Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp nhiễm giun sán thì đáp ứng miễn dịch vật chủ với giun sán là như nhau, bằng cách đáp ứng Th2 thì sinh ra một số lượng lớn của interleukin IL một cách
Trang 1MIỄN DỊCH CHỐNG GIUN SÁN
Nguyễn Đình Minh Khánh Trần Thị Phượng
Lê Đăng Vin Phùng Thị Thanh Tuyền Dương Thanh Tùng
BỘ MÔN KÝ SINH TRÙNG LỚP CKI DA LIỄU – 04.2022
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: MIỄN DỊCH BẨM SINH ( INNATE IMMUNITY) 2
1.1 Hàng rào da và niêm mạc 2
1.2 Hàng rào các tế bào 2
1.2.1 Tế bào biểu mô 3
1.2.2 Tế bào lymphoid bẩm sinh loại 2 (ILC2s) 3
1.2.3 Tế bào thần kinh 4
1.2.4 Mast cell 6
1.2.5 Bạch cầu ái toan 6
1.2.6 Bạch cầu đa nhân trung tính 7
1.2.7 Bạch cầu ái kiềm 7
1.2.8 Đại thực bào 7
1.3 Hàng rào hóa học 7
1.4 Hàng rào thể chất 8
CHƯƠNG 2: MIỄN DỊCH ĐẶC HIỆU ( SPECIFIC IMMUNITY) 9
2.1 Chức năng của hệ thống miễn dịch đặc hiệu 9
2.2 Các bước của đáp ứng miễn dịch 9
2.2.1 Bước nhận diện kháng nguyên 9
2.2.2 Bước hoạt hóa 10
2.2.3 Bước hiệu ứng 10
2.2.4 Sự điều hòa đáp ứng miễn dịch 11
2.3 Miễn dịch đồng thời 13
2.4 Cơ chế tồn tại của giun sán 16
2.4.1 Tạo vỏ bọc 16
2.4.2 Ẩn nấp bên trong tế bào 17
2.4.3 Tiết các chất có tác dụng lên tế bào miễn dịch 17
2.4.4 Tiết các chất phá hủy kháng thể 18
Trang 32.4.7 Thay đổi kháng nguyên bề mặt 18
2.4.8 Do ký chủ 19
2.5 Quá mẫn trong bệnh do giun sán 19
2.5.1 Quá mẫn type 1 19
2.5.2 Quá mẫn type 2 20
2.5.3 Quá mẫn type 3 20
2.5.4 Quá mẫn type 4 21
KẾT LUẬN 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Giun sán, một nhóm kí sinh trùng đa dạng gồm các sinh vật đa bào đã gây bệnh cho hàng tỷ người và vật nuôi trên thế giới Phần lớn, giun sán gây bệnh thuộc ngành giun tròn và sán (platy-helminthe) Chủng loại thuộc
cả 2 ngành này chiếm số lượng lớn ở các vật chủ là động vật có vú, cư trú theo thứ tự từ thành ruột đến nội mạc mạch máu và ngay cả trong nội bào Giun sán, cũng như những sinh vật khác, khi xâm nhập vào ký chủ, gây đáp ứng miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch thích nghi để chống lại.
Đa phần giun sán có chu kỳ sinh học gồm nhiều giai đoạn phức tạp liên quan vật chủ Những vật chủ là động vật có vú thì giun sán thường lây nhiễm rộng rãi và trưởng thành với mục đích cuối cùng là sinh sản, nhân lên nhằm truyền qua vật chủ trung gian tiếp theo Thông thường, giai đoạn ký sinh trùng còn sống gây nhiễm cho vật chủ là giai đoạn ấu trùng, tiếp theo ấu trùng phi di chuyển bên trong vật chủ đến một ni thích hợp ở gần bề mặt để nó có thể phát triển và sinh sản Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp nhiễm giun sán thì đáp ứng miễn dịch vật chủ với giun sán là như nhau, bằng cách đáp ứng Th2 thì sinh ra một số lượng lớn của interleukin (IL) một cách ý nghĩa như IL-4, IL-5, IL-9, IL-10, và IL-13 và kết qu là hình thành các globulin miễn dịch, cùng với bạch cầu ưa acide (E) và đáp ứng của dưỡng bào (mastocyte) Khả năng vốn có của giun sán tạo đáp ứng Th2 đã khiến các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đến chúng cả về cơ chế là con đường nào dẫn đến đáp ứng Th2 cũng như tìm hiểu đến chức năng đáp ứng miễn dịch Th2.
Chuyên đề này đã tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn như sách, các bài báo, các nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu trên người… nhằm đem đến những kiến thức, hiểu biết sâu sắc hơn về miễn dịch chống giun sán.
Trang 5CHƯƠNG 1: MIỄN DỊCH BẨM SINH
( INNATE IMMUNITY)
1.1 Hàng rào da và niêm mạc
Giun sán có thể lây truyền cho cả người và động vật khi ăn phải trứng hoặc
ấu trùng có trong thức ăn hoặc nước bị ô nhiễm, vết cắn của côn trùng hoặc
do sự xâm nhập trực tiếp của ấu trùng chưa trưởng thành qua da Khi người
bị nhiễm giun sán, chúng có thể gây tổn thương mô và tạo ra các sản phẩm bài tiết (Excretory-secretory products), hoặc khi di chuyển qua các cơ quan khác nhau, bao gồm phổi, ruột, gan và da, để hoàn thành vòng đời của chúng.1.2 Hàng rào các tế bào
Khác với vi khuẩn và virus, các đại thực bào không thể bắt được ấu trùng giun sán do kích thước lớn, vỏ dày và ấu trùng giun sán rất di động Mặc dù da không ngăn được ấu trùng giun sán xâm nhập vào người vì giun sán tiết các chất tiêu mô như colagenase, elastase, serine, nhưng vết thương do giun sán gây ra và các sản phẩm bài tiết chúng tạo
ra kích hoạt các tế bào, dẫn đến việc bắt đầu các phản ứng miễn dịch loại 2, cụ thể là tăng nhanh về số lượng và hoạt hoá các tế bào miễn dịch bẩm sinh bao gồm các tế bào đuôi gai (DC - dendritic cells), bạch cầu ái kiềm, bạch cầu ái toan, tế bào mast (MC – Mast cell), ILC2 và tế bào gốc / tiền thân tạo máu chuyên biệt (HSPC-Hematopoietic stem/progenitor cells) Điều này dẫn đến việc bài tiết các cytokine như interleukin (IL) -4, IL-5, IL-9 và IL-13, thúc đẩy sự phân cực của các đại thực bào được kích hoạt thay thế hoặc M2, sự hoạt hóa của người trợ giúp T type 2 (TH2) tế bào và tế bào B sản xuất immunoglobulin E (IgE), góp phần vào sự phát triển của chứng viêm Nói chung, sự đáp ứng của tế bào và phân
tử này bắt đầu các phản ứng bảo vệ vật chủ như sản xuất chất nhầy của tế bào cốc, co
cơ trơn và sự gia tăng của các tế bào
biểu mô kích thích sự trục xuất giun sán và thúc đẩy việc chữa lành các mô bị ảnh
Trang 6hưởng Ngoài các cơ chế đề kháng này, miễn dịch loại 2 cũng thúc đẩy các phản ứng dung nạp, chẳng hạn như sự hình thành các u hạt, có chứa ký sinh trùng nhiễm trùng.
1.2.1 Tế bào biểu mô
Ngoài các chức năng tác động trực tiếp của chúng, các nghiên cứu mới đây đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của các tế bào biểu mô, đây được coi là khởi đầu của miễn
dịch chống giun sán thông qua khả năng ảnh hưởng đến các quần thể tế bào miễn dịch Khi nhiễm giun sán, các tế bào biểu mô tiết ra nhiều chất báo động cytokine để đáp ứng với tình trạng viêm do giun sán bao gồm IL-25, IL-33 và lymphopoietin mô đệm (TSLP) Các cytokine này gây ra sự phát triển, tăng sinh và kích hoạt các quần thể tế bào bẩm sinh đã biệt hóa giai đoạn cuối (ILC2s, basophils, MCs, eosinophils và DCs) và HSPC trong giai đoạn đầu Hơn nữa, các tế bào biểu mô tiết ra các chemokine như
CXCL1, CXCL2 và CXCL8, cũng như các eotaxin được biết đến để thu hút bạch cầu trung tính và bạch cầu ái toan từ ngoại vi đến các vị trí niêm mạc
để phản ứng lại sự xâm phạm của chứng viêm, tuy nhiên, những đóng góp chính xác của các chemokine có nguồn gốc từ biểu mô đối với khả năng miễn dịch chống giun sán vẫn còn đang được nghiên cứu.
- IL-33 là một protein liên kết DNA được giải phóng tích cực bởi hàng rào tế bào biểu mô và một số tế bào tạo máu (mast cell và đại thực bào) để đáp ứng với tổn thương do giun sán gây ra.
- Ngoàoài các cytokine, các tế bào biểu mô cũng đã được chứng minh là có giải phóng các mẫu phân tử khi có yếu tố nguy cơ (DAMP) như ATP và adenosine để điều chỉnh cảm ứng các phản ứng loại 2 Cụ thể, các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng các tế bào biểu mô hoại tử tiết ra ATP, chất này kích hoạt các MC thông qua thụ thể P2X7 và thúc đẩy quá trình tiết IL-33 của chúng sau khi nhiễm H polygyrus.
Trang 71.2.2 Tế bào lymphoid bẩm sinh loại 2 (ILC2s).
- Tế bào này phân bố tại các bề mặt niêm mạc bao gồm phổi, ruột và da, các tế bào lympho bẩm sinh gần đây đã được công nhận là chất trung gian thiết yếu của các phản
ứng miễn dịch bẩm sinh đối với các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, virus và ký sinh trùng Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo rằng tiền thân ILC “gây viêm” do IL-25 di
chuyển từ đường tiêu hóa vào phổi và biệt hóa thành các ILC2 trưởng thành sau khi nhiễm N brasiliensis, cho thấy rằng tình trạng viêm do giun sán có thể thúc đẩy việc
di chuyển các tiền chất ILC, góp phần vào nhóm các ILC2 thường trú ở mô.
1.2.3 Tế bào thần kinh
Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra rằng ngoài tế bào biểu mô, các tín hiệu xuất phát từ tế bào thần kinh cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh tình trạng viêm do giun sán Cụ thể, thụ thể cho peptide thần kinh neuromedin U (NMU) được tìm thấy là biểu hiện độc quyền của ILC2 khi
so sánh với các dòng tế bào lymphoid và dòng tủy khác.
- Các tế bào nội tiếiết ruột cũng tham gia liêiên kết với biểu mô niêiêm mạc để kích hoạt tế bào miễn dịch Tế bào nội tiết ruột (EEC) là những tế bào biểu mô chuyên biệt hóa cao, phản ứng với các kích thích khác nhau trong lòng niêm mạc như chất dinh dưỡng và tiết ra một
số hormone peptptidide bao gồm chololececysystotokikininin (CCK),
somatostatin và ghrelin, cũng như các amin hoạt tính sinh học như serotonin, điều chỉnh các phản ứng sinh lý riêng biệt để cho phép hấp thụ hiệu quả các chất dinh
dưỡng Vai trò của EECs lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo về tình trạng ăn kém
ở cừu khi bị nhiễm Trichostrongylus colubriformis và lợn bị nhiễm giun đũa đã được cải thiện bằng cách sử dụng một chất đối kháng CCK Tương tự, những con chuột bị nhiễm T spiralis hoặc T muris có biểu hiện giảm tỷ lệ thức ăn ăn vào tương quan với
sự tăng cao CCK và 5-HT Hơn nữa, các EEC được tìm thấy để biểu hiện IL-4Rα, cho thấy rằng các EEC có thể đáp ứng với các phản ứng cytokine loại 2 và điều chỉnh
lượng calo khi nhiễm giun sán Đáng chú ý, những con chuột bị nhiễm trùng xoắn
Trang 8khuẩn T cũng có biểu hiện giảm mức độ hormone leptin, được chứng minh là gây
ra chứng đau bụng, thúc đẩy phản ứng loại 1 và ngăn chặn tình trạng viêm loại 2.
Hình.1 Điều hoà thần kinh trong đáp ứng tuýp 2
- Vai trò của các tín hiệu hoạt hoá hệ miễn dịch ngày càng được làm rõ, ví dụ như IL-25 đã được chứng minh là cần thiết và đủ để thúc đẩy sự tống xuất giun hiệu quả và
các phản ứng mạnh của cytokine loại 2 sau khi nhiễm N brasiliensis, T muris hoặc T.spiralis Ví dụ, IL-25 đã được chứng minh là gây ra sự tích tụ của tế bào tiền thân đa
năng loại 2 (MPPtype2), giúp thúc đẩy miễn dịch chống giun sán bằng cách biệt hóa thành đại thực bào, MC và basophils Tương tự, khi nhiễm N brasiliensis, IL-25 kích thích
sự biệt hóa của các tiền chất ILC ruột tạo “ ILC2 gây viêm, góp phần vào việc chữa lành vết thương của mô phổi Các tế bào búi biểu mô ruột là nơi sản xuất chủ yếu của IL-25 Bên cạnh đó, IL-25 có nguồn gốc từ tế bào chùm kích thích ILC2 tiết IL-13, đóng vai trò luân chuyển tế bào biểu mô trong một vòng phản hồi tích cực dẫn đến việc
loại bỏ giun và sửa chữa mô tại các vị trí nhiễm trùng Hơn nữa, những con chuột thiếu
Trang 9nhầy, chứng tỏ rằng các quần thể tế bào biểu mô chuyên biệt phối hợp bảo
vệ chống giun sán thông qua việc sản xuất các chất dẫn truyền tín hiệu.
1.2.4 Mast cell
Mast cell là các tế bào hạt cư trú trong mô, tương tự như basophils, có khả năng góp phần vào khả năng miễn dịch chống giun sán thông qua việc tiết ra các cytokine loại 2 và các phân tử hiệu ứng khác Hơn nữa, quần thể MC mở rộng đáng kể trong các mô ngoại vi sau nhiều lần nhiễm giun sán [88], cho thấy MCs là chất trung gian quan trọng của các phản ứng chống giun sán1.2.5 Bạch cầu ái toan
Số lượng bạch cầu ái toan mở rộng và tích tụ trong các mô ngoại vi trong khi cơ thể bị nhiễm giun sán.
Bạch cầu ái toan giải phóng các hạt của chúng thông qua ba cơ chế bài tiết chính,
đó là xuất bào cổ điển, phân giải tế bào với giải phóng hạt và phân hủy từng phần Sự xuất bào cổ điển xảy ra khi bạch cầu ái toan bám vào lớp biểu bì ký sinh trùng, gây ra
sự hợp nhất của các hạt để tạo ra một kênh bài tiết giải phóng các thành phần hạt trực tiếp vào giun sán Tuy nhiên, cơ chế này mới chỉ được quan sát trong ống nghiệm và vai trò của nó trong cơ thể sống cần được nghiên cứu thêm.
Sự đóng góp của bạch cầu ái toan đối với các phản ứng bảo vệ do giun sán gây ra cũng có vẻ như là đặc hiệu đối với mỗi loài kí sinh trùng Ví dụ, đáp ứng bạch cầu ái toan tăng cao có liên quan đến việc loại bỏ Ascaris suum ở lợn bị nhiễm bệnh, hay trường hợp nhiễm A lumbricoides ở người Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy có số lượng giun tăng lên khi những con chuột suy giảm bạch cầu ái toan bị nhiễm lần đầu H polygyrus, B malayi hoặc tái nhiễm N brasiliensis và T spiralis, điều này chứng minh rằng bạch cầu ái toan góp phần vào khả năng miễn dịch chống giun sán khác nhau ở
mỗi loài.
Trang 101.2.6 Bạch cầu đa nhân trung tính
Một số thí nghiệm cho thấy rằng bạch cầu trung tính hạn chế sự di chuyển của ấu trùng trong giai đoạn đầu của nhiễm giun sán, tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn
chế
1.2.7 Bạch cầu ái kiềm
Bạch cầu ái kiềm là các tế bào hạt sản xuất cytokine mạnh mẽ góp phần vào các đáp ứng loại 2 thông qua việc tiết ra các cytokine như IL-4, IL-6 và IL-13, cũng như các chất trung gian lipid gây viêm bao gồm leukotrienes và prostaglandin kích hoạt các thành phần chống giun sán khác nhau Mặc dù bạch cầu ái kiềm chiếm ít hơn 1% bạch cầu trong máu trong điều kiện nội môi, nhưng bạch cầu ái kiềm ngoại vi là một dấu hiệu của nhiễm giun sán, cho thấy rằng chúng góp phần vào các phản ứng bảo vệ vật chủ Hơn nữa, bạch cầu ái kiềm thâm nhập dường như cần thiết cho sự hình thành u hạt sau khi nhiễm S mansoni, cho thấy rằng chúng cũng góp phần vào việc tái tạo mô do giun sán gây ra.
1.2.8 Đại thực bào
Đại thực bào M2 có thể được tạo ra bởi nhiều cơ chế trong bối cảnh nhiễm giun sán Các cytokine loại 2, được sản xuất bởi ILC2s, basophils, tế bào mast, bạch cầu ái toan và bạch cầu trung tính góp phần vào đáp ứng của đại thực bào M2 Ngoài ra, các tế bào biểu mô tiết ra adenosine để phản ứng với tổn thương
do giun sán gây ra, điều này tiếp tục khuếch đại sự hoạt hóa đại thực bào M2.
1.3 Hàng rào hóa học
Khi ấu trùng giun sán xâm nhập, bổ thể được kích hoạt bằng đường tắt tạo phức hợp tấn công màng gây tổn thương lớp vỏ giun sán Giun sán tránh tác động của phức hợp tấn công màng bằng cách lột xác hay tiết antiticomplementntarary factctorors là chất
Trang 11ức chế hoạt hoá bổ thể bằng cách ngăn chặn hoạt động của C3/ C5 convertase.
- Khi ấu trùng giun sán đến niêm mạc ruột sẽ kících thích tế bào đài tiết intelectin,
chất này làm cho dịch ở ruột đặc quánh, ấu trùng giun sán khó bám vào niêm mạc ruột nên bị nhu động ruột tống ra ngoài.
- Trong các nghiêiên cứu trước đây đã xác định rằng các tế bào hình cốc chuyêyên biệt cao phản ứng với IL-13 và tiết ra một lượng lớn chất nhầy, ngăn chặn
sự gắn kết của giun sán vào biểu mô niêm mạc và tạo điều kiện cho việc tống khứ chúng ra ngoài Tế bào biểu mô cũng được biết là sản xuất phân tử giống resistin beta (RELMβ) liên kết các thành phần của bộ máy cảm giác của giun sán và ức chế chức năng hóa học của chúng.
1.4 Hàng rào thể chất
Ở mỗi cá thể, do cấu tạo đặc thù của cơ thể về hình thái và cơ địa với những kháng thể tự nhiên, hàng rào cơ học ( da, niêm mạc tiêu hoá, niêm mạc hô hấp), pH, nhiệt độ cơ thể, hoạt động thần kinh, nội tiết, di truyền,… một ký chủ ở loài này có thể không dung nạp giun sán của những loài khác Giun sán của các loài không truyền lẫn nhau do có tính đặc hiệu loài; ví dụ giun kim Heterakis spp ở gà, sán dải Anoplocephala app
Tuy nhiên, tính đặc hiệu loài chỉ là tương đối, nên một số giun sán ở động vật có thể truyền qua người gọi là bệnh động vật (zoonoses) như Gnathostoma spinigerum, toxocara canis, ancylostoma canium ở chó; fasciola hepatica, fasciola gigantica ở trâu bò có thể nhiễm sang người.
Trang 12CHƯƠNG 2: MIỄN DỊCH ĐẶC HIỆU
( SPECIFIC IMMUNITY)
2.1 Chức năng của hệ thống miễn dịch đặc hiệu
Liên quan đến tế bào T và tế bào B: Giun sán có khả năng gây ra sự phát triển của các tế bào TH2 sau khi bị nhiễm trùng Phản ứng cytokine tiếp theo của tế bào TH2 có tác dụng rộng rãi, thúc đẩy các chức năng của tác nhân chống giun sán trong nhiều quần thể tế bào và mô có nguồn gốc từ tủy xương và không có nguồn gốc từ tủy xương Từ đó miễn dịch đặc hiệu cho thấy những chức năng quan trọng sau:
Làm chậm giai đoạn trưởng thành của giun sán Làm giun sán phát triển còi cọc
Ngăn khả năng sinh dục của giun sán Tống giun sán ra khỏi cơ thể
Ngăn chặn sự tái nhiễm của giun sán
2.2 Các bước của đáp ứng miễn dịch
Đáp ứng của miễn dịch đặc hiệu gồm đáp ứng miễn dịch dịch thể và đáp ứng miễn dịch quả trung gian tế bào Đối với giun sán, đáp ứng miễn dịch dịch thể thường gặp hơn, trải qua ba bước gồm nhận diện kháng nguyên, hoạt hoá, hiệu ứng và sau cùng là sự điều hoà đáp ứng miễn dịch
2.2.1 Bước nhận diện kháng nguyên
- Khánáng nguyên giun sán có PAMPS (pathogen-assosociciated molecular patteternrns PAMPs) là các thành phần gluycolipid, protein, glycoprotein,…
Trang 13- Tế bào trình diện khánáng nguyêyên (antitigegen
presesentntining cell: APC) của giun sán thường là tế bào tua.
- Thụ thể nhận diện mẫu (PRR: patttterern recognititioion receceptptoror) là các Toll like
receptor (TLR) như TLR2 nhận diện các glycolipid, TLR4 nhận diện các protein, glycoprotein.
2.2.2 Bước hoạt hóa
Hoạt hoá tế bào trình diện kháng nguyên
Nhờ các thụ thể nhận diện mẫu (PRR), kháng nguyên giun sán được các tế bào trình diện kháng nguyên bắt giữ và đưa vào bên trong tế bào này Tại đây, qua quá trình xử lý, kháng nguyên được cắt thành những mảnh peptid và gắn vào MHC II để
đưa ra ngoài trình diện lympho Th.
Hoạt hoá tế bào lympho Th:
Lympho Th nhận diện được tế bào trình diện kháng nguyên nhờ CD 28, lympho Th gắn mảnh peptid từ tế bào trình diện kháng nguyên nhờ thụ thể TCR.Lúc này Th tăng sinh và hoạt hoá tiết các interleukin (IL) như IL3, IL4, IL5, IL6, IL9, IL13, gọi là đáp ứng Th2 và tạo các T nhớ giúp đáp ứng miễn dịch sẽ nhanh ở những lần sau.
Hoạt hoá tuỷ xương, tế bào lympho B:
Các interleukin tác động lên tuỷ xương để gia tăng sản xuất các tế bào như
tế bào mast do IL3, bạch cầu ái toan do IL5; các interleukin IL4, IL6, IL13 tác động lên tế bào B để tăng sinh và biệt hoá sản xuẩt kháng thể IgE Một số tế bào B sẽ thành B nhớ tạo kháng thể nhanh hơn ở những lần nhiễm sau.
2.2.3 Bước hiệu ứng
IgE sẽ đến gắn lên kháng nguyên giun sán tạo phức hợp kháng nguyên - kháng thể.
Trang 14IL 9 thu hút tế bào mast đến nơi có giun sán ký sinh và tiết ECF (Eosinophil chemotactic factor) hay những tế bào ở vùng nhiễm giun sán tiết eotaxin để thu hút bạch cầu ái toan đến và gắn vào phức hợp kháng nguyên – kháng thể tạo hiệu ứng ADCC (antibody-dependent cell- mediated cytotoxicity): độc tế bào phụ thuộc kháng thể) do bạch cầu ái toan tiết MBP (major basic protein), peroxidase làm tổn thương giun sán Ngoài ra IL4, IL13 kích thích các tế bào biểu mô ruột tăng tiết chất nhầy; chất tiết histamin từ tế bào mast kích thích ruột gia tăng nhu động đẩy giun sán ra ngoài.
2.2.4 Sự điều hòa đáp ứng miễn dịch
Một vấn đề nổi bật đối với bệnh giun sán mạn tính là làm thế nào vật chủ điều hoà đáp ứng miễn dịch của nó một cách thích hợp, có lẽ do nó sinh ra các cytokin Th2 như IL-4 và IL-10 đóng một vai trò quyết định trong việc gim mức độ trầm trọng của bệnh cấp tính và cho phép bệnh nhân sống sót Mặc dù, bằng chứng cho IL-13 đóng một vai trò then chốt trong việc hình thành tổ chức x suốt quá trình nhiễm S mansoni; sự vắng mặt IL-4 (một loại cytokin thường sinh ra cùng với IL-13 bởi tế bào Th2) thường biểu hiện tình trạng suy kiệt trước khi chuột chết Ngoài ra, sự vắng mặt IL-10 cũng làm bệnh nặng hơn Trong mô hình thử nghiệm này, những thay đổi bệnh lý xảy ra khi không có mặt IL-4 dường như có liên quan đến sự rối loạn điều hoà sự sinh NO và liên tục sản xuất ra lượng peroxynitrite cao trong suốt quá trình nhiễm gây huỷ hoại tổ chức Do vậy, đáp ứng Th2 có liên quan mật thiết đến miễn dịch bệnh lý trong quá trình nhiễm giun, cho phép chúng sống sót với những đợt nhiễm trùng liên tiếp, bảo vệ khỏi bội nhiễm.
Một khía cạnh khác của điều hoà miễn dịch khi nhiễm giun chỉ cũng như nhiễm sán máng là sự đáp ứng tế bào T được đánh dấu (marked T- cell response) sau đợt nhiễm trùng ban đầu ở phần lớn bệnh nhân và điều này làm giảm diễn tiến mãn tính Sự giảm đáp ứng này được xem là lợi điểm đối với vật chủ, khiến cho bệnh nhân thích nghi và
không biểu hiện triệu chứng nặng Chẳng hạn, tế bào đn nhân ở máu ngoại vi lấy từ các