1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên ở tỉnh phú thọ hiện nay theo tư tưởng hồ chí minh

111 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn Luyện Đạo Đức Cho Cán Bộ, Đảng Viên Ở Tỉnh Phú Thọ Hiện Nay Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Phú Thọ
Chuyên ngành Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách là tập hợp những bài nghiên cứu, những trích dẫntiêu biểu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và một số mẩu chuyện chân thật,sinh động, ngắn gọn về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm trong lịch sử, cóvai trò rất lớn trong việc bảo đảm sự ổn định, phát triển của xã hội Vì vậy,trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, các chế độ xã hội khác nhau đều luôncoi trọng vấn đề đạo đức, xây dựng, bảo vệ và nâng cao các giá trị đạo đức củachế độ đó

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức, coiđạo đức là gốc của người cán bộ, đảng viên và giành sự quan tâm đặc biệt đếncông tác giáo dục, tu dưỡng đạo đức của cán bộ, đảng viên Nhờ vậy, đã xâydựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo cách mạngViệt Nam giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giành độclập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xãhội

Hiện nay, bên cạnh những mặt thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới,nước ta cũng đang đứng trước nhiều thách thức lớn, trong đó có tình trạng suythoái về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán

bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa rời mục tiêu

lý tưởng vẫn đang diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn chặn có hiệu quả Làvấn đề đặt ra đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên Phú Thọ hiện nay

Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của đạo đức và rèn luyện đạo đứccho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đảng bộ các xã ở tỉnh Phú Thọ trong thời gianqua đã thường xuyên coi trọng đạo đức và rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảngviên Do đó, phần đông cán bộ, đảng viên đã phát huy được vai trò tiên phong,gương mẫu, năng động, sáng tạo, giữ gìn được phẩm chất đạo đức, hoàn thànhtốt nhiệm vụ được giao, được nhân dân tín nhiệm Tuy nhiên, trong điều kiệnhiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường và do một số nơi cấp uỷ đảng

Trang 2

các xã chưa thực sự quan tâm, coi trọng đạo đức và rèn luyện đạo đức, nêntình trạng tha hoá về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viêntrong tỉnh vẫn diễn ra như tệ quan liêu, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân ngàycàng trỗi dậy Chính những điều này đã làm suy giảm lòng tin của nhân dânđối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Trước tình hình đó việc tăngcường giáo dục, rèn luyện đạo đức đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành vấn đề

cơ bản và cấp bách

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên ở tỉnh Phú Thọ hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu, với hy vọng có thể góp một phần nhỏ vào việc

rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay,góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công Nghị quyết Đại Hội khoáXII

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những năm qua, ở những góc độ, mức độ khác nhau vấn đềnghiên cứu của đề tài đã được đề cập tới trong nhiều công trình, bài báo khoahọc như:

Trang 3

- Phạm Quốc Thành (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

- Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

- GS Song Thành (2005), Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Hoàng Trung (2005), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh qua các phạm trù mà Người đã sử dụng, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

- PGS.TS Nguyễn Khánh Bật (chủ biên) (2006), Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,

Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội

- Học tập đạo đức Hồ Chí Minh (2007), Nxb Chính trị Quốc gia, HàNội Cuốn sách đề cập đến những quan điểm chung về đạo đức, những nguyêntắc và chuẩn mực đạo đức mới đối với các tầng lớp nhân dân, con đường hìnhthành đạo đức mới; những nội dung nghiên cứu và học tập đạo đức Hồ ChíMinh bao gồm những bài nói bài viết về đạo đức Hồ Chí Minh của các đồngchí lãnh đạo Đảng và Nhà nước và một số nhà khoa học

- PGS.TS Đinh Xuân Dũng (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức,

Nxb Giáo dục Cuốn sách là tập hợp những bài nghiên cứu, những trích dẫntiêu biểu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và một số mẩu chuyện chân thật,sinh động, ngắn gọn về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để phục vụ việc họctập của cán bộ, đảng viên, quảng đại quần chúng nói chung và đối với cán bộ,giáo viên, học sinh, sinh viên trong các nhà trường nói riêng

- GS Hoàng Chí Bảo (2009), Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh, NxbChính trị Quốc gia, Hà Nội

- Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân (tài liệu học tập năm 2009), Nxb CTQG, Hà Nội.

Trang 4

- “Giáo trình đạo đức học” (hệ cử nhân chính trị) (2009), Nxb Chínhtrị Quốc gia, Hà Nội.

- Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Đề cương học tập chủ đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”, Nxb CTQG, Hà Nội.

2.2 Luận văn, Luận án

- Võ Duy Phán (1993), Chủ tịch Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, Luận văn thạc sĩ Khoa học Lịch

sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Phạm Văn Hùng (2000), Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho cán

bộ quản lý Nhà nước trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Luận văn thạc sĩ triết

học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Đặng Thanh Giang (2001), Vấn đề xây dựng đạo đức mới cho cán bộ cơ

sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Thái Bình), Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

- Đặng Nam Điền (2004) “Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chính trị Quận đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới”, Luận án

Tiến sĩ Khoa học lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

- Đinh Ngọc Quý (2006), Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong

tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học

viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

2.3 Bài tạp chí

- Thành Duy (1997), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng với việc

xây dựng đạo đức đội ngũ cán bộ ngày nay”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (8).

- GS TS Hoàng Chí Bảo (2002), “Giáo dục và thực hành đạo đức lốisống của cán bộ, đảng viên theo gương Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Cộng sản, (2)

Trang 5

- Nguyễn Văn Cần (2002), “Rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ,đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (5).

- Đặng Sĩ Lộc (2004), “Cán bộ, đảng viên học tập và rèn luyện đạo đứctheo tư tưởng Hồ Chí Minh” Tạp chí , Tư tưởng Văn hoá, (3)

- Lã Quý Đô (2006), “Hồ Chí Minh với giáo dục, rèn luyện đạo đứccách mạng” Tạp chí , Tư tưởng Văn hoá, (2)

- Đinh Đức Hiền (2010), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng

đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 5(40).

- PGS TS Ngô Văn Thạo (2012), “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh - giải pháp quan trọng thực hiện Nghị quyết

Trung ương 4 về xây dựng Đảng”, Tạp chí Tuyên Giáo, (4).

- PGS TS Đào Duy Quát (2012), Tăng cường công tác tư tưởng, thực hiện

thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng”, Tạp chí Tuyên Giáo, (4).

- Đại tá, PGS TS Vũ Như Khôi (22/3/2012), “Giáo dục, rèn luyện cán bộ,đảng viên trong xây dựng Đảng hiện nay”, Tạp chí Quốc Phòng toàn dân điện tử.

- PGS TS Nguyễn Trọng Phúc (2012) “Đảng cách mạng và những tấm, gương, chuẩn mực đạo đức của người cách mạng”, Tạp chí Tuyên Giáo, (2).

- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc (5/4/2012), “Khắc phục tình trạng suythoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảngviên hiện nay”, Tạp chí Quốc Phòng toàn dân điện tử

- TS Nguyễn Viết Hiển (3/5/2012), “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng - cốt lõi

là thực hiện tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, Tạp chí Quốc Phòng toàn dân điện tử.

- Lương Cường (3/5/2012), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trongsạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng”, Tạp chí

Cộng sản điện tử.

Trang 6

- TS Trần Đình Thắng (7/5/2012), Rèn luyện phẩm chất chính trị, tư “

tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên”, Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử.

- PGS TS Phạm Xanh (25/5/2012) Làm gương và nêu gương - cốt lõi, “ trong tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Tạp chí Quốc Phòng toàn dân điện tử.

- ThS Nguyễn Văn Hào (12/8/2012), “Nhận diện suy thoái tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”, Tạpchí Xây dựng Đảng điện tử

Bằng những cách tiếp cận khác nhau, các công trình khoa học nói trên

đã đạt được những kết quả tích cưc, góp phần làm rõ những quan điểm cơ bảncủa tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, về những chuẩn mực đạo đức của độingũ cán bộ, đảng viên; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.Cho đến nay, vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cán

bộ, đảng viên vào việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên ở tỉnhPhú Thọ hiện nay chưa được công trình khoa học nào đề cập tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích:

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cán bộ, đảngviên vào việc rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên ở tỉnh Phú Thọ đáp ứngyêu cầu của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Trang 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên

- Thực trạng rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên ở tỉnh Phú Thọhiện nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm Đảng Cộng sản ViệtNam về đạo đức cán bộ, đảng viên

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học:phân tích, tổng hợp, lịch sử - lôgic, thống kê… đặc biệt coi trọng phương pháptổng kết thực tiễn

6 Những đóng góp khoa học của đề tài

- Góp phần làm rõ thêm giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyệnđạo đức

- Một số giải pháp góp phần rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên ở tỉnhPhú Thọ hiện nay

7 Ý nghĩa của đề tài

Trang 8

- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho cáccấp uỷ đảng trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cán bộ, đảng viên ở tỉnhPhú Thọ trong giai đoạn hiện nay; đồng thời cũng có thể được dùng làm tàiliệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh vàTrung tâm Bồi dưỡng Chính trị cấp huyện.

- Góp phần vào việc rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

ở tỉnh Phú Thọ hiện nay

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 5 tiết

Trang 9

Trong quá trình hoạt động cách mạng, từ lúc ra đi tìm đường cứu nướcđến khi sáng lập và lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, Hồ Chí Minh đặc biệt quantâm đến vấn đề cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ cho sự nghiệp cách mạng.Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vềcán bộ và công tác cán bộ, kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ tronglịch sử dân tộc, phù hợp với tiến trình cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đãhình thành những quan niệm hết sức khúc chiết, sáng tạo và toàn diện về cán

bộ và đội ngũ cán bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hoá ngày 20 – 2 – 1947 đã đưa ra khái niệm về cán bộ: “Cán bộ là cái dây

chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt,

dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là những người đem chính sách củaChính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân.” [54, tr.68]

Trang 10

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “cán bộ” là khái niệm cụ thể và việc xácđịnh “nội hàm” của nó được đặt trong những mối quan hệ nhất định Đây làmột vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì nếu không, sẽ không hiểu được thựcchất của vấn đề là gì và không thể xác định đúng đắn những yêu cầu cụ thể vềnăng lực và phẩm chất của mỗi loại cán bộ (như cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản

lý, cán bộ chuyên môn, khoa học, ) Từ đó, sẽ không xác định được nhữngnội dung, biện pháp để phát huy vai trò, cũng như xây dựng đồng bộ đội ngũcán bộ cho sự nghiệp cách mạng

Qua các tác phẩm, bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh, ta thấy “cán bộ”được Người xác định trong những mối quan hệ cơ bản như sau:

Thứ nhất, đối với quần chúng nhân dân

Nhận thức đúng vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân, Hồ ChíMinh cho rằng: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Vì vậy, khi đặt ra

và trả lời cho câu hỏi “Cách mệnh trước hết phải làm gì?”, Người nói: “Cáchmệnh trước phải làm cho dân giác ngộ” [51, tr.288] Như vậy, để tập hợp, đoànkết, tổ chức và phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân phải có những

“con người sử dụng lực lượng thực tiễn” Chính họ là những người có trọngtrách “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện

họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” [50, tr.209], tức là đội ngũ nhữngngười “giác ngộ dân chúng tập hợp và phát huy sức mạnh to lớn của quần”,

chúng nhân dân.

Từ đó, Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là những người đem chínhsách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủhiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [54, tr.309] Như vậy, theo Hồ Chí Minhcán bộ không những là người có vai trò giác ngộ và hướng dẫn, lãnh đạo quầnchúng mà còn là “chiếc cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là “côngbộc” của nhân dân Bởi vì, nếu cán bộ dở thì đường lối, chính sách của Đảng,Chính phủ không thể thực hiện được mà chỉ là “một mớ giấy lộn”

Trang 11

Cả cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã phấn đấu, hy sinh chonhiều “công việc” Nhưng “công việc” quan trọng nhất là “làm sao cho nước

ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào, ai cũng cócơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [53, tr.87]

Theo Hồ Chí Minh, cách mệnh là công việc “khổng lồ”, rất lâu dài,đầy gian nan thử thách Vì vậy, “phải có tổ chức rất bền vững mới thành công”[51, tr.297] và “muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông)làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất”[51, tr.304] Cho nên, như Lênin từng khẳng định là cần có “những nhà chínhtrị vô sản và không thua kém các nhà chính trị của giai cấp tư sản” Trong tổnghoà các mối quan hệ đa chiều của sự nghiệp cách mạng và trong chiều sâu tưduy chính trị Hồ Chí Minh thì “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [54,tr.309] Theo quan niệm của Người: “Cây phải có gốc, không có gốc thì câyhéo” [54, tr.292] Vì vậy, trong mọi công việc mà không có cán bộ thì khôngthể hoàn thành

Tuy nhiên, vấn đề ở đây không chỉ dừng lại ở chỗ có hay không có cán

bộ Đó chỉ mới là cấp độ thứ nhất, cũng như cây phải có gốc Nhưng “gốc cóvững, cây mới bền”, cũng như có cán bộ tốt, cán bộ giỏi, công việc mới thànhcông Bởi vậy, cần phải hiểu “gốc” là từ đó sinh ra, làm cho cây mạnh khoẻ,tốt tươi hay ngược lại Hồ Chí Minh viết: “Muôn việc thành công hoặc thấtbại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [54, tr.280]

Thứ ba, đối với bộ máy

Trong mối quan hệ này, Hồ Chí Minh quan niệm “cán bộ là dây chuyền của bộ máy” Đời sống kinh tế - xã hội và toàn bộ sự nghiệp cáchmạng là một cỗ máy khổng lồ Trong cỗ máy đó, cán bộ là dây chuyền HồChí Minh quan niệm “dây chuyền” với ý nghĩa cán bộ và đội ngũ cán bộ làmắt xích liên kết các bộ phận của bộ máy, là hệ thống chuyển tải năng lượngđến từng bộ phận của bộ máy Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ là cái dây chuyềncủa bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, toàn bộmáy cũng tê liệt” [54, tr.68]

Trang 12

Thứ tư, đối với đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng

Trả lời câu hỏi “cách mệnh trước hết phải có cái gì?” Hồ Chí Minhkhẳng định cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh” [51, tr.289];Người còn nhấn mạnh thêm: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũngnhư người cầm lái có vững, thuyền mới chạy” [51, tr.289] Để lãnh đạo cáchmạng, thì Đảng:

“1 Phải quyết định mọi vấn đề cho đúng…

2 Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…

3 Phải tổ chức kiểm soát ” [54, tr.325].…

Muốn vậy, phải có “sự cố gắng”, phải đào tạo lấy “những nhà chính trịgiai cấp” Cán bộ, đội ngũ cán bộ và vai trò lãnh đạo của Đảng có mối quan hệbiện chứng Trong đó, Hồ Chí Minh xem cán bộ là lực lượng có tính quyếtđịnh đến vai trò lãnh đạo của Đảng Đặc biệt “khi có chính sách đúng, thì sựthành công và thất bại của chính sách đó là do tổ chức công việc, do nơi lựachọn cán bộ, do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấycũng vô ích” [54, tr.636] Với cách đặt vấn đề như vậy, Hồ Chí Minh quanniệm “cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể Có vốn mới làm ra lãi Bất cứ chínhsách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi Không có cán

bộ tốt thì hỏng việc, tức lỗ vốn” [55, tr.636]

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ là một khái niệm “mở”,được Người đề cập ở nhiều góc độ, nhiều mối quan hệ và được thể hiện ởnhiều cách khác nhau, phù hợp các vị trí, vai trò của họ trong toàn bộ sự

nghiệp cách mạng của Đảng Nhưng về cơ bản, Người xem: “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [54, tr.309] Đó là

những người hội đủ phẩm chất đạo đức và năng lực nhất định để đảm đươngđược yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, vừa là người lãnh đạovừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân Theo quan điểm Hồ Chí Minh,

Trang 13

trang… Họ có thể là đảng viên hoặc chưa phải, không phải đảng viên Họ cóthể giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc làm công tác nghiệp vụ, chuyên mônđơn thuần, là những người được thi tuyển hoặc nhân dân bầu và “uỷ thác”trách nhiệm Họ là những người hoạt động trong các thời kỳ cách mạng, thoát

ly, có lĩnh lương để phân biệt với nhân dân Tuy nhiên trong các tác phẩm, bàiviết, bài nói, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiều đến cán bộ, đảng viên có chức, cóquyền, những người chịu trách nhiệm trực tiếp, to lớn và nặng nề trước Đảng,nhân dân và dân tộc

Người không đề cập đến cán bộ một cách chung chung mà luôn có

“tính từ”, luôn gắn với vai trò cụ thể trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng Đó là

“cán bộ tốt”, “cán bộ kém”, “cán bộ dở”, người của tổ chức, của Đoàn thể…Đặc biệt hơn hết, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh “làm cán bộ tức là suốt đờilàm đầy tớ trung thành của nhân dân” Điều này hoàn toàn khác với “phụ mẫuchi dân”, chăn dắt người dân trong các triều đại phong kiến và bọn quan lạithực dân “đè đầu cưỡi cổ nhân dân” thời kỳ trước đây

1.1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về tư cách người cán bộ

1.1.2.1 Người cán bộ phải có đạo đức

Theo Hồ Chí Minh thì cuộc cách mạng ở Việt Nam do Đảng cộng sảnViệt Nam lãnh đạo, không chỉ dừng lại ở giai đoạn là giải phóng dân tộc màcòn tiến lên một giai đoạn cao hơn là giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa

Đó là cuộc cách mạng giải phóng hoàn toàn xã hội, giải phóng triệt để conngười, để xã hội trở nên tốt đẹp hơn

Theo nghĩa đó, thì đây còn có nghĩa là một cuộc cách mạng đạo đức vĩđại nhất trong lịch sử Việt Nam Đạo đức có vai trò cực kỳ quan trọng trong sựnghiệp cách mạng theo quan điểm Hồ Chí Minh, đạo đức truyền thống củadân tộc Việt nam là một động lực tinh thần, một sức mạnh to lớn trong sựnghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xây dựng chế độ mới

Như vậy, con người trong quá trình thực hiện vai trò của mình trong sựnghiệp cách mạng đó phải có đạo đức cách mạng Đạo đức cách mạng chính làthể hiện tính “người” của con người, Người viết: “tuy năng lực và công việc

Trang 14

của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữđược đạo đức thì là người cao thượng” [58, tr.508] và Người còn so sánh:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Đất có bốn phương: Đông, Tây,Nam, Bắc Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính Thiếu một mùa thìkhông thành trời Thiếu một phương thì không thành đất Thiếu một đức thìkhông thành người” [55, tr.117] Đạo đức cần cho mọi người, và đạo đức đặcbiệt cần thiết cho cán bộ, đảng viên, cho những người cách mạng Tại sao?Bởi vì trong cuộc cách mạng khó khăn, gian khổ đó, người cán bộ phải hysinh rất nhiều thậm chí là cuộc sống để phục vụ lý tưởng Trong hoàn cảnh đó,chỉ có những người có đạo đức chân chính mới chiến thắng được cám dỗ vàchiến thắng được bản thân để hoàn thành nhiệm vụ

Người cán bộ cách mạng phải là những người có tầm nhìn xa, khônglấy cái vật chất hiện tại làm thước đo, không lấy hẹp hòi mà so sánh tương laitốt đẹp phía trước, người cán bộ phải có niềm tin vào quần chúng, phải đemtinh thần để thắng vật chất, đem văn minh chiến thắng hung tàn Cách mạng

có lúc thắng lợi cũng có lúc khó khăn, chỉ có những người có đạo đức cáchmạng mới không lùi bước

Trên tinh thần đó, thì đạo đức chính là sức mạnh tinh thần để ngườicán bộ vượt lên trước, đi đầu trong sự nghiệp cách mạng, lãnh đạo nhân dânđến thắng lợi cuối cùng

Sự quan tâm tới đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh được thể hiệnrất rõ ngay trong tác phẩm “Đường kách mệnh”(1927) Với phần mở đầu tácphẩm: “Tư cách một người cách mạng”, Người chỉ rõ những yêu cầu về đạođức đối với người cán bộ Người còn chỉ rõ người cán bộ phải xử lý đúng cácmối quan hệ: Đối với mình, đối với đồng chí mình, đối với công việc, đối vớinhân dân, đối với đoàn thể phải như thế nào?

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đối với người cán bộ, đạo đức là:

“Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, cho dân tộc; Ra sức làmviệc cho Đảng, giữ vững kỷ luật Đảng, thực hiện tốt đường lối chính sách của

Trang 15

Đảng; Đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêngcủa cá nhân mình Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấutranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc; Ra sức học tập chủ nghĩa Mác– Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng cải tiếncông tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [60, tr.603].

Theo Hồ Chí Minh, rèn luyện đạo đức không chỉ là thực hiện tốt nhữngnguyên tắc đạo đức cách mạng mà còn phải đấu tranh chống lại những biểu hiện phiđạo đức Đó là địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quân phiệt quan liêu, óc hẹphòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm,ích kỷ, hủ hoá, bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kêu ngạo, bệnh hiếu danh,bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, bệnh “cận thị”, bệnh xu nịnh, a dua, bệnhkhai hội, bệnh nể nang, bệnh quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí,…

Hồ Chí Minh cho rằng tất cả những căn bệnh trên có nguồn gốc từ

“chủ nghĩa cá nhân” Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàngtrăm thứ bệnh và nhiều cái xấu, thiên hình vạn trạng Chủ nghĩa cá nhân làgiặc nội xâm, bạn đồng minh của các kẻ địch khác Nói tóm lại, muốn trởthành người cách mạng, thành người cộng sản, người cán bộ cách mạng chânchính thì phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân

1.1.2.2 Người cán bộ phải có năng lực lãnh đạo

Cách mạng muốn thành công phải có Đảng lãnh đạo, đường lối đúngđắn của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu cho thắng lợi của cách mạng.Nhưng cách mạng chỉ thực sự thắng lợi khi mà Nghị quyết của Đảng thực sự

đi vào quần chúng nhân dân biến thành hành động cách mạng

Để cho Nghị quyết của Đảng thật sự đến với nhân dân, thì phải cần cócán bộ tốt Cán bộ tốt ở đây chính là năng lực lãnh đạo và tổ chức vận động quầnchúng của cán bộ Bởi vì, cán bộ chính là cầu nối là người đem chủ trương củaĐảng đến với nhân dân và đem tiếng nói của nhân dân đến với Đảng

Trang 16

Trước hết, để lãnh đạo được quần chúng, người cán bộ phải gần dânchúng, phải hiểu được tâm tư nguyện vọng của dân, nói được tiếng nói cuộcsống của dân, có như vậy, người cán bộ mới hiểu được nổi khổ của dân, vì dân

mà phục vụ

Để làm được điều đó, cán bộ phải không chỉ là người lãnh đạo mà còn

là học trò của dân chúng “Chẳng những lãnh đạo quần chúng mà lại phải họchỏi quần chúng” Bởi “không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân Cóbiết làm học trò dân thì mới biết làm được thầy học dân” [55, tr.432] Hồ ChíMinh thường nhắc nhở: “Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng”[54, tr.333] “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mauchóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãikhông ra” [54, tr.335]

Người cán bộ thật sự có năng lực, theo Hồ Chí Minh phải là ngườigiải quyết mọi vấn đề một cách đúng đắn, tổ chức công việc thật sự chặt chẽ

và tổ chức kiểm tra công việc cẩn thận Muốn làm được đầy đủ những việc đóthì nhất định phải có sự giúp đỡ của dân chúng

Nhưng đồng thời, Hồ Chí Minh cũng phê phán những cán bộ theo đuôidân chúng Biết lắng nghe dân chúng, nhưng cũng phải biết phân biệt cáiđúng, cái sai, cái chưa thật sự chính xác Có như vậy, người cán bộ mới thật sự

là chỗ dựa của nhân dân, không để cho nhân dân bị oan ức

Cốt lõi của năng lực cán bộ chính là làm cho dân hiểu và thực hiện chủtrương của Đảng, đồng thời vận động được nhân dân nói lên những vấn đề cònhạn chế mà khắc phục Lãnh đạo chính là quá trình từ dân chúng mà ra và trởlại chính dân chúng Muốn thực hiện được điều đó phải tẩy sạch bệnh quanliêu Nguyên nhân chủ yếu của bệnh quan liêu là do xa dân, sợ dân, khinh dân,không tin nhân dân, không hiểu biết dân và không thương yêu nhân dân

Những cán bộ chỉ biết dùng mệnh lệnh, chỉ biết họp hội, chỉ biết ngồibàn giấy, nói một đường làm một nẻo, chỉ biết cho mình mà không quan tâm

Trang 17

mình Những cán bộ đó là những cán bộ không tốt, những cán bộ không cónăng lực lãnh đạo, là những con sâu mọt đục khoét tài sản nhân dân Như vậy,

sẽ làm cho chủ trương của Đảng không đến được nhân dân, không biến thànhhành động cách mạng và phản ánh sai thực tế Đó chính là nguy cơ cho xã hội

Để trở thành người cán bộ tốt và tránh được bệnh quan liêu, mỗi cán

bộ phải: “Luôn luôn gần gũi nhân dân Ra sức nghe ngóng và hiểu biết nhândân Học hỏi nhân dân Lãnh đạo nhân dân bằng cách giải thích, tuyên truyền,

cổ động, giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyệnvọng chính đáng của nhân dân” [55, tr.432]

Như vậy, để làm người cán bộ tốt, có năng lực lãnh đạo, thì đòi hỏi ngườicán bộ phải luôn đặt và coi lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích của chính bảnthân mình và gia đình mình Muốn đạt được điều đó, cán bộ, đảng viên phảikhông chỉ rèn luyện đạo đức, gần gũi nhân dân mà đòi hỏi cần có một trình độ trithức để nhận thức được đúng đắn vấn đề và có trình độ lý luận để giữ vững đượclập trường, lý tưởng của một người cán bộ cách mạng chân chính

1.1.2.3 Người cán bộ phải có trình độ lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: Lý luận phải gắn liền vớithực tiễn Lý luận mà không được thực tiễn soi rọi là lý luận suông, thực tiễn

mà không có lý luận định hướng là thực tiễn mù quáng Để giải quyết đượcnhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng, để Đảng hoàn thành được

sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo nhân dân giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, thìĐảng phải có lý luận tiền phong dẫn đường và mỗi cán bộ đảng viên phảiđược trang bị lý luận tiền phong đó một cách đúng đắn

Trong các căn bệnh của cán bộ Hồ Chí Minh cho rằng bệnh chủ quan

là do kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông

Để nâng cao trình độ lý luận, người cán bộ phải hiểu lý luận là gì, chủtịch Hồ Chí Minh cho rằng “lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinhnghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm

Trang 18

thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chânchính” [54, tr.273].

Lý luận là những tri thức của loài người được tổng kết trong lịch sử,

nó như cái kim chỉ Nam chỉ phương hướng cho chúng ta trong hành động

Người kém lý luận là những người thường bị bế tắc trong công việc.Khi đối mặt với công việc thường không nhận xét rõ ràng, không nhận ra đượcquy luật vận động khách quan, chỉ dựa vào suy nghĩ chủ quan mà tiến hànhcông việc Kết quả thường thất bại

Người khinh lý luận thường đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm Trong thực

tế có những người nhờ kinh nghiệm và thành công trong một số công việcnhất định và luôn tự mãn coi đó như là chân lý và luôn áp dụng cho mọi côngviệc Đó chỉ là những công việc thường nhật, còn trong cách mạng người cán

bộ phải đối mặt với những vấn đề hết sức lớn lao cần phải có lý luận thì mới

có thể đánh bại được kẻ thù

Những người lý luận suông là những người chỉ biết nói lý luận hoàntoàn không áp dụng vào thực tế hoặc không có khả năng trong hoạt động thựctiễn Và như vậy, họ như là một cái hòm đựng sách

Vì vậy, mỗi cán bộ đảng viên phải học tập lý luận, đem lý luận ápdụng vào thực tế Cán bộ, đảng viên phải coi việc học tập lý luận như là mộtnhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp lãnh đạo nhân dân của mình

Để nâng cao trình độ lý luận, trước hết phải nâng cao khả năng tổngkết thực tiễn, phải đem thực tiễn cụ thể của đơn vị mình mà xem xét, so sánhvới những gì xảy ra xung quanh, để từ đó đúc kết thành kinh nghiệm Thực tếcho thấy bất cứ ai không có khả năng tổng kết kinh nghiệm, tổng kết thực tiễnthì sẽ không có lý luận chân chính

Để nâng cao trình độ lý luận thì phải học chủ nghĩa Mác – Lênin, bởi

vì chủ nghĩa Mác – Lênin chính là cơ sở là phương pháp để cán bộ đảng viênhành động và tổng kết thực tiễn Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học cái gì,

Trang 19

Hồ Chí Minh thường nhắc nhở, học chủ nghĩa Mác – Lênin là học cái tinhthần, cái phương pháp, trong quá trình hoạt động phải luôn nhìn nhận xem xét

và vận dụng tinh thần đó thật linh hoạt và sáng tạo

Nâng cao trình độ lý luận không có nghĩa là cán bộ đảng viên họcthuộc lòng rồi đưa những gì được học vào đúng trong thực tiễn, mà là phải vậndụng thật linh hoạt để trên cơ sở đó mà tổng kết thành những cái mới để ápdụng vào lĩnh vực mới phù hợp hơn

Muốn nâng cao trình độ lý luận phải có thái độ học tập cho đúng, màtrước hết là nêu cao tinh thần khiêm tốn, thật thà Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn.Không thể tự xưng mình là giỏi lý luận Cái gì biết thì nói là biết, cái gì khôngbiết thì nói không biết Hồ Chí Minh dạy rằng: “phải tự nguyện, tự giác, xemcông tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoànthành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêucao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước khó khăn nào trong họctập Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng” [60, tr.98]

Để nâng cao trình độ lý luận, người cán bộ không chỉ thực hiện mộtcách nghiêm túc những vấn đề nêu ra mà còn phải đấu tranh không khoannhượng đối với những tư tưởng sai trái, phản khoa học, những tư tưởng đingược lại với chân lý Bảo vệ chân lý cũng chính là tự làm cho trình độ lý luậncủa mình được nâng lên

Nói tóm lại, lý luận chính là hành trang quan trọng của người cán bộcách mạng, để họ hoàn thành nhiệm vụ được giao và sự nghiệp xoá bỏ áp bức,bất công, giải phóng con người

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ

1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức đối với cán bộ

1.2.1.1 Đạo đức là gốc là nền tảng của người cách mạng và đảng cách mạng

Trang 20

Xuyên suốt cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh quan niệm đạo

đức cách mạng là gốc của người cách mạng Ngay ở trang đầu “Đường Cách mệnh”, Người đã nêu lên 23 điều về tư cách một người cách mạng, giải quyết

ba mối quan hệ: đối với mình, đối với người, đối với việc Những thập kỷ bốnmươi, năm mươi, sáu mươi, Hồ Chí Minh đều có những bài viết ngắn gọn, súctích về đạo đức cách mạng, trong Di Chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấmnhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữgìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớthật trung thành của nhân dân” [64, tr.611 – 612] Đảng cầm quyền phải chăm

lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, đào tạo cho họ thành nhữngngười thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khôngngừng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên vànhân dân ta Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không cónước thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cáchmạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnhđạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người

là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tựmình đã hủ hoá xấu xa thì còn làm nổi việc gì” [54, tr.292 – 293] Như vậy Chủ

tịch Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là cái gốc của người cách mạng.

Coi trọng đạo đức vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trong cuộcđấu tranh để chống lại những kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội, lấy gì mà đểđánh thắng? Phải dựa vào sức mạnh lý tưởng, sức mạnh tinh thần, sức mạnhcủa đạo đức

Đạo đức là một sức mạnh tinh thần to lớn Nó là một bộ phận năngđộng nhất của thế giới quan, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, có tác dụngchỉ đạo hành vi ứng xử của con người trong mọi tình huống Chủ tịch Hồ chíMinh thường căn dặn cán bộ, đảng viên: “Cách mạng là một cuộc đấu tranh

Trang 21

cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[60, tr.601]

Chính đạo đức yêu nước thương dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh làđộng lực to lớn góp phần làm nên sự nghiệp cách mạng phi thường của Người.Ngược lại sự suy thoái về đạo đức là khởi điểm của mọi sự suy thoái Tha hoá

về đạo đức sớm muộn sẽ dẫn đến tha hoá về chính trị Xét ở từng con người haymột chế độ xã hội, nói chung đều là như vậy Do đó suốt cuộc đời mình, Chủtịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng

viên Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Người đã nhấn mạnh đối với người

cán bộ cách mạng là phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu danh, khôngkêu ngạo, giàu lòng hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất… Và ngay cả trướckhi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Người đã để lại Di Chúc căn dặn cũng phảichăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên để họ xứng đángvừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân

1.2.1.2 Đạo đức là tiêu chuẩn hàng đầu của người lãnh đạo

Từ xưa ở phương Đông và Việt Nam, cả Nho, Phật, Lão đều coi trọngđạo đức, đều nêu cao lý tưởng vua sáng, tôi hiền, nghĩa là nêu cao tấm gươngđạo đức của người cầm quyền Đối với nhân dân, niềm tin về chính trị gắn liềnvới niềm tin vào đạo đức của người lãnh đạo, do đó sự nêu gương đạo đức ởngười cán bộ, đảng viên, đặc biệt ở người lãnh đạo, giữ một vai trò cực kỳ quantrọng; một khi quần chúng đã mất niềm tin vào đạo đức của người cầm quyềnthì niềm tin chính trị đối với họ cũng không còn Trong lịch sử nước ta, nhữnglãnh tụ dân tộc muốn tập hợp được nhân dân chống ngoại xâm hay chống lạichế độ phong kiến hà khắc đều phải là những người có uy tín đạo đức rất cao.Ngược lại, bọn vua chúa vô đạo sớm muộn cũng đều bị nhân dân lật đổ Chủtịch Hồ Chí Minh nói: đối với các dân tộc phương Đông “một tấm gương sốngcòn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.” [50, tr.284]

Từ sau 1945, sau khi lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, Đảng tatrở thành Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việcgiáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên Người đã kiên trì đấu tranh chống lại

Trang 22

nguy cơ xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng nhân dân, rơi vào thoái hoá biếnchất của một Đảng cầm quyền Người nói “Trước mặt quần chúng không phải

ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉquý mến những người có tư cách, đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mìnhphải làm mực thước cho người ta bắt chước.” [55, tr.16]

Với trí tuệ sáng suốt, tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãsớm tiên tri, tiên lượng về những căn bệnh của những người có chức, có quyền

và đã sớm chỉ ra những biện pháp cần đề phòng, khắc phục, trong đó Người đặtlên hàng đầu việc thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảngviên Không lâu, trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Mộtdân tộc, một đảng và mỗi con người hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợinếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.” [64, tr.672]

Nhận thức được vai trò sức mạnh của sự nêu gương, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã suốt đời nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng suốtđời không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện mình về đạo đức để trở thành “tấmgương tuyệt vời về con người mới”, thành hình ảnh mẫu mực về “người lãnhđạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, có sức lôi cuốn, cảm hoámãnh liệt đối với toàn thể dân tộc

1.2.1.3 Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưaphải ở mức sống vật chất cao mà trước hết là ở giá trị đạo đức của nó, ở phẩmchất đạo đức của những người cộng sản Người đã đưa ra quan điểm này khinói về tấm gương đạo đức của Lênin: “Không phải chỉ thiên tài của Người, màchính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng,nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnhhưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim họ hướng vềNgười không gì ngăn cản nổi.” [50, tr.317]

Trang 23

Như vậy, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản khôngphải ở lý tưởng cao xa nào mà trước hết, cụ thể và trực tiếp, là ở những ngườicộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho

lý tưởng đó trở thành hiện thực Củng cố hay làm suy giảm niềm tin của quầnchúng vào tương lai chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản không phải ở nhữngsai lầm và thất bại tạm thời khó tránh khỏi trên con đường mới khai phá màchủ yếu là ở sự sa sút, thoái hoá của những người được mệnh danh là “nhữngchiến sĩ tiên phong” trước thắng lợi hoặc khó khăn của cách mạng

Chính vì vậy, Người đã viết: Phong trào cộng sản quốc tế trở thành lựclượng quyết định vận mệnh loài người chẳng những là do chiến lược và sáchlược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức caoquý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành sức mạnh vô địch Lênin đã chochúng ta một tấm gương sáng về sự giản dị vĩ đại và sự khiêm tốn cao độ,những đức tính làm đẹp thêm những chiến sĩ chân chính của cách mạng vànhững người đầy tớ trung thành của nhân dân

Cũng như Lênin, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chẳng những cósức hấp dẫn mạnh mẽ đối với toàn thể nhân dân Việt Nam mà còn có ảnhhưởng sâu rộng trên toàn thế giới

Nhiều lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giảiphóng dân tộc, nhiều học giả, nhà văn, nhà bác học nổi tiếng trên thế giới đãviết về sức cổ vũ kỳ diệu của tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đối với nhândân nước mình và chứng minh rằng: Do ngưỡng mộ trước một nhân cách vĩđại như vậy, có biết bao lớp người trẻ tuổi đã đứng vào hàng ngũ cộng sản,tình nguyện hiến dâng đời mình cho cuộc đấu tranh vì tự do, độc lập, vì chủnghĩa xã hội và hạnh phúc của nhân dân Nhờ biết nêu cao và phát huy giá trị,tác dụng của đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh màcách mạng, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân ta giành đượcthắng lợi rực rỡ Nếu chúng ta để những giá trị đó bị suy yếu hoặc mất đi thìsức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội, của Đảng Cộng sản sẽ giảm đi rất nhiều

Trang 24

1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cách mạng

1.2.2.1 Trung với nước, hiếu với dân

Đây là chuẩn mực đạo đức bao hàm nhất, đứng đầu trong thang giá trịchuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên Trên cơ sở kế thừa vàphát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, khắc phục vượt quanhững hạn chế của truyền thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:Trung là trung với nước, với Đảng, với lý tưởng cách mạng và hiếu không chỉhạn hẹp đối với cha mẹ mà còn là hiếu với dân.Với quan niệm trên, Hồ ChíMinh đã làm một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức Người gạt bỏcái cốt lõi nhất trong Nho giáo là trung thành tuyệt đối với chế độ phong kiến

và ông vua phong kiến, Hồ Chí Minh không thể chấp nhận lòng trung thànhtuyệt đối của nhân dân bị áp bức với kẻ áp bức mình

Khái niệm “trung” xuất phát từ đạo đức của Nho giáo Nhưng với Nhogiáo “trung” là trung với vua và trung với vua là yêu nước: “quân xử thần tử, thầnbất tử bất trung” Về sau, khái niệm này được mở rộng hơn nhưng theo tư tưởngNho giáo, nó vẫn bó hẹp trong việc phản ánh những mối quan hệ giữa các cá nhân:vua tôi, cha con, vợ chồng, bạn bè hoặc cá nhân này với cá nhân khác

Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng Nho giáo một cách có chọn lọc, pháttriển, sáng tạo đã mở rộng khái niệm “trung”, biến nó thành một khái niệm vớinội dung hoàn toàn mới mẻ: “trung với nước” Khái niệm “yêu nước”, dù đãthể hiện một truyền thống đạo đức hàng đầu của dân tộc nhưng vẫn chưa nóihết được tình cảm thiêng liêng và ý thức trách nhiệm cao cả bằng khi nói

“trung với nước”

Đối với người cán bộ, đảng viên Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cao hơntrong việc thực hiện chuẩn mực đạo đức này Cán bộ, đảng viên “trung vớinước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trung thành vớimục tiêu, đường lối của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam “Nước” ở đây là nước của dân, còn “dân” ở đây là chủ nhân của đất

Trang 25

nhiêu lợi ích đều vì dân”, “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”,Đảng và Chính phủ là “đầy tớ của nhân dân chứ không phải là “quan” nhândân, thì khái niệm cũ trước đây về “nước và dân” đã hoàn toàn thay đổi Cóthể thấy rất ít các lãnh tụ nói về dân như vậy Hơn nữa không phải chỉ nói, màquan trọng hơn là đã làm như thế nào Ở Hồ Chí Minh luôn luôn có sự nhấtquán giữa nói và làm Người nói “cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấucho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân Những khi tôi phải ẩnnấp nơi núi non hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha hiểm nghèo – là vì mục đíchđó” [53, tr.272] Cho đến khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn căn dặn lạitrong Di Chúc: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cáchmạng, phục vụ nhân dân” Điều này càng làm cho tư tưởng đạo đức Hồ ChíMinh vượt lên trước rất nhiều.

Hiếu với dân, cũng như khái niệm “trung”, khái niệm “hiếu” cũng bắt

nguồn từ đạo đức Nho giáo Nhưng nếu như theo tư tưởng Nho giáo chỉ làhiếu với cha mẹ thì đến tư tưởng Hồ Chí Minh đã có một sự chuyển đổi mangtính cách mạng về nội dung khái niệm “hiếu”, đó là hiếu với dân “Hiếu” gắnliền chặt chẽ với khái niệm “trung với nước” Muốn trung với nước phải hiếuvới dân “Trung và hiếu” gắn bó hữu cơ với nhau, nhưng đã chuyển hoá thànhquan hệ mới gắn trung hiếu với nước, với dân thành nội dung tư tưởng đạođức tận trung với nước, tận hiếu với dân

Đối với người cán bộ, đảng viên, hiếu với dân không chỉ dừng lại ởchỗ thương dân với tính chất là đối tượng cần phải được dạy dỗ, chăn dắt, ban

ơn mà là vấn đề phải lấy dân làm gốc, phải thực hiện dân chủ cho nhân dân,phải làm sao cho dân nắm mọi quyền hạn, bao nhiêu lợi ích đều vì dân Đảng

và Nhà nước gần gũi, gắn bó với dân, thân dân, dựa hẳn vào dân Hồ ChíMinh đặc biệt nhấn mạnh đến việc củng cố, xây dựng mối quan hệ máu thịtgiữa Đảng và nhân dân, đây là một trong những phẩm chất đạo đức cách mạngquan trọng của người cán bộ, đảng viên Theo Hồ Chí Minh, đây là mối quan

hệ giữa một bộ phận cấp tiến nhất, cách mạng nhất “hiện thân cho trí tuệ, danh

dự và lương tâm của dân tộc” với một lực lượng đông đảo nhất, là gốc của

Trang 26

cách mạng, là người chủ thực sự của đất nước Đây còn là mối quan hệ giữalực lượng lãnh đạo, dẫn lối, chỉ đường bằng việc vạch ra đường lối chủ trương

và lãnh đạo thực hiện và lực lượng giữ vai trò quyết định trong việc biến chủtrương, đường lối của Đảng thành hiện thực Hồ Chí Minh khẳng định để nhândân thực sự là chủ thì cán bộ, đảng viên phải là đầy tớ của nhân dân, thậm chíNgười còn nói cán bộ đảng viên phải làm “công bộc”, “trâu ngựa, làm tôi tớtrung thành của nhân dân” [56, tr.50] Tất cả cán bộ trong Đảng và ngoài Đảngcần phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân Đó là phẩm chấtcao quý nhất của người cách mạng Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từtrên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhândân… chứ không phải làm “quan” nhân dân

Khẳng định mối quan hệ máu thịt vô cùng quan trọng này và chỉ rõ vịtrí, vai trò của từng bộ phận, Hồ Chí Minh giáo dục người cán bộ, đảng viênphải củng cố mối quan hệ tốt đẹp với dân Muốn vậy đảng viên phải thườngxuyên nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, thường xuyên quan tâm đến nhucầu, lợi ích của nhân dân Đảng phải lắng nghe ý kiến, kinh nghiệm, nguyệnvọng của dân để đem lại quyền làm chủ thật sự cho dân Đảng viên phải họchỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng Người chỉ rõ: “cán bộ,phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng… Phải kiên nhẫn, quyếttâm, chí công vô tư Nếu tự tư, tự lợi, lập trường không vững vàng, tư tưởngkhông thông thì tài giỏi mấy cũng vô dụng vì quần chúng rất thông minh Ai rasức phục vụ, ai tự tư, tự lợi, họ biết ngay, không dấu được họ.” [57, tr.48]

Đề cao đạo đức của người cán bộ, đảng viên trong mối quan hệ vớidân, Hồ Chí Minh còn nói: Tính xấu của một người thường có hại cho người

đó, còn tính xấu của mỗi đảng viên sẽ có hại cho Đảng, cho nhân dân, có hạicho công tác dân vận và mối quan hệ Đảng – dân Do đó, Người đòi hỏi mỗiđảng viên phải luôn ý thức về lời nói, việc làm của mình Đảng viên phải làngười gương mẫu, luôn đi đầu trong công việc: “Đảng viên đi trước, làngnước theo sau”

Trang 27

Trong bối cảnh ngày nay, tư tưởng đạo đức hiếu với dân theo quan niệm

“đầy tớ của dân” vẫn luôn mang tính thực tiễn và giữ nguyên giá trị, ý nghĩa tolớn của nó Đặc biệt khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, cácđảng cộng sản các nước đã mất quyền lãnh đạo mà một trong những nguyênnhân chính là không thực hiện “hiếu với dân”, không thực sự là “đầy tớ của dân”như quan niệm của Hồ Chí Minh Như vậy, tận trung với nước, với Đảng, đặt lợiích của cách mạng lên trên lợi ích của cá nhân; tận hiếu với dân, yêu dân, tin dân,học hỏi nhân dân, làm đầy tớ nhân dân, là chuẩn mực đạo đức cách mạng caonhất của người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2.2.2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” gắn liền với “trungvới nước, hiếu với dân” Phẩm chất đạo đức này lấy chính bản thân mỗi ngườilàm đối tượng điều chỉnh Nó diễn ra hàng ngày hàng giờ, trong công tác sinhhoạt Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là khái niệm đạo đức phươngĐông, đạo đức truyền thống Việt Nam, được Hồ Chí Minh cải biến nội dung,đưa vào yêu cầu và nội dung mới Người nói: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu

ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phảituân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm,chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước chodân.” [56, tr.220]

Năm 1949, với bút danh Lê Quyết Thắng, Hồ Chí Minh viết tác phẩm

Cần, kiệm, liêm, chính Sau đó Người thường xuyên đề cập đến vấn đề này.

Người giải thích phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính như sau:

“Cần” là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai Dao siêng mài thì

sắc, ruộng siêng làm thì tốt, siêng học tập thì mau tiến bộ, siêng nghĩ ngợi thìhay có sáng kiến, siêng làm thì nhất định thành công, siêng hoạt động thì cósức khoẻ Người siêng năng thì mau tiến bộ… cả nước siêng năng thì nướcgiàu mạnh

Tuy vậy, “làm tròn trách nhiệm” của mình chưa phải là cần, một ngườiđược gọi là cần cù trong công việc, trong lao động là người biết lôi cuốn người

Trang 28

khác vào lao động và lao động với năng suất cao Cần cũng không phải là làmxổi, làm ẩu Nếu làm cố chết, cố sống trong một ngày, một tuần, một tháng,đến nỗi ốm đau phải bỏ việc, như vậy cũng không phải là cần.

Cần và kiệm phải đi đôi với nhau như hình với bóng “như hai chân củacon người” Người nói: “Cần mà không kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”.Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hếtchừng ấy, không lại hoàn không Kiệm mà không cần, thì không tăng thêm,không phát triển được Mà vật gì không tiến tức là phải thoái” [55, tr.122]

“Kiệm” là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi,

phải biết tiết kiệm của cải, thời gian và sức lao động của mình, của nhân dân.Tuy nhiên “tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền tobằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng khôngtiêu.” [56, tr.352]

Trái với tiết kiệm là xa xỉ Vì vậy, tiết kiệm phải đi đôi với việc chống

xa xỉ, chống thói họp lu bù, làm mất thời gian, hại sức khoẻ, mà không có kếtquả thiết thực

Đã cần, kiệm thì phải liêm, chính Hồ Chí Minh quan niệm “Liêm” là

sự trong sạch, không tham quyền lợi, địa vị danh tiếng, không tham tiền của,không ham ăn ngon, sống yên, sung sướng; không cậy quyền, cậy thế đụckhoét của nhân dân, không ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư, khôngtham lời tâng bốc, nịnh hót người khác đối với mình Không sợ khó nhọc,nguy hiểm, không tham sống sợ chết khi gặp giặc Do đó, người đảng viên

“liêm” là người quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá, chỉ có một thứ

ham đó là ham học, ham làm, ham tiến bộ

“Chính” nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn “Cần, kiệm, liêm” là gốc rễ

của “chính” Người “chính” tức là không tự cao, tự đại, luôn cầu tiến bộ,luôn tự kiểm điểm, tự phê bình những lời đã nói, những việc đã làm để pháttriển điều hay, khắc phục khuyết điểm, đồng thời hoan nghênh người khácphê bình mình

Trang 29

Đối với người “trừ bọn Việt gian, phát xít, thực dân”, người cán bộ, đảngviên “chính” phải kính trọng giúp đỡ, không xem khinh người dưới, không nịnhhót người trên, phải học người và giúp người thực hành chữ “bác ái”.

Đối với công việc, để việc công, việc nước lên trên, trước việc nhà,việc tư Việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh

“Chính” còn biểu hiện ở tính công bằng, không thiên vị, không kéo bè,kéo cánh, ai hợp với mình thì đề bạt cân nhắc, ai không hợp thì tìm cách nóixấu, vùi dập con người “Chính” là dám bỏ tư ân, tư huệ, tư oán, trả thù đểlòng thanh thản mà lo công việc ích nước, lợi nhà

Hồ Chí Minh còn chỉ ra mối quan hệ giữa bốn điều đó: “Cần, kiệm,liêm là gốc của chính Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa,quả mới là hoàn toàn Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chínhmới là người hoàn toàn.” [55, tr.129]

Khi so sánh với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Hồ Chí Minhcho rằng “thiếu một đức, thì không thành người”

Đối với cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính vô cùng cần thiết, bởi

vì “cán bộ các cơ quan các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyềnnhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp

ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”” [55, tr.127] Những người trong các công

sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm,chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” [54, tr.122] Cần,kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh tiến bộ của dân tộc: “một dân tộc biếtcần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần là mộtdân tộc văn minh tiến bộ” [55, tr.128] Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng củađời sống mới, của thi đua ái quốc” là cái cần để làm việc, làm người cán bộ,phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”

“Chí công vô tư” là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là

“lòng chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào” Đó chính là nội dung của

Trang 30

chủ nghĩa tập thể Chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với đạo đức cách mạng.Thực hành chí công vô tư là phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân,nâng cao đạo đức cách mạng”

Hồ Chí Minh chỉ rõ “chủ nghĩa cá nhân là một thứ gian giảo, xảoquyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc” [60, tr.602] Nó là thứ vi trùngrất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danhtrục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinhquần chúng, độc đoán, độc quyền, quan liêu, mệnh lệnh,…” Tóm lại, “chủnghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mỗi người chúng ta Nóchờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi – để ngốc đầu dậy” [60, tr.606]

Nó là một kẻ địch, bạn đồng minh của các kẻ địch khác”

Vì vậy đạo đức cách mạng là bất luận trong hoàn cảnh nào, cũng phảiquyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch: “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớncho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội khôngthể tách rời thắng lợi cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.” [60, tr.609]

1.2.2.3 Yêu thương, quý trọng con người

Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩanhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ,cùng với những trải nghiệm của chính bản thân qua hoạt động cách mạng thựctiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong nhữngphẩm chất đạo đức cao đẹp nhất

Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, xuất phát từ lòng yêu thươngcon người, với mục đích giải phóng dân tộc khỏi cảnh áp bức bóc lột của thựcdân, phong kiến Tình yêu thương đó thể hiện bằng lòng ham muốn tột bậc củaNgười là làm sao cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, mọi người

ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Nếu không có tình yêuthương con người như vậy thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩacộng sản

Trang 31

Ngay từ những ngày đầu khi Cách mạng Tháng Tám thành công,Chính phủ cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vừa đượcthành lập, trong lúc phải đối phó với thù trong, giặc ngoài nhưng Người vẫndành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống cho người lao độngnghèo khổ Người đặc biệt chú ý đến vấn đề xoá đói, giảm nghèo Người kêugọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung xây dựng lực lượng để chống ba thứgiặc là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, trong đó giặc đói được đặt lên hàngđầu Người chỉ rõ: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dânchủ cộng hoà Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do,thì độc lập đó chẳng có nghĩa lý gì.” [53, tr.64]

Ngày 1 – 10 – 1946, tại phiên họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứukiến quốc Hồ Chí Minh lần nữa đã nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước phảichăm lo cho dân có cơm ăn, áo mặc, chỗ ở và việc học hành Người nói:

“Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự dođộc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do độc lập khi mà dânđược ăn no, mặc đủ, chúng ta phải thực hiện ngay: làm cho dân có ăn, làm chodân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành Cái mục đíchchúng ta đi đến là 4 điều đó Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độclập và giúp sức được cho tự do độc lập.” [53, tr.175]

Hồ Chí Minh là hiện thân lối sống có nghĩa, có tình, kế thừa truyềnthống tốt đẹp của cha ông ta Người luôn giáo dục nhân dân ta để phát huytình nghĩa cao đẹp ấy trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa nămchâu, bốn bể một nhà Người nói: “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sốngvới nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình cónghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được” [64, tr.668]

Đối với dân tộc ta, truyền thống yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫnnhau với phương châm “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” vàtheo tinh thần “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phảithương nhau cùng”, truyền thống đó cứ được tiếp nối từ đời này sang đời khác

Trang 32

đã trở thành đạo lý làm người và nếp sống văn hoá cao đẹp của con người ViệtNam yêu nước thương nòi.

Hồ Chí Minh luôn đề cao tình yêu thương con người, sống có tình, cónghĩa Người đã đào tạo ra một đội ngũ cán bộ “lo trước thiên hạ, vui sau thiênhạ” Đội ngũ cán bộ, đảng viên có trách nhiệm trước nhân dân chứ không phảichỉ đối với Đảng và Nhà nước “Trung với nước hiếu với dân”, mỗi cán bộ,đảng viên phải bằng hành động của mình tôn trọng nhân dân, làm cho dân tin,dân phục, dân yêu và đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, khiêm tốn, họchỏi nhân dân

Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh còn được thể hiện trongmối quan hệ bạn bè, đồng chí, với mọi người bình thường trong quan hệ hàngngày Nó đòi hỏi mọi người phải luôn luôn chặt chẽ, nghiêm khắc với mình,rộng rãi, độ lượng với người khác Nó đòi hỏi thái độ tôn trọng con người,phải biết cách nâng con người lên, chứ không phải hạ thấp, càng không phảivùi dập con người Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người ở cương

vị lãnh đạo, bất cứ ở cấp nào

Tình yêu thương con người, theo Hồ Chí Minh, còn được thể hiện đốivới những người có sai lầm khuyết điểm, nhưng đã nhận rõ sai lầm và cố gắngsửa chữa, những người lầm đường lạc lối đã hối cải, những kẻ thù đã bịthương, bị bắt hoặc đã chịu quy hàng Chính tình yêu thương đó đã đánh thứcnhững gì tốt đẹp mà Hồ Chí Minh tin rằng trong mỗi con người đều có, tuynhiều ít có khác nhau Người tin tưởng rằng:

Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài Nhưng vắn dài đều hợpnhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thế này thếkhác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên taphải khoan hồng đại độ Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì aicũng có ít nhiều lòng ái quốc Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phảilấy tình thân ái mà cảm hoá họ Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đạiđoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang [53, tr.280 - 281]

Trang 33

Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi tình yêu thương con người phải đượcthể hiện bằng hành động cụ thể và chính Người là tấm gương sáng ngời vềtình thương yêu đối với con người Và cũng chính vì yêu thương nhân dân,yêu thương con người mà chấp nhận dấn thân, vượt qua mọi gian khổ, hy sinhđấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân

1.2.2.4 Tinh thần quốc tế trong sáng

Yêu nước, nhân ái, cộng đồng là truyền thống vốn có của nhân dân ta.Nhưng yêu nhân dân mình đồng thời lại biết yêu nhân dân các dân tộc bị ápbức; giải phóng cho dân tộc mình còn phải giải phóng cho các dân tộc khácnữa, giúp bạn là tự giúp mình,… thì phải đến thời đại Hồ Chí Minh mới được

đề ra và giáo dục đầy đủ

Là một chiến sĩ cộng sản quốc tế nhận thấy được vai trò quan trọngcủa sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh luôn luôn giáo dục toàn Đảng, toàn dântinh thần đoàn kết, chiến đấu quốc tế, Người chỉ rõ đó là lương tâm, nghĩa vụcủa cán bộ, đảng viên

Trong quá trình đi tìm con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam

và lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện con đường đó, Hồ Chí Minh đãkhẳng định rằng cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới,của phong trào công nhân quốc tế, phong trào vì hoà bình, tiến bộ và dân chủtrên thế giới Thắng lợi của cách mạng Việt Nam không thể tách rời sự ủng hộcủa các lực lượng cách mạng quốc tế và thắng lợi của cách mạng Việt Namcũng là thắng lợi của cách mạng quốc tế

Người chỉ rõ: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cáchmệnh thế giới Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân AnNam cả” [51, tr.329]

Theo sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế đã trở thành nhiệm

vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: “Trước hết phải có đảng cách mệnh,

để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị ápbức và vô sản giai cấp mọi nơi” [51, tr.289]

Trang 34

Đoàn kết quốc tế đã đi vào “Sách lược vắn tắt” của Đảng: “Trong khituyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập phải đồng tuyên truyền vàthực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vôsản giai cấp Pháp” [52, tr.3]

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đoàn kết quốc tế là một trong nhữngđiều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam: “Cách mạng Việt Namluôn luôn được sự đồng tình ủng hộ của giai cấp công nhân và nhân dân cáchmạng thế giới, nhất là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em Tình đoàn kếtquốc tế vĩ đại ấy là một điều kiện rất quan trọng cho cách mạng Việt Nam thắnglợi Đó là một trong ba bài học lớn mà mỗi cán bộ, đảng viên cần phải ghi sâu vàolòng và phát huy thêm mãi.” [63, tr 467]

Mở rộng chuẩn mực đạo đức này của người đảng viên, Hồ Chí Minhcòn khẳng định: “Giúp bạn là giúp mình” Đoàn kết quốc tế là một trongnhững yêu cầu của đạo đức cộng sản, nhờ đó con người vươn tới chỗ tự giácphục vụ lợi ích của nhân loại Tinh thần quốc tế trong sáng làm cho con ngườitrở nên cao thượng đẹp đẽ, nó là phẩm chất đạo đức không thể thiếu của conngười thời đại văn minh

Tinh thần quốc tế đòi hỏi chống lại thói vị kỷ dân tộc, sôvanh, hẹp hòi,biệt lập…, nó hướng vào mục tiêu hoà bình, hữu nghị, dân chủ, tiến bộ xã hội.Người tuyên bố năm nguyên tắc chung sống hoà bình, vừa bảo vệ lợi ích chânchính của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của dân tộckhác Người cực lực lên án, tố cáo chính sách dân tộc lớn, đồng thời phê phánnhững biểu hiện dân tộc hẹp hòi, thù hằn chia rẽ dân tộc, chủng tộc Người căndặn cán bộ, đảng viên và nhân dân ta phân biệt rõ bạn – thù: “Chúng tôi chiếnđấu cho nền độc lập của chúng tôi, chúng tôi chiến đấu chống lại sự đô hộ Pháp

mà không chống những người Pháp lương thiện” [53, tr.77]

Những điều trên cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trung thành vớichủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, củng cố và phát triển tình đoàn kết

Trang 35

các dân tộc khác là nghĩa vụ đạo đức, là nhân nghĩa, là tình sâu nghĩa nặng, làlương tâm và nghĩa vụ của người đảng viên cộng sản Hồ Chí Minh là biểutượng đẹp đẽ của tình đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng Cho đến phútcuối đời Người vẫn hoạt động không mệt mỏi để góp phần khôi phục lại khốiđoàn kết giữa các nước anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủnghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình Suốt đời mình, Hồ Chí Minh theo đuổi lýtưởng hữu ái: “Bốn phương vô sản đều là anh em” và chính Người là hiện thâncho lý tưởng cao đẹp đó

1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phương pháp rèn luyện đạo đức.

1.2.3.1 Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức

Đạo đức là một bộ phận thế giới quan của con người, nó chi phối toàn

bộ nhận thức và hành động của con người Đạo đức cách mạng đòi hỏi sựthống nhất giữa động cơ và hiệu quả, giữa lời nói và việc làm

Nói đi đôi với làm là vấn đề được đặt ra trong đạo đức truyền thốngcủa dân tộc Trong khi đề cao các chuẩn mực đạo đức cần phải có đối với mọingười trong xã hội, nhân dân ta cũng đòi hỏi những chuẩn mực đó phải đượcthể hiện trong hành vi hàng ngày, tức là trong thực hành đạo đức

Các học thuyết đạo đức và tôn giáo xưa nay cũng đều coi trọng nguyêntắc đạo đức “nói đi đôi với làm”, song trong thực tế không thực hiện được baonhiêu Một số học thuyết đạo đức thường chỉ chú trọng trau dồi động cơ đạođức, đã dẫn đến tách rời động cơ với hiệu quả, nên không thực hiện được sựnhất quán lời nói và việc làm

Giai cấp tư sản phương Tây trong cuộc đấu tranh chống lại thứ đạođức giả dối, hà khắc của phong kiến và nhà thờ trung cổ đã biết giương caongọn cờ nhân văn, nhân quyền, đề cao giá trị nhân đạo, dân chủ, tự do, cáckhát vọng của con người,… Nhưng thực trạng đầy rẫy những áp bức, bóc lộtbất công của xã hội tư bản tự nó đã vạch trần thứ đạo đức giả dối, chỉ nóikhông làm mà giai cấp tư sản vẫn rêu rao

Trang 36

Trên cơ sở phê phán, kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các giá trị đạođức truyền thống và đạo đức nhân loại về sự thống nhất giữa nói với làm, HồChí Minh đòi hỏi lời nói phải đi đôi với làm, lý luận phải gắn liền với thựctiễn Đạo đức Hồ Chí Minh không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấnthân, tức là đạo đức gắn liền với hành động, nói để làm, nhất là nói về đạo đứcphải đi đôi với thực hành đạo đức.

Nói đi đôi với làm là một đòi hỏi, yêu cầu của tư tưởng đạo đức HồChí Minh Lời nói thể hiện lương tâm, bản lĩnh, lý trí và tình cảm ở trong mỗicon người Việc làm là hành vi đạo đức cụ thể của mỗi con người

Hồ Chí Minh cho rằng, đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việclàm thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho bản thân mình và có tác dụng đốivới người khác Nếu nói nhiều làm ít, nói mà không làm, nói một đằng làmmột nẻo thì chỉ đem lại những hậu quả phản tác dụng Đó là thói đạo đức giảcủa giai cấp bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử xã hội loài người, hoàn toàn

xa lạ với đạo đức cách mạng, với đạo đức mà Hồ Chí Minh chủ trương xâydựng trong xã hội mới với Việt Nam

Ngay từ những năm 1925 – 1927, khi giáo dục Tư cách một người cách mệnh cho lớp cán bộ cách mạng tiền bối, trong 14 điều đối với mình, Hồ

Chí Minh đã khẳng định một điều: “Nói thì phải làm” [51, tr.280] Đối vớingười cán bộ, đảng viên, lời nói đi đôi với việc làm là điều rất cần thiết vàquan trọng

Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sau khi lãnh đạo nhân dângiành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đứccho cán bộ, đảng viên Người kiên trì đấu tranh chống lại nguy cơ xa rời cuộcsống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hoá biến chất của một đảng cầm quyền

Cán bộ, đảng viên là những người từ nhân dân mà ra, vì nhân dân màchiến đấu Cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trungthành của nhân dân, là công bộc của nhân dân, là những người góp phần làm

ra những chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, đưa chủ

Trang 37

trương đường lối, chính sách đến với nhân dân, đồng thời phản ánh những nhucầu nguyện vọng của nhân dân đến Đảng và Nhà nước Để thực hiện tốt vaitrò cầu nối, thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, mỗi cán bộ cần phải luôn luônthực hiện nói đi đôi với làm, gắn lời nói với hoạt động thực tiễn của mình thìmới có tác dụng thuyết phục nhân dân, có lợi cho cách mạng, trở thành ngườicách mạng chân chính.

Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên nói ít làm nhiều, chủ yếu làhành động Khi đất nước đang trong hoàn cảnh khó khăn ngàn cân treo sợi tóc,đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng phảiluôn hết lòng vì dân tộc, phải làm nhiều hơn nói, phải bằng những công việcthiết thực mới đưa đất nước vượt qua khỏi khó khăn đó Người khẳng định:

“Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều” [53,170] Nhấn mạnh cán bộ, đảng viên trong hoạt động cách mạng thì việc làmphải nhiều hơn lời nói, nhưng Người cũng quán triệt, nhắc nhở cán bộ phải

“làm” cho có hiệu quả Vì theo Hồ Chí Minh, một người nếu làm việc gì cũngkhông có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức Người nói:

“Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sảnxuất mà đo ý chí cách mạng của mình Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông,thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sảnxuất” [62, tr.68]

Cách mạng muốn thành công phải lấy dân làm gốc, coi trọng nhân dân,lắng nghe nhân dân Do vậy người rất coi trọng công tác dân vận, vì dân vậntốt thì việc gì cũng thành công Và để thực hiện tốt công tác này góp phần đưacách mạng Việt Nam tiến lên, Người yêu cầu các cán bộ làm công tác dân vận:

“Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân

đi, miệng nói, tay làm Chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh Họphải thật thà nhúng tay vào việc” [55, tr.233 – 234]

Trang 38

Đối với cán bộ, đảng viên Người yêu cầu chỉ nói và viết khi cần thiết,nói và viết phải sao cho ngắn gọn, giản dị dễ hiểu cho quần chúng, Người yêucầu: “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòngước ao của quần chúng” [54, tr.345] Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lýnày: “dân rất tốt Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được,

hy sinh mấy họ cũng không sợ Nhưng trước hết cần phải chịu khó tìm đủcách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì lợi ích của họ mà phảilàm” [54, tr.286]

Như vậy việc nói, viết của cán bộ phải phản ánh đúng tâm tư nguyệnvọng, lợi ích của quần chúng nhân dân, đúng với thực tế khách quan, phảingắn gọn, rõ ràng, rõ mục đích

Đối với việc làm, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên việc gì cólợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.Người phê phán loại cán bộ, đảng viên nhút nhát, kém cỏi, nói không dám nói,làm không dám làm, cái gì cũng chờ cấp trên bảo sao làm vậy Người biểudương những cán bộ dám nói, dám làm Theo Người: “Cách tổ chức và cáchlàm nào không phù hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên

để bỏ đi hoặc sửa lại Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dùchưa có sẵn, ta phải đề nghị cấp trên mà đặt ra Nếu cần thì cứ đặt ra, rồi báocáo sau, miễn là được việc.” [54, tr.286]

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích xuyên suốt cho mỗi lời nói vàviệc làm của cán bộ, đảng viên là tất cả vì dân Đây là tiêu chí cơ bản để đánhgiá tư cách, đạo đức, tác phong công tác của người cách mạng Chính vì vậy,trong xem xét đánh giá cán bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Chẳng những xem xétcách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng vớilời nói, bài viết của họ hay không” [54, tr.321]

Trong công tác tuyên truyền, Người căn dặn, để cho quần chúng noitheo, làm theo thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu làm trước, đã nói thìphải làm, lời nói đi đôi với việc làm: “Cán bộ, đảng viên, đoàn viên phải

Trang 39

gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”[63, tr.168]…“Nói miệng, ai cũng nói được Ta cần phải thực hành Khángchiến kiến quốc, ta cần phải tiết kiệm Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước

đã Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đicông tác, gắng làm gương cho nhân dân.” [53, tr.171]

Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán kiểu nói suông, chỉ nói mà không làm,Người khẳng định: “Nói mà không làm thì vô ích Đó là một tật xấu” [63,tr.168] Người giải thích thêm: “Trong kháng chiến, nếu có cán bộ chỉ huy hay

du kích miệng hô “tiến lên” mà bản thân mình lại thụt lùi, thì các chú thấy thếnào? Làm sao mà anh em tiến lên được” [63, tr.168] Nếu như chúng ta hô hàonhân dân tăng gia sản xuất, nhưng khi nhân dân tăng gia còn cán bộ thì ngủ,chơi; yêu cầu nhịn ăn lập hũ gạo cứu đói, nhưng cán bộ cứ ngày hai bữa thìkhông thể thuyết phục được nhân dân, không thể làm gương cho nhân dân,công việc sẽ không đem lại hiệu quả Hồ Chí Minh phê phán một số người

“chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác Nhưngmột việc gì thiết thực cũng không làm được” [54, tr.327] Nghĩa là họ chỉ quen

đề xuất, quen chỉ thị, quen nói cao giọng mà không chú ý đến điều kiện thực

tế, đến khả năng thực hiện của mình Hình như họ nói chỉ để cho người kháclàm, còn mình thì đứng ngoài chỉ tay năm ngón, chỉ đạo một cách chungchung, hời hợt cho qua chuyện Thành ra có những chủ trương không đi vàocuộc sống, không đem lại chuyển biến thực tế Do vậy, cán bộ, đảng viên phảimiệng nói, tay làm, tiên phong gương mẫu trong mọi hoàn cảnh, thực hiệnphương châm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau.” [64, tr.546]

Nêu gương đạo đức trước hết là một yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên

và những người đứng đầu các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể

xã hội Để giữ vững và phát huy vai trò của người cán bộ, đảng viên, theo HồChí Minh, trước hết “cán bộ cao cấp, phải làm đầu tầu gương mẫu, giúp đỡmọi người cùng tiến bộ”, “nhất là đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY

Trang 40

SINH, chữ CÔNG BẰNG, thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gươngcho dân chúng theo” [53, tr.109].

Nêu gương là lấy những tấm gương sống, những người có đạo đứcsáng ngời… làm những tấm gương để cho mọi người cùng theo học tập theo.Theo Hồ Chí Minh, tất cả mọi người trong xã hội đều có thể là tấm gương vềđạo đức để cho mọi người khác học tập

Nhận thức được vai trò và sức mạnh của sự nêu gương, Hồ Chí Minhđặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên.Ngoài ra, theo Hồ Chí Minh, còn phải kết hợp giữa chủ trương, biện phápđúng đắn và đầy đủ với ý chí phấn đấu, không nên chỉ đọng ở lời nói, chủtrương Do đó, Người dạy: “Kế hoạch 10 phần thì biện pháp 20 phần và quyếttâm 30 phần” [63, tr.485] Kế hoạch, chủ trương đúng là rất quan trọng và cầnthiết nhưng chưa đủ, phải có biện pháp cụ thể và cách tổ chức thực hiện để nói

và làm có hiệu quả Vì từ lời nói đến việc làm bao giờ cũng phải trải quanhững chặng đường dài và gian khổ, nếu không có quyết tâm cao và tổ chứcthực hiện tốt thì khó có thể biến chủ trương thành hiện thực Để chỉ thị, chủtrương đi vào thực tiễn cuộc sống “Đảng phải luôn luôn xem xét lại nhữngnghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào Nếu không vậy thìnhững nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tincậy của nhân dân đối với Đảng.” [54, tr.290]

Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên là lời nói và việc làm phải luônthống nhất với nhau, thậm chí làm phải nhiều hơn nói, nhưng Người cũng thấyrằng, trong thực tế, nói thì dễ, làm mới khó, khuyên người khác thì dễ, nhưnglàm theo lời nói đó còn khó hơn nhiều Do đó, theo Hồ Chí Minh, sự thốngnhất biện chứng giữa lời nói và việc làm đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phảivừa nói hay, vừa làm giỏi

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của sự thống nhất biện chứng giữalời nói và việc làm Người giáo dục mọi người và chính bản thân mình đã thựchiện tuyệt vời sự thống nhất giữa lời nói và việc làm Trong suốt cuộc đời hoạt

Ngày đăng: 05/12/2022, 06:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương (07/11/2006), Chỉ thị của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, số 06-CT/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Bộ Chính trị về tổchức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh”
2. Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận – Ban Chấp hành Trung ương “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn 20 năm đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổngkết một số vấn đề lý luận – thực tiễn 20 năm đổi mới”
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
3. Ban Bí thư Trung ương Đảng (18/5/2012) “Báo cáo kết quả một năm triển khai Chỉ thị 03-CT/TW, phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới”, Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 18-5- 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả một năm triển khaiChỉ thị 03-CT/TW, phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới”, "Báođiện tử Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
4. Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 10/1/2012 về công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 8/2/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 10/1/2012 về côngtác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức củacán bộ, đảng viên”, "Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
5. Ban Bí thư Trung ương Đảng, “Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7/6/2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 25/6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 7/6/2012 vềtrách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạochủ chốt các cấp”, "Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
6. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Phú Thọ (11/9/2007), “Báo cáo kết quả khảo sát thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả khảo sát thực hiệncuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
7. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Phú Thọ (23/4/2012), “Báo cáo kết quả Hội nghị triển khai, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cho cán bộ chủ chốt của Tỉnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả Hội nghịtriển khai, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BanChấp hành Trung ương Đảng khoá XI “Một số vấn đề cấp bách vềxây dựng Đảng hiện nay” cho cán bộ chủ chốt của Tỉnh
8. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Phú Thọ , “ Báo cáo kết quả học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Báo cáo kết quả học tập, quán triệt Nghịquyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI"“Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay
9. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Phú Thọ, “Báo cáo sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Phú Thọ, "“Báo cáo sơ kết một năm triển khai thựchiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việchọc tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
10. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân (tài liệu học tập năm 2009), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), "Học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sứcphụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân (tài liệu học tập năm 2009)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NxbCTQG
Năm: 2009
11. Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Đề cương học tập chủ đề tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), "Đề cương học tập chủ đề tư tưởng,tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thực sự trongsạch, vững mạnh “là đạo đức, là văn minh”
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2010
12. Ban Tuyên giáo Trung ương, Hướng dẫn số 25-HD/BTGTW ngày 25/11/2011 về việc bổ sung và tổ chức thực hiện chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Trung ương
13. Ban Tuyên giáo Trung ương, Hướng dẫn số 32-HD/BTGTW ngày 11 tháng 01 năm 2012, về đưa việc tiếp tục đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên của các tổ chức Đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị và của mỗi cán bộ đảng viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tuyên giáo Trung ương
14. Ban Tuyên giáo Trung ương, Hướng dẫn việc triển khai công tác tư tưởng trong quá trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Tạp chí Tuyên giáo điện tử, ngày 14/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn việc triển khai công tác tư tưởngtrong quá trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấphành Trung ương khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựngĐảng hiện nay”," Tạp chí "Tuyên giáo
15. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2004), Giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2004), "Giáo dục đạo đức cho cánbộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
16. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2007), Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2007), "Đẩy mạnh học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
17. GS Hoàng Chí Bảo (2009), Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: GS Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 2009
18. GS Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hoá và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tư tưởng Hồ Chí Minh , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và con người Việt Nam trong tiếntrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: GS Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
Năm: 2006
19. PGS.TS Nguyễn Khánh Bật (chủ biên) (2006), Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao đạo đức cáchmạng, chống chủ nghĩa cá nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Khánh Bật (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2006
20. Lê Bỉnh (2005), “Đấu tranh khắc phục tư tưởng và lối sống thực dụng”, Tạp chí Xây dựng Đảng , (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Bỉnh (2005), “Đấu tranh khắc phục tư tưởng và lối sống thực dụng”,Tạp chí" Xây dựng Đảng
Tác giả: Lê Bỉnh
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w