TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Sinh viên 1 : 11 - Lương Vũ Đình Duy – Sinh viên 4 : 58 - Lê Minh Thuận – Đề tài 12 : Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vớ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP
HCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Sinh viên 1 : 11 - Lương Vũ Đình Duy –
Sinh viên 4 : 58 - Lê Minh Thuận –
Đề tài 12 : Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
TIỂU LUẬNTRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Trang 2Sinh viên 1 : 11 - Lương Vũ Đình Duy –
Đề tài 12 : Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận dụng của Đảng
ta trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP
HCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 4
I. QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 4
1.1. Các khái niệm cơ bản 4
1.1.1.Lực lượng sản xuất 4
1.1.2.Quan hệ sản xuất 5
1.1.3.Phương thức sản xuất 6
1.2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 6
1.2.1.Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 6
1.2.2.Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất 7
1.2.3.Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất 8
1.3. Ý nghĩa của phương pháp luận 8
II. VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY 8
2.1. Thực trạng của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam 9
2.1.1.Quá trình vân dụng trong thực tế của nước ta trước năm 1986 9
2.1.2.Đường lối phát triển quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa 10
Trang 42.2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam 11
2.2.1.Nguồn lực của lực lượng sản xuất nước ta hiện nay.11
2.2.2.Một số giải pháp phát triển lực lượng sản xuất 13
2.2.3.Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 14
KẾT LUẬN 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm kể từ khi chính sách Đổi mới được thực hiện vào năm 1986, nước ta đã có được những bước tiến vượt bậc Từ chỗ là một nước nông nghiệp lac hậu, Việt Nam đã đạt được
những thành tựu đáng kể cả về kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội Để được như vậy, ta không thể không nhắc đến những đường lối và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự vận dụng hợp lý, đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất
Hiện nay, đất nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ Nền sản xuất đang từng ngày phát triển, đem đến năng suất và hiệu quả ngày càng cao Đảng và Nhà nước
ta cũng đang không ngừng xây dừng và hoàn thiện quan hệ sản xuất để theo kịp xu thế phát triển hiện nay
Trong công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội, việc nghiên cứu
Trang 5lượng sản xuất đóng vai trò không hề nhỏ Áp dụng đúng đắn và hợp lý quy luật này là chìa khóa cho sự thành công của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Do đó, em đã chọn viết về đề
tài: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất và vận dụng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Bài tiểu luận này giúp ta có thêm phần hiểu biết về quy luật
về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sảnxuất, từ đó áp dụng vào thực tiễn của đất nước ta hiện nay nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Thời gian môn học tuy không nhiều, nhưng được sự hướng dẫncủa ThS Nguyễn Tùng Lâm đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này Rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải phápphù hợp vớinhu cầu đất nước hiện nay.
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
I QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI
TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1 Các khái niệm cơ bản :
1.1.1 Lực lượng sản xuất :
Lực lượng sản xuất là toàn bộ những nhân tố vật chất, kỹthuật của quá trình sản xuất, tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm thay đổi tự nhiên Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự
nhiên của con người
Lực lượng sản xuất bao gồm hai bộ phận cơ bản: tư liệu sản xuất và người lao động
Tư liệu sản xuất là những tư liệu để tiến hành sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó tư liệu lao động có thể hiểu là công cụ lao động, còn đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động
con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổichúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người
Công cụ lao động là yếu tố động nhất của lực lượng sản
xuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước
đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩnphân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử
Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất,
là chủ thể tạo ra và sử dụng tư liệu lao động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm Lênin đã viết: “Lực lượng sản
Trang 8xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động” Có thể nói yếu tố quan trọng nhất trong lực
lượng sản xuất chính là con người Bởi suy cho cùng, người lao động quyết định giá trị và hiệu quả thực tế của tư liệu sản xuất và tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người
Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất Không một quá trình sản xuất hiện thực nào có thể diễn ra nếu thiếu một trong hai nhân tố là người lao động và tư liệu sản xuất
Lực lượng sản xuất được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác Mỗi thế hệ dựa trên những lực lượng sản xuất cũ
để tạo ra lực lượng sản xuất mới Lực lượng sản xuất vừa do các thế hệ nối tiếp nhau tạo ra, vừa do các cá nhân trong mỗi giai đoạn xã hội bảo tồn và không ngừng phát triển lên
1.1.2 Quan hệ sản xuất :
Quan hệ sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội
Nó được thể hiện ở ba mặt quan hệ cơ bản sau:
Quan hệ giữa người với người trong trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức quản lý sảnxuất xã hội và trong trao đổi hoạt động với nhau
Quan hệ giữa người với người trong phân phối và lưu thông sản phẩm xã hội
Trang 9Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất
là hình thức xã hội của sản xuất; giữa ba mặt của quan hệ sảnxuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính
ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất Trong ba mặt của quan hệ sản xuất , quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan
hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng nhưcác quan hệ xã hội khác Tuy nhiên, quan hệ về tổ chức quản
lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng có sự ảnh hưởng đến quan hệ sở hữu
Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất
cả các mặt của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Sự
Trang 10thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch
sử quyết định sự phát triển của xă hội loài người từ thấp đến
Từ khái niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng ta thấy chúng
là hai mặt cơ bản, tất yếu của qua trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nộidung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là “hình thức xã hội”của quá trình đó Chúng tồn tại thống nhất, không tách rời nhau, tác động qua lạilẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quy luật này chỉ ra sự phụ thuộc tất yếukhách quan của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất và sự tác động trở lại củaquan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sựvận động, phát triển xã hội
1.2.2 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với qua hệ sản xuất :
Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất nên trong quá trìnhsản xuất, lực lượng sản xuất không ngừng được hoàn thiện và phát triển Sự pháttriển của lực lượng sản xuất được được thể hiện qua trình độ của lực lượng sảnxuất, cụ thể là qua trình độ của công cụ lao động, trình độ kinh nghiệm và kĩ nănglao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, tổ chứcquản lý sản xuất và quy mô của nền sản xuất Khi một phương thức sản xuất mới
ra đời, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sựphù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làtrạng thái mà trong đó, quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sảnxuất Đến một thời điểm nhất định, tính chất của lực lượng sản xuất thay đổi về cơ
Trang 11bản, khi đó mẫu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất nảy sinh, quan
hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lựclượng sản xuất Lực lượng sản xuất vốn là nội dung vật chất còn quan hệ sản xuất
là hình thức xã hội của nền sản xuất vật chất Nội dung thì quyết định hình thức.Khi lực lượng sản xuất thay đổi, quan hệ sản xuất cũ trở thành rào cản, kìm hãmlực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sảnxuất tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi trong quan hệ sản xuất Mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất mới với quan hệ sản xuất cũ được giải quyết bằng cách thay thếquan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với lực lượng sản xuất.Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mâu thuẫn này được giải quyết thông qua đấutranh giai cấp, mà đỉnh cao là cách mạng xã hội Khi quan hệ sản xuất cũ đượcthay thế bằng quan hệ sản xuất mới cao hơn cũng có nghĩa là phương thức sản xuất
cũ mất đi, một phương thức sản xuất mới ra đời, một hình thái kinh tế xã hội mớixuất hiện
1.2.3 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:
Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ củacon người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đếnphát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ, Do đó, quan hệ sản xuất khôngphải hoàn toàn thụ động mà có tác động trở lại lực lượng sản xuất Sự tác động nàycủa quan hệ sản xuất diễn ra theo 2 hướng cơ bản: Nếu như quan hệ sản xuất phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển; ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến”hơn một cách hình thức so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìmhãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, mặc dù chỉ là sự kìm hãm tạm thời
1.3 Ý nghĩa của phương pháp luận :
Vì lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất trong quá trình sản xuất xãhội, cho nên trong hoạt động thực tiễn cần coi trọng vị trí, vai trò của lực lượng sản
Trang 12xuất đối với quan hệ sản xuất Muốn thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội cần phảiphát huy vai trò của lực lượng sản xuất; cần phải ưu tiên, mở đường cho lực lượngsản xuất phát triển tối đa Vì quan hệ sản xuất có sự tác động tích cực trở lại đốivới lực lượng sản xuất (thể hiện thông qua sự phù hợp và không phù hợp với trình
độ lực lượng sản xuất) trong quá trình sản xuất xã hội, cho nên không được xemthường, bỏ qua vai trò này và cần phải biết phát huy vai trò của quan hệ sản xuấtnhằm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho lực lượng sản xuất phát triển Vì giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong mối quan hệ vừa thống nhất,vừa đấu tranh lẫn nhau, cho nên cần phải tôn trọng quy luật này Việc tôn trọng quyluật giúp chúng ta chủ động trong việc giải quyết mối quan hệ cũng như có nhữngbiện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển
II VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH
ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY:
2.1 Thực trạng của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam:
2.1.1 Quá trình vân dụng trong thực tế của nước ta trước năm 1986:
Do nhận thức chưa đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong công cuộc cải tạo quan
hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới chúng ta đã ra sức vận động gần như cưỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát triển quy mô nông trường quốc doanh, các nhà máy, xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ của lực lượng sản xuất đang còn thời kỳ thấp kém chúng ta đã tạo ra những quy mô lớn
và ngộ nhận là chúng ta đã có “Quan hệ sản xuất xã hội chủ
Trang 13nghĩa” và còn nói rằng: mỗi bước cải tiến quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lượng sản xuất mới Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có khả năng “vượt trước”, “mở đường” cho sự phát triển củalực lượng sản xuất.
Thực tế trong nhiều năm qua đã chứng minh quan điểm đó làsai lầm Sự vượt trước này của quan hệ sản xuất trong khi trình độcủa lực lượng sản xuất chưa cho phép đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội Đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội: sản xuất tăng chậm, hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp, phân phối lưu thông có nhiều rối ren, nhữngmất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chưa được củng cố, đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn Bởi vậy, nhận định trong đại hội đảng lần thứ VI
là có căn cứ: “Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ là trong trường hợp quan hệ sản xuất bị lạc hậu mà ngay cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” Nhìn chung, chúng
ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề
ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân
2.1.2 Đường lối phát triển quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Qua quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước ta đi lên chủ
nghĩa xã hội, Đảng ta đã rút ra những kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng: một trong những nguyên nhân sâu xa làm cho sản xuấtchậm phát triển, đời sống nhân dân gặp khó khăn là do “không
Trang 14nắm vững quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất” Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sailầm khuyết điểm, đổi mới
tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đại hội
đề ra đường lối đổi mới, trong đó đề cao việc xây dựng và củng cốquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cảitạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc:
Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp
Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và vận dụng quan điểmcủa Lênin, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là mộtđặc trưng của thời kỳ quá độ
Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt: chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa
Đảng nhận thức rằng: sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất không bao giờ là sự phù hợp tuyệt đối, không có mâu thuẫn không thay đổi Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất không bao giờ là sự phù hợp chung mà bao giờ cũng tồn tại dưới những hình thức cụ thể, thích ứng với những đặcđiểm nhất định với trình độ nào đó của lực lượng sản xuất Trong thời kỳ đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế không còn là nền kinh tế tư bản nhưng cũng chưa hoàn toàn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Bởi vậy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải