Đối tượng của thừa kế là cáctài sản,quyền tài sản thuộc quyền của người đã chết để lạitrong đó một sốtrường hợp người để lại di sản có thể chỉ là hoa lợi tức,phát sinh từ tài sản.Tuynhiê
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
MÔN: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Lớp học phần: DHLQT16B Nhóm: 1
GVHD: Nguyễn Hữu Đính
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14, tháng 7 năm 2022
Trang 2STT HỌ VÀ TÊN MSSV CÔNG VIỆC ĐƯỢC ĐIỂM KÝ TÊN
PHÂN CÔNG
1 Lê Phước Hoàng 21122361 Lời cảm ơn và Kết luận, Anh
2 Lê Huỳnh Phúc 21003971 Phân chia công việc , Phần I Hậu
4 Kiều Tuấn Kiệt 21045261 Phần II Cơ sở thực tiễn Kiệt
5 Hoàng Phú 21015541 Phần II Cơ sở thực tiễn, làm Khang
6 Nguyễn Quốc 21046571 Phần III Nội dung chủ yếu Lâm
Lâm
7 Võ Hoàng Phúc 21057311 Phần III Nội dung chủ yếu Phúc
8 Lê Sĩ Phú 21008581 Phần III Nội dung chủ yếu, Phú
Thuyết trình
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14, tháng 7 năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn Khoa Lý Luận Chính Trị, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em học tập và thực hiện đề tài giữa kì này Chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Hữu Đính đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo chúng em trong quá trình thực hiện đề tài Chúng em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Luật đã tận tình giảng dạy , trang bị cho em những kiến thức quý báu trong năm vừa qua Mặc dù đã cố gắng hoàn thành bài tiểu luận trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý và tận tình chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn Chúng em xin chân thành cảm ơn Khoa Lý Luận Chính Trị, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em học tập và thực hiện đề tài này Chúng em rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý và tận tình chỉ bảo của quý thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào,vấn đề thừa kế cũng có vị trí quantrọng trong các chế định pháp luật,là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ cácquyền công dân.Chính vì vậy thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếuđược đối với đời sống mỗi cá nhân,gia đình,cộng đồng và xã hội Mỗi nhà nước
dù có các xu thế chính trị khác nhau,nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bảncủa công dân và được ghi nhận trong hiến pháp
Ở Việt Nam sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của thừa kế,nênngay trong những ngày đầu xây dựng XHCN các quy định về thừa kế đã được xâydựng và thực hiện trên thực tế tại các điều 19 Hiến pháp 1959 “Nhà nước chiếutheo pháp luật bảo vệ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân”.Điều 27 Hiếnpháp 1980 “Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” ,Điều 58 Hiếnpháp 1992 “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế côngdân”… và đặc biệt là sự ra đời của Bộ Luật Dân sự 1995,sau đó Bộ luật Dân sự
2005 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và phápluật về thừa kế nói riêng “Chế định thừa kế trong bộ luật dân sự 2015” được xem
là kết quả cao của quá trình phát triển hóa những quy định của pháp luật về thừakế
Tuy nhiên về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ từng ngày,từng giờ của đờisống Kinh tế - xã hội của đất nước,nên pháp luật về thừa kế hiện hành vẫn chưathể trù liệu hết những trường hợp,tình huống xảy ra trên thực tế.Còn một số quyđịnh của pháp luật về thừa kế mang tính chung chung ,Vì vậy,còn nhiều quanđiểm trái ngược nhau,nên khi áp dụng vào thực tế xảy ra tình trạng không nhấtquán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết Điều đó đã xâm phạm quyềnthừa kế của công dân, đôi khi còn gây bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗigia đình, cộng đồng và xã hội
Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nên kinh tế thị trường và xây dựng nhàNước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú,thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp.Hàng năm tòa án
Trang 5nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án thừa kế Vì vậy, thờigian tới… đã xác định rõ nhiệm vụ,mục tiêu,sự cần thiết phải hoàn thiện hệthống pháp luật trong thời kỳ đổi mới,trong đó có pháp luật và thừa kế Xuấtphát từ những lý do trên,tôi chọn vấn đề: “Pháp luật về thừa kế ” để làm đề tàitiểu luận.Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện lýluận.
1.2 Mục đích- yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Mục đích nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ loại hình thừa kế disản tuân theo các nguyên tắc, điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định,
mà không phụ thuộc vào sự định đoạt ý chí của người có tài sản để lại Đó chính
là việc vừa hệ thống hóa các quy phạm pháp luật thừa kế Việt Nam theo quátrình hình thành và phát triển từ năm 1945 đến nay, vừa phân tích và đánh giáhiệu quả điều chỉnh của chế định pháp luật này qua các thời kỳ phát triển của xãhội Việt Nam Quyền thừa kế xuất phát từ quan điểm xem gia đình là tế bào của
xã hội,phải đảm bảo quyền lợi chính đáng của mỗi thành viên và sự ổn định củatừng gia đình.Mặc khác thông qua quyền thừa kế,giáo dục tinh thần trách nhiệmcủa mỗi thành viên đối với gia đình
1.2.2 Yêu cầu
Yêu cầu nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
– Những vấn đề lý luận liên quan đến các quy định về thừa kế theo pháp luật,bao gồm làm rõ khái niệm thừa kế theo pháp luật, phân tích tiến trình phát triểncủa pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật đồng thời có sự so sánh giữathừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc để rút ra được đặc trưng của mỗihình thức và để có thể nhìn nhận vấn đề thừa kế một cách toàn diện
– Xác định diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật
– Xác định điều kiện, các trường hợp được hưởng thừa kế thế vị
– Tìm hiểu những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn và đề xuất cách thức giải quyết, góp phần hoàn thiện pháp luật về thừa kế theo pháp luật
Trang 61.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định của pháp luậthiện hành về thừa kế theo pháp luật và một số công trình nghiên cứu cũng nhưnhững vụ việc cụ thể có liên quan đến vấn đề này Đối tượng của thừa kế là cáctài sản,quyền tài sản thuộc quyền của người đã chết để lại(trong đó một sốtrường hợp người để lại di sản có thể chỉ là hoa lợi tức,phát sinh từ tài sản).Tuynhiên ,một số quyền tài sản gắn liền với nhân thân đã chết không thể chuyển chonhững người thừa kế(tiền cấp dưỡng) vì pháp luật quy định chỉ có người đó mới
có quyền hưởng
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được tiến hành dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạmpháp luật; phương pháp so sánh pháp luật
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu các quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật trongmột số văn bản pháp luật như: BLDS năm 2005; BLDS năm 1995; Luật Hônnhân và gia đình năm 2000 và các văn bản pháp luật khác có liên quan Trong đótiểu luận tập trung nghiên cứu các quy định về thừa kế theo pháp luật của côngdân Việt Nam
Tiểu luận cũng nghiên cứu các quy định trong pháp luật của một số nước điềuchỉnh về thừa kế theo pháp luật, có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật thừa kếcủa Việt Nam, qua đó tham khảo, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những điểm phùhợp để bổ sung, hoàn thiện các quy định về thừa kế theo pháp luật trong BLDSViệt Nam
1.6 Kết quả nghiên cứu
Thừa kế là việc chuyển giao tài sản của một người sau khi người này chết chonhững người khác theo quy định của pháp luật Việc chuyển giao này có thể thựchiện theo di chúc, nếu người có tài sản đã lập di chúc trước khi chết Trường hợpkhông có di chúc, di chúc không hợp pháp hoặc di chúc không phát sinh hiệu lựcthì việc chuyển giao tài sản sẽ được thực hiện theo pháp luật Trong
Trang 7trường hợp có tranh chấp về tài sản thừa kế thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trang 8PHẦN II NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Các khái niệm
Khái niệm thừa kế: Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn sống
Khái niệm quyền thừa kế
- Theo nghĩa khách quan: Là một phạm trù pháp lý bao gồm các quy phạm phápluật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống theo dichúc hoặc theo trình tự do pháp luật quy định
- Theo nghĩa chủ quan: Là các quyền năng dân sự cụ thể của các chủ thể có liên quan đến quan hệ thừa kế
2 Một số quy định về thừa kế
2.1 Người để lại di sản thừa kế: là người mà sau khi chết có tài sản để lại cho
người khác theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật
2.2 Di sản thừa kế: ( theo khoản 1 điều 637- Bộ luật Dân Sự) Di sản thừa kế bao
gồm: tài sản riêng,phần tài sản của người chết trong tài sản chung với ngườikhác, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế Tàisản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của người chết đứng tênlúc còn sống.Tài sản chung với người khác là phần tài sản do lúc còn sống ngườichết đã đồng tạo ra cùng chung với một người khác, thì lúc chết phần tài sản đócũng được đưa vào di sản của người chết
2.3 Người thừa kế: Nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở
thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thaitrước khi người để lại di sản chết.Nếu là tổ chức thì phải tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế
2.4 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
Theo quy định tại Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015, thời điểm mở thừa kế làthời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người đãchết thì thời điểm mở thừa kế là ngày Tòa án xác định người đó đã chết Nếu
Trang 9không xác định được chính xác ngày chết của người đó thì ngày Bản án tòa ántuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết.Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu khôngxác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộhoặc phần lớn di sản.
2.5 Địa điểm mở thừa kế: Là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản,nếu
không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn
bộ hoặc phần lớn di sản
3 Người quản lý di sản,nghĩa vụ và quyền của người quản lý di sản
3.1 Người quản lý di sản ( chương XXII điều 638-Bộ luật dân sự) - Người quản
lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏathuận cử ra - Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản vànhững người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếmhữu,sử dụng,quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những ngườithừa kế cử được người quản lý di sản - Trong trường hợp chưa xác định đượcngười thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quản lý
3.2 Quyền của người quản lý di sản *.Người quản lý di sản quy định tại khoản
1 và 3 điều 638-Bộ luật dân sự có các quyền sau: - Đại diện cho người thừa kếtrong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế.-Được hưởng thù laotheo thỏa thuận với những người thừa kế Người đang chiếm hữu,sử dụng,quản
lý di sản quy định tại khoản 2 điều 638-Bộ luật dân sự có quyền sau:- Được tiếptục sử dụng di sản theo thoải thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặcđược sự đồng ý của những người thừa kế.Được hưởng thù lao theo thỏa thuậnvới những người thừa kế nghĩa vụ của người quản lý di sản
Trang 10sản bằng các hình thức khác,nếu không được người thừa kế đồng ý bằng văn bản - Thông báo về di sản cho những người thừa kế - Bồi thường thiệt hại nếu
vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại - Giao lại di sản theo yêu cầu củangười thừa kế Người đang chiếm hữu,sử dụng,quản lý di sản quy định tại khoản 2điều 638-Bộ luật dân sự có nghĩa vụ sau: - Bảo quản di sản,không được bán,traođổi,tặng cho,cầm cố,thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác - Thôngbáo về di sản cho người thừa kế - Bồi thường thiệt hại,nếu vi phạm nghĩa vụ củamình mà gây thiệt hại - Giao lại di sản theo thoải thuận trong hợp đồng với người
để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế
4 Các hình thức thừa kế
4.1 Thừa kế theo di chúc
4.2 Thừa kế theo pháp luật
4.2.1 Hình thức thừa kế theo hàng thừa kế được áp dụng trong những trường hợp:- Người chết không để lại di chúc - Di chúc không hợp pháp - Những
người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng một thời điểm vớingười lập di chúc,cơ quan được hưởng thừa kế theo di chúc khong còn tồn tạivào thời điểm mở thừa kế - Những người được chỉ định là người thừa kế theo dichúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối hưởng quyền di sản
4.2.2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản: - Phần
di sản không được định đoạt trong di chúc - Phần di sản có liên quan đến phầncủa di chúc không có hiệu lực - Phần di sản có liên quan đến người được thừa
kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản,từ chối quyền hưởng disản,chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, liên quan đến cơquan tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mởthừa kế
4.3 Di tặng và từ chối nhận di sản Di tặng: - Di tặng là trường hợp khác của di
chúc,là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng người khác.Việc ditặng phải được ghi rõ trong di chúc - Người được di tặng không phải thực hiệnnghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng,trừ trường hợp toàn bộ di sản không
đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng
Trang 11được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này Từ chối nhận disản: Về việc từ chối nhận di sản pháp luật quy định như sau: Người thừa kế cóquyền từ chối nhận di sản,trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thựchiện nghĩa vụ
4.4 Những người không được quyền hưởng di sản - Người bị kết án về hành vi
cố ý xâm phạm tính mạng,sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêmtrọng,hành hạ người để lại di sản,xâm phạm nghiêm trọng danh dự,nhân phẩmcủa người đó - Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại
di sản - Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kếkhác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó cóquyền hưởng - Người có hành vi lừa dối,cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại disản trong việc lập di chúc,giả mạo di chúc,sữa chữa di chúc,hủy di chúc nhằmhưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản Nhữngngười này vẫn được hưởng di sản thừa kế nếu người để lại di sản đã biết các
hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.Tài sản
không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước trong trường hợp không có ngườithừa kế theo di chúc,theo pháp luật hoặc có những không được quyền hưởng disản,từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản
mà không có người nhận thừa kế sẽ thuộc Nhà nước
+Loại di chúc phổ biến
- Di chúc văn bản
- Di chúc miệng
Trang 12Tuy nhiên, một di chúc dù bằng văn bản hay bằng miệng thì chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối,
đe dọa hoặc cưỡng ép
- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc khôngtrái quy định của pháp luật
Nếu việc lập di chúc có người làm chứng thì người làm chứng không phải là những người sau:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc
- Người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
2.2 Về quyền thừa kế thế vị của cháu và chắt
Theo quy định tại Điều 652 BLDS năm 2015 thì: “Trường hợp con của người
để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháuđược hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống;nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thìchắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu cònsống”
Với quy định trên, nếu hiểu theo câu chữ của điều luật thì khi cha hoặc mẹ củacháu hoặc chắt không được quyền hưởng di sản của ông, bà hoặc cụ do có mộttrong các hành vi được nêu tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 [1] sẽ kéotheo cháu hoặc chắt cũng không thể được thay thế vị trí của cha mẹ để hưởng disản của ông, bà hoặc cụ.[2]
Theo giải đáp tại tiểu mục 4 Mục II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày03/4/2019 của TANDTC thì: Thừa kế thế vị được hiểu là hưởng thay và đốitượng hưởng thay đã được quy định rõ là “phần di sản của cha hoặc mẹ của cháuđược hưởng nếu còn sống” Trường hợp một người đã không được quyền hưởng
Trang 13di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của BLDS năm 2015, như bị kết án vềhành vi ngược đãi nghiêm trọng người cha thì họ sẽ không được hưởng di sảncủa người cha Do vậy, nếu họ còn sống khi cha chết thì họ cũng không đượchưởng di sản thừa kế nên không có “phần được hưởng nếu còn sống” để chongười khác hưởng thế vị Như vậy, cha mẹ của cháu hoặc chắt phải là ngườiđược quyền hưởng di sản thì cháu hoặc chắt mới được hưởng thế vị thay cha, mẹkhi cha, mẹ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản.
2.3 Về quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ
Vấn đề thừa kế thế vị liên quan đến con nuôi được quy định tại Điều 653 BLDSnăm 2015: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và cònđược thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này”.Quy định này vẫn còn khá chung chung dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như:(1) Khi người con đẻ của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thờiđiểm với người để lại di sản, thì người con nuôi của người con đẻ của người để lại
di sản có được hưởng thừa kế thế vị hay không?
(2) Khi con nuôi của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm vớingười để lại di sản, thì con đẻ của người con nuôi đó có được hưởng thừa kế thế vịkhông?
( 3) Người con nuôi của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểmvới người để lại di sản, thì con nuôi của người con nuôi đó có được hưởng thừa
kế thế vị không?
Có quan điểm cho rằng trường hợp (3) không được thừa kế thế vị, trường hợp(2) được thừa kế thế vị, còn trường hợp (1) chỉ được thừa kế thế vị nếu người để lại di sản coi như cháu ruột
Tham khảo quy định tại tiểu mục đ Mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 (Nghị quyết 02/HĐTP)[6]: “Con nuôikhông đương nhiên trở thành cháu của cha, mẹ của người nuôi dưỡng và cũngkhông đương nhiên trở thành anh, chị, em của con đẻ của người nuôi Do đó, connuôi không phải là người thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ và con đẻ của người
Trang 14nuôi” Và tại tiểu mục a Mục 6 Nghị quyết 02/HĐTP quy định: “Về phía giađình cha nuôi, mẹ nuôi: con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế với cha nuôi, mẹ nuôi
mà không có quan hệ thừa kế với cha, mẹ và con đẻ của người nuôi Trongtrường hợp người có con nuôi kết hôn với người khác thì người con nuôi khôngđương nhiên trở thành con nuôi của người khác đó cho nên họ không phải làngười thừa kế của nhau theo pháp luật” Tại tiểu mục b Mục 5 Nghị quyết số 02/HĐTP quy định: “Trong trường hợp con nuôi chết trước cha nuôi, mẹ nuôi, thìcon của người nuôi (tức là cháu của cha nuôi, mẹ nuôi) được hưởng phần di sản
mà đáng lẽ cha, mẹ của chắt được hưởng nếu cha, mẹ của chắt còn sống vào thờiđiểm mở thừa kế” Theo đó, trường hợp (2) được hưởng thừa kế thế vị, còntrường hợp (1) và (3) không được hưởng thừa kế thế vị (do con nuôi không phải
là người thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ và con đẻ của người nuôi)
Quy định trên còn cho thấy, nội dung chỉ thể hiện về quan hệ thừa kế giữa “connuôi và cha nuôi, mẹ nuôi” mà không có nội dung nào quy định liên quan đếntrường hợp của “cha đẻ, mẹ đẻ” Tuy nhiên, tiêu đề của điều luật lại thể hiện là
“Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ” Nhưvậy, có thể thấy giữa tiêu đề và nội dung của điều luật đã không có sự thống nhấtvới nhau
2.4 Về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng , mẹ kế
Theo quy định tại Điều 654 BLDS năm 2015 thì: “Con riêng và bố dượng, mẹ
kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì đượcthừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 vàĐiều 653 của Bộ luật này” Theo đó, để được hưởng quyền thừa kế di sản giữacon riêng và bố dượng, mẹ kế thì pháp luật quy định họ phải có quan hệ chămsóc nhau như cha con, mẹ con
Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng quy định này để giải quyết các trường hợp
cụ thể thì có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật khôngthống nhất về nội dung như thế nào được hiểu là “chăm sóc như cha con, mẹcon” và dựa vào tiêu chí nào để đánh giá là có sự chăm sóc, nuôi dưỡng nhaunhư cha con, mẹ con thì pháp luật cũng chưa đề cập đến Chẳng hạn như:
Trang 15(1) Thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế là bao lâu sẽ được coi là chăm sóc như cha con, mẹ con;
(2) Hành vi chăm sóc sẽ được thể hiện từ hai bên hay chỉ từ một bên (người được thừa kế)
(3) Nếu như một bên chỉ thể hiện hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng về tìnhcảm giữa họ đối với nhau không như cha con, mẹ con thì họ có được thừa kế theopháp luật của nhau không?
Ngoài ra, việc xác định hàng thừa kế sau khi đã xác định được quan hệ chămsóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con thì điều luật lại không quy định trongtrường hợp này thì con riêng, bố dượng, mẹ kế sẽ thuộc hàng thừa kế thứ mấynếu đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 về người thừa
kế theo pháp luật
Có quan điểm còn cho rằng, nên bỏ quy định về thừa kế thế vị của con riêng, vìgiữa con riêng và bố dượng, mẹ kế với lý do là giữa họ không có mối quan hệhuyết thống và cũng không có mối quan hệ pháp lý nào ràng buộc, nếu có ràngbuộc đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt đạo đức xã hội Có thể
lý giải cho cơ sở của quan điểm này là xuất phát từ sự so sánh với trường hợpngười con dâu không được hưởng thừa kế đối với phần di sản của cha mẹ chồng,
vì giữa họ không có mối quan hệ huyết thống, nhưng do phong tục tập quán củangười Việt và trên thực tế phần lớn người con dâu cũng là người trực tiếp chămsóc, nuôi dưỡng cha mẹ chồng Chính vì vậy, quan điểm trên cho rằng việc quyđịnh con riêng được hưởng thừa kế thế vị thay bố dượng, mẹ kế là không thuyếtphục và cần phải được xóa bỏ
2.5 Về quy định tại khoản 3 Điều 615 thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Người được hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm
vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Trường hợp disản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết