HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần: Triết học Mác-Lênin Đ Ề TÀI 3 : Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ nguyên nhân - kết quả và vận dụng vào vấn đề ô nhiễm môi
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Triết học Mác-Lênin
Đ
Ề TÀI 3 : Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan
hệ nguyên nhân - kết quả và vận dụng vào vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay.
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Lan Anh
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Liên
Lớp : K24KTB-BN
Mã sinh viên : 24A4021179
Hà nội, ngày 03 tháng 12 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Phần mở đầu 3
Phần nội dung 4
Chương 1: Lý luận chung quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ nguyên nhân-kết quả 4
1.1 Khái niệm về nguyên nhân và kết quả 5
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 5
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận 5
Chương 2: Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ nguyên nhân và kết quả vào vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay 5
2.1 Hiện trạng môi trường, tình hình ô nhiễm 6
2.1.1 Hiện trạng ô nhiêm môi trường nước 6
2.1.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí 6
2.1.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất 6
2.1.4 Hiện trạng ô nhiễm phóng xạ 6
2.1.5 Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn 6
2.1.6 Hiện trạng ô nhiễm sóng âm 6
2.2 Nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm ở Việt Nam hiện nay 6
2.2.1 Nguyên nhân khách quan 7
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 8
2.3 Hậu quả của ô nhiễm môi trường 9
2.3.1 Ảnh hưởng đến con người 9
2.3.2 Ảnh hưởng đến động vật 9
2.3.4 Ảnh hưởng đến thực vật 9
2.3.4 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái khác 10
2.4 Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường 11,12 Kết luận 13
Tài liệu tham khảo……… 13
Trang 3Phần mở đầu
Triết học là 1 ngành khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với các ngành khoa học khác Trong nền kiến thức cơ bản của Triết học, cặp phạm trù nguyên nhân - Kết quả được xem là có mối quan hệ biện chứng mật thiết và đánh giá rành mạch được nguyên lý có trước, có sau của các vấn đề trong xã hội và trong cuộc sống Áp dụng triệt để kiến thức Triết học về cặp phạm trù Nguyên nhân - Kết quả cho vấn đề ô nhiễm môi trường của nước ta hiện nay
sẽ hỗ trợ phân tích , đánh giá chính xác và đầy đủ nguyên nhân gây gây lên ô nhiễm môi trường, từ đó đưa ra hướng khắc phục và phương pháp hạn chế để đem lại cho con người một môi trường mới trong sạch, lành mạnh hơn Trong bối cảnh toàn thế giới đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường trầm trọng ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Mọi vấn đề ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người và nền kinh tế nước nhà Trước tình hình đó, việc tập trung phân tích rõ nguyên nhân , thực trạng ô nhiễm môi trường và hướng giải quyết là việc cấp bách cần làm để góp phần
ổn định cuộc sống và nền kinh tế nước nhà Đáp ứng được các vấn đề đó,
trong bài tiểu luận triết học em xin chọn đề tài : “Quan điểm duy vật biện
chứng về mối quan hệ nguyên nhân - kết quả và vận dụng vào vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay” để phân tích và làm rõ hơn
Phần nội dung
Chương 1: Lý luận chung quan điểm duy vật biện chứng về nguyên nhân và kết quả
1.1.Khái niệm
1.1.1 Khái niệm về nguyên nhân
Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hay giữa các sư vật, hiện tượng với nhau tạo ra một sự biến đổi nhất định
Trang 41.1.2 Khái niệm về kết quả
Kết quả là phạm trù để chỉ những biến đổi xã hội do những tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng tạo nên 1.2 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
Một là, nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn có trước kết quả, tuy nhiên cần phân biệt mối quan hệ nhân-quả với mối liên hệ trước sau
về mặt thời gian
Hai là, nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp: một nguyên nhân có thể dẫn tới nhiều kết quả, một kết quả cũng có thể do nhiều nguyên nhân
Ví dụ: sức khoẻ con người có được do những yếu tố: ăn, uống, kết hợp làm việc, học tập, nghỉ ngơi hợp lý…
Có nhiều loại nguyên nhân: chủ yếu và thứ yếu; bên trong và bên ngoài; khách quan và chủ quan Mỗi loại nguyên nhân đều có vai trò và tính chất khác nhau trong việc tạo ra kết quả
Ba là, khi xuất hiện kết quả có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Bốn là, nguyên nhâ và kết quả có thể chuyển hoá cho nhau, đến lượt mình kết quả lại trở lại thành nguyên nhân cho kết quả tiếp theo (chuỗi quan hệ nhân quả)
1.3.Ý nghĩa phương pháp luận
1.3.1 Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải bắt đầu từ việc
đi tìm những nguyên nhân xuất hiện sự vật, hiện tượng
1.3.2 Cần phải phân loại các nguyên nhân để có những biện pháp giải quyết đúng đắn
1.3.3 Phải tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy
nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích đã đề ra
Chương 2 Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ nguyên nhân-kết quả vào vấn đề ô nhiễm môi trường.
Trang 52.1 Hiện trạng môi trường, tình hình ô nhiễm
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trên các mặt báo và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân Trong đó, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn Thông qua các phương tiện truyền thông, chúng ta có thể dễ dàng thấy được các hình ảnh, cũng như các bài báo phản ánh về thực trạng môi trường hiện nay Mặc dù các ban ngành, đoàn thể ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, nhưng có vẻ là chưa đủ để cải thiện tình trạng ô nhiễm ngày càng trở nên trầm trọng hơn
Các dạng ô nhiễm chính :
2.1.1 Ô nhiễm không khí : việc xả khói chứa bụi và các chất hóa học vào bầu không khí Ví dụ về các khí độc là cacbon monoxit , điôxít lưu huỳnh và ôxít nitơ là chất thải của công nghiệp và xe cộ Ôzôn quang hóa và khỏi lẫn sương ( smog ) được tạo ra khi các ôxít nitơ phản ứng với nước trong không khí ( chính là sương ) xúc tác là ánh sáng mặt trời
2.1.2 Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt , nước rác công nghiệp , các chất ô nhiễm trên mặt đất , rồi thẩm xuống nước ngầm
2.1.3.Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại ( hàm lượng vượt quá giới hạn thông thường do các hoạt động chủ động của con người như khai thác khoáng sản , sản xuất công nghiệp , sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều , hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm
2.1.4 Ô nhiễm phóng xạ
2.1.5 Ô nhiễm tiếng ồn , bao gồm tiếng ồn do xe cộ , máy bay , tiếng
ồn công nghiệp
2.1.5 Ô nhiễm sóng , do các loại sóng như sóng điện thoại , truyền hình tồn tại với mật độ lớn
2.2 Nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường
Trang 62.2.1 Nguyên nhân khách quan
Do phương thức sản xuất:
Sự chưa hoàn thiện về kĩ thuật công nghệ của nền sản xuất xã hội Sự chưa hoàn thiện của kĩ thuật và công nghệ của nền sản xuất xã hội dưới nền văn minh nông nghiệp và công nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nên
và thúc đẩy ônhiễm môi trường
Để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người, nền sản xuất xã hộiđã phải sử dụng một khối lượng tài nguyên thiên nhiên rất lớn và ngày càng nhiều hơn.Trong điều kiện nền kĩ thuật và công nghệ chưa hoàn thiện và còn nhiều hạn chế, xã hội buộc phải sử dụng phương thức khai thác tài nguyên thiên nhiên theo bề rộng, nghĩa là đối với một loại tài nguyên nào đó chỉ dùng một vài tính năng chủ yếu, rồi thải bỏ, chẳng hạn như than đá, dầu mỏ chỉ dùng làm nhiên liệu Chính vì điều đó mà tài nguyên thiên nhiên càng được khai thác nhiều thì các chất thải bỏ độc hại ra môi trường ngày càng lớn Hậu quả tất yếu của phương thức sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên theo bề rộng là tài nguyên ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng ô nhiễm nặng nề hơn
Do dân số
Hiện tượng bùng nổ dân số
Các tác động tiêu cực của tình trạng gia tăng dân số hiện nay trên thế giới nói chung và sự bùng nổ dân số ở một số quốc gia và khu vực nói riêng biểu hiện
ở các khía cạnh:
Sức ép lớn tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu nhà ở, sản xuất lương thực, thực phẩm,sản xuất công nghiệp
Tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp
Trang 7Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn – siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân
cư, kéo theo ô nhiễm môi trường không khí, nước tăng lên
Ngoài ra việc thải các chất thải công nghiệp cùng chất thải sinh hoạt đã ảnh hưởng xấu đến môi trường cũng đồng nghĩa với việc hủy hoại chính cuộc sống của chúng ta
Do hoàn cảnh địa lí
Chiến tranh, Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, tổng cộng đế quốc Mĩ đã rải 72 triệu lít chất diệt cỏ trong đó có 44 triệu lít chất độc màu da cam lên 1,7 triệu ha đất trồng và rừng ở miềnnam Việt Nam Hậu quả để lại cho con người cũng như môi trường sống cho đến nay vẫn chưa tình toán được hết vì sự tàn phá khủng khiếp của nó Ngay khi bị rải thuôc diệt cỏ lầnthứ nhất, 30% cây rừng bị chết ngay sau đó Cây rừng bị trụi lá, nước bị ô nhiễm, động vậtchết
vì nhiễm độc, nhiều thảm rừng đến nay vấn không có loại cây nào có thể mọc được …minh chứng tiêu biểu cho sức tàn phá của chiến tranh lên môi trường
tự nhiên
Do thiết chế xã hội
Như đã biết, chúng ta đã ban hành ra các biện pháp làm giảm lượng rác thải cũng như bảo vệ nguồn nước nhưng các cơ quan, chính phủ gần như vẫn chưa thực hiện một cách triệt để và vấn đề môi trường vẫn là bài toán khó đối với các nước trên thề giới, đặc biệt là các nước phát triển và đang phát triển như nườc ta hiện nay
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Do ý thức của chính con người và xã hội
Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu Ở các quốc gia tiên tiến , vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quan tâm thường xuyên nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa Người dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp
Trang 8Đáng buồn thay nước ta có một hiện tượng phổ biến là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng , không giữ gìn vệ sinh đường phố Việc làm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường Hiện tượng không giữ gìn vệ sinh đường phố có rất nhiều biểu hiện nhưng phổ biến nhất là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng Ăn xong một que lem hay một chiếc kẹo , người ta vứt que, vứt giấy xuống đất Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối, vứt lon, vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi mặc dù thùng rác để cách đó rất gần Tuy vậy , họ vẫn thản nhiên , vô tư không có gì áy náy
2.3 Hậu quả của ô nhiễm môi trường
2.3.1 Ảnh hưởng đến con người
Ảnh hưởng từ ô nhiễm môi trường đối với con người chủ yếu là về sức khoẻ Được biết đến ảnh hưởng nhiều nhất với chúng ta là đường hô hấp, dị ứng, hen suyễn,kích ứng mắt và mũi hoặc các dạng nhiễm trùng đường hô hấp khác
2.3.2 Ảnh hưởng đến động vật
Ô nhiễm môi trường chủ yếu ảnh hưởng đến động vật bằng cách gây hại đến cho môi trường sống của chúng, gây độc hại cho chúng Mưa axit có thể làm thay đổi thành phần của sông và biển gây độc cho cá; một lượng ozone thiết yêu trong các thành phần thấp hơn của khí quyển có thể gây ra các vấn đề về phổi cho tất cả các loài động vật, kể cả con người
Nito và phốt phát trong nước sẽ gây ra sự phát triển của tảo độc, ngăn cản các dạng sống khác diễn ra theo quy trình bình thường của chúng Và ô nhiễm đất
có thể phá huỷ các vi sinh vật giết chết các lớp đầu tiên của chuỗi thức ăn chính
2.3.3 Ảnh hưởng đến thực vật
Đặc biệt là cây cối, có thể bị phá huỷ bởi mưa axit( môi trường tự nhiên thay đổi), ôzon trong tầng khí quyển thấp hơn sẽ ngăn chặn quá trình hô hấp của thực và các chất ô nhiễm có hại có thể được hấp thụ từ nước hoặc đất
Trang 92.3.4 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái
Có thể thấy ô nhiễm môi trường có thể gây ra tình trạng mất cân bằng sinh thái
2.4 Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường
Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó những chế tài xử phạt (cưỡng chế hành chính và xử lí hình sự) phải thực sự đủ mạnh để đủ sức răn đe các đối tượng vi phạm Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống xử lý môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp và thân thiện hơn với con người
Hai là, tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát
về môi trường (thường xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các
cơ quan chuyên môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lí kịp thời, triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân Đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường; trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại
để phục vụ có hiệu quả hoạt động của các lực lượng này
Ba là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề, các đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng, toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp; tránh tình trạng quy hoạch tràn lan, thiếu đồng bộ, chồng chéo như ở nhiều địa phương thời gian vừa qua, gây khó khăn cho công tác quản lí nói chung, quản lí môi trường nói riêng Đối với các khu công nghiệp, cần có quy định bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu gom, xử
lí nước thải , phân tích môi trường tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lí nước thải, rác thải tại đó
Trang 10Bốn là, chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư Việc quyết định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài Thực hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, các dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi tổ chức và công dân có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của những quy hoạch
và dự án đó
Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội
Sáu là,sử dụng các chất liệu từ thiên nhiên
Nếu tất cả chúng ta sử dụng năng lượng, vận chuyển các dịch vụ khác nhau cẩn thận hơn, chúng có thể giảm lượng khí thải độc hại cho không khí, đất và nước Bằng các lập kế hoạch bảo vệ môi trường, chúng ta có thể tạo nên sự khác biệt và giúp môi trường xanh, sạch, đẹp hơn
Thuốc bảo vệ thực vật như các loại thuốc trừ sâu,…hay các loại hóa chất sử dụng trong vệ sinh hàng ngày là một trong những nguyên nhân gây ra các căn bệnh như ung thư Parkinson và các bệnh liên quan đến não Vì vậy, nên sử dụng các loại dụng cụ, chất liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên để bảo vệ sức khỏe và bảo vệ môi trường
Bảy là,sử dụng năng lượng sạch
Chúng ta nên và cần thay đổi thói quen về việc sử dụng các nguồn năng lượng
có thể tái tạo Bất cứ khi nào con người cũng có thể sử dụng các năng lượng
từ gió, ánh nắng mặt trời…