TCCSĐ với vị trí, vai trò là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở được biểu hiện qua các khía cạnh: là nơi nối liền các cơ quan lãnh đạo của Đảng với quần chúng nhân dân; nơi tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 62 22 56 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Ngô Ngọc Thắng
XÁC NHẬN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Người hướng dẫn khoa học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Thanh Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi trân trọng biết ơn các thầy cô giáo của Bộ môn Lịch sử Đảng, khoa Lịch
sử trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã đào tạo, hướng dẫn tôi hoàn thành khoá học nghiên cứu sinh và luận án này
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Ngô Ngọc Thắng đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ để tôi có đủ tri thức, kinh nghiệm và sự quyết tâm hoàn thành được luận án
Tôi trân trọng những ý kiến phản biện, góp ý của các nhà khoa học trong Hội đồng đánh giá Luận án cấp cơ sở, các phản biện độc lập, các nhà khoa học trong Hội đồng đánh giá Luận án cấp Đại học Quốc gia đã giúp tôi hoàn thiện hướng nghiên cứu của đề tài Luận án và có thêm những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học
Đồng thời, trong quá trình thực hiện luận án tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo Học viện và các đồng nghiệp tại Học viện Chính trị khu vực I thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Văn phòng Tỉnh uỷ Hà Nam và các đơn vị chức năng thuộc Tỉnh Hà Nam; cán bộ các phòng ban chức năng của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Nhân dịp này, tôi xin trân trọng bày tỏ sự cảm ơn đối với sự giúp đỡ quý báu đó
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Thanh Bình
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban Chấp hành BTV : Ban Thường vụ HĐND : Hội đồng nhân dân HTCT : Hệ thống chính trị MTTQ : Mặt trận Tổ quốc TCCSĐ : Tổ chức cơ sở đảng UBND : Ủy ban nhân dân UBKT : Ủy ban kiểm tra
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 6
3 Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 9
6 Cấu trúc của luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Những nghiên về tổ chức cơ sở đảng và lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trên bình diện toàn quốc 10
1.1.1 Về tổ chức cơ sở đảng 10
1.1.2 Về lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng 13
1.2 Những nghiên cứu đề cập đến tổ chức cơ sở đảng và lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở tỉnh Hà Nam 19
1.2.1 Về tổ chức cơ sở đảng 19
1.2.2 Về lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng 22
1.3 Những vấn đề mà luận án cần tiếp tục giải quyết 24
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 28
2.1 Một số vấn đề lý luận chung về tổ chức cơ sở đảng và lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng 28
2.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng 28
2.1.2 Quan niệm về Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng 31
2.1.3 Quan niệm xây dựng tổ chức cơ sở đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức 31
2.2 Những yếu tố tác động đến lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 32
2.2.1 Điều kiện lịch sử, tự nhiên, kinh tế - xã hội 32
Trang 72.2.2 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Hà Nam và công tác xây dựng tổ chức cơ
sở đảng ở Hà Nam trước năm 1997 36
2.2.3 Chủ trương của Ðảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 1997 đến năm 2005 37
2.3 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 40
2.3.1 Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về chính trị 40
2.3.2 Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về tư tưởng 45
2.3.3 Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về tổ chức 52
Tiểu kết chương 2 61
Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM TRONG XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 63
3.1 Những yêu cầu mới đối với quá trình lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở Hà Nam 63
3.1.1 Bối cảnh chung của cả nước và chủ trương của Ðảng 63
3.1.2 Bối cảnh mới và những yêu cầu đặt ra đối với công tác lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng tại Hà Nam 66
3.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 68
3.2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về chính trị 68
3.2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về tư tưởng 72
3.2.3 Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng về tổ chức 77
Tiểu kết chương 3 89
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 91
4.1 Nhận xét 91
4.1.1 Những ưu điểm 91
4.1.2 Một số hạn chế 103
4.2 Một số kinh nghiệm 109
4.2.1 Luôn coi trọng lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng xây dựng nghị quyết đúng đắn, phù hợp với địa phương 109
4.2.2 Phát huy dân chủ thực chất trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng 113
4.2.3 Xây dựng, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong tổ chức cơ sở đảng là cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong hệ thống chính trị cơ sở và nhân dân 118
Trang 84.2.4 Luôn chú trọng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 120
4.2.5 Dựa vào dân, phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng tổ chức cơ sở đảng 125Tiểu kết chương 4 128KẾT LUẬN 129DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢLIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 133TÀI LIỆU THAM KHẢO 134PHỤ LỤC 149
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Hơn 87 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn dân tộc Hiện nay, trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với những yêu cầu mới đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng, trước hết là xây dựng các tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) thực sự trong sạch, vững mạnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tập trung củng
cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
Kiện toàn tổ chức của hệ thống chính trị, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở
cơ sở ”[25, tr 259-260] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục yêu cầu: “Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Kiện toàn tổ chức, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở ”[31, tr 204-205]
TCCSĐ với vị trí, vai trò là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở được biểu hiện qua các khía cạnh: là nơi nối liền các cơ quan lãnh đạo của Đảng với quần chúng nhân dân; nơi trực tiếp cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp uỷ cấp trên để lãnh đạo chính quyền, Mặt trận tổ quốc (MTTQ), các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện; nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp, sàng lọc đảng viên, nơi đào tạo cán bộ cho Đảng và cho cả hệ thống chính trị (HTCT); nơi mà mọi hoạt động xây dựng nội bộ Đảng được tiến hành; là trung tâm đoàn kết nội bộ Đảng, các tổ chức trong HTCT và tập hợp, đoàn kết quần chúng nhân dân Sự vững mạnh của TCCSĐ
Trang 10là nhân tố quan trọng quyết định sự vững mạnh của toàn bộ HTCT cơ sở và chất lượng thực hiện các nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị Do đó, nghiên cứu về vấn đề lãnh đạo xây dựng TCCSĐ chiếm một vị trí quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Đảng
Tỉnh Hà Nam được tái lập ngày 01/01/1997 sau hơn 32 năm hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Ninh Bình Từ sau mốc lịch sử quan trọng ấy, Đảng bộ tỉnh đã thể hiện được vai trò lãnh đạo toàn diện đối với sự phát triển của địa phương Là một tỉnh không lớn xét cả về diện tích và dân số, nhưng Hà Nam lại có vị trí cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội, nằm trên tuyến đường giao thông đường sắt, đường bộ Bắc Nam nên có lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô
Hà Nội và vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc bộ Hà Nam hiện đang là một trong những tỉnh dẫn đầu các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc củng cố kiện toàn công tác xây dựng TCCSĐ, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của TCCSĐ trở thành yêu cầu khách quan giữ vị trí quyết định trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh Thực tiễn đã chứng minh rằng ở đơn vị nào có TCCSĐ vững mạnh thì ở đó sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh mới có thể đạt hiệu quả, hoạt động của HTCT cơ sở được vận hành đúng mục tiêu, nhiệm vụ chính trị hoàn thành đúng yêu cầu, chính sự vững mạnh của các TCCSĐ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của Đảng bộ tỉnh và của tỉnh Hà Nam những năm qua TCCSĐ yếu kém, nội bộ mất đoàn kết, không đủ năng lực lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, hiệu quả hoạt động của HTCT cơ sở không đáp ứng được yêu cầu, lòng dân bất ổn, ổn định chính trị có nguy cơ không được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước giảm sút Do vậy, nghiên cứu về vấn đề Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 1997 tới năm 2010 nhằm góp phần làm sáng tỏ những chủ trương và
sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh đối với TCCSĐ, đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh là rất cần thiết
Trang 11Từ những lý do như vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài "Đảng bộ tỉnh Hà
Nam lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1997 đến năm 2010" để thực
hiện luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án
Luận án làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010; đưa ra những nhận xét, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và bước đầu rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong xây dựng TCCSĐ
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Làm rõ quan điểm của các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- Làm rõ bối cảnh lịch sử chi phối đến quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010; phân tích, luận giải các chủ trương của Đảng và sự cụ thể hoá của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 1997 đến năm 2010
- Trình bày, tái hiện lại quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam vận dụng chủ trương của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 1997 đến năm
2010 trên 3 nội dung: chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó chú trọng vào công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, kỷ luật đảng của TCCSĐ
- Đánh giá về ưu điểm, hạn chế và bước đầu rút ra những kinh nghiệm chủ yếu về sự lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010
3 Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các chủ trương, sự chỉ đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam và thực tiễn quá trình xây dựng TCCSĐ tại Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010
Trang 12Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Hà Nam xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, trong đó chú trọng vào công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, kỷ luật đảng của TCCSĐ
- Về thời gian: luận án lấy mốc thời gian từ ngày 1/1/1997 khi tỉnh Hà Nam
chính thức được tái lập với rất nhiều những cơ hội và những thách thức lớn từ sự thay đổi về địa giới hành chính, tổ chức bộ máy, các nguồn lực, sự xáo trộn về tư tưởng của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh, đến năm 2010 là thời điểm đánh dấu 13 năm sau khi tái lập tỉnh Hà Nam với hơn 2 nhiệm kỳ Đảng bộ tỉnh Hà Nam thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện tại tỉnh, chuẩn bị bước vào nhiệm kỳ lãnh đạo tiếp theo
Để làm nổi bật quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ tại Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010, luận án có đề cập đến thời gian trước năm 1997 ở mức độ cần thiết
- Về không gian: địa bàn nghiên cứu của luận án là tỉnh Hà Nam theo địa
giới chính thức được xác định từ 1/1/1997 cho tới năm 2010
4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng cộng sản nói chung và xây dựng
TCCSĐ nói riêng
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu liên quan đến sự lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh
Hà Nam được khai thác và sử dụng trong luận án chủ yếu là tư liệu thành văn với hai nhóm chính: tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp
Nhóm tài liệu sơ cấp bao gồm: các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định của
Đảng Cộng sản Việt Nam được xuất bản, cung cấp cho các tổ chức đảng hay đăng tải trên website của Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn, báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết của Tỉnh uỷ Hà Nam, đảng bộ các huyện, thành phố và các TCCSĐ được lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh uỷ Hà Nam
Trang 13và các ban Đảng của Tỉnh ủy, các văn phòng huyện ủy, thành ủy, đảng ủy khối trực thuộc Đảng bộ tỉnh
Nhóm tài liệu thứ cấp bao gồm: các công trình nghiên cứu liên quan đã được
xuất bản, công bố, các bài báo khoa học về công tác xây dựng TCCSĐ trên báo, tạp chí ; các cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam, lịch sử đảng bộ các huyện trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã được xuất bản
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chủ đạo của quá trình nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận án là phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là hai phương pháp
chính được sử dụng nhằm làm rõ những yếu tố tác động, những yêu cầu mới trong lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Phương pháp đồng đại và lịch đại: Cách tiếp cận lịch đại giúp tái hiện lịch
sử theo trình tự thời gian Cách tiếp cận đồng đại giúp tác giả luận án có thể thấy được chiều sâu của các sự kiện và bản chất quá trình chuyển biến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với TCCSĐ, những tác động của bối cảnh lịch sử đối với các TCCSĐ tại Hà Nam trong những năm 1997 - 2010
Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh bối cảnh lịch sử của tỉnh Hà
Nam, chủ trương và sự chỉ đạo của đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với TCCSĐ, sự chuyển biến của các TCCSĐ tại Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong các năm 1997 - 2005
và 2006 - 2010
Phương pháp phân tích và tổng hợp: các thông tin được khai thác tại các đơn
vị lưu trữ, kết hợp với các tài liệu thứ cấp sẽ được phân tích, tổng hợp thành tư liệu
để phục vụ luận án Những kết luận, đánh giá sẽ được xây dựng dựa trên phân tích
và tổng hợp các sự kiện lịch sử
Trang 14Phương pháp thống kê: được sử dụng để thống kê về TCCSĐ từ năm 1997
đến năm 2010, qua đó tìm hiểu về kết quả lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về phương pháp và cách tiếp cận: Những nghiên cứu về sự lãnh đạo của
Đảng đối với TCCSĐ thường chỉ nghiên cứu một tổ chức riêng lẻ, dưới góc độ lịch
sử hoặc xây dựng Đảng thuần túy Tuy nhiên, trong thực hiện luận án, trên cơ sở cách tiếp cận chủ đạo của khoa học Lịch sử Đảng, tác giả đã kết hợp sử dụng cách tiếp cận lịch đại và tiếp cận theo cấu trúc lãnh đạo xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư tưởng, tổ chức của khoa học chính trị Cách tiếp cận này giúp hiểu vấn đề một cách toàn diện, hệ thống, có thể coi là một đóng góp mới của luận án
Về sử liệu: luận án cung cấp một số sử liệu được tập hợp, hệ thống hóa về
quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010
Về nhận thức lịch sử: Luận án mang đến nhận thức tương đối toàn diện và có
hệ thống về quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm
1997 đến năm 2010
Luận án đúc kết một số kinh nghiệm về lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010 có thể vận dụng tại Hà Nam nói riêng
và các địa phương khác nói chung
Các tư liệu và kết luận trong luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo để biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh và lịch sử tỉnh Hà Nam hoặc nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học có liên quan
6 Cấu trúc của luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, Danh mục từ viết tắt, Phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Những nghiên về tổ chức cơ sở đảng và lãnh đạo xây dựng tổ chức
cơ sở đảng trên bình diện toàn quốc
1.1.1 Về tổ chức cơ sở đảng
Có khá nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về TCCSĐ từ góc độ khoa học chính trị, xây dựng Đảng và Lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả Nguyễn Văn trên báo Bình Định bản điện tử năm 2005 trong bài viết
Tổ chức cơ sở Đảng - "gốc rễ" của Đảng cho rằng: TCCSĐ là "cầu nối" giữa Đảng
với quần chúng, là "gốc rễ" của Đảng trong quần chúng TCCSĐ là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng; tuyên truyền, giáo dục để quần chúng hiểu và thực hiện thông qua các hoạt động hàng ngày; định hướng suy nghĩ và hành động của quần chúng TCCSĐ cũng là nơi kiểm nghiệm, khẳng định trên thực tế sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phát hiện những nhân tố mới, đóng góp cho Đảng những sáng kiến, những kinh nghiệm quý để Đảng bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp nguyện vọng chính đáng của đông đảo nhân dân và yêu cầu phát triển của đất nước [133]
Tác giả Vũ Văn Phúc trong bài Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng năm 2011 cho rằng với tính cách là nền tảng của
Đảng, TCCSĐ có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự vững mạnh của Đảng Đây
là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng, là cấp tổ chức sâu rộng nhất, gắn với các đơn vị cơ sở trên toàn lãnh thổ và các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng tới từng cơ sở, từng đảng viên
và từng người dân TCCSĐ là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm và góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển chủ trương, đường lối của Đảng thông qua những kinh
Trang 16nghiệm thực tiễn phong phú của đội ngũ đảng viên và quần chúng nhân dân
TCCSĐ cũng là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng Đảng như kết nạp, quản lý, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá đảng viên;
nơi đảng viên thường xuyên thực hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt; nơi xuất phát đề cử ra cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng TCCSĐ còn là cầu nối giữa Đảng với quần chúng nhân dân, là mắt khâu trọng yếu để duy trì mối liên hệ của Đảng với nhân dân; là tổ chức gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh với Đảng Dân tin Đảng, theo Đảng hay không là nhờ ở vai trò rất quan trọng, trực tiếp của TCCSĐ, của cán bộ đảng viên tại cơ sở [57]
Nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ Đảng gắn với xây
dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh của tác giả Trần Minh Trưởng năm
2013 đã hệ thống hoá cơ sở hình thành, vị trí vai trò, nhiệm vụ và nội dung tư tưởng
Hồ Chí Minh về chi bộ Đảng Qua đó, tác giả đưa ra những yêu cầu nhằm vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh đối công tác xây dựng TCCSĐ trong tình hình mới như: triệt
để thực hành dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ; quán triệt nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (Khóa XI) về phê bình và tự phê bình trong công tác xây dựng chi bộ; tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới công tác kiểm tra giám sát trong điều kiện hiện nay [68]
Ngô Minh Vương trong luận văn thạc sĩ Lịch sử năm 2014 về “Đảng bộ tỉnh
Đồng Nai lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở từ năm 2000 đến năm 2010”
nêu: HTCT cơ sở nước ta hiện nay gồm 3 bộ phận cấu thành là đảng bộ hay chi bộ
cơ sở, chính quyền cơ sở và các đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở Đảng bộ cơ sở là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc ra các nghị quyết, chỉ thị định hướng cho chính quyền cơ sở, lãnh đạo thông qua hoạt động của đảng viên trong bộ máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở, bằng công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục, bằng sự gương mẫu của đảng viên, bằng công tác kiểm tra, giám sát [137, tr.19]
Trang 17Tác giả Nguyễn Xuân Hải (2014) trong luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng “Đảng
bộ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm
2000 đến năm 2010” quan niệm: TCCS Đảng là cầu nối liền các cơ quan lãnh đạo
cấp trên của quần chúng, gắn bó Đảng với nhân dân Mọi tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân vì thế mà được phản ánh kịp thời lên tổ chức đảng cấp trên TCCS Đảng là nơi trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào quần chúng và tổ chức cho quần chúng thực hiện thắng lợi trong thực tiễn TCCS Đảng là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc đảng viên; nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng; là cửa ngõ quan trọng bảo đảm tính tiền phong, tính trong sạch của Đảng [44, tr.21]
Tác giả Nguyễn Hồng Sơn qua bài viết Vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong
công tác xây dựng đảng hiện nay trên Tạp chí Xây dựng Đảng bản điện tử năm
2015 cho rằng: Thứ nhất, TCCSĐ là cấp tổ chức trực tiếp đưa đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng vào quần chúng và tổ chức cho quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách ấy TCCSĐ chịu trách nhiệm trước
Đảng về đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng nhân dân ở cơ sở Thứ hai,
TCCSĐ là tổ chức nối liền các cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng với quần chúng, nắm bắt tâm tư nguyện vọng, phản ánh đúng và đầy đủ tâm tư nguyện vọng ấy của
quần chúng lên Đảng Thứ ba, TCCSĐ là nơi giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng
lọc đảng viên, nơi đào tạo cán bộ cho Đảng, nơi đảm bảo tính tiên phong của đảng viên Lý luận và thực tiễn đã chứng minh, dù ở giai đoạn nào của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, các TCCSĐ luôn là gốc rễ, là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, bảo đảm cho đường lối của Đảng đi vào cuộc sống, đồng thời là cấp trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng Do vậy,
có thể khẳng định TCCSĐ là nền tảng có vai trò quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng [61]
Như vậy, những công trình nghiên cứu trên đã giúp làm sáng tỏ hơn các quan điểm, chủ trương của Đảng về TCCSĐ, cung cấp các gợi ý về lý thuyết nghiên cứu
Trang 18về TCCSĐ như khái niệm TCCSĐ, các loại hình TCCSĐ cơ bản, chức năng, nhiệm
vụ của TCCSĐ, về xây dựng TCCSĐ trên các các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức
1.1.2 Về lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Tác giả Nguyễn Đức Hà trong nghiên cứu “Một số vấn đề về xây dựng tổ
chức cơ sở đảng hiện nay” năm 2010 đã cung cấp tổng quan tình hình xây dựng
TCCSĐ theo yêu cầu nghị quyết số 22- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X qua các mảng nội dung: về chất lượng TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; về chất lượng sinh hoạt chi bộ; về thực hiện thí điểm chủ trương bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND; về thực hiện thí điểm chủ trương đại hội đảng
bộ cơ sở bầu trực tiếp BTV, bí thư, phó bí thư; về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn vững mạnh; về vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; về xây dựng, phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tác giả đưa ra nhiều yêu cầu để xây dựng TCCSĐ hiệu quả, trong đó có yêu cầu các cấp uỷ cần chủ động hơn trong công tác chính trị tư tưởng; tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức của các TCCSĐ cho đồng bộ, thống nhất với các tổ chức trong HTCT cơ sở, xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động phù hợp với những TCCSĐ có tính đặc thù riêng; đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cơ
sở xã, phường, thị trấn theo hướng cập nhật những chủ trương, chính sách mới và những kinh nghiệm thực tế thường xảy ra ở cơ sở [39, tr 33-84]
Nghiên cứu của GS Nguyễn Phú Trọng năm 2012 về Xây dựng chỉnh đốn
Đảng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn chỉ rõ: Thực tiễn của những năm đổi mới
một lần nữa cho thấy, muốn toàn Đảng mạnh thì từng cơ sở phải mạnh; phải luôn luôn quan tâm, xây dựng và củng cố các TCCSĐ, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong tất cả các loại hình cơ sở Càng đi vào công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng phải làm tốt việc củng cố kiện toàn TCCSĐ, tập trung hơn vào những cơ sở trọng điểm, những nơi còn nhiều khó khăn; hướng chủ yếu củng cố, chỉnh đốn để các TCCSĐ quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề ra được chủ trương, giải pháp đúng và lãnh đạo tổ chức thực hiện
Trang 19tốtcác nhiệm vụ của đơn vị phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống của người lao động, chống tham nhũng ức hiếp quần chúng Chấn chỉnh và cải tiến sinh hoạt đảng, có quy định chặt chẽ đối với những trường hợp đảng viên đi công tác, làm việc lưu động ở nơi xa, ở nước ngoài, quản lý có nền nếp đảng viên [127, tr 122-123]
Tác giả Hồ Ðức Việt trong bài viết: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng
cố tổ chức cơ sở đảng, đưa Nghị quyết Trung ương 6 đi vào cuộc sống năm 2015 đã đi
sâu phân tích ba vấn đề: Thứ nhất, các cấp ủy và tổ chức đảng phải làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, chủ động dự báo tình hình để kịp thời trang bị những thông tin định hướng của Ðảng cho cán bộ, đảng viên Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ để tạo bước chuyển
có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở như sớm ban hành và thực hiện chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác, làm việc
ở xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp; có cơ chế, chính sách để giải quyết đối với những cán bộ chưa được chuẩn hóa nhưng chưa đủ tuổi, đủ năm công tác để nghỉ theo chế độ;
dành một số biên chế dự phòng để các địa phương thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và tăng cường cán bộ cho cơ sở; cán bộ chuyên trách, cấp ủy viên cơ sở xã, phường, thị trấn hằng năm phải được bồi dưỡng để nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ công tác, cập nhật kiến thức mới tại trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện hoặc trường chính trị tỉnh, thành phố… Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động của các loại hình TCCSĐ, vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng cường
kỷ cương, kỷ luật; khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt đảng; bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu của TCCSĐ Các cấp ủy cấp trên phải nắm chắc tình hình, phân công cấp ủy viên trực tiếp phụ trách cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cấp ủy viên cấp trên của TCCSĐ phải bố trí thời gian để gặp gỡ đảng viên và nhân dân, bảo vệ những cán bộ tốt, những người trung thực, thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực [135]
Dương Trung Ý trong bài viết: Nắm vững và thực hiện tốt quan điểm,
nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở Đảng trong giai đoạn hiện nay trên Tạp chí Cộng sản điện tử năm 2015 đã
Trang 20làm rõ hơn các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam theo Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên Tác giả đưa ra đánh giá về các nhóm nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị
quyết đề ra: Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; Hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình TCCSĐ và chăm lo kết nạp đảng viên; Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hóa và từng bước nhất thể hoá chức danh cán bộ ở cơ sở; Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên, dựa vào dân để xây dựng Đảng [138]
Bên cạnh những công trình mang tính khái quát chung về sự lãnh đạo xây dựng TCCSĐ nêu trên còn có những nghiên cứu về lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở phạm vi nhỏ hơn như:
Luận án tiến sỹ Lịch sử năm 2000 của tác giả Cao Văn Định: “Chất lượng
công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) vùng đồng bào dân tộc ít người
ở các tỉnh Bắc Trung bộ trong giai đoạn hiện nay” đưa ra những đặc điểm công tác
tư tưởng của TCCSĐ cấp xã và rút ra 5 kinh nghiệm: xây dựng các mô hình kinh tế
- văn hóa - xã hội tiên tiến để thông qua đó tiến hành công tác tư tưởng; công tác tư tưởng phải đi trước một bước, bám sát và tham gia trực tiếp vào mọi khâu của các quá trình công tác, nhất là lúc chuyển giai đoạn, gặp khó khăn và trước hết phải làm tốt công tác tư tưởng trong tổ chức đảng; thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nói đi đôi với làm, thông tin gắn liền với hướng dẫn công việc; thực hiện sự lồng ghép nội dung công tác tư tưởng vào nhiều loại hình hoạt động khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong HTCT, các tổ chức và lực lượng khác ở cơ sở để tiến hành công tác tư tưởng [36, tr 110-125]
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn trong Luận án tiến sỹ khoa học Chính trị năm
2003: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong
doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đã xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ
trong doanh nghiệp nhà nước, trên cơ sở đó đưa ra quan niệm về năng lực lãnh đạo
Trang 21và sức chiến đấu của TCCSĐ trong doanh nghiệp nhà nước Luận án rút ra 5 bài học kinh nghiệm về xác định đúng đắn và lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị,
về việc thể chế hóa Quy định số 49 của Ban Bí thư Trung ương thành quy chế làm việc của mỗi cấp ủy đảng, về thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng, về lựa chọn, xây dựng đội ngũ cấp ủy, về tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động của doanh nghiệp [62, tr 9-23]
Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài
khảo sát thực tế: “Thực trạng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ
(cấp xã) qua gần 20 năm đổi mới" năm 2004 đã cung cấp những phân tích khá sâu
sắc về các đặc điểm riêng và truyền thống của TCCSĐ nông thôn đồng bằng Bắc
Bộ trong thời kỳ đổi mới Đề tài đưa ra một số kiến nghị có giá trị trong thực tiễn xây dựng TCCSĐ hiện nay như: có quy định về chế độ dân chủ trong TCCSĐ; tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách cho cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và quản lý đội ngũ cán bộ cơ sở, tổng kết mô hình bí thư chi bộ thôn đồng thời là trưởng thôn; lập hội đồng xét duyệt kết quả phân loại TCCSĐ ở tỉnh và huyện [134, tr 7-53]
TS Chu Thị Thoa trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở tại Phân viện
Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2005: "Nâng cao chất lượng
sinh hoạt chi bộ thuộc tổ chức cơ sở đảng khu vực nông thôn hiện nay (qua khảo sát
ở một số địa phương vùng trung du Bắc Bộ)" lý giải việc nâng cao chất lượng sinh
hoạt chi bộ bắt nguồn từ yêu cầu xây dựng các chi bộ, TCCSĐ ngày càng hiệu quả
Đề tài đưa ra một số yêu cầu cơ bản đối với các cấp uỷ đảng nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng nông thôn trung du Bắc bộ như: lựa chọn, bố trí, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chi uỷ viên, đặc biệt là bí thư chi bộ; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên tại chi bộ như chú ý tới từng nhóm đảng viên, quản lý đảng viên một cách toàn diện trên tất cả các mặt; chuẩn bị tốt nội dung sinh hoạt chi bộ; thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản là tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đảm bảo sự đoàn kết thống nhất ; đổi mới phương thức sinh hoạt chi bộ; các cấp uỷ cấp trên của TCCSĐ định kỳ kiểm tra sinh hoạt của các chi bộ [65, tr 58-68]
Trang 22Luận án Tiến sĩ khoa học Chính trị năm 2007 của Lê Tấn Lập về Sự lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực thi quyền lực của nhân dân ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long khẳng định sự lãnh đạo của TCCSĐ trong việc thực thi
quyền lực của nhân dân ở nông thôn thực chất là lãnh đạo thực hiện dân chủ trên cơ
sở phát huy tổng hợp sức mạnh của các thể chế kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại
cơ sở, tập trung vào các nội dung chủ yếu: lãnh đạo việc thực hiện pháp luật, xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước ở nông thôn; lãnh đạo chính quyền tại địa phương; lãnh đạo các đoàn thể nhân dân ở cơ sở; lãnh đạo phát triển kinh tế tại cơ sở; lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở [54, tr 141-184]
Tác giả Hà Duy Dĩnh trong Luận án tiến sỹ khoa học Chính trị năm 2009
“Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam giai đoạn hiện nay” đã rút ra những kinh nghiệm trong quán triệt
và vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào điều kiện cụ thể của ngành để xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị; coi trọng công tác tư tưởng; thể chế hóa quy định của Đảng
về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp nhà nước thành quy chế làm việc của mỗi cấp ủy đảng; chú trọng việc lựa chọn, xây dựng đội ngũ cấp ủy có trình độ năng lực đồng đều, có tính chiến đấu cao, đặc biệt là bí thư cấp ủy; tạo bước chuyển biến về công tác cán bộ và quản lý, làm tốt công tác phát triển đảng viên mới; có quy chế rõ ràng và thực hiện tốt mối quan hệ giữa cấp ủy đảng mà thường xuyên là bí thư cấp ủy với giám đốc đơn vị và duy trì chế độ sinh hoạt, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, cấp ủy [17, tr 122-130]
Thạc sỹ Nguyễn Việt Phương trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm
2011“Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở các tỉnh
miền núi Tây Bắc nước ta - Thực trạng và giải pháp” đã rút ra một số kinh nghiệm
thực tiễn trong xây dựng các TCCSĐ cấp xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc: nhận thức
rõ về vị trí, tầm quan trọng của TCCSĐ gắn với đặc thù cấp xã ở miền núi Tây Bắc;
gắn chặt công tác xây dựng Đảng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và khắc phục tình trạng “đảng vụ đơn thuần”; coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng và về tổ
Trang 23chức, kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức; kết hợp chặt chẽ công tác củng cố tổ chức, xây dựng TCCSĐ với công tác vận động quần chúng, nhất là với đồng bào các dân tộc ít người; phát huy tính chủ động sáng tạo của bản thân TCCSĐ, đồng thời phải tăng cường sự chỉ đạo của cấp trên, nhất là cấp huyện
[57, tr 108-131]
Luận án Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ thành phố Hà
Nội từ năm 1996 đến năm 2005 của Trần Thị Thu Hằng năm 2012 đã đúc rút một số
kinh nghiệm trong công tác xây dựng TCCSĐ của thành phố Hà Nội về sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối, quan điểm của Đảng vào điều kiện thực tế; đổi mới phương thức lãnh đạo, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, Thành uỷ về TCCSĐ; khẳng định vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị
của TCCSĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ [45]
Nghiên cứu Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Võ Văn Đức - Đinh Ngọc Giang
(đồng chủ biên) năm 2014 rút ra những kinh nghiệm về sự chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên đối với TCCSĐ như quán triệt kịp thời, đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của tỉnh; chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ và đảng viên; thường xuyên quan tâm củng
cố, kiện toàn TCCSĐ cho đồng bộ, thống nhất với tổ chức của HTCT cơ sở; chăm
lo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt và cấp uỷ viên; tăng cường kiểm tra, giám sát
cơ sở [38, tr 160-164]
Tác giả Trần Đức Tuấn trong bài viết Một số giải pháp nâng cao chất lượng tổ
chức cơ sở đảng ở tỉnh Thái Bình hiện nay trên Tạp chí Lý luận chính trị bản điện tử
năm 2015 nhấn mạnh tới một số biện pháp có ý nghĩa thực tiễn cao như: chỉ đạo các
tổ chức đảng thực hiện tốt chương trình hành động, kế hoạch thực hiện nghị quyết, với phương châm là: "Làm đến đâu chắc đến đó, vừa làm vừa rút kinh nghiệm kịp thời", tập trung các biện pháp hữu hiệu khắc phục những yếu kém khuyết điểm; tăng cường kiểm tra đôn đốc các cấp ủy, TCCSĐ cấp dưới triển khai thực hiện; hoàn thiện
mô hình tổ chức của các loại hình TCCSĐ, quan tâm tới các đơn vị cơ sở chưa có
Trang 24TCCSĐ; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình đồng thời với mở rộng dân chủ; cụ thể hóa các tiêu chí, quy trình, phương pháp đánh giá chất lượng TCCSĐ, cán bộ, đảng viên [63]
Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng về Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010 của tác giả Vũ Thị Duyên đã hệ
thống hoá những vấn đề lý luận liên quan tới xây dựng TCCSĐ; cung cấp bức tranh tổng quát về chủ trương và công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
từ năm 1997 đến năm 2010 trên các mặt về tư tưởng chính trị, xây dựng tổ chức, phát triển đảng viên, công tác cán bộ, kiểm tra giám sát, phương thức lãnh đạo Tác giả nhận xét về quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu như: Nhận thức đúng vai trò tầm quan trọng và nhiệm vụ chính trị của TCCSĐ trong từng giai đoạn lịch sử; các cấp ủy đảng chú trọng và thường xuyên nâng cao chất lượng công tác đánh giá, phân loại TCCSĐvà đảng viên; Luôn chú trọng nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ đảng viên ở cơ sở ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của TCCSĐ; Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng, coi trọng công tác tư tưởng trong đảng bộ và nhân dân [18]
1.2 Những nghiên cứu đề cập đến tổ chức cơ sở đảng và lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở tỉnh Hà Nam
1.2.1 Về tổ chức cơ sở đảng
Nghiên cứu tổng quát nhất về lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam là công trình của
Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Hà Nam: “Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Hà Nam”, Tập 1
(1927-1975), xuất bản năm 2000 Trong cuốn sách này, lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam được khái quát lại với các tư liệu giá trị trong những năm 1927-1975 Cuốn sách rút ra những bài học kinh nghiệm trong gần 50 năm đấu tranh, xây dựng và
lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nam có giá trị như: Thứ nhất, xây dựng Đảng vững mạnh
về chính trị, tư tưởng, tổ chức, quan tâm đến sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt, luôn đấu tranh với những tư tưởng sai trái
Trang 25trong Đảng, chú trọng giáo dục, nâng cao trình độ và năng lực cho cán bộ, đảngviên
và cấp uỷ Thứ hai, tuyệt đối trung thành với Đảng, quán triệt và vận dụng sáng tạo
chủ trương, đường lối của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương [3, tr 517]
507-BCH Đảng bộ huyện Bình Lục năm 2005 trong cuốn sách "Lịch sử Đảng bộ
huyện Bình Lục(1930 - 2005)" đã cung cấp nhiều tư liệu về sự lãnh đạo của Tỉnh
uỷ, huyện uỷ đối với TCCSĐ và rút ra một số kinh nghiệm: luôn đặt lên hàng đầu công tác xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thật sự là hạt nhân lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi mọi phong trào cách mạng ở địa phương; tuyệt đối trung thành với đường lối cách mạng và mục tiêu lý tưởng của Đảng, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, chủ yếu trong từng giai đoạn cách mạng [5, tr 498-512]
BCH Đảng bộ huyện Lý Nhân năm 2005 với cuốn sách: "Lịch sử Đảng bộ
huyện Lý Nhân (1975 - 2000)" đã rút ra 3 bài học kinh nghiệm cơ bản: Thứ nhất,
nắm vững và quán triệt tốt chủ trương, đường lối của Đảng và Tỉnh ủy là rất quan trọng, song phải biết vận dụng vào thực tiễn địa phương, chủ động, sáng tạo để đề
ra những giải pháp đồng bộ tổ chức thực hiện để đảm bảo có chủ trương đúng, có sự
vận dụng sáng tạo và quyết tâm lãnh đạo tổ chức thực hiện; Thứ hai, Đảng gắn bó
máu thịt với dân, tin dân, dựa vào dân nên Đảng bộ phải triển khai đồng bộ, đảng
viên gắn với cơ sở, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; Thứ ba, giữ vững nguyên
tắc tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng, giữ vững kỷ luật, xây dựng sự đoàn kết nhất trí, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng [6, tr 201-206]
BCH Đảng bộ thị xã Phủ Lý với nghiên cứu: "Lịch sử Đảng bộ thị xã Phủ
Lý", tập 2 (1975-2005) xuất bản năm 2008 đã cung cấp những kinh nghiệm thiết
thực: Thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ; Nắm vững, chủ động vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, nắm chắc tình hình địa phương để đề ra và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị; Chú trọng xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ các bộ mạnh
Trang 26về mọi mặt ; Thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, MTTQ, các đoàn thể và các tổ chức xã hội; Thường xuyên quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng mối quan hệ “máu thịt” giữa nhân dân với Đảng [8, tr 427-433]
Luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử của Nguyễn Duy Hạnh năm 2008 về “Sự ra
đời và phát triển của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1930 đến năm 1965” là công trình
nghiên cứu có hệ thống và chi tiết về lịch sử phát triển của Đảng bộ tỉnh Hà Nam Các kinh nghiệm có giá trị của luận án về công tác xây dựng Đảng tại Hà Nam tập trung vào các nội dung: chính trị, tư tưởng, sự vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Trung ương Đảng thành các nghị quyết, nhiệm vụ chính trị cụ thể của địa phương; sự xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng bộ tỉnh, của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên; vai trò quyết định lãnh đạo của các tổ chức Đảng, TCCSĐ trong phong trào cách mạng và xây dựng HTCT địa phương [42, tr
138-147]
Nghiên cứu "Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Liêm (1930-2005)" của BCH
Đảng bộ huyện Thanh Liêm xuất bản năm 2009 khẳng định những thắng lợi của Đảng bộ và nhân dân huyện Thanh Liêm đạt được được đánh giá là kết quả của sự giằng co, đấu tranh giữa cái mới, tiên tiến với sự trì trệ, tư tưởng bảo thủ, ngại thay đổi vốn đã ăn sâu bén rễ Phải nắm vững và vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng, các nghị quyết của Tỉnh ủy vào điều kiện thực tế địa phương, khơi dậy những tiềm năng sáng tạo của địa phương; Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh nhân tố quyết định thắng lợi, không ngừng chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần làm chủ, tính năng động, sáng tạo của quần chúng nhân dân; Thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng
và không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu cách mạng ở mọi thời kỳ; Chú trọng tìm tòi các hình thức, phương pháp phù hợp để phát huy nguồn lực tại chỗ và lợi thế so sánh địa phương; Thường xuyên xây dựng tác phong hướng về cơ
sở, có trách nhiệm với cơ sở, xem cơ sở là địa chỉ cần tìm đến của mọi quyết sách lãnh đạo [7, tr 572-587]
Trang 27BCH Đảng bộ Tỉnh Hà Nam phát hành cuốn “Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Hà
Nam”, Tập 2 (1975-2005), xuất bản năm 2010 đã cung cấp thêm kinh nghiệm có
thể vận dụng trong lãnh đạo xây dựng TCCCĐ: Sự quán triệt sâu sắc, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng sáng tạo, phù hợp vào đều kiện của địa phương; hết sức coi trọng công tác xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh và giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ, đặc biệt là đoàn kết trong các cấp ủy, trong Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy [4, tr 489-496]
Tác giả Nghiêm Thị Lan Oanh trong Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảngvề Đảng
bộ tỉnh Hà nam thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2000 đến năm 2013 đưa
ra kinh nghiệm phải thường xuyên xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của TCCSĐ như Đảng bộ tỉnh coi trọng nâng cao, củng cố TCCSĐ, coi đó là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng Đảng về tổ chức; có chủ trương, đường lối đúng, có chính sách phù hợp với công tác cán bộ, đảng viên; quá trình giải quyết các TCCSĐ yếu kém phải gắn liền với việc duy trì, củng cố các TCCSĐ vững mạnh [56, tr 91-100]
1.2.2 Về lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử năm 2000 của Nguyễn Duy Hạnh về
“Quá trình củng cố và phát triển tổ chức cơ sở đảng của đảng bộ huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 1999)” rút ra một số bài học kinh
nghiệm đáng chú ý trong công tác xây dựng và củng cố TCCSĐ của huyện như:
Một là, việc xây dựng, củng cố và kiện toàn TCCSĐ phải gắn chặt với việc lãnh đạo
thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương Cụ thể là trong lãnh đạo phải quán triệt nguyên tắc và nội dung đổi mới của Đảng, vận dụng phù hợp với
điều kiện, đặc điểm của địa phương để tìm ra hướng đi và cách làm thích hợp Hai
là, giữ vững đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng, trước hết là trong cấp ủy, trong
đội ngũ cán bộ chủ chốt Đây là điều kiện tiên quyết, là yếu tố hàng đầu cho sự ổn
định và phát triển của TCCSĐ Ba là, nâng cao nhận thức đối với đội ngũ cán bộ,
Trang 28đảng viên về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ đã được quy định Bốn
là, xây dựng, củng cố TCCSĐ phải đi đôi với việc tăng cường công tác qui hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; đổi mới công tác cán bộ
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở Năm là, cần tăng cường vai trò chỉ đạo của cấp ủy cấp trên đối với TCCSĐ Sáu là, phải đổi mới, nâng cao chất lượng
sinh hoạt chi bộ; củng cố và kiện toàn TCCSĐ đồng thời coi trọng công tác dân vận, tạo ra mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân [40, tr 79-88]
Tác giả Lữ Văn Chung trong luận văn Cao cấp lý luận chính trị năm 2005:
“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng thuộc Đảng
bộ thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (2001-2004)” lựa chọn đối tượng nghiên cứu là hoạt
động của các TCCSĐ các xã, phường thuộc thị xã Phủ Lý Luận văn phân tích thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ loại hình này với 2 khía cạnh chủ yếu: thực hiện chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ và xây dựng đảng bộ cơ
sở xã trong sạch, vững mạnh [16, tr 11-33]
Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Chính trị khu vực I của Nguyễn Duy
Hạnh năm 2007: “Công tác xây dựng Đảng ở các doanh nghiệp nhà nước tỉnh Hà
Nam trong giai đoạn 2001 đến nay, thực trạng và giải pháp” đã đưa ra một số giải
pháp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ ở các doanh nghiệp Nhà nước như: nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên về chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ trong doanh nghiệp nhà nước; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của TCCSĐ trong các doanh nghiệp nhà nước bằng biện pháp thiết thực; đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên; củng cố tổ chức, nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh và các tổ chức quần chúng; tăng cường công tác kiểm tra của đảng bộ, chi bộ trong công tác xây dựng Đảng [41, tr 46-68]
Nguyễn Thị Phương Lan trong Luận văn Cao cấp lý luận Chính trị - Hành
chính năm 2010 về “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các Đảng bộ xã, thị
trấn ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam giai đoạn hiện nay” đưa ra 7 nhóm giải pháp
Trang 29chủ yếu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ xã, thị trấn huyện Duy Tiên đến năm 2015 như: nâng cao năng lực xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quản lý đô thị và tổ chức thực hiện của đảng bộ xã, thị trấn; xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ chủ chốt ngang tầm nhiệm vụ mới; tăng cường công tác tư tưởng; củng cố, kiện toàn chi bộ thôn, xóm, đẩy mạnh công tác đảng viên; quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong các đảng bộ xã; phát huy vai trò của các tổ chức trong HTCT và vai trò của nhân dân ở cơ sở tham gia xây dựng Đảng; tăng cường sự lãnh đạo của huyện ủy, các ban ngành, đoàn thể cấp huyện
[53, tr 43-51]
Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Hà Nam xây dựng tổ chức cơ sở
đảng từ năm 2001 đến năm 2011 của tác giả Ngô Thị Hường là công trình nghiên
cứu về xây dựng TCCSĐ ở tỉnh Hà Nam tương đối toàn diện Tác giả đã hệ thống hoá nhiều tư liệu và nhận định công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã đạt được những ưu điểm nổi bật, đồng thời cũng chỉ ra một số khuyết điểm, yếu kém trong công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam như: một số cấp ủy đảng chưa thực sự coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chưa nhận thức đúng, đầy đủ về vai trò, vị trí của TCCSĐ và xây dựng TCCSĐ trong tình hình mới; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số TCCSĐ và đảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới; công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật Đảng ở một số TCCSĐ, chi bộ chưa được coi trọng, hiệu quả thấp
Trên cơ sở đó, tác giả luận văn rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu: Đảng bộ luôn luôn nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của công tác xây dựng TCCSĐ trong sạch,
vững mạnh; luôn coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, gắn kết chặt với phát
triển đảng viên; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của TCCSĐ, nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ; Dựa vào quần chúng, thông qua phong trào
cách mạng của quần chúng làm tốt công tác xây dựng TCCSĐ [46, tr 91-100]
1.3 Những vấn đề mà luận án cần tiếp tục giải quyết
Những nghiên cứu đề cập tới chủ trương của Đảng về TCCSĐ và lãnh đạo
Trang 30xây dựng TCCSĐ trên bình diện toàn quốc đã cung cấp các gợi ý về lý thuyết
nghiên cứu TCCSĐ như khái niệm TCCSĐ, các loại hình TCCSĐ cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ, về xây dựng TCCSĐ trên các các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức; hệ thống hóa những quan điểm, chủ trương, quy định của Đảng
về TCCSĐ trong từng thời kỳ, trong từng loại hình cơ bản Đây là những nội dung
mà tác giả luận án sẽ tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu thực hiện luận án
Tuy vậy, các nghiên cứu đã đề cập chưa làm rõ nội dung sự kết hợp nghiên cứu về cấu trúc TCCSĐ và những quan điểm, chủ trương, quy định của Đảng về TCCSĐ với cách nhìn lịch đại; chưa tập trung phân tích các yếu tố có liên quan tác động tới công tác xây dựng TCCSĐ qua các giai đoạn, trên các đơn vị hành chính - lãnh thổ cụ thể
Những nghiên cứu đề cập đến TCCSĐ và lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở tỉnh
Hà Nam đã làm rõ bối cảnh lịch sử tác động tới các TCCSĐ và nhiều tư liệu theo hệ
thống lịch đại về những quan điểm, chủ trương, quy định của Đảng bộ tỉnh về TCCSĐ qua các giai đoạn Đồng thời, các nghiên cứu này còn cung cấp tư liệu về xây dựng TCCSĐ ở bình diện các đơn vị hành chính cụ thể trên địa bàn tỉnh Hà Nam và ở những loại hình TCCSĐ đặc thù Tuy nhiên, các nghiên cứu thuộc nhóm này còn ít ỏi về số lượng, đồng thời vẫn để lại nhiều khoảng trống như:
Đã có các công trình nghiên cứu về vấn đề lịch sử xây dựng TCCSĐ ở Hà Nam nhưng số lượng các công trình nghiên cứu không nhiều và mới chỉ tiếp cận theo các phạm vi nhỏ như đảng bộ huyện hay trong các loại hình TCCSĐ cụ thể
Các nghiên cứu chưa có điều kiện đi sâu phân tích các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ theo cấu trúc về chính trị, tư tưởng, tổ chức của Đảng bộ tỉnh một cách hệ thống; chưa hệ thống hoá đầy đủ, chi tiết về tư liệu xây dựng TCCSĐ trên địa bàn toàn tỉnh trong giai đoạn từ khi tái lập tỉnh Hà Nam (năm 1997) đến năm
2010 gắn với việc phân tích bối cảnh lịch sử đặc thù tác động đến sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh đối với TCCSĐ từ năm 1997 đến năm 2010
Đã có nghiên cứu đề cập tới vấn đề Đảng bộ tỉnh Hà Nam xây dựng TCCSĐ một cách khái quát trong những năm 2001-2011 nhưng chưa kết hợp rõ nét giữa
Trang 31phương pháp nghiên cứu theo lịch đại và nghiên cứu theo chiều ngang cấu trúc lãnh đạo xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư tưởng, tổ chức
Như vậy, nghiên cứu về xây dựng TCCSĐ luôn là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm và đã có những công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với TCCSĐ có liên quan đến những năm 1997 - 2010 Mỗi công trình lại có góc độ tiếp cận khác nhau, thể hiện nhận thức và sự lựa chọn vấn đề nghiên cứu của các tác giả, cung cấp cho luận án những tư liệu lịch sử chân thực, độ tin cậy cao Đồng thời, những nghiên cứu đó góp phần khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu phù hợp với đề tài của luận án được tiếp cận dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Qua khảo sát tình hình nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những kết quả của các công trình nói trên, tác giả luận án thấy cần thiết tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010, tập trung vào những nội dung sau:
1) Trên cơ sở tham khảo, kế thừa những nghiên cứu đề cập tới vấn đề xây dựng TCCSĐ với các gợi ý về lý thuyết nghiên cứu TCCSĐ, luận án tập hợp, luận giải làm rõ thêm một số vấn đề lý luận chung về TCCSĐ và lãnh đạo xây dựng TCCSĐ như: khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ; quan niệm
về Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng TCCSĐ; quan niệm xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư tưởng, tổ chức Những vấn đề lý luận chung này được sử dụng như khung lý thuyết cho luận án để giải quyết nội dung nghiên cứu
2) Từ năm 1997 đến năm 2010 là thời gian 13 năm sau tái lập của tỉnh Hà Nam với những sự thay đổi lớn về tổ chức bộ máy và hoạt động của HTCT, các nhiệm vụ chính trị sau tái lập tỉnh để thích ứng với những yêu cầu phát triển mới của tỉnh đặt ra cấp bách đối với từng TCCSĐ và sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh Vì vậy, luận án cần làm rõ bối cảnh, khái quát các yếu tố có liên quan tác động tới công tác lãnh đạo xây dựng TCCSĐ tại Hà Nam trong thời gian này
3) Để có những đánh giá khoa học, luận án cần hệ thống hóa các chủ trương xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam theo lịch đại từ năm 1997 đến năm
Trang 322010, trên các nội dung cụ thể về chính trị, về tư tưởng và về tổ chức Trên cơ sở
đó, luận án làm rõ sự chủ động của Đảng bộ tỉnh trong việc quán triệt, cụ thể hóa và thực hiện vận dụng các chủ trương, quan điểm, nghị quyết của Đảng về xây dựng TCCSĐ vào thực tiễn của Hà Nam
4) Luận án làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ về chính trị,
về tư tưởng, về tổ chức của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010:
những kết quả đạt được, những hạn chế, khuyết điểm; nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế
5) Trên cơ sở nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 1997 đến năm 2010, luận án nhận xét và rút ra những kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ Tỉnh Hà Nam có thể vận dụng tại địa phương hiện nay
Tiểu kết chương 1 Xuất phát từ vị trí, vai trò của TCCSĐ trong hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng, nghiên cứu về vấn đề xây dựng TCCSĐ ở một địa phương hiện nay là rất cần thiết, xét trên cả mặt học thuật lẫn mặt thực tiễn
Trong thực tế, TCCSĐ đã thu hút rất nhiều nghiên cứu của các tác giả với những các gợi ý về lý thuyết nghiên cứu về TCCSĐ, hệ thống hóa những quan điểm, chủ trương, quy định của Đảng về TCCSĐ trong từng thời kỳ, trong từng loại hình cơ bản Đồng thời, đã có các công trình nghiên cứu về lịch sử xây dựng TCCSĐ ở Hà Nam và sự lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong khoảng thời gian lịch sử tương ứng với thời gian luận án nghiên cứu Tổng quan các nghiên cứu đó cung cấp cho luận án nhiều tư liệu lịch sử và luận cứ quan trọng để có thể tham khảo, kế thừa
Tuy nhiên, để tái hiện đầy đủ hơn lịch sử lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam, tác giả cho rằng tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử xây dựng TCCSĐ của đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010 theo góc độ lịch đại kết hợp với phân tích, luận giải theo chiều ngang cấu trúc xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư tưởng, tổ chức là cần thiết
Trang 33Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
2.1 Một số vấn đề lý luận chung về tổ chức cơ sở đảng và lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng
2.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
* Khái niệm
Theo Điều 10, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996), lần thứ IX (năm 2001) và lần thứ X (năm 2006) của Đảng ban hành thì khái niệm TCCSĐ tương đối thống nhất:
“1 Hệ thống tổ chức của Ðảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước
2 Tổ chức cơ sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện, quận, thị
xã, thành phố trực thuộc tỉnh Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam theo quy định tại Chương VI
Việc lập tổ chức đảng ở những nơi có đặc điểm riêng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương
3 Cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định lập hoặc giải thể đảng bộ, chi bộ trực thuộc.” [27, tr.19]
* Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở đảng
TCCSĐ giữ vị trí là nền tảng của Đảng, có vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ
sở, biểu hiện cụ thể ở những nội dung sau:
- TCCSĐ là nơi nối liền các cơ quan lãnh đạo của Đảng với quần chúng nhân dân; nơi trực tiếp đưa đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tới quần chúng nhân dân, đồng thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để phản ánh lên tổ chức đảng cấp trên
- TCCSĐ là nơi trực tiếp cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính
Trang 34sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và lãnh đạo chính quyền, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện
- TCCSĐ là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp, sàng lọc đảng viên;
nơi đào tạo cán bộ cho Đảng; là nơi tạo nguồn cán bộ cho cả HTCT
- TCCSĐ là đơn vị chiến đấu cơ bản của đảng, nơi bảo đảm tính tiên phong, gương mẫu của Đảng; là nơi mà mọi hoạt động xây dựng nội bộ đảng được tiến hành; là trung tâm đoàn kết nội bộ đảng, các tổ chức trong HTCT và tập hợp, đoàn kết quần chúng nhân dân
* Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng Chức năng:
Một là, chức năng lãnh đạo ở cơ sở
- Trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị và nắm vững đặc điểm của địa phương, đơn vị đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ công tác, biện pháp thực hiện tại cơ sở; đồng thời, nắm vững tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân phản ánh cho Đảng và Nhà nước để định ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn
- Định hướng xây dựng tổ chức và hoạt động của chính quyền, các đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội theo đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả
- Định hướng tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trên cơ sở chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; uốn nắn những lệch lạc, ngăn chặn những tiêu cực, khẳng định và ủng hộ nhân tố mới trong hoạt động của các tổ chức trong HTCT và các tổ chức quần chúng tại cơ sở; phát động và lãnh đạo các phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa của quần chúng ở cơ sở
Hai là, chức năng xây dựng nội bộ đảng
- Củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, kết nạp đảng viên mới
Trang 35- Thực hiện tốt chế độ sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đảng
- Kiểm tra đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, đường lối, điều lệ Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên và cấp mình
- Trực tiếp hoặc gián tiếp bầu các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng; tham gia xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên
- Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng
- Tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên và cấp mình;
tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên
Nhiệm vụ
Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tất cả các TCCSĐ đều
có 5 nhiệm vụ sau:
“1 Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả
2 Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên
3 Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
4 Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo
Trang 36vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
5 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra,
giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng” [30, 40]
tr.39-2.1.2 Quan niệm về Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Quan niệm về sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh đối với TCCSĐ có các yếu tố cấu thành như sau:
Chủ thể lãnh đạo: Đảng bộ tỉnh (mà trực tiếp là cấp uỷ các cấp trên cơ sở như cấp uỷ cấp tỉnh uỷ (tỉnh uỷ), cấp uỷ cấp huyện (huyện uỷ và tương đương)
Đối tượng lãnh đạo: các TCCSĐ (cấp xã, phường, thị trấn và tương đương)
Nội dung lãnh đạo: lãnh đạo xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư tưởng, tổ chức
Phương thức lãnh đạo: lãnh đạo xây dựng TCCSĐ bằng việc đưa ra các chủ trương và chỉ đạo TCCSĐ tổ chức thực hiện các chủ trương đó
Như vậy, đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng TCCSĐ là toàn bộ các hoạt động
mà đảng bộ tỉnh (trực tiếp là cấp uỷ các cấp trên cơ sở như tỉnh uỷ, huyện uỷ và tương đương) đề ra chủ trương và chỉ đạo TCCSĐ, nhằm xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức
2.1.3 Quan niệm xây dựng tổ chức cơ sở đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức
Xây dựng TCCSĐ về chính trị bao gồm các hoạt động cơ bản như: định hướng nhiệm vụ chính trị cho TCCSĐ; xây dựng năng lực lãnh đạo chính trị của TCCSĐ (năng lực lãnh đạo HTCT cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị)
Xây dựng TCCSĐ về tư tưởng bao gồm các hoạt động cơ bản như: định hướng
tư tưởng chính trị cho TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; củng cố, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; định hướng TCCSĐ lãnh đạo việc phát huy dân chủ cơ ở, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở; chỉ đạo TCCSĐ làm công tác dân vận
Trang 37Xây dựng TCCSĐ về tổ chức bao gồm các hoạt động cơ bản như: củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, đảng viên của TCCSĐ; công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng của TCCSĐ; công tác đánh giá, phân loại chất lượng TCCSĐ và đội ngũ đảng viên
2.2 Những yếu tố tác động đến lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
2.2.1 Điều kiện lịch sử, tự nhiên, kinh tế - xã hội
* Về điều kiện lịch sử
Hà Nam là địa bàn cư trú lâu đời của người Việt Cổ, từ xưa đã là vùng quan trọng của văn minh Đông Sơn - nền tảng văn hoá Việt Nam Từ thế kỷ III trước công nguyên, vùng đất Hà Nam thuộc trấn Sơn Nam
Ngày 20/10/1890 toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập tỉnh
Hà Nam bao gồm toàn bộ phủ Liêm Bình, huyện Vũ Bản và huyện Thượng Nguyên (thuộc tỉnh Nam Định) cùng với 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp (Hà Nội) nhập vào huyện Duy Tiên Trong thời Pháp thuộc và kháng chiến chống Pháp, địa giới
Hà Nam có nhiều thay đổi
Năm 1957, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa quyết định tách huyện Lạc Thủy về tỉnh Hòa Bình Tỉnh Hà Nam còn lại 5 huyện và thị xã
Năm 1965, Hà Nam sáp nhập với Nam Định thành tỉnh Nam Hà
Năm 1976 Nam Hà sáp nhập với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh
Năm 1992 tỉnh Hà Nam Ninh tách thành 2 tỉnh Nam Hà và Ninh Bình như địa giới trước 1976
Tháng 1/1997 tỉnh Nam Hà tách thành 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định như địa giới trước 1965 [96, tr 30-33]
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Tỉnh Hà Nam nằm ở phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, vào khoảng 20,41 độ
vĩ bắc, 105,31 độ kinh đông; phía Bắc giáp Hà Nội, phía Nam giáp Nam Định, phía Đông qua sông Hồng là Hưng Yên và Thái Bình, phía Tây Nam là Ninh Bình, phía Tây giáp Hòa Bình
Trang 38Hà Nam cách Thủ đô Hà Nội gần 60 km về phía Nam với diện tích tự nhiên rộng 851,5 km2, được chia thành 05 huyện và 01 thành phố Theo thống kê, tổng số
hộ dân cư của tỉnh Hà Nam tính đến hết quý I năm 2013 là 243.787 hộ, trong đó số
hộ gia đình là 243.051, tổng số nhân khẩu thường trú tính đến cuối quý I là 846.653 người [139]
Là một tỉnh không lớn xét cả về diện tích và dân số, nhưng Hà Nam lại có vị trí trọng yếu về chính trị, giao thông, tiềm năng kinh tế Hà Nam chiếm giữ vị trí cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội, lại nằm trên tuyến đường giao thông đường sắt, đường bộ Bắc Nam, có lợi thế rất lớn trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô
Hà Nội và vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc bộ Điều kiện đất đai, địa hình rất đa dạng thuận tiện cho phát triển sản xuất nông nghiệp; có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; có tiềm năng về phát triển du lịch quy mô nhỏ, du lịch sinh thái
Ở Hà Nam, nhân dân có truyền thống sinh hoạt các hình thức tín ngưỡng từ lâu đời với số lượng cơ sở thờ tự tín ngưỡng được thống kê tới năm 2005 là 1.552 (trong đó đình làng 520, đền 247, miếu phủ 371, từ đường dòng họ 224), diện tích đang sử dụng là 105,4 ha Hà Nam có 3 tôn giáo là Phật giáo, Công giáo và Tin lành với số lượng tín đồ chiếm tỷ lệ khoảng 23% dân số
* Bối cảnh tỉnh Hà Nam khi tái lập:
Ngày 06/11/1996, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã ra Nghị quyết chia tỉnh Nam Hà thành 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 22/11/1996, Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Nam Hà đã họp ra Nghị quyết số 02-NQ/TU về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chia địa giới hành chính tỉnh Hà Nam và Nam Định
Ngày 01/01/1997, tỉnh Hà Nam được tái lập và bước vào giai đoạn phát triển mới trong bối cảnh có sự thay đổi lớn về địa giới hành chính, cơ cấu tổ chức bộ máy của HTCT, sự xáo trộn trong mọi hoạt động của tỉnh Điều đó vừa mang lại những
Trang 39cơ hội mới nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức Thuận lợi có thể nhận thấy khi chia
tách và tái lập tỉnh là Hà Nam có địa giới hành chính gần Hà Nội và thuận lợi hơn
so với tỉnh Nam Định, đồng thời Trung ương Đảng và Nhà nước cũng dành nhiều
sự quan tâm hỗ trợ cho tỉnh Đây chính là cơ hội để Hà Nam bứt phá, vươn lên Tuy nhiên, những khó khăn trước mắt của việc chia tách và tái lập tỉnh lại thể hiện rõ
hơn rất nhiều:
Năm 1997, tỉnh Hà Nam có 6 đơn vị hành chính (5 huyện và 1 thị xã) Thị xã Phủ Lý là trung tâm của tỉnh Toàn tỉnh có 114 xã, phường, thị trấn, dân số 814.000 người, dân theo đạo thiên chúa chiếm 12% Bình quân GDP là 165 USD/người
(1.815.000 đồng) tính theo số liệu năm 1996 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp 50%; dịch vụ
30%; công nghiệp và xây dựng 20% Tổng sản lượng lương thực trong nông nghiệp hàng năm đạt 325 ngàn tấn Bình quân lương thực quy thóc 400 kg/người Giá trị công nghiệp hằng năm tăng từ 8 - 10%
Tại thời điểm tái lập tỉnh Hà Nam, nền nông nghiệp mang tính thuần nông, công nghiệp địa phương lạc hậu, manh mún, thương mại chưa phát triển, xuất khẩu nhỏ bé cả về khối lượng hàng hoá và giá trị ngoại tệ Hạ tầng cơ sở khu trung tâm của tỉnh hầu như chưa có gì, các cơ quan của tỉnh chưa có công sở làm việc, phải mượn, phải thuê nhà để duy trì hoạt động bình thường Thu ngân sách chỉ đáp ứng gần 40% chi ngân sách hàng năm Đời sống của cán bộ, công nhân viên gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhiều [69]
Khi tách tỉnh, lực lượng cán bộ từ tỉnh Nam Hà chuyển về vừa thiếu về số lượng, vừa mất cân đối về cơ cấu: cán bộ chuyên môn nghiệp vụ và khoa học kỹ thuật ở khu vực quản lý Nhà nước của các sở, ngành có 180 người, chiếm 17,81%;
khu vực sự nghiệp có 330 người, chiếm 23,12%; khu vực hành chính sự nghiệp có
510 người, chiếm 20,9%, có nhiều cơ quan, ban, ngành, đoàn thể không đủ người làm việc, không có cán bộ chủ chốt, đội ngũ cán bộ không có tính kế thừa; trong các ngành kinh tế, kỹ thuật thiếu cán bộ khoa học, cán bộ quản lý có kinh nghiệm Các
cơ quan của tỉnh phải thuê mượn địa điểm để làm việc Đời sống, sinh hoạt của đội
Trang 40ngũ cán bộ, công nhân, viên chức mới chuyển về gặp nhiều khó khăn, chưa có nhà
ở, một số phải đi về Nam Định hàng ngày [4, tr 290 -295]
Đời sống nhân dân trong thời điểm 1997-1998 gặp rất nhiều khó khăn, bị xáo trộn trong phân tách, sáp nhập, thiết lập mới ranh giới địa lý hành chính và HTCT;
một bộ phận nhân dân mất lòng tin trước khả năng lãnh đạo, quản lý và vận hành
của HTCT và sự sai phạm của nhiều tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên
* Những khó khăn tác động tới việc xây dựng TCCSĐ:
Vào thời điểm tái lập tỉnh Hà Nam, Đảng bộ tỉnh được tái lập nhưng chưa tổ chức được đại hội đảng các cấp, Tỉnh uỷ lâm thời do Trung ương Đảng chỉ định
Nội bộ các tổ chức trong HTCT chưa ổn định do tách lập, các TCCSĐ cũng đang trong quá trình kiện toàn và xác định nhiệm vụ trong bối cảnh mới
Đội ngũ cán bộ, đảng viên của cả tỉnh nói chung và của nhiều TCCSĐ nói riêng chưa đảm bảo được về số lượng, cơ cấu trình độ, độ tuổi, lại trong tình trạng
bị hẫng hụt về tâm lý, lo lắng vì bối cảnh xáo trộn Nhiều đơn vị có biểu hiện mất đoàn kết, chia rẽ, cục bộ địa phương, đấu đá tranh giành quyền lực; một số cán bộ
có cơ hội tham nhũng, làm sai quy định; tư tưởng bảo thủ trong cán bộ, đảng viên vẫn còn rõ nét Điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động của cả HTCT còn thiếu thốn, phải làm việc ghép, chung địa điểm
Trước khi tái lập tỉnh, trên địa bàn Hà Nam đã có những điểm nóng chính trị
- xã hội rất nghiêm trọng, khiếu kiện vượt cấp ngày càng phức tạp như tại làng Lác Nhuế (xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng), TCCSĐ và HTCT cơ sở ở Đồng Hoá khi
đó hầu như tê liệt, bị động khiến Tỉnh uỷ Nam Hà đã phải rất quyết tâm mới giải quyết được tạm ổn
Hà Nam là địa bàn có Công giáo phát triển, Tổng giám mục đàng ngoài đóng tại thị trấn Kiện Khê (huyện Thanh Liêm) từ năm 1659, hiện là nhà thờ xứ Kẻ Sở vẫn còn lưu giữ các hài cốt và nhiều di vật có liên quan đến các thánh tử vì đạo
Tỉnh phải giải quyết nhiều điểm nóng tôn giáo tại khu vực nhà thờ Kiện Khê ở huyện Thanh Liêm và các khu vực Công giáo trên địa bàn
Hà Nam bước vào quá trình phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rất