

ngạc nhiên khi trình độ học vấn của nông dân có tác động tích cực lên sở thích của nông

dân đối với GAqPs (Ngoc và cộng sự, 2016) và nông nghiệp bền vững (Villanueva vàcộng sự, 2015; Aydogdu và Bilgic, 2016; Ayedun và cộng sự, 2017; Kpadé và cộng sự,2017; Lalika và cộng sự, 2017) Nghiên cứu của Ngoc và cộng sự (2016) cho thấy cứ giatăng thêm mỗi năm đi học thì khả năng nông dân áp dụng RAS vào nuôi cá tra sẽ tăngkhoảng 0,6% (Ngoc và cộng sự, 2016) Tương tự, trình độ học vấn là yếu tố có ảnhhưởng quan trọng đến sự sẵn lòng áp dụng các biện pháp bảo tồn đất của nông dân Ấn

Ngày đăng: 05/12/2022, 09:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tóm tắt sở thích và mức WTP của nông dân đối với sản xuất bền vững - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.1 Tóm tắt sở thích và mức WTP của nông dân đối với sản xuất bền vững (Trang 33)
Bảng 2.2: Tóm tắt sở thích của nông dân đối với đặc tính của GAqPs và GAP - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.2 Tóm tắt sở thích của nông dân đối với đặc tính của GAqPs và GAP (Trang 39)
Bảng 2.3: Tóm tắt yếu tố tác động đến sở thích và mức WTP của nông dân - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.3 Tóm tắt yếu tố tác động đến sở thích và mức WTP của nông dân (Trang 46)
Bảng 2.4: Tóm tắt nghiên cứu sở thích tiêu dùng thủy sản nuôi theo GAqPs - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.4 Tóm tắt nghiên cứu sở thích tiêu dùng thủy sản nuôi theo GAqPs (Trang 49)
Bảng 2.5. Sở thích người tiêu dùng đối với thuộc tính của thủy sản bền vững - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.5. Sở thích người tiêu dùng đối với thuộc tính của thủy sản bền vững (Trang 55)
Bảng 2.6: Tóm tắt yếu tố tác động lên sở thích tiêu dùng thủy sản bền vững - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.6 Tóm tắt yếu tố tác động lên sở thích tiêu dùng thủy sản bền vững (Trang 63)
Bảng 2.7: Phương pháp đo lường sở thích của nông dân - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.7 Phương pháp đo lường sở thích của nông dân (Trang 65)
Bảng 2.8: Phương pháp đo lường sở thích của người tiêu dùng - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 2.8 Phương pháp đo lường sở thích của người tiêu dùng (Trang 66)
Hình 2.1: Khung phân tích đề xuất của luận án - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Hình 2.1 Khung phân tích đề xuất của luận án (Trang 74)
Bảng 3.1. Thang đo chính thức đo lường thái độ môi trường đối với tác động tiêu - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 3.1. Thang đo chính thức đo lường thái độ môi trường đối với tác động tiêu (Trang 79)
Hình 3.3: Mô hình MIMIC đánh giá thái độ với NTTS truyền thống - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Hình 3.3 Mô hình MIMIC đánh giá thái độ với NTTS truyền thống (Trang 85)
Bảng 3.3. Thẻ lựa chọn trong thí nghiệp GAqPs DCE - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 3.3. Thẻ lựa chọn trong thí nghiệp GAqPs DCE (Trang 96)
Bảng 4.2 tóm tắt về hiện trạng hoạt động nuôi tôm của của các trang trại trong mẫu nghiên cứu - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 4.2 tóm tắt về hiện trạng hoạt động nuôi tôm của của các trang trại trong mẫu nghiên cứu (Trang 118)
Hình 4.3. Phương thức điều trị khi có dịch bệnh trong các trang trại nuôi tôm - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Hình 4.3. Phương thức điều trị khi có dịch bệnh trong các trang trại nuôi tôm (Trang 120)
Bảng 4.5. Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha và phân tích EFA cho thái độ đối với nuôi tôm thông thường - Phân tích sở thích, thái độ của người sản xuất và người tiêu dùng đối với phát triển nuôi trồng thủy sản tốt trong nuôi tôm tại việt nam
Bảng 4.5. Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha và phân tích EFA cho thái độ đối với nuôi tôm thông thường (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w