Và cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn, Th.S Nguyễn Khánh Hoàng, đã tận tình hỗ trợ, cung cấp thông tin và chỉ dạy chúng em hoàn thành đề tài đồ án nà
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN KHCN VÀ QUẢN LÍ MÔI TRƯỜNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên chúng em xin cảm ơn quý thầy cô trưởng Viện Khoa Học Công Nghệ và Quản lí Môi trường của Đại học Công Nghiệp TP.HCM đã tạo điều kiện cho chúng em có cơ hội được thực hành một bài nghiên cứu khoa học, để ứng dụng những kiến thức chúng em đã có, và được học thêm từ bộ môn Phương pháp Nghiên cứu Khoa học, vào thực tiễn cuộc sống
Lời tiếp theo chúng em xin được cảm ơn quý thầy, Pgs.Ts Đinh Đại Gái, đã tận tình chỉ dẫn chúng em cơ sở lý thuyết của bộ môn Phương pháp Nghiên cứu Khoa học, để chúng em có kiến thức và tự tay thực hiện đề tài mình quan tâm
Và cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn, Th.S Nguyễn Khánh Hoàng, đã tận tình hỗ trợ, cung cấp thông tin và chỉ dạy chúng em hoàn thành đề tài đồ án này: Quá trình sinh trưởng trong canh tác cây lúa tại đồng bằng sông Cửu Long
Vì đây là lần đầu tiên chúng em tự thực hiện một đề tài khoa học nên còn rất nhiều hạn chế về mặt kiến thức, cũng như kỹ năng tìm và xử lí số liệu, nên không thể tránh khỏi những sai sót mà bản thân không thấy được Chúng em kính mong nhận được sự đánh giá, đóng góp từ quý thầy cô để chúng em bổ sung hoàn thiện đề tài của mình
Xin kính chúc sức khoẻ quý thầy cô và trân trọng kính chào
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TP.HCM, ngày , tháng , năm 2017
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4(ký và ghi họ tên)
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN iii
MỤC LỤC 3
DANH MỤC HÌNH ẢNH 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT 7
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 8
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 8
1.2 Mục tiêu đề tài 8
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1.4 Thời gian, địa điểm thực hiện 8
1.5 Phương pháp thực hiện 8
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 9
2.1 Vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long 9
2.1.1 Vị trí địa lí 9
2.1.2 Khí hậu và nhiệt độ 10
2.1.3 Nguồn nước và chế độ thủy văn 10
2.1.4 Các loại đất chính 12
2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL 13
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
3.1 Sinh học cây lúa 13
3.1.1 Đặc điểm thực vật học cây lúa (Rễ, thân, lá, hoa, hạt) 14
3.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa 17
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng phát triển trong canh tác của cây lúa ở ĐBSCL: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nguồn nước 23
3.2.1 Ánh sáng 23
3.2.2 Nhiệt độ 25
3.2.3 Lượng mưa: 27
3.2.4 Nguồn nước 27
Trang 63.3 Các vụ lúa chính vùng đồng bằng sông Cửu Long 28
3.3.1 Vụ Đông Xuân 29
3.3.2 Vụ Hè Thu 31
3.3.3 Vụ Thu Đông 32
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 33
4.1 Kết luận 33
4.1.1 Kỹ thuật làm mạ nền, mạ dược khảo nghiệm giống: 34
4.1.2 Xác định khung thời vụ trồng và thu hoạch tốt nhất 35
4.1.3 Chọn đất lúa chủ động tưới tiêu, phẳng, bùn ngấu: 35
4.1.4 Kỹ thuật làm đất và gieo sạ với mật độ phù hợp: 36
4.1.5 Bón theo nguyên tắc 8 đúng để cân đối và hiệu quả 37
4.1.7 Thu hoạch 40
4.2 Kiến nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 41
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Bản đồ vị trí vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2 Mạng lưới thuỷ văn ở ĐBSCL
Hình 3 Cây lúa Việt Nam
Hình 4 Đặc điểm bộ rễ lúa trong điều kiện mạch nước ngầm khác nhau
Hình 5 Đặc điểm bộ rễ lúa và sự phát triển của rễ lúa trong những điều kiện mạch
nước ngầm khác nhau
Hình 6 Lá lúa
Hình 7 Đặc điểm thực vật học thân và lá lúa
Hình 8 Đặc điểm hoa lúa
Hình 9 Gié lúa
Hình 10 Các bộ phận của hoa lúa
Hình 11 Hạt lúa
Hình 12 Các giai đoạn hạt nảy mầm
Hình 13 Sinh trưởng của cây lúa
Hình 14 Giai đoạn cây mạ
Hình 15 Ruộng mạ
Hình 16 Giai đoạn lúa đẻ nhánh
Hình 17 Các giai đoạn lúa chín
Hình 23 Sạ lúa bằng tay và bằng máy
Hình 24 Sử dụng bảng so màu khi bón phân đạm cho lúa
Hình 25 Sơ đồ quản lí nước ruộng sạ
Hình 26 Giai đoạn thu hoạch
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Đáp ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau
(Nguồn Yoshida, 1981)
Bảng 2 Một số giống lúa vụ Đông Xuân
Bảng 3 Một số giống lúa sử dụng trong vụ Hè Thu
Bảng 4 Thời gian bón phân tuỳ theo loại đất
Trang 9DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
BVP: Pha dinh dưỡng căn bản (Basic Vegertative Phase)
ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long
NSS: ngày sau sạ
NPK: phân tổng hợp đạm – lân- kali
PSP: Pha cảm ứng quang kỳ (Photoperiod-sensitive Phase)
Trang 10CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây lương thực chính, giữ vai trò quan trọng trong an ninh lương thực của cả nước nói chung, và ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất, giữ vai trò trọng yếu trong việc đáp ứng nhu cầu lương thực cho người dân cũng như đóng vai trò chủ yếu trong nền công nghiệp xuất khẩu gạo của nước ta Tuy nhiên, theo báo cáo của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngày 15-03-2017 tại Long Xuyên, An Giang, chất lượng lúa nói chung, cũng như chất lượng lúa xuất khẩu nói riêng, có phần không ổn định, có xu hướng giảm, cụ thể là: ‘ước tính 2 tháng đầu năm 2017, các doanh nghiệp xuất khẩu 787.235 tấn gạo, trị giá hơn 328 triệu USD, giảm 18,5% về lượng, 21,4% về trị giá so với cùng
kỳ Bên cạnh kết quả đạt được, hạn chế của ngành lúa gạo được xác định là hiệu quả chuỗi giá trị còn thấp do tỷ lệ thất thoát cao Chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp, tỷ lệ
gạo trên 15% tấm còn chiếm tới 36%.’(trích TTXVN, ngày 6/4/2017) Lý giải cho hiện
tượng này, đó là sự thay đổi khí hậu tại ĐBSCL: khô hạn kéo dài, sự xâm nhập mặn, nước biển dâng Cùng với đó là các hoạt động kinh tế của các quốc gia thượng nguồn sông Mêkong Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình sinh trưởng trong canh tác của cây lúa
là vô cùng cần thiết, cho phép ta kiểm soát được chất lượng lúa, cũng như dự báo được năng suất lúa sau mỗi mùa vụ Từ đó, đề ra được chiến lược chăm sóc lúa tối ưu để đạt hiệu quả cao nhất, cũng như lí giải được nguyên nhân khi chất lượng gạo không đồng đều
1.2 Mục tiêu đề tài
Đề tài ‘Quá trình sinh trưởng trong canh tác cây lúa ở ĐBSCL’ có mục đích nghiên cứu chi tiết sự sinh trưởng của cây lúa nước qua các giai đoạn, đồng thời tìm hiểu cụ thể về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây lúa tại ĐBSCL
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: cây lúa nước
Phạm vi nghiên cứu: đồng bằng sông Cửu Long
1.4 Thời gian, địa điểm thực hiện:
Đề tài được thực hiện từ đầu tháng 3/ 2017, tiến hành bằng phương pháp thu thập tài liệu từ các bài báo cáo, tài liệu sẵn có trên internet
Vì phương pháp là thu thập tài liệu từ các nguồn sẵn có nên thông tin có phần hạn hẹp Phần lớn tài liệu, số liệu trong bài báo cáo đồ án này được lựa chọn thu thập dao động từ năm 2010 đến 2017
Hạn chế của bài báo cáo đồ án này là có một số dữ liệu, về điều kiện tự nhiên, đã cũ (từ năm 1990-2000)
1.5 Phương pháp thực hiện:
Trang 11Để thực hiện việc nghiên cứu quá trình phát triển của cây lúa trong canh tác tại ĐBSCL, nhóm đã tiến hành tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn trên mạng internet với sự
hỗ trợ của thanh công cụ tìm kiếm Google Các nội dung chính trong bài (bao gồm đặc điểm sinh học, quá trình phát triển) được tổng hợp phần lớn từ tài liệu của thầy Võ Tòng Xuân, cuốn Trồng lúa (được tổng hợp lại bởi thầy Hoàng Kim và Hoàng Long trong tài liệu Bài giảng cây lúa) Các nội dung khác được tổng hợp từ nhiều nguồn trên mạng
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
2.1 Vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long
2.1.1 Vị trí địa lí
Hình 1 Bản đồ vị trí vùng ĐBSCL
Vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vùng cực nam của Việt Nam, còn được gọi
là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của người dân Việt Nam ngắn gọn là Miền Tây, có 1 thành phố trực thuộc trung ương thành phố Cần Thơvà 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011, tổng diện tích các tỉnh, thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long là 40.548,2 km² và tổng dân số của các tỉnh trong vùng là 17.330.900 người Nó chiếm 13% diện tích cả nước nhưng hơn 19% dân số cả nước, tốc độ tăng trưởng cao hơn cả nước (năm 2015 tăng 7,8% trong khi cả nước tăng 6,8%) Chỉ riêng cây lúa đã chiếm 47% diện tích và 56% sản lượng lúa cả nước; xuất khẩu gạo từ toàn vùng chiếm tới 90% sản lượng Chưa kể thủy sản chiếm 70% diện
Trang 12tích, 40% sản lượng và 60% xuất khẩu của cả nước, Tuy nhiên, đồng bằng sông Cửu Long đứng về phương diện thu nhập vẫn còn nghèo hơn cả nước: thu nhập bình quân đầu người với mức 40,2 triệu đồng (cả nước là 47,9 triệu đồng/người/năm)
Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mêkong có diện tích 39.734 km² Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộ phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông
Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây đước và mắm Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ và rồi những đầm lầy biển được hình thành
2.1.2 Khí hậu và nhiệt độ
Nền khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm 24 – 27ºC, biên độ nhiệt trung bình năm 2 – 30ºC, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm thấp, ít có bão hoặc nhiễu loạn thời tiết Có hai mùa rõ rệt, mùa mưa tập trung từ tháng 5 - 10, lượng mưa chiếm tới 99% tổng lượng mưa của cả năm Mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, hầu như không có mưa
Có thể nói các yếu tố khí hậu của vùng thích hợp cho các sinh vật sinh trưởng và phát triển, là tiền đề cho việc thâm canh, tăng vụ
Bức xạ ở đồng bằng sông rất dồi dào và tương đối ổn định Số giờ nắng trung bình trong ngày cao: 7,2h/ ngày Năng lượng bức xạ lớn 350-450 calo/cm2/ ngày Độ ẩm trung bình ở đồng bằng sông Cửu Long biến đổi theo mùa và theo vùng, khoảng 85% trong mùa mưa và 70-80% trong mùa khô
Do địa hình khá bằng phẳng nên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long có chế độ gió tương đối giống nhau Tốc độ gió trung bình năm khoảng 3.0- 3.9m/s Đồng bằng sông Cửu Long ít khi gió bão xảy ra trực tiếp, tuy nhiên ảnh hưởng bão ở miền trung thường gây mưa lớn ở đồng bằng sông Cửu Long Khi bão đổ bộ vào vùng ven biển thường gây thiệt hại lớn do nước biển dâng cao Mùa mưa thường có các cơn giông giật tốc độ lớn Lượng mưa ở đồng bằng sông Cửu Long biến đổi khá lớn về không gian và thời gian, lượng mưa hàng năm đạt 1600-2800mm Lượng mưa được phân bố giảm theo hướng đi của gió mùa Tây Nam Vùng ven vịnh Thái Lan có lượng mưa cao nhất đạt trên 2000mm/năm Dải đất ven biển Đông và trung tâm phía thành phố Hồ Chí Minh lượng mưa giảm đến 1400mm/năm
Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, ấm áp quanh năm, lượng mưa khá lớn Năm chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, thịnh hành gió mùa Tây Nam, có nhiều mưa, ẩm ướt Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 thịnh hành gió mùa Tây Bắc, ít mưa, khô hạn Lượng mưa hàng năm từ
1600 đến 2400mm
2.1.3 Nguồn nước và chế độ thủy văn
Nguồn nước:
Trang 13Đồng bằng sông Cửu Long lấy nước ngọt từ sông Mêkong và nước mưa Cả hai nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt Lượng nước bình quân của sông Mêkong chảy qua đồng bằng sông Cửu Long hơn 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150-200 triệu tấn phù sa Lưu lượng trung bình 10.700 m3/ giây (cao nhất 50.000 m3/ giây vào tháng 10, thấp nhất 2.000 m3/ giây vào tháng 5) Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi bổ lâu dài đã tạo nên đồng bằng Châu thổ phì nhiêu ngày nay
Đồng bằng sông Cửu long có hệ thống sông kênh rạch lớn nhỏ chi chít rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm
Chế độ thuỷ văn ở đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động: dòng chảy sông Mêkong, thuỷ triều biển Đông, thuỷ triều biển Tây – vịnh Thái Lan và chế độ mưaở đồng bằng sông Cửu Long Do chế độ mưa và lưu lượng trong sông thay đổi theo mùa rất rõ rệt, chế độ thuỷ văn ở đồng bằng sông Cửu Long cũng phân bố theo các giai đoạn thừa nước xen kẽ với các giai đoạn thiếu nước, mỗi giai đoạn kéo dài khoảng nửa năm
Hình 2 Mạng lưới thuỷ văn của ĐBSCL
Chế độ thuỷ văn sông Mêkong: lưu lượng đi vào lãnh thổ Việt Nam theo 2 chi lưu
Ở Tân Châu, lưu lượng chiếm 83% trong khi qua Châu Đốc lưu lượng chiếm chỉ có 13% Tỷ lệ phân bố này khá ổn định trong cả hai mùa mưa và mùa khô
Chế độ thuỷ văn của đồng bằng sông Cửu Long có 3 đặc điểm nổi bật:
Nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa chuyển tải phù sa, phù du, ấu trùng
Nước mặn vào mùa khô ở vùng ven biển
Nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn
Đồng bằng sông Cửu Long có trữ lượng nước ngầm không lớn Sản phẩm khai thác được đánh giá ở mức 1 triệu/ m3 ngày đêm, chủ yếu phục vụ cấp nước sinh hoạt Chế độ thuỷ văn mùa mưa:
Trang 14Do trùng hợp mùa mưa và thời gian sông Mêkong có lưu lượng lớn nhất nên lượng nước tự nhiên cũng tập trung rất lớn trong mùa mưa, gây ra ngập úng một phần lớn diện tích đồng bằng sông Cửu Long Tình trạng ngập lụt (mùa lũ) thường bắt đầu vào tháng 7 (hoặc tháng 8) và kết thúc vào tháng 11 hoặc tháng 12 Do mực nước trên sông giảm nhanh về phía hạ lưu và khả năng chuyển tải của hệ thống sông tăng dần nên mức độ ngập lụt thấp dần về phía hạ lưu
Chế độ thuỷ văn mùa khô:
Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 kéo dài đến tháng 6, lưu lượng bình quân sông Mêkong khoảng 6000 m3/ giây Đặc biệt các tháng 3, 4 lưu lượng bình quân chỉ đạt trên dưới 2.000 m3/ giây Trong thời kì này thuỷ triều biển Đông dao động mạnh, với biên độ 2,5 – 4,0 mét Xâm nhập mặn sâu vào đồng bằng làm ảnh hưởng đến một vùng rộng lớn với diện tích khoảng 2,1 triệu ha, thời gian ảnh hưởng mặn từ 1 đến 8 tháng tuỳ theo khu vực Do dòng chảy từ thượng nguồn giảm, mặn có thể xâm nhập sâu đến Hiệp Hoà (Vàm Cỏ Đông), Tuyên Nhơn (Vàm Cỏ Tây), Mỹ Tho (sông Tiền) và An Lạc Tây (sông Hậu)
Triều biển Đông và biển Tây kết hợp ảnh hưởng đến một vùng diện tích khoảng 1,2 triệu ha ở bán đảo Cà Mau Đồng thời, tương tác giữa hai triều biển tạo nên một miền giao tiếp ở Kiên Giang và phía Tây Bạc Liêu – Cà Mau, thường được gọi là khu vực giáp nước của triều biển Đông và biển Tây
2.1.4 Các loại đất chính
Các nhóm đất chính ở đồng bằng sông Cửu Long gồm:
Đất phù sa sông (1,2 triệu ha): các loại này tập trung ở vùng trung tâm đồng bằng sông Cửu Long Chúng có độ phì nhiêu tự nhiên cao và không có các yếu tố hạn chế nghiêm trọng nào Nhiều loại cây trồng có thể canh tác được trên đất này
Đất phèn (1,6 triệu ha): các loại đất này được đặc trưng bởi độ axit cao, nồng độ độc
tố nhóm tiềm năng cao và thiếu lân Nhóm đất này cũng bao gồm cả những loại đất phèn nhiễm mặn nặng và trung bình Các loại đất phèn tập trung tại Đồng Tháp Mười
và Tứ Giác Long Xuyên còn các loại đất phèn mặn tập trung tại bán đảo Cà Mau Đất nhiễm mặn (0,75 triệu ha): Các loại đất này chịu ảnh hưởng của nước mặn trong mùa khô Các vùng đất này khó có thể được cung cấp nước ngọt Hiện nay lúa được trồng vào mùa mưa và ở một số khu vực người ta nuôi tôm trong mùa khô Các loại đất khác (0,35 triệu ha): gồm đất than bùn (vùng rừng U Minh), đất xám trên phù sa cổ (cực bắc của đồng bằng sông Cửu Long) và đất đồi núi (phía Tây – Bắc đồng bằng sông Cửu Long)
Nhìn chung đồng bằng sông Cửu Long rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp không có hạn chế lớn Do nền đất yếu cho nên để xây dựng công nghiệp, giao thông,
bố trí dân cư, cần phải gia cố, bồi đắp nâng nền, do đó cần đòi hỏi chi phí nhiều
Trang 152.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL
Vùng ĐBSCL có lợi thế về tài nguyên đất đai, sông ngòi, cũng như điều kiện khí hậu thuận lợi Nhìn chung, sản xuất lúa ở ĐBSCL có xu hướng gia tăng về năng suất
và sản lượng, các yếu tố góp phần cho sự gia tăng này tập trung vào khâu chọn giống lúa và bố trí thời vụ Các kỹ thuật canh tác (làm đất, bón phân, quản lý nước, bảo vệ thực vật) và biện pháp giảm thất thoát chưa đóng góp nhiều trong việc gia tăng này Sản xuất lúa ở ĐBSCL trong nhiều năm qua vẫn tập trung chủ yếu vào hướng mở rộng diện tích và gia tăng năng suất Thực tế, việc mở rộng diện tích lúa có giới hạn và gia tăng năng suất lúa các biện pháp kỹ thuật vẫn chưa đồng bộ, vùng ĐBSCL chưa có một quy trình sản xuất lúa cơ bản cho toàn vùng và cụ thể cho các tiểu vùng sinh thái,
do vậy sự gia tăng năng suất, sản lượng vẫn mang tính bấp bênh, tùy thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên, thời tiết, khí tượng và sự phát sinh, phát triển của dịch hại Sự áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vẫn còn mang tính riêng lẻ ở từng khu vực
Năng suất lúa và tiềm năng năng suất lúa là những vấn đề cần được tiếp tục quan tâm trong điều kiện thâm canh, tăng vụ sản xuất ở ĐBSCL Hàng năm diện tích gieo trồng lúa ở ĐBSCL dao động khoảng: 3,8 - 4,0 triệu ha, năng suất bình quân 5,4 tấn/ha (Đông Xuân: 6,48 tấn/ha; Hè Thu: 4,89 tấn/ha; Thu Đông: 4,4 tấn/ha và Mùa 3,8 tấn/ha); sản lượng lúa cả năm khoảng trên 20 triệu tấn
Sự gia tăng năng suất lúa đến nay được thực hiện chủ yếu từ cơ cấu giống lúa và bố trí thời vụ xuống giống, ngoài vấn đề cải thiện giống (đã được thực hiện trong nhiều năm qua) thì việc áp dụng các quy trình canh tác phù hợp cho vùng, từng tỉnh là cần thiết, quy trình này không chỉ chú ý đến sự gia tăng năng suất mà còn chú ý đến chất lượng, quy trình không chỉ gói gọn trong việc làm đất, xuống giống đến thu hoạch mà còn chú ý đến khâu chuẩn bị sản xuất trước như chọn giống, xác định nhu cầu thị trường, ký kết hợp đồng, vùng nguyên liệu… đến khâu tồn trữ, chế biến và thương hiệu lúa, gạo
Sự ổn định, gia tăng năng suất, sản lượng lúa còn tính toán đến thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu điều này liên quan đến việc bố trí cơ cấu mùa vụ, thời vụ và
cơ cấu giống để đảm bảo một cách chắn chắn rằng trong từng thời điểm trong năm sẽ
có số lượng lúa, gạo ổn định
Sự gia tăng năng suất và sản lượng ngoài việc khai thác tối đa tiềm năng năng năng suất của giống, mùa vụ còn là việc rút ngắn khoảng cách chênh lệch năng suất giữa các thửa ruộng, cánh đồng và từng tiểu vùng
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Sinh học cây lúa
Muốn nghiên cứu về quá trình sinh trưởng và phát triển trong canh tác của cây lúa,
ta cần phải hiểu rõ về đặc điểm thực vật học của nó Vì từ đặc điểm thực vật học, ta có thể cơ bản hiểu về cây, từ đó hình thành cơ sở để tìm hiểu sâu về các giai đoạn phát triển, sinh trưởng một cách đầy đủ và hợp lí
Trang 163.1.1 Đặc điểm thực vật học cây lúa (Rễ, thân, lá, hoa, hạt)
Hình 3 Cây lúa Việt Nam
Đặc điểm thực vật học rễ và thân lúa:
Trang 17Hình 6 Lá lúa
- Lá mầm mọc ra trước tiên, kế đến là lá thứ nhất, lá thứ hai
- Lá thứ hai là lá đầu tiên có phiến lá, các lá khác tiếp tục phát triển
- Lá cuối cùng gọi là lá cờ
- Lá lúa có thể phân biệt với các cây cỏ khác bởi sự hiện diện của thìa lá và tai lá
- Lá của cỏ có cổ lá nhưng cỏ có thể chỉ có tai lá hoặc thìa lá, hoặc không có cả hai
- Giống như lá cỏ, lá lúa có những gân song song
Hình 7 Đặc điểm thực vật học thân và lá lúa
Đặc điểm thực vật học hoa lúa:
Hình 8 Đặc điểm hoa lúa
Trang 18Hình 9 Gié lúa
Trên đỉnh sinh trưởng hình thành bông nguyên thuỷ Đó là một khối trắng, có lông trắng mịn dài 1mm
Bông nguyên thuỷ phân hoá lớn dần lên để hình thành bông, gié và hoa hoàn chỉnh
Hình 10 Các bộ phận của hoa lúa
Đặc điểm thực vật học hạt lúa:
Hình 11 Hạt lúa
Vỏ trấu là phần cứng bao bọc hạt chiếm khoảng 20% trọng lượng hạt lúa
Trang 19Phôi nhũ phần lớn được cấu tạo bởi chất bột, đường, đạm và chất béo; khoảng 80% phôi nhũ là tinh bột; thức ăn cần thiết cho hạt giống nảy mầm là ở phôi nhũ
Mầm phát triển cho ra thân mầm và rễ mầm Sự sinh trưởng của mầm tuỳ thuộc vào nhiệt độ, lượng không khí và nước
Hấp thu nước là nhu cầu đầu tiên để hạt lúa nảy mầm Nhiều hoạt động diễn ra bên trong hạt giống nảy mầm, chất bột, đầm và chất béo, được chuyển sang dạng thức ăn đơn giản cho mầm
Ngâm hạt giống ít nhất 24 giờ để nước có thể ngấm vào hạt dễ dàng và đều khắp
3.1.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
Ở đồng bằng sông Cửu Long các giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng 200 -240 ngày ở vụ mùa, cá biệt những giống lúa nổi có thời gian sinh trưởng đến 270 ngày
Số ngày ở giai đoạn sinh trưởng khác nhau tuỳ theo giống lúa (ngắn ngày, dài ngày)
Giai đoạn sinh sản và lúa chín không thay đổi ở hầu hết các giống (ngắn ngày) Từ lúc làm đòng đến trổ bông là 35 ngày Từ lúc trổ bông đến lúc lúa chín mất 30 ngày
Số ngày trong giai đoạn tăng trưởng tuỳ theo giống
Số ngày trong giai đoạn sinh sản và lúc lúa chín thường cố định hoặc thay đổi ít
Sự khác biệt trong quá trình sinh trưởng được căn cứ vào số ngày trong giai đoạn tăng trưởng
1 Giai đoạn nảy mầm
Đời sống cây lúa bắt đầu bằng quá trình nẩy mầm Hạt nảy mầm được cần phải hút
no nước, do vậy, để hạt lúa nảy mầm cần ngâm hạt vào nước khoảng ba ngày đêm (72 giờ) hạt mới hút đủ nước Cứ mỗi ngày đêm (24 giờ) thay nước một lần
Hạt đã hút no nước được vớt ra, đãi sạch và ủ hạt từ 24-30 giờ Trong suốt quá trình ngâm ủ, trong hạt xảy ra các hoạt động hoạt hoá tinh bột, protein và các chất béo để biến đổi thành những chất đơn giản cung cấp dinh dưỡng nuôi phôi, các tế bào phôi phân chia lớn lên thành mầm và rễ mầm, trục phôi trương to, đẩy mầm và rễ mầm ra khỏi vỏ trấu, kết thúc giai đoạn nảy mầm
Điều kiện ảnh hưởng đến sự nẩy mầm:
- Sức nẩy mầm của hạt: Thu hoạch lúa đảm bảo độ chín, bảo quả tốt sức nảy mầm của hạt tốt hơn Hạt giống có vỏ trấu mỏng thường hút nước nhanh hơn giống vỏ dày, do đó thời gian nảy mầm thường ngắn hơn
- Độ ẩm: Hạt giống nảy mầm khi hàm lượng nước của hạt đạt 25- 35% (không nẩy mầm nếu hàm lượng nước của hạt dưới 13%) Tốc độ hút nước của hạt phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước Trong điều kiện thời tiết lạnh vụ đông xuân, nên ngâm hạt giống với nhiệt độ nước 25 – 30ºC để rút ngắn thời gian ngâm Tuy nhiên thời gian ngâm quá dài, hạt hút nhiều nước, tinh bột trong hạt gạo phân giải thành đường rồi hoà tan trong nước làm tiêu hao chất dự trữ trong hạt Đồng thời, hạt dễ bị chua, thối hoặc mầm yếu
Trang 20- Nhiệt độ: nhiệt độ giới hạn thấp nhất là 10 -12ºC , nhiệt độ thích hợp là 30 -35ºC, nhiệt độ lớn hơn 40ºC có hại cho sự nảy mầm
- Khi hạt nảy mầm cũng cần phảI có đủ lượng không khí, chủ yếu là oxy cho mầm
và rễ mầm phát triển
- Do vậy, trong kỹ thuật ngâm ủ, người ta điều tiết quan hệ nước, oxy để khống chế
sự phát triển của mầm và rễ Kinh nghiệm “ngày ngâm đêm ủ” cũng là một biện pháp điều tiết sự phát triển của mầm và rễ cho phù hợp
Hình 12 Các giai đoạn hạt nảy mầm
2 Giai đoạn tăng trưởng:
- Thời gian ở giai đoạn mạ:
Theo phương pháp Đa – bô: 9 – 11 ngày
Mạ ướt: 16 – 20 ngày
Sạ thẳng
- Số chồi và diện tích lá gia tăng trong suốt giai đoạn tăng trưởng
- Nhiệt độ thấp hoặc ngày dài có thể kéo dài thời gian của giai đoạn tăng trưởng
Hình 13 Sinh trưởng của cây lúa
a Giai đoạn mạ
Thời kỳ mạ dài, ngắn tuỳ thuộc vào giống, mùa vụ hoặc phương pháp gieo trồng Gieo mạ ruộng (mạ dược) đối với các giống lúa cũ dài ngày, thời kỳ mạ khoảng 40 –
45 ngày ở vụ mùa
Trang 21Từ lúc gieo đến khi ra được 3 lá thật tốc độ hình thành các lá đầu tương đối nhanh,
rễ phôi cũng phát triển và hình thành vài lứa rễ đầu tiên nhưng số lượng rễ chưa nhiều
Để cho cây mạ sinh trưởng thuận lợi sau khi gieo cần giữ ẩm cho ruộng mạ, tránh bị ngập hoặc hạn
Hình 14 Giai đoạn cây mạ
Thời kỳ này dinh dưỡng của cây mạ chủ yếu dựa vào chất dự trữ trong hạt nên chưa cần bón thúc Cây mạ còn nhỏ, yếu, khả năng chống chịu kém Vì vậy cần tạo điều kiện để cây mạ có khả năng chống chịu rét, sâu bệnh
Từ khi cây mạ có 4 lá thật đến khi có 5–6 lá đối với giống trung ngày và 6–7 lá đối với giống dài ngày là có thể nhổ cấy
Thời kỳ này cây mạ sử dụng dinh dưỡng từ môi trường để sống, cần chú ý chăm sóc, bón thúc cho mạ phát triển Chiều cao cây, kích thước cây mạ tăng mạnh, có thể
ra được 4–5 lứa rễ, khả năng chống chịu cũng tăng lên
Thời kỳ mạ có ý nghĩa quan trọng, chăm sóc cho mạ tốt, mạ khoẻ giúp cho cây lúa khi cấy chóng hồi xanh, khả năng đẻ nhánh tốt, tạo điều kiện cho các giai đoạn sinh trưởng phát triển sau này
Hình 15 Ruộng mạ
b Giai đoạn đẻ nhánh
Điều kiện bình thường sau cấy 5-7 ngày cây lúa có thể bén rễ hồi xanh, chuyển sang
đẻ nhánh Trời âm u, thiếu ánh sáng, nhiệt độ thấp, thời gian bén rễ hồi xanh kéo dài 15-20 ngày