ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHAN NHẬT HUÂN Thích Thanh Huân ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN VÀ BẢO T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN NHẬT HUÂN (Thích Thanh Huân)
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN VÀ BẢO TỒN, PHÁT
HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN NHẬT HUÂN (Thích Thanh Huân)
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN VÀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Phan Nhật Huân
(Thích Thanh Huân)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan tài liệu liên quan đến luận án 7
1.1.1 Tổng quan tài liệu cổ sử 7
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận án 9
1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 19
1.2.1 Các khái niệm sử dụng trong luận án 19
1.2.2 Các lý thuyết áp dụng trong luận án 23
Chương 2 VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN 27
2.1 Văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần 27
2.1.1 Sự hình thành văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần 27
2.1.2 Sắc thái văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần 37
2.2 Văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần 44
2.2.1 Cơ sở hình thành văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần 45
2.2.2 Đặc trưng văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần 51
Tiểu kết chương 2: 56
Chương 3 ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHẬT GIÁO ĐẾN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN 57
3.1 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến chính trị, xã hội và văn học 57
3.1.1 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến chính trị, xã hội 57
3.1.2 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến văn học 67
3.2 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến tín ngưỡng, phong tục tập quán và đạo đức, lối sống 77
3.2.1 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến tín ngưỡng, phong tục tập quán 77
3.2.2 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến đạo đức, lối sống 85
3.3 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến kiến trúc và điêu khắc 91
3.3.1 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến kiến trúc 91
3.3.2 Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến điêu khắc 100
Tiểu kết chương 3 105
Trang 5Chương 4 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHẬT GIÁO THỜI LÝ - TRẦN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 107 4.1 Đánh giá vai trò và thực trạng của giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay 107
4.1.1 Đánh giá vai trò của giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần 107 4.1.2 Thực trạng các giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần 132
4.2 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay 138
4.2.1 Tác động đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo hiện nay 138 4.2.2 Đánh giá thực trạng việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay 142
Tiểu kết chương 4: 150 KẾT LUẬN 152 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155 TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên, trải qua hơn 2000 năm lịch sử - một chiều dài thời gian khá đủ để cho đạo Phật, dù
là truyền từ Ấn Độ hay từ Trung Hoa sang, đều được bản địa hóa, Việt Nam hóa, để những giá trị tinh hoa của Phật giáo biến thành sở hữu thực sự của dân tộc Việt Nam
Phật giáo trong mối quan hệ với văn hóa Việt Nam được biểu hiện hết sức đa dạng và phong phú trên nhiều bình diện và tầng lớp văn hóa Đó là một quá trình hòa hợp từ văn hóa bình dân, dân gian tới văn hóa bác học, từ văn hóa vật thể đến văn hóa phi vật thể Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, mối quan hệ đó đều thể hiện bản sắc, mức độ đậm nhạt khác nhau Ngay thời kỳ đầu du nhập, mối quan hệ giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam được đặt trong một tổng thể hài hòa, sự tác động qua lại, có thể chứng minh ý kiến trên qua
truyện “Man Nương” với sự xuất hiện của “Tứ pháp” Đó là dấu son đánh dấu
sự hòa mình của Phật giáo trong tín ngưỡng và văn hóa dân tộc, đồng thời, cũng là sự hỗn dung của văn hóa dân tộc với văn hóa Phật giáo
văn hóa Việt Nam mới đạt đến đỉnh cao của sự hỗn dung Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai dòng văn hóa (văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt Nam), đã tạo
trong sự nghiệp xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi Thời đại Lý - Trần không chỉ
để lại cho mỗi con người Việt Nam lòng tự hào dân tộc, đó là, một đất nước tuy nhỏ bé nhưng rất anh hùng, không chịu khuất phục trước những kẻ thù lớn
với nhiều chiến công hiển hách khi 3 lần đánh bại quân giặc Nguyên - Mông, đội quân hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ Đây chính là thời kỳ đỉnh cao của ảnh hưởng Phật giáo đối với văn hóa dân tộc
Trang 8mạnh, đồng thời, đây còn là giai đoạn để lại một “kho báu” di sản văn hóa vật
thời gian và do tác động của quá trình CNH - HĐH và ĐTH, nhiều di sản văn hóa tốt đẹp của thời kỳ Lý - Trần đang dần bị mai một và có nguy cơ bị mất đi nhanh chóng Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng văn hóa Phật giáo với văn hóa Việt Nam, phân tích, đánh giá những ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam biểu hiện qua di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nhằm mục đích bảo tồn những giá trị văn hóa Phật giáo thời kỳ Lý - Trần trong xã hội Việt Nam hiện nay là việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết
Việt Nam là một quốc gia có vị trí chính trị quan trọng trong khu vực cũng như quốc tế, luôn bị các quốc gia khác nhòm ngó, tìm cách chi phối, gây rối, thậm chí thôn tính Một quốc gia hùng cường, phát triển bảo vệ được mình, chống được giặc ngoại xâm là quốc gia không chỉ mạnh về kinh tế, quân sự mà còn là quốc gia mạnh về văn hóa, mạnh về ý chí độc lập tự cường
và tinh thần đại đoàn kết dân tộc Do vậy, nghiên cứu này cũng sẽ chỉ ra những giá trị có tính cốt lõi, những cội nguồn làm nên bản sắc văn hoá của dân tộc; khơi gợi lại niềm tự hào của mọi người dân về sự nghiệp chống giặc ngoại xâm của cha ông ta; thúc đẩy việc phát huy những giá trị văn hóa thời
kỳ Lý - Trần trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay
Trên hết, trong thời đại toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế, trước
những cơ hội và thách tthức mới, cần thiết phải xác lập và coi Phật giáo Việt Nam là mã nguồn văn hóa quan trọng giúp định hình, bảo vệ, giữ gìn bản sắc của dân tộc Chính vì vậy, nghiên cứu "ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Phật giáo trong giai đoạn hiện nay" là công việc có ý nghĩa nền tảng, góp phần vào khẳng định những giá trị lớn lao mà Phật giáo đóng góp cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc
Trang 92 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hóa những nội dung lý luận về văn hóa Phật giáo
và văn hóa Việt Nam thời Lý- Trần, luận án phân tích những ảnh hưởng của
văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam ở thời kỳ này qua đó, khẳng định vai trò của Phật giáo đối với nền văn hóa dân tộc
Trên cơ sở phân tích, đánh giá ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần, luận án đánh giá công tác bảo tồn và phát huy những giá trị Phật giáo thời kỳ Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số nội dung lý luận về văn hóa Phật giáo và văn hóa
Việt Nam thời kỳ Lý – Trần
- Phân tích những ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến văn hóa Việt Nam thời kỳ Lý - Trần trên một số lĩnh vực cơ bản
- Đánh giá vai trò và ý nghĩa của các giá trị văn hóa Phật giáo trong việc hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam Lý - Trần nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung Từ đó phân tích thực trạng các di sản văn hóa của Phật giáo thời kỳ Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay
- Đánh giá thực trạng việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa Phật giáo thời kỳ Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam có rất nhiều biểu hiện phong phú và đa dạng Trong giới hạn của luận án Tiến sĩ
Trang 10ngành Triết học, đề tài chỉ tập trung giới hạn ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo thời kỳ Lý - Trần (Phật giáo Bắc tông) đến một số lĩnh vực của văn hóa Việt Nam, đó là: Chính trị, xã hội và văn học; tín ngưỡng, phong tục tập quán
và đạo đức, lối sống; kiến trúc, và điêu khắc Hơn nữa, do luận án viết về ảnh hưởng của văn hóa đến văn hóa nên chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng tích cực
mà không xét đến ảnh hưởng tiêu cực
Ở một khía cạnh khác, trong suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt vào thời kỳ
Lý – Trần, Văn hóa Việt Nam còn chịu ảnh hưởng và hỗn dung cùng lúc bởi nhiều hình thái văn hóa/tư tưởng khác như Nho giáo, Lão giáo, văn hóa tín ngưỡng truyền thống,… Các hình thái văn hóa/tư tưởng này đồng thời có tương tác qua lại và tác động không nhỏ đến mức độ ảnh hưởng của Văn hóa Phật giáo lên Văn hóa Việt Nam Khuôn khổ của luận án cũng chưa cho phép phân tích hết những khía cạnh đó
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng; các công trình nghiên cứu về tôn giáo và Phật giáo của các nhà khoa
học trong và ngoài nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Người viết quán triệt những nguyên tắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp tôn giáo học; phương pháp lôgíc kết hợp với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp…
Trang 115 Đóng góp của luận án
Luận án phân tích và làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam thời kỳ Lý - Trần (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV), trên một số lĩnh vực cụ thể để từ đó thấy được những ảnh hưởng to lớncủa văn hóa Phật giáo đến văn hóa Việt Nam trong thời kỳ phát triển lên đến đỉnh cao của văn hóa Việt Nam Luận án đánh giá vai trò của giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay và chỉ ra thực trạng của nó
Từ đó, luận án đánh giá công tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần trong bối cảnh hiện nay
6 Ý nghĩa của luận án
Ý nghĩa lý luận: dựa trên lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, luận
án tìm hiểu và phân tích một cách có hệ thống ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam thời kỳ Lý - Trần Đồng thời, dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu và lý thuyết về bảo tồn di sản văn hóa của các nhà khoa học trên thế giới và thực tế của Việt Nam, luận án mạnh dạn đưa ra một số đánh giá về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo thời kỳ
Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn: luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu và giảng dạy về triết học, tôn giáo và văn hóa nói chung; Phật giáo, Phật giáo và văn hóa Việt Nam nói riêng; cho việc hoạch định chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước
7 Nguồn tài liệu của luận án
Nguồn tài liệu quan trọng bậc nhất của luận án là những tư liệu cổ sử viết về thời kỳ Lý - Trần gồm: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử thông giám cương mục, An Nam chí lược, Kiến văn tiểu lục, Đại Việt sử lược, Thuyền uyển tập anh, thơ
và văn Lý - Trần, tổng hợp nghìn năm văn hiến Thăng Long… Luận án cũng
Trang 12kế thừa tất cả các công trình, sách, các bài báo, tư liệu… đã công bố liên quan đến đề tài luận án nói chung, về thời Lý - Trần nói riêng Luận án cũng kế thừa các tài liệu bia ký, các di tích thời Lý - Trần (đền, chùa, lăng mộ…) còn
lại đến ngày nay
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,
nội dung chính của luận văn gồm 4 chương, 9 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tài liệu liên quan đến luận án
1.1.1 Tổng quan tài liệu cổ sử
Để thực hiện luận án, chúng tôi dựa vào những tài liệu cổ sử sau:
- Đại Việt sử ký toàn thư: đây là một trong những nguồn tư liệu chủ yếu của
luận án Cuốn sử này do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới triều Lê Đây là bộ lịch sử sớm nhất, đầy đủ nhất viết về thời Lý - Trần và các triều đại sau đó Ngô Sĩ Liên đã soạn
Đại Việt Sử ký toàn thư dựa trên hai bộ sử của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên đều
có tên là Đại Việt Sử ký (Lê Văn Hưu chép từ Triệu Đà đến Lý Chiêu Hoàng, Phan Phu Tiên chép từ Trần Thái Tông đến khi quân Minh rút khỏi nước ta)
- Đại Việt sử ký tiền biên (ĐVSKTB): cùng với hai cuốn Đại Việt sử ký
toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục, ĐVSKTB của nhà sử học
Ngô Thì Sĩ là một trong ba bộ quốc sử lớn của nước ta còn lại đến ngày nay Sau Đại Việt sử ký toàn thư khắc in và công bố vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa thứ 18, triều Lê Hy Tông (1697), ĐVSKTB là bộ quốc sử thứ hai được khắc in trong ba năm Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân Sách hoàn thành vào năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 18 (1800), triều Tây Sơn
Đại Việt sử ký tiền biên về phương diện sử liệu, căn bản được dựa trên sách Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng giá trị chủ yếu là ở những lời bình luận sắc sảo và những vấn đề tác giả nêu lên để đính chính hoặc đánh giá lại Khi thực hiện luận án, chúng tôi cũng sử dụng một số lời bình rất hay của Ngô Thì Sĩ trong sách này
- Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (viết dưới triều Lê): trong đó có các
phần liên quan đến đề tài luận án như phần: Thể lệ thượng (ghi chép các lễ văn, chế
độ của các triều đại Lý, Trần, Lê); Thiên chương (ghi chép tên những nhân vật đã
làm những bài bia, bài minh ở các chùa, quán, các triều Lý, Trần và giới thiệu, phê
Trang 14bình một số thơ văn); Tùng đàm (ngoài việc đính chính một số câu đối, câu văn của
người Trung Quốc, có chép mười bốn mẩu chuyện về các nhân vật triều Trần, triều Lê)…Kiến văn tiểu lục rất cần thiết để đi sâu vào công tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam qua các thời đại, cụ thể là thời đại Lý -Trần
- Lịch triều hiến chương loại chí: trong kho tàng thư tịch cổ, cuốn sách
“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có giá trị như bộ bách khoa
toàn thư đầu tiên của Việt Nam, cung cấp cho chúng ta những tư liệu lịch sử quý giá
về địa lý, hành chính, về chế độ quan liêu, về ngoại giao, về văn học, về các nhân vật lịch sử Phan Huy Chú soạn bộ sư liệu này trong 10 năm (1809-1819) Ông viết xong và dâng lên Vua Minh Mạng năm 1821 khi ông bắt đầu làm quan ở viện Hàn Lâm Nhận thấy tầm quan trọng của bộ sách, vua Minh Mạng đã cho khắc bản
gỗ, in thành nhiều bản, để phổ biến Lịch triều hiến chương loại chí ghi chép dữ liệu lịch sử từ thời Hồng Bàng đến Lê Mạt, gồm 49 quyển, chia làm 10 phần
- Khâm định Việt sử thông giám cương mục (xuất bản năm 1998) do Phan
Thanh Giản chủ biên, biên soạn dưới triều Nguyễn, gồm 53 quyển, trong đó có 5 quyển viết về triều đại nhà Trần
- An Nam chí lược 2 của Lê Tắc (hay Lê Trắc), biên soạn khi sống lưu vong
ở Trung Quốc khoảng nửa đầu thế kỷ XIV Bộ sử gồm 20 quyển (nay chỉ còn lại 19
2
Điều đáng chú ý là cuốn An Nam chí lược đã chính thức được đưa vào bộ Tứ khố toàn thư của
Trung Quốc, rất được người nước ngoài quan tâm (có tới 20 bài tựa và bạt ca ngợi trên các sách dịch của nước ngoài: ở Nhật Kshi Ginko cho in lại ở Tokyo, do nhà Lạc Thiện Đường của ông xuất bản; sách còn được sao in lại bên Anh, Pháp…) Tuy nhiên, ở Việt Nam, hầu như không có một đánh giá nào coi trọng bởi
tiếng việt của Ủy ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam, thuộc Viện Đại học Huế xuất bản, lời giới thiệu phần nào
đã có sự đánh giá lại về nội dung cuốn sách: “chỉ xem sách này là một bộ sử liệu, là đối tượng cho cuộc nghiên cứu sử học thuần túy, chứ không phải chút đỉnh nào dung thứ những hành động và quan niệm sai lầm
khi dùng cuốn sách để nghiên cứu về thời kỳ Lý - Trần Đặc biệt, trong 19 quyển còn lại của bộ sách, chúng tôi chú ý một số quyển như: quyển 1: Thông tin tổng quát về nước Đại Việt (chúng tôi chú ý phần phong tục của nước Đại Việt thời bấy giờ); quyển 12: giới thiệu từ Lý Công Uẩn đến Lý Chiêu Hoàng; quyển 13: chép
về nhà Trần từ Trần Thừa đến các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông,
Trang 15quyển) viết về lịch sử, văn hóa, địa lý, quan hệ bang giao, nhân vật, thơ ca, phong tục tập quán, sản vật… của nước An Nam (Việt Nam) từ ngày đầu dựng nước đến cuối triều Trần Sách chúng tôi sử dụng do Nhà xuất bản Thuận Hóa, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây ấn hành năm 2002
- Việt điện u linh: của Lý Tế Xuyên, sáng tác vào cuối thời Trần, kể về công
tích của 27 vị thần thờ trong các đền miếu thời Lý - Trần, được các nhà sử gia đời sau tiếp tục bổ sung
- Thiền Uyển tập anh: là một cuốn sách cổ của Phật giáo Việt Nam, ghi lại
các tông phái thiền học và sự tích các vị thiền sư nổi tiếng từ cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý và một số vị đầu thời Trần Đây là tác phẩm không những
có giá trị lịch sử Phật giáo mà còn là một tác phẩm truyền kỳ có giá trị về mặt văn học, triết học, văn hóa dân gian Cho đến nay, chúng ta chỉ còn bản trùng san in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), thời Hậu Lê là bản in cổ nhất được hòa thượng Thích Như Trí và các môn đồ của ngài khắc in ở chùa Tiêu Sơn Hiện chưa rõ tác giả của tác phẩm này, hiện nay chúng ta tiếp cận tác phẩm thông qua các bản dịch, chú giải
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận án
Tài liệu liên quan đến luận án rất phong phú và đa dạng, chính vì vậy để tiện cho việc theo dõi tổng quan chúng tôi chia các tài liệu thành các chủ đề chính: Các tài liệu về chủ đề văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần; Các tài liệu về chủ đề văn hóa Phật giáo và sự tác động của văn hóa Phật giáo đến văn hóa Việt Nam nói chung, thời Lý - Trần nói riêng; Các tài liệu về chủ đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần
Thứ nhất: Các tài liệu về chủ đề văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần:
Trong lịch sử Việt Nam, thời Lý - Trần là giai đoạn hào hùng, phát triển rực
rỡ, của chế độ phong kiến nước ta Đây là giai đoạn được đánh giá là: sức mạnh
Trần Minh Tông; quyển 14: ghi chép các việc học tập, quan chế, phẩm phục, hành chính, pháp luật, binh chế…; quyển 18: An Nam danh nhân thi, chép thơ của các vị vua Trần…
Trang 16Việt Nam trỗi dậy mạnh mẽ, ba lần đánh tan quân giặc Nguyên - Mông, một đội quân xâm lược có tầm cỡ thế giới; đưa công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa lên đỉnh cao mới theo đà tiến chung của nhân loại Những thành tựu đạt được ở giai đoạn này thật đáng nể, bao gồm: Nền Đại học Việt Nam đầu tiên được xây dựng với Trường Quốc Tử Giám (1076); Bộ lịch sử Việt Nam đầu tiên gồm 30 quyển do Lê
Văn Hưu biên soạn với tên Đại Việt sử ký (1272); hệ thống đê dài hơn 2.500 km
không kém gì hệ thống Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc; những công trình
để đời như tứ đại khí (Vạc Phổ Minh, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm)….[Xem 130, tr.5–7]
Thời Lý - Trần là thời đại “chói lòa” với những thành tựu vừa nêu đã khiến các nhà sử học, kinh tế học, giáo dục học, quân sự học…, tốn không biết bao nhiêu giấy mực để tìm hiểu về các lĩnh vực chuyên sâu của mình Một cuốn sách quan
trọng không thể không nhắc đến khi nghiên cứu về giai đoạn này đó là “Tìm hiểu xã
hội Việt Nam thời Lý - Trần” của Viện sử học năm 1980 Cuốn sách tập hợp được
những nhà nghiên cứu có uy tín, nghiên cứu chuyên sâu về xã hội Lý - Trần trên các lĩnh vực: hình thái kinh tế (6 bài báo); tư tưởng văn hóa (7 bài); thể chế chính trị và kết cấu đẳng cấp (4 bài báo)
Năm 2010, nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội, nhà xuất bản Hà
Nội ấn hành cuốn sách Vương triều Lý (1009 - 1226) do GS TS Nguyễn Quang
Ngọc (chủ biên) Sự kiện Lý Công Uẩn lên ngôi, sáng lập ra vương triều Lý, dời đô
từ Hoa Lư về Thăng Long là những mốc lịch sử trọng đại, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của vương triều Lý và quốc gia Đại Việt Trong lịch sử Việt Nam, triều Lý được coi là triều đại phát triển thịnh trị Đó là thời kỳ xây dựng đất nước trên quy
mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của nền văn hoá dân tộc sau hơn nghìn năm Bắc thuộc Vương triều Lý đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - Kỷ nguyên văn minh Đại Việt Dưới triều Lý, nước Đại Việt trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất và thịnh vượng trong khu vực mà Thăng Long là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước, nơi hội tụ, kết tinh, thăng hoa và toả
Trang 17sáng tâm hồn, trí tuệ dân tộc Trong cuốn sách có khá nhiều bài viết như: “Nhà Lý
và văn minh Đại Việt” của Trần Quốc Vượng; “Tổ chức chính quyền và hành chính của nước Đại Việt dưới thời Lý (1009-1225)” của Đỗ Đức Hùng; “Hệ tư tưởng Lý”
của Nguyễn Duy Hinh; “Về một nghi lễ Mật giáo qua bia tháp Sùng Thiện Diên
Linh thời Lý” của Hà Văn Tấn;
Nghiên cứu chuyên biệt về thời Trần trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội có các cuốn sách như: Kinh tế, xã hội thời Trần (Thế kỷ XIII-XIV) của Nguyễn
Thị Phương Chi (xuất bản năm 2009) Trong cuốn sách, các vấn đề ruộng đất và sở hữu ruộng đất; đời sống nhân dân; kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp và các tầng lớp xã hội được đưa ra nghiên cứu, tìm hiểu
Ngoài ra, các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội thời Trần còn được đề cập đến
trong bộ Lịch sử Việt Nam (15 tập) của Viện Sử học do PGS.TS Trần Đức Cường
làm tổng chủ nhiệm Trong đó, 3 chương về các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội của thời Trần (thế kỷ XIII-XIV) trong Tập II: Lịch sử Việt Nam thế kỷ X-XIV
do tác giả Nguyễn Thị Phương Chi viết được chúng tôi chú trọng
Đề cập đến thời Lý - Trần còn có các bài viết của các học giả nước ngoài
như: "Một vài suy nghĩ về chế độ khoa cử của triều đại nhà Lý ở Việt Nam” của Song Jung Nam (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 1-2012); ”The Rise of the Coast:
Trade, state, and culture in Early Đại Việt” (Sự phát triển của vùng duyên hải:
Thương mại, nhà nước và văn hóa Đại Việt thời kỳ đầu), Journal of the Southeast
Asian studies, vol 37 (1), United Kingdom, 2006 của John K Whitmore; ”Sự thịnh
trị về văn hóa của Việt Nam thế kỷ XIV” của Olivers Wolters, trong: Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nguyệt san Xưa & Nay - Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2001; cuốn
sách Luật pháp triều Lý - sự tiếp thu luật nhà Đường và ảnh hưởng của nó tới hình
luật triều Lê của Yu Insun, trong : Vương triều Lý, Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2010
Các tác phẩm trên đề cập đến các khía cạnh khác nhau của thời Lý - Trần: giáo dục, luật pháp, văn hóa
Trang 18Những công trình, tác phẩm viết về thời Lý - Trần mà chúng tôi vừa trình bày trên đây đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu phong phú cùng các quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước viết về thời kỳ này Đây là những tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Góc độ tiếp cận chủ yếu là chính trị, quân sự và lịch sử
Qua những công trình trên, chúng tôi cũng đúc rút ra sự thiếu hụt của những công trình nghiên cứu đề cập đến văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần và ảnh hưởng của nó tới văn hóa Việt Nam Điều này cũng có thể hiểu được bởi nguyên nhân: ở Việt Nam, trong suốt một thời gian dài trước năm 1986, tồn tại quan niệm ấu trĩ tả khuynh cho rằng, tôn giáo sẽ mất đi cùng với quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội
Do đó, nghiên cứu về vấn đề văn hóa tôn giáo ít được các nhà khoa học quan tâm
Thứ hai, Các tài liệu về chủ đề văn hóa Phật giáo và sự tác động của văn hóa Phật giáo đến văn hóa Việt Nam nói chung, thời Lý - Trần nói riêng:
Những năm gần đây, trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ Đổi mới, Đảng ta đã thừa nhận tôn giáo (trong đó có Phật giáo) là yếu tố cấu thành
và tạo nên bản sắc của văn hóa Việt Nam Do đó, nó được coi như nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội Trên cơ sở đó, những công trình nghiên cứu về tôn giáo và
văn hóa tôn giáo nói chung, Phật giáo và văn hóa Phật giáo nói riêng, cũng được
các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều hơn
Ở lĩnh vực nghiên cứu về tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời
sống văn hóa - xã hội có các công trình như: Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay (Nguyễn Tài Thư chủ biên, 1997); Sự tác động qua lại giữa văn hóa và tôn giáo của Lê Văn Lợi (1999); Truyền thống văn hóa và Phật giáo Việt Nam của Minh Chi (2003); Tôn giáo trong mối quan hệ với văn hóa và phát triển ở Việt Nam của Nguyễn Hồng Dương (2004); “Tôn giáo và văn hóa” của Trương Sỹ Hùng (2007),…
Các công trình trên đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa tôn giáo đối với con người và văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, mối quan hệ Phật giáo và văn hóa Việt
Trang 19Nam chỉ được đề cập với dung lượng một mục nhỏ trong toàn bộ các công trình nghiên cứu nêu trên
Nghiên cứu về Phật giáo có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Lịch
sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tài Thư (chủ biên, 1988); Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh (1999); Việt Nam Phật giáo sử luận (2 tập) của
Nguyễn Lang (2000); Lịch sử Phật giáo Việt Nam (2 tập) của Lê Mạnh Thát (2001);
Phật giáo nhập thế và phát triển” (2 tập) của Thích Trí Quảng (2008); “Bộ mật tông” của Giáo hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh (1996) (do Thích Viên Đức
dịch)…, Các công trình nêu trên đã phân tích rất rõ về quá trình du nhập, phát triển
và đặc điểm cũng như sự khác biệt của Phật giáo Việt Nam
Nghiên cứu văn hóa Phật giáo, có một số luận án tiến sĩ Triết học như:
“Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống
người Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Toan; “Về vai trò Phật giáo ở Việt Nam” (qua triều đại Lý) của Phạm Văn Sinh; “Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm” của Trương Văn Chung; “Văn học Phật giáo thời Lý - Trần, diện mạo
và đặc điểm” (luận án tiến sĩ Ngữ văn) của Nguyễn công Lý… Mối quan hệ giữa
Phật giáo đối với nền văn hóa dân tộc còn ít được đề cập
Bên cạnh đó, còn có một số công trình đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo
thời kỳ Lý - Trần đối với xã hội Việt Nam Về ảnh hưởng của Phật giáo Lý - Trần
đối với hệ tư tưởng có các tác phẩm: Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng
Việt Nam của Viện Triết học (1986) gồm các bài viết: “Đạo Phật và một số vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam” của Trần Văn Giàu Ông cho rằng, Đạo Phật với 4
chữ cốt lõi: cứu khổ, cứu nạn và là một tôn giáo có nội dung triết học Nghiên cứu đạo Phật là phải xem tư tưởng của Phật phục vụ được gì, giải thích được vấn đề gì
cho cuộc sống [Xem 106, tr.14]; bài viết “Mấy vấn đề về nghiên cứu Phật giáo và
lịch sử tư tưởng của dân tộc” của Trần Bạch Đằng Trong bài viết tác giả đề cập đến
vấn đề mối quan hệ giữa Phật giáo với lịch sử tư tưởng Trong mối quan hệ này
Phật giáo là chủ thể nhưng ngược lại tư tưởng Việt Nam cũng có ảnh hưởng đến
Trang 20Phật giáo Thậm chí, ảnh hưởng của tư tưởng Việt Nam đến Phật giáo còn có tính
chất quyết định [Xem 106, tr.18] Theo tác giả, nghiên cứu mối quan hệ trên cần
phải xét Phật giáo tác động cụ thể như thế nào đối với quần chúng tức là quần chúng nắm được cái cơ bản, cái cốt lõi của đạo Phật ra sao? Vào những tầng lớp nào? Phạm vi rộng hẹp ra sao? [Xem 106, tr.19] Một bài viết khác có nhan đề
“Phật giáo và thế giới quan người Việt Nam trong lịch sử” của Nguyễn Tài Thư
Ông cho rằng, Phật giáo, một nhu cầu của người Việt Nam trong lịch sử bởi những
lý do sau đây: tâm lý chung của con người là ấm no, mạnh khỏe, giàu sang, sống lâu… Những tín ngưỡng nguyên thủy phần nào thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người Tuy nhiên tín ngưỡng nguyên thủy không thỏa mãn được nhu cầu nhận thức
và tâm lý con người đã phát triển Cùng với sự phát triển của xã hội, người Việt Nam ngày càng muốn hiểu biết cuộc sống và ý nghĩa của mình, muốn biết sự sinh
thành của mình, muốn biết sự vận động của con người trong xã hội hiện thực Đạo
Phật với các lý thuyết khổ, nguyên nhân của khổ, cảnh giới an lạc và con đường thoát khổ (Tứ diệu đế), tinh thần tư bi, bình đẳng, vô thường, vô ngã, vị tha, hành
Bồ Tát đạo… đã đáp ứng được yêu cầu đó
Như vậy, sống và yêu cầu sống không được đáp ứng trong xã hội là điều kiện cho Phật giáo du nhập và thắng thế và điều đó còn quy định sự phát triển của các tông phái Phật giáo ở Việt Nam Tông phái nào chú ý đến yêu cầu sống của con người trong cảnh khổ đau thì phát triển, tông phái nào mang lý luận cao siêu nhưng không chú ý đến thỏa mãn nhu cầu sống của con người thì dù có thịnh hành cũng chỉ là hiện tượng tạm thời trong lịch sử [Xem 106]
Trong cuốn sách kể trên còn có bài viết của Hà Thúc Minh với nhan đề:
“Lịch sử tư tưởng Việt Nam và vấn đề Phật giáo” Tác giả cho rằng: Phật giáo
thông qua hình thức văn hóa để tồn tại và truyền giáo, do đó nó có đóng góp trực tiếp vào sự hình thành và phát triển của văn hóa, mặc dầu Phật giáo không thực chất là học thuyết nhằm khẳng định nền văn hóa của dân tộc Trung tâm Luy Lâu xưa vừa là nơi truyền đạo, vừa là trung tâm văn hóa bởi nhiều tác phẩm văn học,
y học, triết học, lịch sử được in ở nhà chùa Nhiều khoa thi kén chọn nhân tài
Trang 21được mở ở sân chùa Nhiều kiến trúc chùa chiền và công trình điêu khắc làm vẻ vang cho văn hóa dân tộc Như vậy Phật giáo không đóng góp trực tiếp đối với
tư tưởng yêu nước nhưng đã có đóng góp rất lớn vào việc hình thành nền văn
hóa dân tộc [Xem 106, tr.44]
Đề cập đến đóng góp của Phật giáo đối với nền văn hóa dân tộc còn có một
số bài đăng trên các tạp chí như: Trần Văn Trình (1999) “Tìm hiểu những đặc trưng
của Phật giáo trong quá trình hội nhập với văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
Phật học số 6; Vũ Khiêu (2006) “Triết học nghệ thuật Việt Nam trong quá trình tiếp
thu tư tưởng Phật giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5, (2004); Nhìn chung,
những công trình vừa nêu đều chung một quan điểm thừa nhận văn hóa Phật giáo có ảnh hưởng tích cực đến văn hóa Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc
Ngoài ra, còn có nhiều công trình, bài viết, đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu
các hội nghị, hội thảo khoa học như: Kỷ yếu “Hội thảo Đức Vua - Phật Hoàng
Trần Nhân Tông cuộc đời và sự nghiệp” do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và
Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức năm 2008; Kỷ yếu “Hội thảo Phật giáo thời
Lý với 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội”, do Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Phân
viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội tổ chức năm 2010 (sau đó các bài
viết đã in thành cuốn sách Vương triều Lý (1009 - 1226) mà chúng tôi đã đề cập ở
trên) Tuy nhiên, các bài viết trong những công trình nêu trên chủ yếu đề cập đến các vấn đề như tổ chức chính quyền, hành chính của nước Đại Việt dưới thời Lý Trần; chế độ ruộng đất, nền văn hóa Đại Việt Thăng Long thời Lý, văn hóa, các vị vua anh minh… Các bài viết đề cập đến văn hóa Phật giáo và mối quan hệ với văn
hóa dân tộc còn thiếu vắng Đặc biệt, chủ đề ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến
văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần còn chưa được nghiên cứu
Thứ ba, các tài liệu về chủ đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần
Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần đáng
chú ý gồm cuốn: Mỹ thuật Lý - Trần, Mỹ thuật Phật giáo của Chu Quang Trứ
Trang 22(2012), Nxb Mỹ Thuật, đã đánh giá tổng quan những vấn đề về mỹ thuật Phật giáo thời Lý - Trần, những thành tựu Mỹ thuật ở một số ngôi chùa tiêu biểu, trong đó tác giả có những nhận định, đánh giá rất hay về mỹ thuật Phật giáo thời kỳ Lý - Trần
Mỹ thuật thời Trần, Nxb, Văn Hóa (Hà Nội), 1977 do Nguyễn Đức Nùng
(Chủ biên) Bằng phương pháp miêu tả, vẽ, chụp ảnh các công trình như chùa, lăng mộ, tháp và đồ gốm…, các tác giả đã giới thiệu đến người đọc lĩnh vực mỹ thuật thời Trần trên các phương diện kiến trúc, điêu khắc, hội họa, trang trí Tuy nhiên, những công trình văn hóa của Phật giáo Trần đề cập đến trong cuốn sách chủ yếu dựa trên những tư liệu cổ sử, phần lớn hiện nay đã bị mất đi do thời gian
và chiến tranh
Tiếp đến, cuốn sách “Chùa Việt Nam” (in lần thứ nhất) năm 1992, của các
tác giả Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long Với sự dày công nghiên cứu, khảo sát của các tác giả, cuốn sách đã giới thiệu đến bạn đọc 122 ngôi chùa trên cả nước Theo GS Hà Văn Tấn: khảo sát những ngôi chùa, chúng ta không chỉ thấy được đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, đặc điểm của tôn giáo và tín ngưỡng Việt Nam mà còn hiểu rõ lịch sử văn hóa và tư tưởng Việt Nam
Ngoài ra, các tác giả Nguyễn Thế Long và Phạm Mai Hùng cũng xuất bản
công trình: Chùa, Đình, Đền Hà Nội (1992), Nxb Văn hóa Thông tin (Hà Nội); tác giả Doãn Đoan Trinh cũng cho ra đời cuốn sách: Hà Nội, di tích lịch sử văn hóa và
danh thắng, năm 2000, do Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân
tộc Việt Nam xuất bản Đây là tập sách miêu thuật các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng của Hà Nội
Vấn đề bảo tồn di giá trị văn hóa Phật giáo nói chung, Phật giáo thời Lý - Trần nói riêng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, trong đó phải
kể đến các công trình là các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước và hội thảo khoa học:
Đề tài cấp Nhà nước của tác giả Đặng Văn Bài (2010), "Bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế"; Hội thảo khoa học quốc tế: "Một số vấn đề văn hóa tôn giáo và bảo tồn di sản văn hóa tôn giáo trong giai đoạn hiện nay"; Để làm rõ các giá trị di sản
Trang 23văn hóa Lý – Trần trên địa bàn Bắc Giang từ đó tìm ra giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa trong giai đoạn hiện nay, ngày 2/11/2010 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang đã phối hợp cùng UBND huyện Lục Ngạn tổ chức buổi hội thảo khoa học "Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Lý – Trần tỉnh Bắc Giang” Buổi hội thảo đã thu hút được sự tham gia của đông đảo các học giả, nhà nghiên cứu của trung ương và địa phương, nhận được nhiều ý kiến đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề này
Các công trình là các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành uy tín:
Nguyễn Quế Hương, Nguyễn Ngọc Quỳnh (2005), "Về công tác bảo tồn và phát
huy giá trị di tích Phật giáo trong những năm gần đây", Tạp chí Khoa học Xã hội
(1), tr 69-78; Nguyễn Hữu Oanh (2009), "Bảo vệ, phát huy văn hóa Phật giáo một
nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết", Tạp chí Di sản văn hóa (1), tr 6-22
Đánh giá chung
Nhìn chung, ở cụm chủ đề thứ nhất, các công trình nghiên cứu của các tác giả viết khá sâu về văn hóa Việt Nam thời kỳ Lý - Trần, bởi đây là thời kỳ thịnh vượng, vàng son của dân tộc Văn hóa Việt Nam thời kỳ này phát triển toàn diện, thịnh vượng về mọi mặt, là niềm tự hào lớn về một thời kỳ oanh liệt trong quá khứ
Không chỉ có những công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, mà của cả những học giả nước ngoài Các công trình đó đã dựng nên toàn ảnh bức tranh đa sắc màu của xã hội Việt Nam thời Lý - Trần Trong các công trình đó, ít nhiều đều có
đề cập đến Phật giáo Việt Nam thời kỳ Lý - Trần, bởi Phật giáo in dấu ấn sâu đậm trong văn hóa Việt Nam thời kỳ này
Cụm chủ đề thứ hai, các công trình nghiên cứu về văn hóa Phật giáo và sự tác động của văn hóa Phật giáo đến văn hóa Việt Nam nói chung, thời Lý - Trần nói riêng Mỗi nhà nghiên cứu dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, đều chỉ ra được những ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đến các lĩnh vực cụ thể của xã hội Việt Nam, trong đó có văn hóa
Các công trình nghiên cứu ở chủ đề thứ ba kể ra trên đây đã cố gắng khai thác những giá trị văn hóa, lịch sử của các ngôi chùa qua các thời kỳ (trong đó có
Trang 24thời Lý - Trần) Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ dừng ở việc mô tả di tích, giới thiệu cảnh quan, lịch sử hình thành ngôi chùa, cùng các giá trị kiến trúc, hội họa…, chưa có công trình nào thống kê các di tích Lý - Trần hiện nay có bao nhiêu, gồm những loại hình gì, vai trò và thực trạng (tình trạng “sức khỏe”) của các di tích, tình hình các lễ hội, sinh hoạt tôn giáo…có vai trò như thế nào trong đời sống người dân?
Hay nói cách khác, về vai trò và thực trạng của các giá trị, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thời Lý - Trần chưa được đề cập đến một cách đầy đủ, toàn diện trong một công trình nghiên cứu nào Đây là hai vấn đề cần giải quyết trước khi đưa
ra những biện pháp khuyến nghị về công tác bảo tồn Việc đánh giá thực trạng các
di tích, sức ảnh hưởng (các giá trị, di sản văn hóa) tới người dân, tác động của Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và đô thị hóa đến các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thời Lý - Trần là rất quan trọng bởi trên cơ sở đó, mới đưa ra được những khuyến nghị sát với thực tiễn Ngoài ra, cũng cần phải tham khảo kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới trong vấn đề bảo tồn Việc bảo tồn các giá trị, di sản văn hóa tôn giáo cấp quốc gia và địa phương là ai (tức vấn đề chủ thể) ?
* Những vấn đề, luận cứ, luận điểm được luận án tiếp thu, kế thừa
Nhìn một cách tổng thể, những công trình, tác phẩm, sách, bài tạp chí
nghiên cứu trên được chúng tôi kế thừa vấn đề sau:
- Các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội thời Lý - Trần
- Các nghiên cứu tôn giáo, và văn hóa tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng
- Các nghiên cứu về tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống văn hóa - xã hội
- Các công trình đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo Lý - Trần đối với hệ tư tưởng và con người Việt Nam
* Những vấn đề còn bỏ trống được Luận án nghiên cứu
Qua đọc và phân tích những công trình nghiên cứu, cuốn sách, các bài tạp
chí nêu trên, chúng tôi thấy vấn đề: Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với
Trang 25văn hoá Việt Nam thời Lý - Trần và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Phật giáo trong giai đoạn hiện nay còn chưa được nghiên cứu, đặc biệt trong lịch sử nghiên
cứu, chúng tôi chưa thấy có một công trình nào đánh giá một cách xác đáng về vấn
đề bảo tồn các giá trị văn hóa Phật giáo thời kỳ Lý - Trần trong giai đoạn hiện nay, trong khi đó, đây là vấn đề rất hay và hữu ích, cần được nghiên cứu Luận án của tôi
sẽ góp phần nhỏ bé làm sáng tỏ vấn đề còn bỏ trống nêu trên
1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Các khái niệm sử dụng trong luận án
Để thực hiện đề tài luận án, chúng tôi sử dụng một số khái niệm: văn hóa, văn hóa Phật giáo, nội hàm cụ thể như sau:
* Một số khái niệm về văn hóa
- Văn hóa (Culture):
Có một số định nghĩa tiêu biểu về văn hóa như sau:
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật, văn học, triết học, đạo đức, giáo dục…) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế -
xã hội [70; tr.10]
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) vào năm 1982 đã đề cập đến khái niệm về văn hóa rất khái quát, bao gồm mọi lĩnh vực vật chất và tinh thần của đời sống con người trong cộng đồng xã hội và trong điều kiện tự nhiên của môi trường sinh thái cụ thể của cộng đồng cư dân sinh sống như sau:
Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể nhưng nét riêng biệt tinh thần
và vật chất trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương,
Trang 26những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân [Trích theo138, tr.24]
Năm 1988, UNESCO lại đưa ra thêm một nhận định về văn hóa như sau:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của đời sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trog quá khứ cũng như trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng mình [ 125, tr.19]
Theo UNESCO, văn hóa phi vật thể bao gồm cả âm nhạc, múa, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi thức, phong tục tập quán, lễ hội, nấu ăn,
bí quyết và qui trình công nghệ của các nghề truyền thống
Trong cuốn Lý giải tôn giáo, nhà tôn giáo học Trung Quốc Trác Tân Bình
chia văn hóa thành ba tầng diện: tầng diện vật chất, tầng diện kết cấu và tầng diện tinh thần Ở tầng diện tinh thần của văn hóa, ông chỉ ra những yếu tố hợp thành gồm tín ngưỡng, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, quan niệm giá trị, hứng thú thẩm mỹ,
phương thức tư duy Nó là tầng diện sâu nhất trong văn hóa, đặc trưng bản chất của
văn hóa tương quan được quyết định bởi nó
- Phật giáo là một trong những tôn giáo thế giới, là hiện tượng xã hội, là một
hình thức sinh hoạt về đức tin, về tâm linh, đồng thời, nó cũng là một hình thái của
hệ tư tưởng Vì vậy, nó là bệ đỡ về mặt tư tưởng của văn minh phương Đông Phật giáo có ảnh hưởng khá sâu sắc và rộng lớn đến đời sống văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia trên thế giới Phật giáo chứa đựng nội dung phong phú về lịch sử, tư tưởng đạo đức, văn hóa Nó chi phối
sự phát triển của các lĩnh vực xã hội như Nhà nước và các thiết chế của Nhà nước,
Trang 27giáo dục và quản lý giáo dục, văn hóa và các thiết chế văn hóa, nghệ thuật…, trong
đó, văn hóa Phật giáo là lĩnh vực đặc sắc nhất, thể hiện phong phú trên cả hai mặt văn hóa vật thể và phi vật thể
Trong đời sống xã hội, văn hóa Phật giáo biểu hiện và thẩm thấu không chỉ đối với cộng đồng giáo hữu của mình, mà còn thấm sâu, lan tỏa trong đời sống văn hóa của toàn xã hội, với tính cách như là cái bộ phận của cái toàn thể
- Văn hóa Phật giáo:
Theo những định nghĩa về văn hóa nêu trên, chúng tôi cho rằng: văn hóa Phật giáo là một bộ phận của văn hóa nhân loại, bao gồm hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần của đạo Phật, được sáng tạo và tích lũy trong lịch sử truyền thừa, phát triển của đạo Phật và trong quá trình hoạt động thực tiễn của cộng đồng phật
tử Các giá trị này được gìn giữ, phát triển qua các giai đoạn lịch sử của Giáo hội Phật giáo, tạo ra những nét đặc thù và đơn nhất ở cộng đồng Phật tử, đồng thời lan tỏa, thẩm thấu vào những cộng đồng không tôn giáo và các tôn giáo khác
* Một số khái niệm liên quan đến bảo tồn giá trị văn hóa Phật giáo
- Giá trị, giá trị văn hóa (Cultural Value): “là một hình thái của ý thức, của
đời sống tinh thần, tuy nhiên nó phản ánh và kết tinh những giá trị của cả đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của con người”[100, tr.21] Giá trị văn hóa
do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử nhưng một khi hệ giá trị văn hóa đã hình thành thì nó lại giữ vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy Nó chính là một thứ vốn xã hội (Social Capital) mà trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta có thể khai thác nó như một nguồn lực
Giá trị văn hóa được thể hiện thành các di sản văn hóa dân tộc dưới dạng vật
chất và tinh thần Hay nói một cách khác, giá trị văn hóa của một dân tộc được đúc
kết dưới các dạng văn hóa phi vật thể và vật thể Giá trị văn hóa cũng được biểu hiện trong bản sắc dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Mọi bản sắc dân tộc đều
chứa đựng các giá trị Các giá trị văn hóa còn được thể hiện thông qua ngôn ngữ và
hình tượng, đó là các biểu trưng, biểu tượng Vì vậy, khi xem xét giá trị văn hóa,
Trang 28cần phải đặt chúng trong mối liên hệ tổng thể: văn hóa - giá trị văn hóa - di sản văn hóa - bản sắc văn hóa [Xem 100 tr.12-13]
- Bảo tồn (Preservation): được hiểu “là các nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị,
các bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có (truyền thống) của mỗi dân tộc, quốc gia Gần với khái niệm này, người ta còn hay dùng các cụm từ khác nhau, như giữ gìn và phát huy, kế thừa và phát huy…”[100, tr.37] Đó là những nỗ lực nhằm lưu giữ lại những gì được coi là giá trị và bản sắc văn hóa truyền thống Tuy nhiên, cũng phải hiểu rằng trong việc làm, hành động nhằm bảo tồn, giữ gìn hay kế thừa ấy, nó còn hàm nghĩa sự lựa chọn những gì là giá trị, là bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đặc biệt những giá trị, bản sắc ấy đã và còn tiếp tục tạo nên nội lực, động lực cho sự phát triển văn hóa, xã hội hiện tại và tương lai của đất nước Bởi vậy, nguyên tắc quan trọng của bảo tồn, giữ gìn hay kế thừa phải là nguyên tắc phát triển, cho phát triển và vì phát triển
- Phát huy (Promotion): được hiểu
Với ý nghĩa là những hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển xã hội Phát huy còn bao hàm
ý nghĩa, đó chính là môi trường tốt nhất để bảo tồn và làm giàu chính bản thân văn hóa Xét cho cùng văn hóa không thể được bảo tồn, làm giàu nếu như nó không được phát huy trong đời sống xã hội Chính trong môi trường
xã hội sống động, văn hóa sẽ được nuôi dưỡng, bảo tồn, được sinh sôi, nảy
nở như một cơ thể sống [100, tr.39]
Hiểu với ý nghĩa đó, trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa Phật giáo Lý - Trần có một ý nghĩa hết sức thiết thực đối với quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam
- Di sản: có thể hiểu là những giá trị vật thể và phi vật thể có giá trị, được tổ
tiên để lại
Trang 29- Di tích lịch sử-văn hoá: là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật
thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
- Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm, có sự kết
hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học
- Di vật: là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học
- Cổ vật: là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn
hoá, khoa học có từ một trăm năm tuổi trở lên
- Bảo vật quốc gia: là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý
hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học
- Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia: là sản phẩm được làm giống như
bản gốc về hình dáng, kích thước, chất lượng, màu sắc, trang trí và những đặc điểm khác
- Sưu tập: là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn
hoá phi vật thể được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội
- Bảo tàng: là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và
xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân
1.2.2 Các lý thuyết áp dụng trong luận án
* Triết học liên văn hóa
Từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nhiều nhà triết học đã nỗ lực kiến tạo một
lý thuyết triết học mới - triết học liên văn hoá nhằm đáp ứng nhu cầu đối thoại giữa các nền văn hóa Liên văn hóa có nghĩa là nhiều nền văn hóa có thể cùng nhau tồn tại, "chung sống hòa bình" trong cùng một xã hội và cứ hai nền văn hóa trở lên chắc chắn có quan hệ với nhau theo cách nào đó Đối với văn hóa ngoại nhập, ban đầu
Trang 30được nhìn nhận như một cái gì đó mới mẻ, thời kỳ đầu chưa biết có liên hệ gì với cái bản địa không Theo thời gian, sự hứng thú với cái mới tăng lên và một sự tái cấu trúc đã diễn ra Bằng cách đó, cái ngoại nhập đã được tích hợp vào cái bản địa
và được củng cố Đó là quá trình chuyển hóa những cái bản sắc hàm nghĩa một sự cởi mở bản thân mình, đón nhận cái mới Tính "liên văn hóa" được giả định bằng các kiểu quan hệ đặc trưng: Sự bình đẳng, là nền tảng để chấp nhận một nền văn hóa khác với những đặc trưng độc đáo của nó trong khi vẫn nhận biết sự khác biệt
và đa dạng; đối thoại, là cách thức quan trọng để tạo dựng các mối quan hệ giữa các
nền văn hóa
* Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa (Acculturation)
Lý thuyết này ra đời vào cuối thế kỷ XIX ở Anh Giao lưu tiếp biến văn hóa
là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng của một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa đấy
Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hóa phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá cái ngoại sinh, để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc Trong tiếp nhận các yếu tố văn hóa ngoại sinh, hệ giá trị
xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng Nó là “màng lọc” để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa có thể xảy ra cưỡng bức hay hòa bình [Xem 25, tr.107]
* Lý thuyết về bảo tồn di sản
Hiện nay trên thế giới có ba quan điểm (tương ứng với ba mô hình) về bảo tồn di sản văn hoá đó là:
- Bảo tồn nguyên vẹn: Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn không phải không có
cơ sở khoa học của nó Những người theo quan điểm này cho rằng, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng bị thế
hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản Mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn
Trang 31hóa nhất định, mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một cách
cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Không những thế, những tác động của ngày hôm nay sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà các thế hệ trước để lại Vì thế, có thể làm cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị của di sản đang tồn tại Như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng chúng ta chưa có để thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải các giá trị của di sản văn hóa, nên chúng ta cứ giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ nối tiếp có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản tốt hơn
Trên thực tế, quan điểm bảo tồn nguyên vẹn được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt là các nhà bảo tồn, bảo tàng trong lĩnh vực văn hóa vật thể Họ cho rằng, những sản phẩm của quá khứ nên bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có và được ủng
hộ trong lĩnh vực văn hoá vật thể Đối với lĩnh vực văn hóa phi vật thể (lễ hội truyền thống ), quan điểm này không được ủng hộ
- Bảo tồn trên cơ sở kế thừa:
Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo của quá khứ dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến bảo tồn
di sản Quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm
vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và cần loại bỏ những gì không phù hợp với xã hội ấy Theo Ashworth, không chỉ những đồ tạo tác hay những tòa nhà mà cả các bộ sưu tập và các
di sản khác cũng được bảo tồn dựa trên kế thừa Các tiêu chí lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào bản chất bên trong của di sản mà còn phụ tuộc vào những yếu tố bên ngoài, không thuộc về bản chất của di sản Bảo tồn trên cơ sở kế thừa không chỉ quan tâm đến hình thức mà còn quan tâm đến cả các chức năng của di sản [Xem 142]
Như vậy quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa có nghĩa là bảo tồn những mặt tích cực của di sản, ngược lại, những mặt tiêu cực cần được loại bỏ Tuy nhiên trên
Trang 32thực tế, việc xác định mặt tích cực và tiêu cực hầu như không thể thực hiện được (do
di sản văn hóa là một thực thể hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tiêu cực/
tích cực; tiến bộ/ lạc hậu; tốt /xấu ) Nếu không cẩn thận, sẽ đánh mất những giá trị văn hóa mà chúng ta chưa hiểu biết đầy đủ về nó
- Quan điểm bảo tồn - phát triển của Gregory J Ashworth:
Quan điểm này không bận tâm vào việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên như
thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm vào việc, làm thế nào để di
sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại Theo cách tiếp cận
này, người ta coi di sản là sản phẩm của thời hiện tại, phát triển nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại và được định hình bởi yêu cầu ấy [Xem 83]
Đây cũng là xu thế chủ đạo trong cách bảo tồn và quản lý di sản ở nhiều nước trên thế giới hiện nay nhằm mục đích vừa bảo tồn, lại “nuôi sống” được các di sản, phát
huy hiệu quả xã hội và văn hoá của di sản, đồng thời thu được hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là phát triển du lịch [Xem 83, 142] Luận án sẽ chú ý nhiều vào lý thuyết bảo tồn này để áp dụng triển khai việc bảo tồn văn hóa Phật giáo Việt Nam
Trang 33Chương 2 VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THỜI LÝ - TRẦN
2.1 Văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần
2.1.1 Sự hình thành văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần
Văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần được hình thành trên nền tảng cơ sở của Phật giáo, là sự thể hiện những triết lý nhân sinh của Phật giáo trong điều kiện văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần Sự hấp thụ văn hóa Phật giáo của môi trường xã hội Việt Nam thời kỳ Lý - Trần với những đặc điểm rất riêng đã tạo nên văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần với sắc thái đặc trưng rất riêng, khác với các thời kỳ khác Và trên quan điểm lịch sử biện chứng, cũng cần khẳng định, văn hóa Phật giáo thời Lý
- Trần chỉ là một giai đoạn trong dòng chảy của văn hóa Phật giáo Việt Nam bắt nguồn kể từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam đến nay, và vẫn đang tiếp tục trong tương lai Chính vì thế, xem xét văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần phải được nhìn nhận trong sự kế thừa của các giai đoạn trước, và trên quan điểm lịch sử cụ thể xem xét gắn với những đặc trưng của kinh tế, chính trị, xã hội thời kỳ đó để tìm thấy những sắc thái đặc trưng của nó
2.1.1.1 Triết lý nhân sinh của văn hóa Phật giáo
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN Không lâu sau khi
ra đời, Phật giáo đã lan tỏa mạnh mẽ sang các quốc gia khác thuộc khu vực châu Á
Hiện nay, Phật giáo có mặt khắp các châu lục và là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới Trong Phật giáo nói chung, văn hóa Phật giáo nói riêng có chứa đựng nhiều giá trị văn hóa đạo đức Những giá trị này đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc trên nhiều khía cạnh như: chính trị, văn hóa (phong tục tập quán, văn học nghệ thuật và kiến trúc điêu khắc)…
Triết lý văn hóa Phật giáo với những tư tưởng trọng yếu là: Khổ, vô thường,
vô ngã, nhưng sự triển khai cụ thể trong từng thời pháp, từng hoàn cảnh lại khác
Trang 34nhau Văn hóa Phật giáo cũng đề cao con người Hay nói cách khác, tiền đề xuất phát của văn hóa Phật giáo là con người sống hiện hữu Con người là trọng tâm trong học thuyết văn hóa đạo đức Phật giáo Và theo Phật giáo, con người phải chịu trách nhiệm về kết quả hành động của chính bản thân mình Thuyết Tứ Diệu
đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo - Đế)
Đức Phật quan niệm cuộc đời là bể khổ Và cái khổ ấy là do chính con người tạo nên Nguyên nhân của Khổ là do vô minh và tham dục Nhưng Đức Phật cũng lại cho rằng, chính con người đã tạo nên cái “khổ” cho mình nên con người phải tự tìm con đường thoát “khổ” cho chính mình (thể hiện trong “Khổ đế” Nỗi khổ được phân thành 8 loại gọi là bát khổ) Trong “Tập đế” Phật giáo cắt nghĩa nguyên nhân của sự khổ là ngu tối (vô minh) và lòng khát ái (ái dục), nên con đường ấy là sự nỗ lực rèn luyện trí tuệ thân tâm, diệt trừ “vô minh”, “tham dục” Sự giải thoát trong Phật giáo là
sự tự “giải thoát” Đây là điểm tiến bộ và cũng là sự khác biệt rất lớn giữa Phật giáo
và các tôn giáo khác
Các tôn giáo hữu thần cũng bàn về con người, về sự hiện hữu của con người
và về con đường giải phóng con người Nhưng con người trong quan niệm của các tôn giáo hữu thần là con người thụ động, là phiên bản một của đấng siêu nhiên cho nên giải phóng con người là làm cho con người trở về với đấng siêu nhiên Hay nói cách khác, với các tôn giáo hữu thần, con người là ngã thể khác của đấng siêu nhiên nên nó chỉ được giải phóng khi đã giã từ cuộc sống thế tục, khi được nhận sự cứu vớt của đấng siêu nhiên Với Phật giáo, con người là sự kết hợp của ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức - 5 yếu tố gồm cả vật chất và tinh thần) chứ không phải là sản phẩm của thượng đế Vì vậy, con người phải nhìn sâu vào thực tại hiện hữu của chính mình để thấy rõ tính chân thực của cái bản ngã để từ đó mà nỗ lực giải thoát cho mình Từ khổ đau hiện thực với tư cách là kết quả, Phật truy tìm căn nguyên
“nỗi khổ” của con người Phật cho rằng, con người “khổ” là vì “Vô minh”, vì
“Tham ái” và “Chấp thủ” “Vô minh” tức là không nhận thức được đúng đắn bản chất chân thực của vạn pháp Vạn pháp là vô thường, vô ngã, vạn vật là trùng trùng duyên khởi Con người vì “vô minh” nên không nhận ra được bản chất chân thực đó
Trang 35Vạn vật là vô thường nhưng con người vì tham ái, cầu mong, bám víu vào cái không
ổn định nên đã đốt lên ngọn lửa si mê, sân hận Kinh Pháp Cú viết: “Không có lửa
nào như lửa tham, không có ngục tù nào như lòng sân Không có lưới nào như vô minh Không có dòng sông nào như ái dục”[11, tr.23] Vì tham ái, con người sinh ra chấp thủ, tức mong ước, là cố chiếm lấy làm sở hữu cho riêng mình những vật hay điều mình thích, làm phát sinh cái ngã Chính vì vậy, con người tự làm khổ mình
Trong văn hóa Phật giáo, trách nhiệm của mỗi người với những hành vi thiện
ác của thân, tâm mình rất được đề cao Đức Phật dạy rằng: “Làm dữ ở nơi ta mà ô nhiễm cũng bởi ta; làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được”[82, tr.43] Trên con đường giải thoát khỏi cái khổ, văn hóa Phật giáo dạy con người phải nương tựa chính mình chứ không nương tựa ai khác, không có một thế lực nào có thể mạnh hơn chính bản thân con người Phật cho rằng, con người là tối thắng vì con người có thể làm được tất thảy mọi thứ Bản thân mỗi người là ngọn đèn cho chính mình và người là hòn đảo trú ẩn của chính bản thân con người Phật ví mình chỉ như vị lương y biết kê đơn, bắt mạch mà thôi, còn việc con bệnh có uống thuốc hay không thì không phải là việc của lương y
Theo quan niệm Phật giáo, phần Đạo đế (con đường tu hành để giải thoát gồm 8 con
đường hay còn gọi là bát chính đạo) với tám chi phần giải thoát mà Phật đã chỉ ra
chính là cách thức để phá bỏ sự mê muội, thoát khỏi khổ đau, đạt trí tuệ bát nhã tức
là đạt tới độ nhận thức được thực tướng của vạn pháp
Chính kiến là cái thấy về sự thực, cái nhận thức xác thực Phật cho rằng, trong
mỗi chúng sinh đã có sẵn hạt giống của chính kiến, của tuệ giác, chỉ có điều tuệ giác
đó bị vô minh làm mờ lấp mà thôi Chính kiến đưa đến chính tư duy
Chính tư duy có nghĩa là suy nghĩ đúng, là sự suy nghĩ dựa trên sự thật, trên
chính kiến, tuệ giác để thấy rõ được bản chất vô thường, vô ngã của sự vật Hay nói cách khác, suy nghĩ đúng là suy tư phù hợp với đạo lý duyên khởi Chính tư duy đưa đến chính ngữ
Chính ngữ là lời nói ngay thật, chân chính, không làm tổn hại đến người khác
Chính niệm là suy niệm đúng đắn Chính niệm dẫn đến chính nghiệp
Trang 36Chính nghiệp là hành động chân chính để không tạo nghiệp xấu ác Chính
nghiệp đưa tới chính mệnh
Chính mệnh là nghề nghiệp, phương tiện sinh sống chân chính Chính mệnh
đưa đến chính tinh tiến
Chính tinh tiến là nỗ lực siêng năng học tập, kiểm soát thân, khẩu, ý theo cái
thiện Chính tinh tiến đưa tới chính định
Chính định là nhiếp tâm vào con đường chân chính không để bị vọng động
bởi tác động của ngoại cảnh Chính định làm phát sinh chính tuệ Chính tuệ là sự
sáng suốt để nhận thức rõ thực tướng của vạn vật
Theo nhãn quan Phật giáo, Bát chính đạo làm cho con người nhận thức rõ được chân lý của sự vật và con người, làm cho con người biết quý trọng sự màu nhiệm của cuộc sống, biết sống ung dung, tự tại giữa cuộc đời
Đặt trọng tâm vào con người trên con đường giải thoát cũng như trong việc rèn luyện đạo đức, Phật đã dùng thuyết Nhân quả, luân hồi, nghiệp báo để lý giải cái khổ của con người qua các kiếp sống khác nhau Theo quan niệm của nhà Phật, mọi hoạt động của con người từ thân, khẩu, ý đều để lại một kết quả nhất định, trong đó nhân có trước, quả có sau, quả phụ thuộc vào nhân và nhân nào quả ấy
Tùy thuộc vào việc con người gieo nhân quả như thế nào mà họ nhận được quả
tương ứng Nhà Phật gọi đó là Nghiệp báo Như vậy, nghiệp báo được xem là kết
quả hoạt động của con người (gồm cả thân, khẩu, ý) mà tất yếu họ nhận được trong hiện tại hoặc tương lai
Nhân quả, nghiệp báo không phải chỉ là sản phẩm của riêng Phật giáo mà là sản phẩm chung của triết học Ấn Độ Tuy nhiên, Phật giáo đã khái quát để trình bày một cách có tính hệ thống và đặc biệt chú ý đến “ý nghiệp” Ý nghiệp theo quan niệm của nhà Phật, là cái khởi đầu cho tất cả các nghiệp khác
Nghiệp báo là do chính bản thân con người làm ra nên chính mình bị lôi cuốn vào vòng lục đạo, bị lăn lộn triền miên trong vòng sinh tử luân hồi, cứ chết đi, sống lại mãi nếu vẫn còn những hoạt động tạo nghiệp Giải thoát có nghĩa là trả
Trang 37nghiệp cũ và không tạo thêm nghiệp mới Khi nào chúng sinh trả hết nghiệp, không còn lạc vào nghiệp thì được hoàn toàn tự do
Như vậy, trong Phật giáo con người là chủ nhân của nghiệp, con người có thể thay đổi nghiệp của mình tùy thuộc vào hoạt động của thân và tâm mỗi người
Thuyết nghiệp của Phật giáo có ý nghĩa giáo dục đạo đức rất lớn Nó hướng con
người đến những điều thiện, điều lành, tránh xa điều ác, điều dữ
Về vấn đề tăng đoàn và giới luật: Phật giáo xây dựng đạo đức của mình trên
nền tảng triết lý vô ngã Vô ngã trong quan niệm nhà Phật không chỉ bó hẹp trong
cái ta của con người cá nhân, mà cũng không có cái ngã tuyệt đối ở tất cả các sự vật
hiện tượng của vũ trụ nói chung Phật dạy tín đồ của mình phải nhìn sự vật, hiện
tượng bằng con mắt vô ngã để có thể quán chiếu được lẽ không của vạn vật, để từng bước diệt khổ, có nghĩa là từng bước đạt được sự giải thoát Chính vì vậy, theo quan niệm của nhà Phật, “Vô ngã” cũng có nghĩa là “Niết bàn”
Coi trọng một nếp sống đạo đức, Đức Phật đã đưa ra một hệ thống các phạm trù đạo đức như Lục độ, Lục hòa, Thập thiện, Tứ ân, Ngũ giới
Lục độ hay còn gọi là sáu hạnh Ba la mật, bao gồm: Bố thí, trì giới, tinh tấn,
nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ Người tu hành đắc được sáu hạnh này thì độ được mình và độ được người sang bờ bên kia của bến mê, có nghĩa là đạt giải thoát Lục
độ là phép môn tu Bồ tát thừa Theo tinh thần này, bất cứ ai, dù là người mới nhập pháp môn tu hành hay đến các vị Bồ tát, Phật đều phải vừa độ mình, độ người để giúp mình và giúp người cùng ra khỏi bến mê Như vậy, giải thoát theo tinh thần của Lục độ thì bản thân cá nhân mỗi người phải làm thiện, sau đó giúp người làm thiện Và cuối cùng, việc giúp mình, giúp người trở thành lẽ tự nhiên trên con đường thực hiện giải thoát
Lục hòa là sáu sự hòa hợp bao gồm: thân hòa, khẩu hòa, ý hòa, kiến hòa và lợi
hòa Thân hòa từ kính hay thân hòa đồng tu nghĩa là tăng chúng phải biết từ hòa, kính nhường nhau trong mọi cử chỉ, hành động Khẩu hòa đồng kính, hay khẩu hòa vô tranh có nghĩa là tăng chúng sống trong tăng đoàn phải nhường nhịn nhau từng lời ăn, tiếng nói, không gây gổ, cãi lộn nhau Giới hòa đồng kính hay giới hòa đồng tu nghĩa
Trang 38là tăng chúng cùng tu chung giới luật nên phải hòa thuận, kính ái hòa hợp nhau Ý hòa kính hay ý hòa đồng duyệt có nghĩa là tăng chúng phải tâm đầu ý hợp, chia sẻ buồn vui cùng yêu mến nhau Kiến hòa đồng kính hay kiến hòa đồng giải tức là hết thảy tăng chúng đều thờ Phật, tu hành theo pháp môn nhà Phật, do đó phải cùng nhau thống nhất hòa hợp và chia sẻ kiến thức về Phật pháp Lợi hòa đồng quân hay đồng lợi hòa tức là tăng chúng cùng nhau thụ hưởng lợi ích mà bá tính cúng dường, cùng nhau chia sẻ, thụ hưởng một cách kính ái
Lục hòa không chỉ là chuẩn mực đạo đức của hàng tăng chúng mà mở rộng
ra là sự hòa hợp của tất cả đệ tử nhà Phật nói chung Mở rộng hơn nữa nó còn có ý nghĩa với một cộng đồng, một xã hội, một quốc gia và toàn nhân loại
Thập thiện tức là mười điều thiện bao gồm ba điều về thân, bốn điều về khẩu
Ba điều răn cấm về ý đó là: không tham lam; không sân hận; không si mê
Tứ ân là bốn ân đức lớn mà mỗi người đều phải nhớ, phải trả trong cuộc đời
của mình, đó là: ân cha mẹ vì cha mẹ đã sinh ra ta; ân chúng sinh vì chúng sinh đã giúp đỡ ta; ân tổ quốc vì tổ quốc đã cho ta sự yên bình lạc đạo và ân Tam bảo vì Tam bảo đã cho ta chính pháp Đây là những chuẩn mực đạo đức rất gần gũi với giá trị đạo đức truyền thống của người Việt Nam
Ngũ giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ,
không uống rượu
Một trong những biểu hiện nổi bật của văn hóa Phật giáo có ảnh hưởng khá nhiều đến văn hóa Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại đó là Tứ vô lượng tâm
“Từ, bi, hỷ, xả”
Trang 39Tâm “từ” là lòng từ ái vô lượng, vô biên, là cái đối trọng với tâm sân hận
Theo quan niệm của nhà Phật, cái tâm sân hận không thể được dập tắt bằng lòng thù oán mà nó chỉ có thể hóa giải được bằng tâm “từ”
Tâm “bi” là lòng xót thương vô hạn, là sự rung động trước nỗi đau của người khác và nỗi đau của nhân thế, là sự cảm thông vô hạn đối với con người, đối với mọi chúng sinh không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo, sang hèn, thân sơ Tâm “bi”
chính là cái đối trọng với hung bạo, hận thù nhưng nó hoàn toàn không phải là sự bi lụy Đức Phật đã dạy rằng, hận thù không bao giờ diệt được hận thù, từ bi diệt hận thù đó là định luật nghìn thu
Tâm “hỷ” nghĩa là vui với niềm vui của người khác, buồn với nỗi buồn của người khác, không hiềm khích ganh tỵ trước thành tựu của người khác
Tâm “xả” nghĩa là không luyến ái, không bực tức, nóng giận trong phiền não
Tóm lại, Tứ vô lượng tâm “từ, bi, hỷ, xả” là thái độ cùng vui, cùng buồn với tất cả chúng sinh, là tư tưởng cứu khổ, cứu nạn Nhờ đó khi thực hành, tín đồ có thể điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với cái thiện Thực hành Tứ vô lượng tâm hay bốn tâm vô lượng này là để khắc phục cái tâm thiên kiến như ích kỷ, hẹp hòi, cố chấp, phiến diện… là để vượt ra ngoài giới hạn của Ta để đến với người khác, với chúng sinh Những nội dung cơ bản nói trên của Phật giáo là một trong những cơ sở căn bản để hình thành nên văn hóa Phật giáo thời kỳ Lý - Trần ở Việt Nam và có ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa Việt Nam, đặc biệt là đến tư tưởng, tín ngưỡng
và phong tục cũng như văn chương (sẽ được bàn đến ở chương sau)
2.1.1.2 Tư tưởng tiếp nối của văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần
Văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần là sự tiếp nối của văn hóa Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy kể từ khi Phật giáo du nhập - Phật giáo Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc và tiếp tục sự hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam kể từ khi nước
ta bước sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê
Theo sử sách, Phật giáo truyền vào nước ta từ rất sớm, từ những năm đầu Công nguyên (có nhiều ý kiến khác nhau về mốc thời gian cụ thể) Khi đó nước ta đang nằm dưới sự đô hộ của Trung Quốc Phật giáo du nhập vào Việt Nam bằng hai
Trang 40con đường: con đường trực tiếp từ Ấn Độ sang Việt Nam thông qua các nhà buôn
Ấn Độ; con đường gián tiếp từ Ấn Độ sang Trung Quốc và từ Trung Quốc sang Việt Nam Và từ rất sớm, ở Việt Nam đã hình thành trung tâm Phật giáo lớn: Luy Lâu Luy Lâu là trung tâm Phật giáo lớn và sớm nhất Việt Nam, không chỉ vậy còn
là một trung tâm Phật giáo lớn, sớm trong khu vực lúc đó Có nhiều ý kiến của các nhà khoa học đã chứng minh, trung tâm Phật giáo ở Luy Lâu đã hình thành sớm hơn hai trung tâm Phật giáo ở Bành Thành và Lạc Dương của Trung Quốc Ở giai đoạn
từ thế kỷ VI đến thế kỷ X, ảnh hưởng của các nhà truyền giáo Ấn Độ giảm dần, thay vào đó là ảnh hưởng của các nhà truyền giáo Trung Hoa tăng lên Các phái thiền Trung Quốc lần lượt du nhập vào Việt Nam
- Phái thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) vào Việt Nam khoảng năm 580,
do nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đưa sang Việt Nam, ông tu tại chùa Pháp Vân Phái thiền này ở Việt Nam có 18 đời với 29 vị Đại sư
- Phái thiền Vô Ngôn Thông vào Việt Nam năm 820 Vô Ngôn Thông sang Việt Nam tu ở chùa Kiến Sơ Phái thiền này ở Việt Nam có 15 đời với 40 vị Đại sư
Phật giáo truyền bá vào Việt Nam trong mười thế kỷ, trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược và đô hộ Khi ấy, các loại hình tín ngưỡng dân gian, bản địa ở Việt Nam (thờ Thần Tự nhiên, thờ Tổ tiên…) đã phát triển khá mạnh mẽ Nhưng người Việt vẫn chấp nhận và dần bản địa hóa Phật giáo phù hợp với văn hóa dân tộc Phật giáo đã tạo ra được những ảnh hưởng trong nhân dân và có sự chuẩn bị cho sự phát triển mới trong giai đoạn đất nước độc lập tự chủ Viết về sự du nhập của Phật giáo và Việt Nam và sự tiếp nhận văn hóa Phật giáo của người Việt, tác giả
Lê Văn Siêu, trong Việt Nam văn minh sử viết:
Người Giao Châu đã đến với đạo Phật không bằng tuệ giác mà bằng tình cảm Hay nói ngược lại cũng vậy, đạo Phật đã bắt sâu rễ vào trong lòng người Giao Châu hơn là vào trong óc
Những sự bày tỏ lòng thương cảm đối với những người gặp điều không may, đương phải quằn quại trong đau khổ, những lời khuyên nhủ họ nhẫn nại chịu đựng đau khổ ấy để trả cho hết món nợ huyền bí nào đó của