1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LV ths luật học thực trạng thi hành luật an toàn thực phẩm 2010 những bất cập và hướng hoàn thiện

82 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Thi Hành Luật An Toàn Thực Phẩm Năm 2010 Và Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật
Thể loại thesis
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 505,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài An toàn thực phẩm là vấn đề có thể tác động trực tiếp thường xuyên hàng ngày đến sức khỏe của mỗi người dân, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội, ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập quốc tế và về lâu dài còn ảnh hưởng đến phát triển nòi giống dân tộc 14. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày 242015, mỗi năm trên thế giới có 582 triệu ca mắc phải một trong 22 căn bệnh truyền qua thực phẩm, 351.000 người chết có liên quan đến an toàn thực phẩm. Có thể thấy an toàn thực phẩm là mối quan tâm chung của thế giới. Công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và toàn thể xã hội rất quan tâm và đã có nhiều tiến bộ trong những năm qua. Để thực hiện điều đó có thể bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng một trong giải pháp mũi nhọn, lâu dài là xây dựng và hoàn thiện được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm. Hệ thống pháp lật về an toàn thực phẩm đã được ban hành khá đồng bộ. Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội thông qua ngày 1762010, có hiệu lực từ 172011. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 382012NĐCP ngày 2542012 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm và mới đây thay thế cho Nghị định này là Nghị định số 152018NĐCP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm có hiệu lực từ ngày 222018, Nghị định số 1782013NĐCP ngày 14112013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Và mới nhất là Luật số 282018QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 sửa đổi bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch trong đó có sửa đổi bổ sung một số điều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, có hiệu lực từ 112019. Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương cũng đã ban hành gần 70 văn bản quy phạm pháp luật đã ghi nhận tương đối toàn diện về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm. Tạo được nền tảng pháp lý nên bên cạnh giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật công tác phối hợp liên ngành được tăng cường và ngày càng có hiệu quả; công tác giáo dục truyền thông được đẩy mạnh, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và người tiêu dùng, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm vẫn còn nhiều bất cập như là khả năng áp dụng pháp luật còn nhiều hạn chế, nội dung điều chỉnh còn mang tính nguyên tắc, khó áp dụng. Hơn nữa việc đưa các chế tài mạnh mẽ để xử lý các hành vi vi phạm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn chưa được chú trọng làm cho pháp luật mất tính giáo dục, răn đe. Nhiều hành vi đã xác định rõ chế tài xử lý nhưng mức phạt quá nhẹ khiến cho nhiều cơ sở kinh doanh sẵn sàng nộp phạt để rồi tiếp tục tái phạm. Hay có thể dễ dàng nhận thấy công tác quản lý chưa kiểm soát và ngăn chặn triệt để tình trạng một số nơi rau quả bị ô nhiễm hóa chất độc hại; thịt gia súc, gia cầm, thủy sản của một số cơ sở sản xuất còn dư lượng kháng sinh, hoóc môn; việc sử dụng các hóa chất, phụ gia không đúng quy định trong chế biến, bảo quản thực phẩm; việc kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống tại các chợ, đường phố, khu du lịch, lễ hội, trường học, bệnh viện chưa được quản lý tốt, ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể, các khu công nghiệp vẫn xảy ra làm ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân dân và ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, du lịch, văn minh đô thị. Tình trạng hàng thực phẩm giả, kém chất lượng, hàng thực phẩm nhập lậu qua biên giới chưa được kiểm soát chặt chẽ; các vi phạm pháp luật chưa được xử lý kịp thời, nghiêm minh. Nguyên nhân của tình trạng trên một phần là do nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cơ quan, chính quyền, người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng chưa cao; các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi và chế biến thực phẩm chủ yếu vẫn ở trình độ thấp; hệ thống tổ chức, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm ở Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh, năng lực quản lý còn hạn chế, đặc biệt là chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo thực hiện công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm ở địa phương. Một phần là do tính khả thi cũng như tính ổn định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 còn chưa cao, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng, cho đến nay Luật mới được sửa đổi bổ sung một số điều, tuy nhiên việc sửa đổi là chưa đáp ứng được đòi hỏi này (sửa đổi bổ sung 07 điều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010). Việc ban hành các văn bản dưới luật của các cơ quan quản lý còn chậm trễ, số lượng văn bản rất lớn, trong khi nguồn lực để rà soát hệ thống pháp luật hiện hành còn hạn chế nên tính thống nhất trong một số quy định của pháp luật còn chưa đảm bảo, dẫn đến việc thi hành Luật còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì những lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài Thực trạng thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010 những bất cập và hướng hoàn thiện là một vấn đề cấp bách, mang nhiều ý nghĩa cả về lý luận cũng như trên thực tiễn.

Trang 1

2.2 Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm và một số quy định

đặc thù liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm 172.3 Kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm,

phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm 202.4 Thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm 21

Chương 3: THỰC TRẠNG THI HÀNH LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

NĂM 2010 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP

3.1 Thực trạng thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 tại Việt

Nam hiện nay

3.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 57

PHỤ LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

An toàn thực phẩm là vấn đề có thể tác động trực tiếp thường xuyên hàngngày đến sức khỏe của mỗi người dân, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thươngmại, du lịch và an sinh xã hội, ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập quốc tế và về lâudài còn ảnh hưởng đến phát triển nòi giống dân tộc [14] Theo số liệu của Tổchức Y tế thế giới (WHO) ngày 2/4/2015, mỗi năm trên thế giới có 582 triệu ca mắcphải một trong 22 căn bệnh truyền qua thực phẩm, 351.000 người chết có liên quanđến an toàn thực phẩm Có thể thấy an toàn thực phẩm là mối quan tâm chung củathế giới

Công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm đượcĐảng, Quốc hội, Chính phủ và toàn thể xã hội rất quan tâm và đã có nhiều tiến bộtrong những năm qua Để thực hiện điều đó có thể bằng nhiều hình thức khác nhaunhưng một trong giải pháp mũi nhọn, lâu dài là xây dựng và hoàn thiện được hệthống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm Hệ thốngpháp lật về an toàn thực phẩm đã được ban hành khá đồng bộ Luật An toàn thựcphẩm được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực từ 1/7/2011 Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thihành một số điều của Luật An toàn thực phẩm và mới đây thay thế cho Nghị địnhnày là Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

an toàn thực phẩm có hiệu lực từ ngày 2/2/2018, Nghị định số 178/2013/NĐ-CPngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm Vàmới nhất là Luật số 28/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 sửa đổi bổ sung một

số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch trong đó có sửa đổi bổ sung một sốđiều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, có hiệu lực từ 1/1/2019

Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương cũng

đã ban hành gần 70 văn bản quy phạm pháp luật đã ghi nhận tương đối toàn diện về

Trang 4

quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm Tạo đượcnền tảng pháp lý nên bên cạnh giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật công tácphối hợp liên ngành được tăng cường và ngày càng có hiệu quả; công tác giáo dụctruyền thông được đẩy mạnh, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nâng caotrách nhiệm của lãnh đạo các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và người tiêu dùng,góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề vệ sinh an toàn thựcphẩm an toàn thực phẩm vẫn còn nhiều bất cập như là khả năng áp dụng pháp luậtcòn nhiều hạn chế, nội dung điều chỉnh còn mang tính nguyên tắc, khó áp dụng.Hơn nữa việc đưa các chế tài mạnh mẽ để xử lý các hành vi vi phạm của mọi tổchức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn chưa được chú trọng làm chopháp luật mất tính giáo dục, răn đe Nhiều hành vi đã xác định rõ chế tài xử lýnhưng mức phạt quá nhẹ khiến cho nhiều cơ sở kinh doanh sẵn sàng nộp phạt để rồitiếp tục tái phạm Hay có thể dễ dàng nhận thấy công tác quản lý chưa kiểm soát vàngăn chặn triệt để tình trạng một số nơi rau quả bị ô nhiễm hóa chất độc hại; thịt giasúc, gia cầm, thủy sản của một số cơ sở sản xuất còn dư lượng kháng sinh, hoócmôn; việc sử dụng các hóa chất, phụ gia không đúng quy định trong chế biến, bảoquản thực phẩm; việc kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống tại các chợ, đườngphố, khu du lịch, lễ hội, trường học, bệnh viện chưa được quản lý tốt, ngộ độc thựcphẩm tại các bếp ăn tập thể, các khu công nghiệp vẫn xảy ra làm ảnh hưởng tới sứckhỏe của nhân dân và ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, du lịch, văn minh đô thị.Tình trạng hàng thực phẩm giả, kém chất lượng, hàng thực phẩm nhập lậu qua biêngiới chưa được kiểm soát chặt chẽ; các vi phạm pháp luật chưa được xử lý kịp thời,nghiêm minh

Nguyên nhân của tình trạng trên một phần là do nhận thức và ý thức tráchnhiệm của các cơ quan, chính quyền, người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùngchưa cao; các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi và chế biến thực phẩm chủ yếu vẫn ở trình

độ thấp; hệ thống tổ chức, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm ở

Trang 5

Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh, năng lực quản lý còn hạn chế, đặc biệt là chínhquyền các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo thực hiện công tác quản lý

vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm ở địa phương Một phần là do tínhkhả thi cũng như tính ổn định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 còn chưa cao,cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng, cho đến nay Luật mớiđược sửa đổi bổ sung một số điều, tuy nhiên việc sửa đổi là chưa đáp ứng được đòihỏi này (sửa đổi bổ sung 07 điều của Luật An toàn thực phẩm năm 2010) Việc banhành các văn bản dưới luật của các cơ quan quản lý còn chậm trễ, số lượng văn bảnrất lớn, trong khi nguồn lực để rà soát hệ thống pháp luật hiện hành còn hạn chế nêntính thống nhất trong một số quy định của pháp luật còn chưa đảm bảo, dẫn đếnviệc thi hành Luật còn gặp rất nhiều khó khăn

Vì những lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài "Thực trạng thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010 - những bất cập và hướng hoàn thiện" là một vấn đề cấp bách,

mang nhiều ý nghĩa cả về lý luận cũng như trên thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho tới thời điểm này, an toàn thực phẩm mặc dù là một trong những vấn

đề quan trọng đối với đời sống như vậy, nhưng vẫn còn rất ít các công trình nghiêncứu Vấn đề này chủ yếu mới chỉ được đề cập đến như một phần nhỏ trong các bàiviết, khóa luận, luận văn Tập trung chủ yếu là nhóm các bài viết còn các nghiêncứu khoa học khác cũng rất ít đề cập đến việc nghiên cứu về pháp luật an toàn thựcphẩm đặc biệt là luật an toàn thực phẩm với tư cách một công trình riêng biệt

Liên quan đến đề tài, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:

- Nhóm công trình luận văn, luận án

Luận văn thạc sĩ luật học: "Thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm ở cấp phường trên địa bàn thành phố Hà Nội", của Trần Mai Vân, năm 2013; Luận văn thạc sĩ luật học: "Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn

Hà Nội", của Lê Thị Linh, năm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học: "Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý

Trang 6

luận và thực tiễn", của Hoàng Trí Ngọc, năm 2009; Luận văn thạc sĩ luật học: "Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm", của Nguyễn Ngân Giang, năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học: "Pháp luật về kiểm soát

vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam", của Đặng Công Hiến, năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học: "Trách nhiệm doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn - vệ sinh thực phẩm theo pháp luật Việt Nam", của Võ Thị Trâm Anh,

năm 2017

- Nhóm công trình sách, bài viết, tài liệu tham khảo

Sách chuyên khảo: "Vệ sinh và an toàn thực phẩm" của Đàm Sao Mai, Trần

Thị Mai Anh, Vũ Chí Hải, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010; Sách:

"Vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm đối với đời sống văn hóa - sức khỏe"

của Trần Ngọc Trinh, Nguyễn Thị Thu Cúc, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, năm

2003 ; Sách: "Những điều cần biết về vệ sinh an toàn thực phẩm", của Hà Thị Anh Đào, Phan Thị Kim, Nhà xuất bản Y học, năm 1999; Sách: "Vệ sinh an toàn thực phẩm", của Nguyễn Văn Huân, Nhà xuất bản Thanh Niên, năm 2009; Bài viết: "Ăn ruốc hay ăn thuốc độc?" Báo Phụ nữ Thủ đô, trang 14, năm 2013; Bài viết: "Những vấn đề cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm đối với sức khỏe của con người hệ thống quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về phụ gia thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm", của Quí Long, Kim Thư, trang 56-59, Nhà xuất bản Lao

động xã hội, năm 2010

Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập và phân tích ở các cấp độ khácnhau về những vấn đề lý luận, hệ thống hóa quy định của pháp luật Việt Nam hiệnhành về vấn đề an toàn thực phẩm Tổng hợp số liệu thống kê thực tiễn để từ đó đưa

ra những bất cập cùng những giải pháp kiến nghị đề xuất hoàn thiện Một số côngtrình cũng đưa ra các quan điểm về các giải pháp khác tăng cường công tác quản lýcũng như bảo đảm an toàn thực phẩm Luận văn sẽ tiếp thu có chọn lọc các kết quảnghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học nói trên làm nền tảng lí luậncho đề tài

Trang 7

Tuy nhiên, từ thời điểm Luật An toàn thực phẩm năm 2010 có hiệu lựcphần lớn các nghiên cứu kể trên nghiên cứu vấn đề an toàn thực phẩm đặt trongmột lĩnh vực hay địa bàn nhất định, chưa có công trình thể hiện nghiên cứu toàndiện về thực thi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 Do đó, trên cơ sở các nghiêncứu này, tác giả tiếp tục phân tích sâu, đưa ra những bình luận, nhận định khoahọc và kiến nghị, giải pháp riêng của mình để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về antoàn thực phẩm.

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về việcthi hành Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đánh giá thực trạng của quá trình thihành pháp luật an toàn thực phẩm, qua đó tìm ra những điểm còn bất cập vướngmắc để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao bảo đảm

an toàn thực phẩm

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về vệ sinh an toàn thực phẩm;

- Phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về vệ sinh

an toàn thực phẩm;

- Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện phápluật vệ sinh an toàn luật an toàn thực phẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định

của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: trong khả năng của tác giả và trong khuôn khổ của

một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số nộidung các quy định cơ bản của Luật An toàn thực phẩm năm 2010; những vấn đề khi

áp dụng Luật An toàn thực phẩm năm 2010 bao gồm cả các văn bản hướng dẫn thihành, để từ đó tìm ra những điểm còn bất cập, chồng chéo và đưa ra kiến nghị hoànthiện pháp luật

Trang 8

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lốicủa Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề an toàn thực phẩm

Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: sửdụng kết hợp các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, nghiên cứu tài liệu,nghiên cứu bản án, phương pháp suy luận logic, phương pháp quy nạp diễn dịch vàphương pháp phỏng vấn các chuyên gia để có được những quan điểm của họ về vấn

đề tác giả quan tâm… tất cả các phương đều được sử dụng kết hợp nhằm làm sáng

- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về an toàn thực phẩm;

- Luận văn làm rõ nội dung cơ bản cũng như các bất cập trong quy địnhpháp luật Việt Nam hiện nay về an toàn thực phẩm;

- Luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiệnpháp luật Việt Nam liên quan đến an toàn thực phẩm

Ý nghĩa thực tiễn:

- Với kết quả phân tích, đánh giá quy định của pháp luật an toàn thực phẩm

và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay, luận văn góp phần hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam liên quan đến an toàn thực phẩm

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chuyên gia, sinhviên, học viên cao học tại các Trường Đại học và những người quan tâm nghiên cứu

về pháp luật an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về an toàn thực phẩm.

Chương 2: Những nội dung cơ bản của Luật An toàn thực phẩm năm 2010 Chương 3: Thực trạng thi hành Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và một

số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM

1.1 Thực phẩm và an toàn thực phẩm

Từ khi con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất đã cần đến thực phẩm đểduy trì sự sống Thực phẩm là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với mỗicon người mỗi ngày Theo quy định tại khoản 20 Điều 2 Luật an toàn thực phẩm

năm 2010 thì thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc

đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá

và các chất sử dụng như dược phẩm.

An toàn thực phẩm hay vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm hiểutheo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến bảo quản vàlưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, chống bệnh tật do thựcphẩm gây ra An toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trongkhâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sứckhỏe An toàn thực phẩm luôn là vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên toàncầu bởi vai trò quan trọng bậc nhất đó chính là sức khỏe, tính mạng con người, sựtồn tại và phát triền giống nòi Trước đây, theo Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm

an toàn thực phẩm số 12/2003/PL-QBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vệsinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm được hiểu là việc phải thực hiện các điềukiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm cho thực phẩm không gây hại đến sức khỏe vàtính mạng con người Tuy nhiên đề phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế sau khi ViệtNam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 1/1/2007, kháiniệm này đã được đơn giản hóa, ngắn gọn và phù hợp hơn được thể hiện trong Luật

an toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2011, theo đó an toàn thực phẩm

là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người

Có thể hiểu một cách đơn giản an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đềcần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh, an toàn đối với thực phẩm nhằm bảo

Trang 11

vệ cho sức khỏe của người tiêu dùng Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu hằng ngàycủa con người, cung cấp cho con người nguồn dinh dưỡng, năng lượng để duy trì sựsống và phát triển Tuy nhiên khi bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc an toàn thực phẩmchưa tốt thì thực phẩm lại là nguồn bệnh nguy hiểm gây ảnh hưởng trực tiếp vànghiêm trọng đến sự phát triển của con người và xã hội Như vậy vệ sinh an toànthực phẩm, an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất,chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thựcphẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng.

1.2 Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm

Nhà nước Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật xã hội chủnghĩa là công cụ chuyên chính giai cấp, là phương tiện để bảo vệ lợi ích cho giaicấp công nhân và nhân dân lao động, thực hiện những mục đích mà nhà nước vànhân dân đề ra; mặt khác pháp luật là công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hộimang tính quy phạm và tính bắt buộc chung để tổ chức quản lý các mặt khác nhaucủa đời sống xã hội vì sự tồn tại và phát triển của mỗi con người và của cả xã hộipháp luật còn là công cụ để bảo vệ công lý và công bằng xã hội Pháp luật là côngcụ để nhà nước quản lý hiệu quả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, làphương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của nhà nước làmcho đường lối đó có hiệu lực thi hành và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội;

là công cụ để cho nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, các cơquan, các nhân viên nhà nước và mọi công dân; là công cụ để bảo vệ lợi ích củanhà nước, của xã hội, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của các cá nhân, tàisản, danh dự, uy tín của các tổ chức Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý, khung pháp lýcho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Pháp luật cũng là phương tiện đểnhà nước kiểm tra tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo chỉ đạo của mình đốivới xã hội

Mặt khác, bắt nguồn từ nguồn gốc và vai trò của thực phẩm đối với conngười như vậy nên công tác quản lý chất lượng an toàn thực phẩm có vị trí rất quan

Trang 12

trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống kinh tế có phần được nângcao, cải thiện hơn Vấn đề an toàn thực phẩm là một vấn đề rất nóng, bao gồm là tấtcả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối,vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn,không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Vì vậy, vệ sinh an toànthực phẩm an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành,nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thựcphẩm, y tế, người tiêu dùng.

Tuy vậy, nhưng ở Việt Nam vấn đề an toàn thực phẩm vẫn đang diễn biếnhết sức phức tạp Thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin vềcác vụ ngộ độc, có nơi số lượng lên tới vài trăm người Theo thống kê của Bộ Y tếtrong những năm gần đây, hàng năm có khoảng 200-600 vụ ngộ độc thức ăn,khoảng 5.000-7.000 người mắc bệnh Trong đó có vài chục người chết Khoảng20-30% là ngộ độc do hóa chất (chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, khoảng 50% là do

vi sinh vật, 14-20% do thức ăn có độc [38] Trong khi đó các vấn đề liên quan trựctiếp đến sức khỏe, chất lượng an toàn thực phẩm là mối quan tâm hàng đầu củangười tiêu dùng Như vậy có thể thấy vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay ở nước tacòn nhiều tồn tại Các vụ ngộ độc thực phẩm vẫn thường xuyên xảy ra ở các thànhphố cũng như ở nông thôn và co chiều hướng gia tăng sau sau cao hơn năm trước.Nguồn gốc nguyên nhân gây ra ngộ độc là do môi trường sản xuất nông nghiệp gồmđất, nước tưới tiêu không đảm bảo; kỹ thuật canh tác trong trồng trọt và chăn nuôicòn nhiều bất cập như lạm dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc khángsinh, công nghệ sau thu hoạch như hóa chất sử dụng trong bảo quản, kỹ thuật bảoquản cũng như thiết bị bảo quản, việc chế biến thực phẩm chưa tuân thủ các quyđịnh Đối với bất kì loại thực phẩm nào khi đưa ra thị trường cần được xác định rõ

về xuất xứ, ghi rõ những hàm lượng, chất lượng và chỉ dẫn rõ ràng để tiện dụng chongười tiêu dùng Việc quảng cáo những thực phẩm cũng chưa được quản lý mộtcách chặt chẽ dẫn đến nguy cơ gặp nhiều vấn đề sức khỏe trong tương lai

Trang 13

Như vậy có thể thấy, an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung đang tạonhiều lo lắng cho người dân Trong khi chúng ta đang cố gắng tạo ra những ưu thế

về nhiều mặt để có nhiều lợi thế nhất để trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng.Vấn đề then chốt là làm thế nào để tạo được được hành lang pháp lý, xây được hệthống quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề an toàn thực phẩm tạo một sân chơibình đẳng, công bằng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đồngthời tạo ra được những quy trình chuẩn mực về an toàn thực phẩm cũng như xử lý

vi phạm về an toàn thực phẩm Có như vậy mới đáp ứng được vừa đòi hỏi quyềnđược sử dụng được hưởng an toàn thực phẩm của người dân, vừa đáp ứng được việcchuẩn hóa quy định pháp luật cho tiến trình hội nhập quốc tế

1.3 Khái niệm thi hành pháp luật và thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010

Có lẽ chưa bao giờ vấn đề an toàn thực phẩm lại được quan tâm đặc biệtnhư trong thời gian gần đây Trên các mặt báo, các phương tiện thông tin đại chúngliên tục đưa tin về các hiện tượng vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm Hệthống các văn bản pháp luật như: Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội nước ViệtNam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thihành từ ngày 01/7/2011; Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Nghị định91/2012/NĐ CP của Chính phủ ngày 08/11/2012 quy định xử phạt hành chính về antoàn thực phẩm, hay mới đây nhất là Nghị định số 15/2018/NĐ-CP đã tạo mộthành lang pháp lý cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm Tuy nhiên, việc đưacác văn bản này vào cuộc sống lại là một bài toán khó vì đây là việc mà các cấp, cácngành và mọi tổ chức cá nhân phải thực hiện tốt việc thi hành pháp luật

Thi hành pháp luật là một trong bốn hình thức của thực hiện pháp luật(Thực hiện pháp luật bao gồm: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng phápluật và áp dụng pháp luật), theo đó thi hành pháp luật về an toàn thlụa phẩm là việc

Trang 14

các chủ thể pháp luật về an toàn thực phẩm phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý củamình bằng hành động tích cực và chủ động

Các vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khoẻ, chất lượng an toàn thực phẩmluôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà chức trách và người tiêu dùng Bên cạnh

đó, tại các đô thị lớn với phần đông người tiêu dùng đang phải đối mặt với vô sốkhó khăn trước những thách thức của xã hội Một trong những khó khăn đó lànguồn cung cấp thực phẩm Các yếu tố: An toàn, cân bằng dinh dưỡng, hợp khẩu vị,thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu và phong cách sống của người thụau dùng đượcđặt ra những thách thức cho các nhà quản lý và cả chính người tiêu dùng

Trước tình hình này, hơn ai hết các cấp chính quyền ở địa phương là nơigần dân nhất cần phải có những động thái tích cực trong việc thi hành pháp luật về

an toàn thực phẩm Cần nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhândân các cấp, đặc biệt là ở cấp xã, phường, cụ thể:

+ Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình với Hội đồng nhân dân cùng cấp,

Ủy ban nhân dân cấp trên ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuậtđịa phương Xây dựng và tổ chức thực hthụa quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thựcphẩm an toàn để bảo đảm việc quản lý được thực hiện trong toàn bộ chuỗi cung cấpthực phẩm Chính quyền cơ sở phải là người chủ trì trong các hoạt động nâng caochất lượng an toàn thực phẩm gắn với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

+ Nâng cao trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn thông quacông tác quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất,kinh doanh thực phẩm, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố, antoàn thực phẩm tại các chợ, đặc biệt là các chợ cóc, chợ tạm trên địa bàn

+ Báo cáo với cơ quan cấp trên định kỳ và đột xuất về công tác quản lý antoàn thực phẩm trên địa bàn để có hướng chỉ đạo giải quyết tích cực nhằm đảm bảodân sinh

+ Bố trí nguồn lực, nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác bảo đảm antoàn thực phẩm trên địa bàn

Trang 15

+ Huy động sự quan tâm, phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể trongcác biện pháp giáo dục, tuyên truyền về an toàn thực phẩm nhằm nâng cao về nhậnthức và thực hành của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm Các trạm

Y tế phải thể hiện vai trò tham mưu tích cực

+ Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất Xửphạt các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm theo đúng quy định củapháp luật

Để làm tốt công tác quản lý về an toàn thực phẩm tại địa phương vấn đềthen chốt là làm thế nào để đưa các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩmgắn kết với đời sống, phù hợp với điều kiện thực tế để từng bước nâng cao chấtlượng thực phẩm, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, đóng góp tích cực vào pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước

Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm để thực hiện tốt cần những nỗ lực rấtlớn của Chính phủ, các bộ ngành và của toàn xã hội Việc đưa Luật An toàn thựcphẩm vào cuộc sống có ý nghĩa quyết định với kết quả của công tác này Để phùhợp với xu hướng quốc tế khi tham gia vào WTO một số khái niệm về an toàn thựcphẩm đã thay đổi được quy định cụ thể tại Điều 2 Luật An toàn thực phẩm số55/2010/QH12

Các khái niệm này đã thể hiện sự khác biệt với Pháp lệnh vệ sinh an toànthực phẩm năm 2003 được thể hiện rõ nét hơn, chi tiết hơn, là công cụ để góp phầnbảo vệ tốt hơn sức khỏe, tính mạng của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế- xãhội của đất nước

Trang 16

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM NĂM 2010

2.1 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm

Tại Điều 3 của Luật an toàn thực phẩm năm 2010 quy định:

1 Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sảnxuất kinh doanh thực phẩm

2 Sản xuất kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện về tổ chức, cánhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thựcphẩm do mình sản xuất, kinh doanh

3 Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kĩ thuật tương ứng,quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cánhân sán xuất công bố áp dụng

4 Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sảnxuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm

5 Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ rằng vàphối hợp liên ngành

6 Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là vấn đề rộng lớn bao gồm nhiềungành cùng tham gia trong đó ngành y tế là đầu mối Trong những năm gần đây dođổi mới chính sách kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang kinh

tế thị trường phát triển nhiều thành phần Công tác quản lý về an toàn thực phẩmcần đáp ứng kịp sự phát triển của kinh tế xã hội ở Việt Nam và liên tục được cảicách Như vậy có thể chia các nhóm nhỏ theo quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cánhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm như sau:

Đối với chủ thể là cơ quan nhà nước

Loại chủ thể này khác với hai chủ thể còn lại ở chỗ đây là chủ thể chuyênban hành các mệnh lệnh hoặc quyết định hành chính trong phạm vi thẩm quyền do

Trang 17

pháp luật quy định Bên cạnh đó, bản thân chủ thể này cũng phải chịu sự điều chỉnhcủa pháp luật nói chung và pháp luật vệ sinh an toàn luật an toàn thực phẩm nóiriêng Trong một quan hệ pháp luật vệ sinh an toàn luật an toàn thực phẩm cụ thể,chủ thể này vừa có quyền và nghĩa vụ theo quy định của văn bản pháp luật điềuchỉnh Thông thường thì chủ thể này chính là đại diện của nhà nước, nhân danh nhànước sử dụng pháp luật vệ sinh an toàn luật an toàn thực phẩm để giải quyết nhữngtranh chấp, vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm theo quy địnhcủa pháp luật.

Loại chủ thể này nếu hoạt động tốt, chấp hành và thực hiện triệt để quy địnhcủa pháp luật vệ sinh an toàn luật an toàn thực phẩm thì sẽ không bị bỏ sót saiphạm, những vi phạm về pháp luật vệ sinh an toàn luật an toàn thực phẩm sẽ đượcphát hiện và xử lý kịp thời có sức mạnh răn đen lớn đối với hai chủ thể còn lại củapháp luật vệ sinh an toàn luật an toàn thực phẩm

Đây là chủ thể thường xuyên tham gia vào quan hệ pháp luật vệ sinh an toàn,luật an toàn thực phẩm, tuy nhiên hiệu quả hoạt động của chủ thể này trên thực tế cònchưa cao do nhiều nguyên nhân Trong đó không thể tránh khỏi nguyên nhân nộitại, xuất phát từ năng lực quản lý yếu kém của đội ngũ những cá nhân có chức vụ cóthẩm quyền được nhà nước giao phó thông qua những chức vụ, vị trí nhất định Đâycũng chính là chủ thể cần triệt để đổi mới để công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, antoàn thực phẩm thực hiện tốt trong bối cảnh hiện nay khi mà người sản xuất và kinhdoanh trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm nói chung ý thứccòn quá thấp, vi phạm pháp luật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm rất nhiều

Đối với chủ thể là tổ chức

Đây cũng là một chủ thể pháp luật của quan hệ pháp luật vệ sinh an toàn,luật an toàn thực phẩm Tuy nhiên, loại chủ thể này là chủ thể tham gia khôngthường xuyên, liên tục như đối với chủ thể là cá nhân Đặc biệt chủ thể này tham giavới tính chất chuyên biệt (không phải chủ thể nào là tổ chức cũng tham gia quan hệpháp luật này) Loại chủ thể này tham gia vào vào quan hệ pháp luật vệ sinh an

Trang 18

toàn, luật an toàn thực phẩm với tư cách là một pháp nhân, chịu trách nhiệm pháp lýthông qua người đại diện Việc tuân thủ và chấp hành pháp luật vệ sinh an toàn, luật

an toàn thực phẩm đối với chủ thể này được thể hiện thông qua việc tuân thủ vàchấp hành các quy định của pháp luật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm

Ví dụ: Một công ty chuyên chế biến lương thực và thực phẩm thì công ty đóphải được pháp luật công nhận là hợp pháp thông qua các điều kiện về đăng ký kinhdoanh: vốn, giấy phép vệ sinh an toàn thực phẩm…, đồng thời trong quá trình hoạtđộng sản xuất của mình, công ty đó phải luôn đảm bảo chấp hành các quy định củapháp luật nói chung cũng như các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, an toànthực phẩm nói riêng Đối với chủ thể này, cần đặc biệt chú ý vì những hành vi pháp

lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm cóảnh hưởng rất lớn đến việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩmnói chung Nếu chủ thể này mà chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luậtđặc biệt là pháp luật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm thì sẽ có lượng lươngthực, thực phẩm an toàn qua khâu chế biến đến tay người tiêu dùng

Đối với chủ thể là cá nhân

Do nhiều nguyên nhân, xuất phát từ phía cơ quan quản lý, từ phía người sảnxuất và bán hàng, từ bản thân người tiêu dùng,… ý thức về vệ sinh an toàn thựcphẩm, an toàn thực phẩm và nhận thức về pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm chưacao nên về phía chủ thể là cá nhân, cụ thể ở đây là người sản xuất và người kinhdoanh còn làm bừa, làm ẩu, ngang nhiên vi phạm pháp luật vệ sinh an toàn, luật antoàn thực phẩm khi vẫn sản xuất và kinh doanh những thực phẩm không an toàn,tồn dư lượng lớn hóa chất độc hại Một mặt họ biết đến những quy định của phápluật vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm nhưng vì lợi nhuận kinh tế nênvẫn bất chấp bỏ qua Mặt khác, bản thân họ không nhận thức được sản xuất và tiêudùng là một vòng tròn khép kín và có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau

Về phía người tiêu dùng dù biết thực phẩm hiện nay có rất nhiều mối nguyhiểm nhưng họ phải chấp nhận và cố gắng làm giảm nguy cơ đến từ thực phẩm

Trang 19

không an toàn bằng hiểu biết của mình trong phạm vi điều kiện kinh tế cho phép.Phần lớn họ đã ý thức được tầm quan trọng của thực phẩm và mối nguy hại do thựcphẩm nhiễm hóa chất gây lên Nhưng trong bối cảnh hiện tại, khi mà các cơ quannhà nước có thẩm quyền cũng đành bó tay, chấp nhận chung sống với nguồn thựcphẩm ô nhiễm thì bản thân số đông người tiêu dùng cũng không còn lựa chọn nàokhá hơn.

Như vậy có thể thấy, về phía cá nhân việc thực hiện pháp luật vệ sinh antoàn, luật an toàn thực phẩm là thường thường xuyên liên tục, tuy nhiên hiệu quảthực hiện chưa cao vì có sự tác động qua lại hai chiều giữa hai loại chủ thể: ngườisản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng Đây lại là hai chủ thể chính trong quan hệpháp luật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm Mỗi bên có quyền và nghĩa vụtương ứng với bên còn lại Nếu như nhà nước có thể điều hòa, cân đối quan hệquyền và nghĩa vụ giữa hai chủ thể pháp luật này thông qua các chế tài pháp luật vệsinh an toàn, luật an toàn thực phẩm, thông qua tuyên truyền, phổ biến giáo dụcpháp luật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm một cách rộng rãi thì hiệu quả củacông tác thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm sẽ hoàn toànthay đổi Người tiêu dùng cũng sẽ biết tự bảo vệ mình bằng các quy định của phápluật vệ sinh an toàn, luật an toàn thực phẩm khi nhận thấy quyền lợi của mình bị đedọa hoặc xâm phạm

2.2 Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm và một số quy định đặc thù liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm

Bảo đảm an toàn thực phẩm liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩmtheo quy định của Luật an toàn thực phẩm năm 2010 được cơ cấu ngoài mục 1 lànhững quy định chung về bảo đảm an toàn thực phẩm liên quan đến sản xuất kinhdoanh thì có 4 tiểu mục còn lại là các quy định đặc thù liên quan đến sản xuất,kinh doanh thực phẩm đó là: điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất,kinh doanh thực phẩm tươi sống, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sơchế, chế biến thực phẩm, kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến, điều kiện bảo

Trang 20

đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống, điều kiện bảo đảm antoàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố Theo đó, điều kiện bảo đảm

an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm cácđiều kiện sau đây:

a) Có địa điểm, diện tích thích hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồngây độc hại, nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác;

b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm;c) Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói,bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị, dụngcụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chống côn trùng vàđộng vật gây hại;

d) Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên theo quyđịnh của pháp luật về bảo vệ môi trường;

đ) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ vềnguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trìnhsản xuất, kinh doanh thực phẩm;

e) Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trựctiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm

2 Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụthể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thựcphẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong bảo quản thực phẩm

1 Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện về bảoquản thực phẩm sau đây:

a) Nơi bảo quản và phương tiện bảo quản phải có diện tích đủ rộng để bảoquản từng loại thực phẩm riêng biệt, có thể thực hiện kỹ thuật xếp dỡ an toàn vàchính xác, bảo đảm vệ sinh trong quá trình bảo quản;

Trang 21

b) Ngăn ngừa được ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, côn trùng, động vật, bụibẩn, mùi lạ và các tác động xấu của môi trường; bảo đảm đủ ánh sáng; có thiết bịchuyên dụng điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm và các điều kiện khí hậu khác, thiết bị thônggió và các điều kiện bảo quản đặc biệt khác theo yêu cầu của từng loại thực phẩm;

c) Tuân thủ các quy định về bảo quản của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinhdoanh thực phẩm

2 Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụthể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong bảo quản thực phẩm thuộc lĩnhvực được phân công quản lý

Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong vận chuyển thực phẩm

1 Tổ chức, cá nhân vận chuyển thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện sau đây:a) Phương tiện vận chuyển thực phẩm được chế tạo bằng vật liệu không làm

ô nhiễm thực phẩm hoặc bao gói thực phẩm, dễ làm sạch;

b) Bảo đảm điều kiện bảo quản thực phẩm trong suốt quá trình vận chuyểntheo hướng dẫn của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh;

c) Không vận chuyển thực phẩm cùng hàng hóa độc hại hoặc có thể gâynhiễm chéo ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm

2 Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định về phương tiện vậnchuyển thực phẩm; đường vận chuyển thực phẩm đối với một số loại thực phẩmtươi sống tại các đô thị

Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thựcphẩm nhỏ lẻ

1 Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ phải tuân thủ các điều kiệnbảo đảm an toàn thực phẩm sau đây:

a) Có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm;b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm;c) Có trang thiết bị phù hợp để sản xuất, kinh doanh thực phẩm không gâyđộc hại, gây ô nhiễm cho thực phẩm;

Trang 22

d) Sử dụng nguyên liệu, hóa chất, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biếnthực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong sơ chế, chế biến,bảo quản thực phẩm;

đ) Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trựctiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

e) Thu gom, xử lý chất thải theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệmôi trường;

h) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ thông tinliên quan đến việc mua bán bảo đảm truy xuất được nguồn gốc thực phẩm

2 Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụthể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩmnhỏ lẻ thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

3 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọichung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương, quyđịnh cụ thể điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thựcphẩm nhỏ lẻ đối với thực phẩm đặc thù trên địa bàn tỉnh

2.3 Kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm

Trong giai đoạn 2011 -2016 các bộ đã ban hành 05 thông tư về quản lý hoạtđộng kiểm nghiệm thực phẩm; có 107 phòng kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản

lý nhà nước được chỉ định và duy trì được hiệu lực chỉ định, bao gồm các phòngkiểm nghiệm thuộc các cơ quan nhà nước (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn, Bộ Khoa học - Công nghệ ) và 10 phòng kiểm nghiệm xã hội hóa.

Quyết định chỉ định các phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm có hiệu lực trongvòng 3 năm và mỗi năm đều có hoạt động đánh giá giám sát, những nội dung khôngđạt yêu cầu được phát hiện trọng quá trình đánh giá giám sát sẽ ban hành quyết địnhđình chỉ hiệu lực nội dung tương ứng Các phòng kiểm nghiệm này ở các cấp độ

Trang 23

khác nhau đều đã được đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại; một số phòng kiểmnghiệm được trang bị máy móc thiết bị tương đương với các nước thuộc nhóm đầu

ở ASEAN để phân tích được hầu hết các chỉ số về an toàn thực phẩm theo qui địnhquốc tế như: sắc ký khối phổ phân giải cao phân tích dioxin; thiết bị đo hàm lượngphóng xạ; quang phổ phát xạ khối phổi phân tích kim loại nặng; sắc khí lỏng, sắckhí ký khối phổ phân tích tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hooc môn, phụgia thực phẩm; thiết bị PCR thời gian thực phân tích thực phẩm biến đổi gen Cơchế hoạt động chủ yếu của các phòng kiểm nghiệm được chỉ định là cung cấp dịchvụ và thu phí để duy trì hoạt động Cán bộ, nhân viên các phòng kiểm nghiệm đều

đã được đào tạo trong và ngoài nước Mặc dù số lượng các phòng kiểm nghiệm thựcphẩm khá nhiều nhưng lại phân bố không đều, tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thànhphố lớn dẫn đến tình trạng các tỉnh vùng sâu, vùng xa, biên giới còn phải gửi mẫuphân tích về các tỉnh thành phố lớn không đảm bảo về thời gian kiểm nghiệm phụcvụ công tác quản lý an toàn thực phẩm tại địa phương

Tại địa phương, đối với ngành y tế, các phòng kiểm nghiệm an toàn thựcphẩm đặt tại trung tâm y tế dự phòng tỉnh, trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm,thực phẩm Đến nay đã có 42/63 tỉnh có phòng kiểm nghiệm được công nhậnISO/IEC/17025, trong đó phòng kiểm nghiệm của Trung tâm Y tế dự phòng thànhphố Hải Phòng, Đà Nẵng và tỉnh Quảng Trị, Tây Ninh nằm trong danh sách 14 đơn

vị được Bộ Y tế chỉ định là đơn vị kiểm tra nhà nước về chất lượng thực phẩm nhậpkhẩu 15/63 Trung tâm YTDP đang xây dựng các phòng kiểm nghiệm đạt tiêuchuẩn ISO 17025

2.4 Thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm

Theo quy định việc quảng cáo thực phẩm phải được cơ quan chức năngthẩm định nội dung quảng cáo trước khi phát hành quảng cáo Tại Trung ương,trong giai đoạn 2011 - 2016, các đơn vị chức năng của 3 ngành: Y tế, Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Công Thương đã thẩm định hồ sơ và cấp Giấy xác nhận nộidung quảng cáo thực phẩm cho 14.978 hồ sơ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản

Trang 24

phẩm thực phẩm trong nước và thực phẩm nhập khẩu Trong quá trình thẩm định hồ

sơ hoặc hậu kiểm, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều vi phạm về quảng cáocủa các doanh nghiệp như quảng cáo thực phẩm khi chưa được cơ quan có thẩmquyền cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo; quảng cáo các sản phẩm thực phẩm

có nội dung không đúng với nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt; quảngcáo quá công dụng của sản phẩm, gây hiểu lầm với thuốc chữa bệnh; quảng cáokèm theo các bài viết của phóng viên có tác dụng điều trị bệnh hoặc có tác dụngnhư thuốc chữa bệnh

Theo quy định Luật an toàn thực phẩm 2010 thì

Các thực phẩm phải đăng ký nội dung trước khi quảng cáo:

- Thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩmdùng cho chế độ ăn đặc biệt

- Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi không thuộc trườnghợp cấm quảng cáo quy định tại Điều 7 của Luật quảng cáo

Đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm

Việc đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm ngoài việc phải tuân thủ cácquy định của pháp luật về quảng cáo còn phải tuân thủ các quy định sau:

1 Trước khi quảng cáo, tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo phải đăng

ký nội dung quảng cáo với cơ quan cấp Giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố sảnphẩm theo quy định hiện hành

2 Nội dung quảng cáo phải phù hợp với công dụng, tác dụng của sản phẩm

đã được công bố trong bản công bố sản phẩm Không sử dụng hình ảnh, thiết bị,trang phục, tên, thư tín của các đơn vị, cơ sở y tế, bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế, thưcảm ơn của người bệnh, bài viết của bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế để quảng cáothực phẩm

Đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe:

a) Phải có khuyến cáo "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tácdụng thay thế thuốc chữa bệnh"; chữ viết phải rõ ràng, có màu tương phản với màu nền;

Trang 25

b) Quảng cáo trên báo nói, báo hình phải đọc rõ khuyến cáo theo quy địnhtại điểm a khoản này;

c) Việc quảng cáo trên báo hình, báo nói với thời lượng ngắn dưới 15 giâythì không phải đọc "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thaythế thuốc chữa bệnh", nhưng phải thể hiện khuyến cáo trong quảng cáo

Hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo gồm:

a) Đơn đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo theo Mẫu số 10 Phụ lục I banhành kèm theo Nghị định này;

b) Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm và Bản công bố sản phẩm đãđược cơ quan có thẩm quyền xác nhận (bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

c) Mẫu nhãn sản phẩm (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

d) Đối với quảng cáo trên báo nói, báo hình thì phải có kịch bản dự kiếnquảng cáo và nội dung dự kiến quảng cáo ghi trong đĩa hình, đĩa âm thanh; đối vớiquảng cáo trên các phương tiện khác thì phải có ma két (mẫu nội dung) dự kiếnquảng cáo (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

đ) Đối với nội dung quảng cáo ngoài công dụng, tính năng của sản phẩmghi trong bản công bố sản phẩm thì phải có tài liệu khoa học chứng minh (bản sao

có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

Các tài liệu trong hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo phải được thểhiện bằng tiếng Việt; trường hợp có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải đượcdịch sang tiếng Việt và được công chứng

5 Thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo:

a) Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo gửi hồ sơ đăng ký xác nhận nộidung quảng cáo đến cơ quan cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm;

b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơquan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét hồ sơ và trả kết quả theo Mẫu số 11Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này Thời hạn này được tính từ ngày đóngdấu đến của cơ quan tiếp nhận hồ sơ nếu hồ sơ được gửi qua đường bưu điện hoặcngày hồ sơ hoàn chỉnh được tiếp nhận trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến

Trang 26

Trong trường hợp không đồng ý với nội dung quảng cáo của tổ chức, cánhân hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản nêu rõ

lý do và căn cứ pháp lý của việc yêu cầu Cơ quan tiếp nhận hồ sơ chỉ được yêu cầusửa đổi, bổ sung 01 lần

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ sửa đổi, bổ sung, cơquan tiếp nhận hồ sơ thẩm định hồ sơ và có văn bản trả lời Sau 90 ngày làm việc kểtừ khi có công văn yêu cầu sửa đổi, bổ sung nếu tổ chức, cá nhân không sửa đổi, bổsung thì hồ sơ không còn giá trị;

c) Các cơ quan tiếp nhận hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo cótrách nhiệm thông báo công khai tên, sản phẩm của tổ chức, cá nhân đã được cấpGiấy xác nhận nội dung quảng cáo sản phẩm thực phẩm trên trang thông tin điện tử(website) của mình và cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm;

d) Tổ chức, cá nhân đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo có trách nhiệmnộp phí thẩm định hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ

6 Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo; tổ chức, cá nhân phát hànhquảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo sản phẩm đã được cấp Giấy xác nhận nộidung quảng cáo và chỉ được quảng cáo phù hợp với nội dung đã được xác nhận

Các thực phẩm phải đăng ký nội dung trước khi quảng cáo

1 Thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩmdùng cho chế độ ăn đặc biệt

2 Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi không thuộc trườnghợp cấm quảng cáo quy định tại Điều 7 của Luật quảng cáo

Đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm

Việc đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm ngoài việc phải tuân thủ cácquy định của pháp luật về quảng cáo còn phải tuân thủ các quy định sau:

1 Trước khi quảng cáo, tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo phải đăng

ký nội dung quảng cáo với cơ quan cấp Giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố sảnphẩm theo quy định hiện hành

Trang 27

2 Nội dung quảng cáo phải phù hợp với công dụng, tác dụng của sản phẩm

đã được công bố trong bản công bố sản phẩm Không sử dụng hình ảnh, thiết bị,trang phục, tên, thư tín của các đơn vị, cơ sở y tế, bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế, thưcảm ơn của người bệnh, bài viết của bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế để quảng cáothực phẩm

3 Đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe:

a) Phải có khuyến cáo "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tácdụng thay thế thuốc chữa bệnh"; chữ viết phải rõ ràng, có màu tương phản với màu nền;

b) Quảng cáo trên báo nói, báo hình phải đọc rõ khuyến cáo theo quy địnhtại điểm a khoản này;

c) Việc quảng cáo trên báo hình, báo nói với thời lượng ngắn dưới 15 giâythì không phải đọc "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thaythế thuốc chữa bệnh", nhưng phải thể hiện khuyến cáo trong quảng cáo

4 Hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo gồm:

a) Đơn đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo theo Mẫu số 10 Phụ lục I banhành kèm theo Nghị định này;

b) Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm và Bản công bố sản phẩm đãđược cơ quan có thẩm quyền xác nhận (bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

c) Mẫu nhãn sản phẩm (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

d) Đối với quảng cáo trên báo nói, báo hình thì phải có kịch bản dự kiếnquảng cáo và nội dung dự kiến quảng cáo ghi trong đĩa hình, đĩa âm thanh; đối vớiquảng cáo trên các phương tiện khác thì phải có ma két (mẫu nội dung) dự kiếnquảng cáo (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

đ) Đối với nội dung quảng cáo ngoài công dụng, tính năng của sản phẩmghi trong bản công bố sản phẩm thì phải có tài liệu khoa học chứng minh (bản sao

có xác nhận của tổ chức, cá nhân);

Các tài liệu trong hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo phải được thểhiện bằng tiếng Việt; trường hợp có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải đượcdịch sang tiếng Việt và được công chứng

Trang 28

5 Thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo:

a) Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo gửi hồ sơ đăng ký xác nhận nộidung quảng cáo đến cơ quan cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm;

b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơquan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét hồ sơ và trả kết quả theo Mẫu số 11Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này Thời hạn này được tính từ ngày đóngdấu đến của cơ quan tiếp nhận hồ sơ nếu hồ sơ được gửi qua đường bưu điện hoặcngày hồ sơ hoàn chỉnh được tiếp nhận trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến

Trong trường hợp không đồng ý với nội dung quảng cáo của tổ chức, cánhân hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản nêu rõ

lý do và căn cứ pháp lý của việc yêu cầu Cơ quan tiếp nhận hồ sơ chỉ được yêu cầusửa đổi, bổ sung 01 lần

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ sửa đổi, bổ sung, cơquan tiếp nhận hồ sơ thẩm định hồ sơ và có văn bản trả lời Sau 90 ngày làm việc kểtừ khi có công văn yêu cầu sửa đổi, bổ sung nếu tổ chức, cá nhân không sửa đổi, bổsung thì hồ sơ không còn giá trị;

c) Các cơ quan tiếp nhận hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo cótrách nhiệm thông báo công khai tên, sản phẩm của tổ chức, cá nhân đã được cấpGiấy xác nhận nội dung quảng cáo sản phẩm thực phẩm trên trang thông tin điện tử(website) của mình và cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm;

d) Tổ chức, cá nhân đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo có trách nhiệmnộp phí thẩm định hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ

6 Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo; tổ chức, cá nhân phát hànhquảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo sản phẩm đã được cấp Giấy xác nhận nộidung quảng cáo và chỉ được quảng cáo phù hợp với nội dung đã được xác nhận

2.5 Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền

Trong giai đoạn 2011-2016, đã có 123 văn bản quy phạm pháp luật do các

cơ quan trung ương ban hành, trong đó 6 văn bản của Quốc hội, 23 văn bản của

Trang 29

Chính phủ, 20 thông tư của Bộ Y tế, 45 thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn và 12 thông tư của Bộ Công Thương Đáng chú ý Luật an toàn thựcphẩm đã phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho ba Bộ: Y

tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công Thương theo nguyên tắc quản lýtheo chuỗi cung cấp thực phẩm với từng nhóm thực phẩm, ngành hàng cụ thể; Nghịđịnh số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật an toàn thực phẩm, và Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn thực phẩm là những văn bảnquy phạm pháp luật được các tổ chức quốc tế đánh giá là cách tiếp cận hiện đại

Đối với các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của ba bộ,để thống nhất hướng dẫn thực hiện, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương ban hành 3 Thông tư liên tịchhướng dẫn, trong đó Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCTngày 09/4/2014 đã cụ thể hóa nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho

ba bộ với nguyên tắc cơ bản là: Một cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chịu sự quản lýcủa một cơ quan quản lý nhà nước Ví dụ: 1 cơ sở vừa sản xuất sản phẩm thuộcquản lý của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương thìgiao Bộ Y tế quản lý; 1 cơ sở sản xuất sản phẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn và Bộ Công Thương thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản

lý Việc quy định như trên đã khắc phục được tình trạng chồng chéo, bỏ sót trongquản lý, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩmtrong việc thực hiện, tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm.Ngoài ra, còn có Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày01/8/2013 quy định điều kiện, trình tự, thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thựcphẩm phục vụ quản lý nhà nước; Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27/10/2014 hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thựcphẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, thực phẩm bao gói sẵn

Trang 30

Trong phạm vi trách nhiệm quản lý được phân công tại Luật an toàn thựcphẩm, Nghị định số 38/2012/NĐ-CP, các bộ đã ban hành đầy đủ các văn bản đểhướng dẫn thực hiện Có thể nói cho đến nay hệ thống pháp luật về an toàn thựcphẩm của Việt Nam đã tương đối hoàn thiện, đã đáp ứng kịp thời yêu cầu về côngtác quản lý và điều hành về an toàn thực phẩm theo cơ chế kinh tế thị trường có sựđiều tiết vĩ mô của Nhà nước, góp phần tích cực vào kiểm soát thị trường, bảo đảmthực phẩm an toàn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Việc ban hành đầy đủ cácvăn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm đã khắc phục tình trạng thiếu cơchế quản lý, thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm trước đây,tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, số lượng vănbản còn nhiều gây khó khăn khi tra cứu, áp dụng thực tiễn trong sản xuất, kinhdoanh Cụ thể các văn bản quản lý đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, xuất nhậpkhẩu thực phẩm đều được ba bộ cùng ban hành theo các nhóm đối tượng quản lý.khi các văn bản này được chuyển đến địa phương thực hiện thì Ủy ban nhân dân cáccấp sẽ phải đọc và hiểu hết 3 hệ thống văn bản đối với từng lĩnh vực.

Việc xây dựng, ban hành, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm và các quy định kỹ thuật đề quản lý

Thực hiện Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, các bộ đã tích cực xâydựng các tiêu chuẩn (TCVN) và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về an toànthực phẩm Trong giai đoạn 2011-2016, đã đề nghị ban hành 453 TCVN, ban hành

119 QCVN về thực phẩm và 6 quy định kỹ thuật về an toàn thực phẩm Trong đó:

- Bộ Y tế ban hành 54 QCVN và 6 quy định kỹ thuật quy định về mức giớihạn an toàn chung cho các sản phẩm thực phẩm (phụ gia thực phẩm, giới hạn kimloại nặng, dư lượng thuốc thú y, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật…); quy định vềmức giới hạn an toàn, yêu cầu kỹ thuật cụ thể đối với một số sản phẩm đặc thù…các quy định này đều được ban hành trên cơ sở phù hợp hoàn toàn với tiêu chuẩncủa Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế (Codex), một số quy định chưa có trong

Trang 31

Codex hoặc đặc thù của quốc gia thì đều hài hòa với quy định các nước phát triểnnhư Mỹ, Nhật bản, EU và các nước ASEAN

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 61 QCVN liên quanđến chất lượng, an toàn thực phẩm của các chuỗi sản phẩm động vật, sản phẩm thủyvật và sản phẩm thực vật Các quy chuẩn này cũng tương đồng hoặc tiệm cận vớichuẩn mực của các tổ chức quốc tế như Codex, FAO và các nước tiên tiến

Tuy nhiên, việc xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật địa phương đối với sảnphẩm đặc thù vùng miền còn rất hạn chế, mới chỉ có 02 quy chuẩn về rượu bưởiTân Triều (Đồng Nai) và rượu Xuân Thạnh (Trà Vinh) được ban hành trong giaiđoạn này

Bên cạnh việc xây dựng và ban hành các TCVN và QCVN, các bộ cũngquan tâm, chú trọng tham gia đầy đủ vào các hoạt động xây dựng quy chuẩn và quyđịnh của quốc tế và khu vực Lần đầu tiên Việt Nam tham gia chủ trì cùng Thái Lanxây dựng và được Codex chấp thuận ban hành Tiêu chuẩn Codex quốc tế đối vớisản phẩm nước mắm

Việc chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

a) Các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, các bộ, Ủy ban nhân dân cấptỉnh trong triển khai thực hiện chính sách pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm

Giai đoạn 2011-2016 đánh dấu sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ đối vớicông tác bảo đảm an toàn thực phẩm Nhiều văn bản mang tính chiến lược đã đượcban hành để chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộ các giải phápbảo đảm an toàn thực phẩm Công tác chỉ đạo, điều hành cũng được tăng cường khi

có dịch bệnh, các thời điểm nóng như tháng hành động về an toàn thực phẩm, TếtTrung thu, Tết Nguyên đán Do vậy, đã tạo sự chuyển biến rõ rệt trong hoạt độngcủa các cơ quan quản lý nhà nước và nhận thức của xã hội về bảo đảm an toàn thựcphẩm Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên chỉ đạo trực tiếp qua cácbuổi họp Ban Chỉ đạo liên ngành, giao ban trực tuyến với các địa phương về công

Trang 32

tác an toàn thực phẩm hoặc trực tiếp thị sát, kiểm tra tình hình an toàn thực phẩm tạimột số điểm nóng, qua đó đã giải quyết dứt điểm các vụ việc nóng như: gà nhập lậu,

sử dụng chất cấm trong chăn nuôi (Salbutamol, vàng ô…) hay cá chết hàng loạt ởmiền Trung do sự cố môi trường biển, các thông tin không chính xác liên quan đếnnước mắm…

Đối với công tác an toàn thực phẩm tại địa phương, Chính phủ nhiệm kỳmới đã ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 13 tháng 5 năm 2016 về việc tăngcường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và chỉ đạo quyết liệtviệc kiện toàn ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm các cấp với chủ tịch Ủyban nhân dân làm trưởng ban nhằm nhấn mạnh vai trò và quy định trách nhiệm củangười đứng đầu địa phương nếu không kiểm soát được an toàn thực phẩm Nhờ đó,công tác an toàn thực phẩm ở địa phương đã chuyển biến rõ rệt

Nhận thấy việc thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm là hết sức cầnthiết trong giai đoạn này, Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 38/2015/QĐ-TTgthí điểm triển khai thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm tại quận, huyện, thị xã

và phường, xã, thị trấn của thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu

đã thành công và sẽ mở rộng trong thời gian tới Các bộ trong phạm vi quyền hạncủa mình đã trình Chính phủ hoặc ban hành các văn bản chỉ đạo tầm chiến lược nhưChiến lược quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030.Trên cơ sở chiến lược, các bộ đã xây dựng và ban hành các đề án như: Đề án đẩymạnh hoạt động truyền thông về an toàn thực phẩm giai đoạn đến 2015, Đề án nângcao năng lực thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm, Đề án đào tạo nguồn nhânlực bảo đảm an toàn thực phẩm, Đề án quy hoạch tổng thể ngành nông nghiệp cảnước đến năm 2030…

b) Công tác quy hoạch sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo chiến lược, kếhoạch được ban hành

Các bộ sản xuất đã chú trọng công tác quy hoạch sản xuất, kinh doanh thựcphẩm Ngoài việc trình ban hành các quy hoạch tổng thể của ngành, các bộ đã trình

Trang 33

ban hành và ban hành 25 Quy hoạch đến 2020, tầm nhìn 2030 phát triển các sảnphẩm chủ lực trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, 05 quy hoạch phát triển chế biếnthủy sản, muối, cà phê, phát triển ngành kỹ nghệ thực phẩm, ngành rượu, bia, nướcgiải khát

c) Tổ chức, kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý an toàn thực phẩm ở trungương, cơ quan chuyên môn về quản lý an toàn thực phẩm ở địa phương

- Về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

+ Tại Trung ương: Theo Luật an toàn thực phẩm, quản lý nhà nước về an toànthực phẩm được phân công cho ba Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vàCông Thương tại Điều 62, 63, 64 của Luật theo nguyên tắc quản lý theo chuỗi cungcấp thực phẩm với từng nhóm thực phẩm, ngành hàng cụ thể Bộ Y tế chịu tráchnhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.Tại mỗi bộ có đơn vị giúp Bộ trưởng trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về an toàn thực phẩm Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm (cơquan thường trực là Bộ Y tế) được thành lập do một Phó Thủ tướng làm trưởng banđể chỉ đạo việc phối hợp hoạt động giữa các Bộ trong các vấn đề liên ngành

+ Tại địa phương: Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về

an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương Ban Chỉ đạo liên ngành về an toànthực phẩm các cấp (được thành lập tới cấp xã và đang được kiện toàn theo chỉ đạocủa Thủ tướng Chính phủ với chủ tịch Ủy ban nhân dân là trưởng ban) có tráchnhiệm chỉ đạo, phối hợp hoạt động liên ngành tại địa phương

Tuyến tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịutrách nhiệm trước Chính phủ về an toàn thực phẩm tại địa phương tham mưu giúpủy ban nhân dân tỉnh là Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở CôngThương Sở Y tế (Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm) chịutrách nhiệm trước ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiệnquản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn Các sở đều có đơn vị giúpGiám đốc Sở trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên

Trang 34

địa bàn.

Tuyến huyện: Ủy ban nhân dân quận, huyện chịu trách nhiệm trước Ủy bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về an toàn thực phẩm trên phạm viđịa bàn tham mưu giúp Ủy ban nhân dân huyện có các cơ quan chuyên môn thuộcủy ban nhân dân huyện gồm: phòng y tế; phòng nông nghiệp và phát triển nôngthôn hoặc phòng kinh tế

Tuyến xã: Ủy ban nhân dân xã, phường chịu trách nhiệm trước ủy ban nhândân quận, huyện về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa bàn Trạm Y tế xã, phường,thị trấn hiện nay chỉ có cán bộ chuyên môn làm chung các lĩnh vực y tế, trong đó có

an toàn thực phẩm, chưa có cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

Trang 35

Chương 3 THỰC TRẠNG THI HÀNH LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM NĂM

2010

VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

3.1 Thực trạng thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 tại Việt Nam hiện nay

* Thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 trong sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản thực phẩm tươi sống

Trong sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản rau, củ, quả tươi và sơ chế

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay đã có

43 tỉnh có quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn, diện tích canh tác rau an toàn theoquy hoạch của các tỉnh/thành phố đến năm 2020 là 120.869,9 ha, 07 tỉnh có quyhoạch vùng sản xuất cây ăn quả an toàn Có khoảng 1.530 cơ sở sản xuất rau theocác tiêu chuẩn GAP với diện tích khoảng 12.687,34 ha Đến tháng hết 10 năm 2016

số cơ sở được chứng nhận VietGAP đang còn hiệu lực như sau: 599 cơ sở sản xuấtrau với 3.731,77 ha, 706 cở sở sản xuất quả với diện tích 12.237,58 ha

Các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 162 quy trình sảnxuất rau an toàn phù hợp với điều kiện của địa phương trong đó có 10 Quy trình sảnxuất rau hữu cơ; 52 Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cấp Giấy chứngnhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho 651 cơ sở sản xuất, sơ chế rau vớidiện tích khoảng 7.212,8 ha Đã tiến hành kiểm tra đối với 54.750 lượt hộ nông dân

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phát hiện 9.056 hộ vi phạm (chiếm 16,54%) Đã tiếnhành thanh tra kiểm tra 2.064 đợt với 63.230 lượt cơ sở sản xuất, buôn bán thuốcbảo vệ thực vật, phát hiện và xử lý trên 7.434 cơ sở vi phạm (chiếm 11,7%); phốihợp với lực lượng công an, biên phòng phát hiện hơn 40 vụ việc vi phạm về vận

Trang 36

chuyển, buôn bán, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu, ngoài danh mục đượcphép sử dụng tại Việt Nam; đã thu giữ trên 7 tấn thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu từTrung Quốc, tổ chức tiêu hủy 5 tấn

Trong chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển, bày bán, kiểm dịch động vật, kiểm tra vệ sinh thú y đối với động vật và sản phẩm động vật:

- Trong chăn nuôi: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khainội dung tái cơ cấu tổ chức chăn nuôi theo các chuỗi liên kết trong sản xuất gắndoanh nghiệp chế biến tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi với các trại chăn nuôi hoặcthông qua các hợp tác xã đến các nông hộ chăn nuôi Đẩy mạnh tổ chức triển khai

áp dụng quy trình thực hành tốt trong chăn nuôi (VietGAHP) cho trên 11.230 hộchăn nuôi (trên 100 trang trại chăn nuôi đã được công nhận)

Theo thống kê cả nước có 215 nhà máy công nghiệp thức ăn chăn nuôi côngsuất trên 25 triệu tấn/năm và có khoảng trên 200 cơ sở chế biến thức ăn bổ sunghoặc tự phối trộn Sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp sản xuất trong nước17,5 triệu tấn và nhập khẩu trên 13 triệu tấn trong năm 2016 đều được công bố tiêuchuẩn tối thiểu là 13 chỉ tiêu

Việc kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm đối với thức ăn chăn nuôisản xuất trong nước và lưu hành trên thị trường do các cơ quan chuyên môn thuộccác Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với quản lý thị trường ở cácđịa phương kiểm tra; nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi nhập khẩu được kiểm trachất lượng trước thông quan

Về kiểm soát chất cấm trong chăn nuôi: sau khi tình hình sử dụng chất cấmtrong chăn nuôi tái trở lại vào quý 3 năm 2015 (với tỷ lệ các mẫu thức ăn có dươngtính trên 5%, nước tiểu 16,5 % và mẫu thịt trên 4% ở khu vực các tỉnh phía Nam),

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo quyết liệt và huy động chínhquyền các cấp phát động phong trào ký kết giao ước nói không với chất cấm củatrên 332 ngàn cơ sở chăn nuôi, giết mổ; tăng cường thanh, kiểm tra đột xuất những

Trang 37

cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc nhân y, cơ sở chăn nuôi vàgiết mổ có nguy cơ sử dụng chất cấm, xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định củapháp luật và tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhữngbiện pháp trên đã đem lại hiệu quả, tình hình sử dụng chất cấm trong chăn nuôi đã

cơ bản được kiểm soát, trong các tháng 9,10,11/2016 cả nước không phát hiện mẫudương tính với chất cấm trong chăn nuôi

- Trong giết mổ: Theo số liệu thống kê, năm 2011 cả nước có 28.285 cơ sởgiết mổ nhỏ lẻ và đến nay số cơ sở giết mổ nhỏ lẻ đã tăng lên 29.557 cơ sở (tính đếnngày 31/12/2015) Phần lớn các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ này tự phát, không đăng kýkinh doanh, có điều kiện cơ sở vật chất không đảm bảo điều kiện về vệ sinh thú y,

an toàn thực phẩm, không có hệ thống thu gom, xử lý chất thải và nước thải gây ônhiễm Tình trạng này dẫn đến công tác kiểm tra, đánh giá, phân loại theo Thông tư45/2014/TT-BNNPTNT gặp nhiều khó khăn

Cả nước đã có 56/63 (84,13%) tỉnh/thành phố đã phê duyệt Đề án quyhoạch cơ sở giết mổ động vật tập trung Mặc dù, đề án quy hoạch chăn nuôi, giếtmổ tập trung đã được trên 80% các tỉnh phê duyệt và có những chính sách trongviệc khuyến khích đầu tư, quy hoạch xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, songmột số địa phương còn chậm triển khai Đến nay cả nước mới có 910 cơ sở giết mổtập trung trong đó: giết mổ gia súc (611 cơ sở); giết mổ gia cầm (130 cơ sở) và 76

cơ sở hỗn hợp Trong đó có 10 cơ sở giết mổ do cơ quan quản lý chuyên ngànhTrung ương thực hiện kiểm soát giết mổ để xuất khẩu, các cơ sở này đã được đầu tư

về cơ sở vật chất, trang thiết bị và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng nên việcđảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y và bảo vệ môi trường khá tốt

Các cơ sở giết mổ động vật để tiêu thụ nội địa do cấp tỉnh thực hiện côngtác kiểm tra, đánh giá, phân loại và có cán bộ thú y thực hiện kiểm soát giết mổ, tuynhiên ở phần lớn các cơ sở việc đảm bảo và duy trì vệ sinh thú y vẫn đang còn cónhiều bất cập và chỉ được đánh giá loại

Trang 38

Hiện nay, việc vận chuyển thịt gia súc, gia cầm trong nội tỉnh, hay tới cácchợ truyền thống để kinh doanh chủ yếu được vận chuyển bằng các phương tiện thô

sơ, thịt tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm,mất an toàn thực phẩm Một số được vận chuyển bằng xe ô tô có thùng kín nhưngkhông bảo quản lạnh Việc vận chuyển thịt gia súc, gia cầm bằng phương tiệnchuyên dụng còn rất ít, chủ yếu xuất phát từ các cơ sở giết mổ tập trung lớn cungcấp cho siêu thị

Hiện nay có khoảng 3.067/4.736 chợ đã quy hoạch khu vực bán thịt gia súc,gia cầm trong chợ (chiếm 64,76%); 505 chợ đang triển khai quy hoạch; 1164 chưatriển khai quy hoạch khu vực riêng, thịt gia súc gia cầm thường được bán tươi ngoàichợ, sản phẩm được bày bán trên mặt bàn Inox, bàn gỗ hoặc bàn ốp đá không cóbảo quản trong điều kiện lạnh

Trong nuôi trồng, đánh bắt, khai thác, chế biến thủy sản và các sản phẩm thủy sản

- Về nuôi trồng, khai thác thủy sản:

Diện tích nuôi thủy sản năm 2015 là 1.278 nghìn ha, sản lượng nuôi trồngthủy sản cả năm 2015 đạt 3.533 ngàn tấn Hiện nay, việc áp dụng quy phạm thựchành nuôi tốt (GAP) đang đươc triển khai nhân rộng trên phạm vi cả nước Bêncạnh đó, công nghệ cao trong nuôi trồng thủy sản của cũng đã được nhiều doanhnghiệp, tập đoàn lớn ứng dụng, đạt năng suất cao, như công nghệ thâm canh cá tra(đạt năng suất 300-350 tấn/ha/vụ), tôm thâm canh (10-12 tấn/ha/vụ) Một số doanhnghiệp cũng đã có công nghệ siêu thâm canh trong hệ nuôi tuần hoàn khép kín Tỷ

lệ cơ sở nuôi năm 2015 được kiểm tra đạt yêu cầu là 89,1% tăng so 2013 (66%)

Công tác quản lý chất lượng thức ăn, thuốc thú y, sản phẩm xử lý, cải tạomôi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản được quan tâm, phối hợp với chínhquyền các cấp tăng cường thanh tra, kiểm tra phát hiện, ngăn chặn các hành vi viphạm pháp luật trong sản xuất, kinh doanh thức ăn, thuốc thú y, sản phẩm xử lý, cảitạo môi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản

Trang 39

- Về chế biến thủy sản:

Chế biến thủy sản tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2011-2016.Các cơ sở chế biến thuỷ sản công nghiệp nhìn chung đã áp dụng công nghệ chế biếnhiện đại, áp dụng hệ thống quản lý theo HACCP, ISO 22000, hiện có trên 600 cơ sở

áp dụng HACCP được phép xuất khẩu vào các thị trường Trong đó có 415 nhàmáy, cơ sở đạt tiêu chuẩn xuất khẩu trực tiếp vào EU, Mỹ, Nhật Bản và các thịtrường khó tính khác Tuy nhiên trên thực tế, một số mô hình chế biến thủ công,hàng khô,… còn có điều kiện vệ sinh thấp, một số cơ sở lạm dụng chất bào quản đã

bị phát hiện và xử lý, kể cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Vẫn còn tình trạng các lôhàng thủy sản xuất khẩu bị trả về do nhiễm dư lượng hóa chất, kháng sinh Năm

2015 có 116 lô hàng thủy sản xuất khẩu bị thị trường nhập khẩu cảnh báo khôngbảo đảm an toàn thực phẩm, giảm 24% so với năm 2014

* Thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 trong xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm

Trong xuất khẩu thực phẩm

Từ năm 2011 đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tập trunggiải quyết tương đối hiệu quả các rào cản kỹ thuật, giữ vững và mở rộng thị trườngxuất khẩu, tháo gỡ kịp thời các khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông thủysản đảm bảo ổn định xuất khẩu nông lâm thủy sản vào các thị trường truyền thống

và khai thông một số thị trường mới Bộ đã chỉ đạo đón tiếp và làm việc với hơn 50đoàn thanh tra của các nước nhập khẩu đánh giá về hệ thống quản lý an toàn thựcphẩm bộ đã hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết các rào cản kỹ thuật của các thị trườngnhập khẩu, duy trì và mở rộng thêm thị trường mới (rau quả xuất khẩu sang 50nước, thủy sản xuất khẩu sang 120 nước/vùng lãnh thổ) Với các hoạt động giảiquyết các rào cản của thị trường, tăng cường mở rộng thị trường xuất khẩu nêu trêncủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã góp phần tăng dần số lượng, sảnlượng các sản phẩm nông sản chủ lực đi các thị trường trên thế giới, tổng kim ngạch

xuất khẩu nông sản tăng từ 25,1 tỷ USD năm 2011 lên 30,14 tỷ USD năm 2015

Trang 40

Bộ Y tế đã tổ chức tốt việc cấp giấy chứng nhận xuất khẩu để giúp cácdoanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm thực phẩm: giấy chứng nhận y tế,chứng nhận lưu hành tự do, riêng năm 2015-2016 đã cấp 1.399 giấy chứng nhận lưuhành tự do và chứng nhận y tế cho các sản phẩm thực phẩm xuất khẩu Ngoài ra đã

ký kết chương trình hợp tác với Hàn Quốc, Mỹ, New Zealand để giúp các doanhnghiệp có khả năng tiếp cận các thị trường khó tính Tham gia tích cực các hoạtđộng hài hòa tiêu chuẩn để thúc đẩy việc sản xuất thực phẩm phù hợp với yêu cầu củacác nước Trong thời gian tới Bộ Y tế sẽ triển khai cấp độ 4 đối với thủ tục hành chínhcho sản phẩm xuất khẩu nhằm tạo điều kiện tối đa cho các doanh nghiệp xuất khẩu

Để khuyến khích cho doanh nghiệp xuất khẩu, Bộ Y tế đã chủ động thammưu Chính phủ cho phép miễn công bố sản phẩm, miễn kiểm tra nhà nước và ghinhãn tiếng Việt đối với các sản phẩm nhập khẩu vào Việt Nam chỉ để gia công xuấtkhẩu, đang sửa đổi Nghị định số 38/2012/NĐ-CP theo hướng này

Trong nhập khẩu thực phẩm

- Về sản phẩm nguồn gốc thực vật:

Kết quả đã kiểm tra 272.570 lô có tổng trọng lượng là 18.539.794 tấn vớihơn 50 loại mặt hàng nhập khẩu từ trên 60 quốc gia Lấy 4.796 mẫu kiểm tra antoàn thực phẩm đối với hàng hóa có nguồn gốc thực vật nhập khẩu Kết quả pháthiện 40 mẫu (chiếm 0,83%) vi phạm các chỉ tiêu về an toàn thực phẩm Số liệukiểm tra hàng hóa có nguồn gốc thực vật nhập khẩu từ năm 2011-2016

- Về sản phẩm có nguồn gốc động vật (bao gồm cả thủy sản):

Đến nay có 45 nước với 5.712 cơ sở được xuất khẩu động vật và sản phẩmđộng vật vào Việt Nam Tổng khối lượng động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu(kể cả thủy sản) là 45.246 lô với trọng lượng 2.179.430 tấn, lấy 45.246 mẫu kiểmtra, phát hiện 357 mẫu (chiếm 0,79%) vi phạm các chỉ tiêu về an toàn thực phẩm

Số liệu kiểm tra hàng hóa có nguồn gốc động vật nhập khẩu từ năm 2011-2016

- Đối với thực phẩm thuộc quản lý của Bộ Y tế, các lô hàng thực phẩmnhập khẩu phải tiến hành kiểm tra tại 1 trong 14 cơ quan kiểm tra nhà nước về an

Ngày đăng: 04/12/2022, 23:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thủy Anh (2015), "Góp ý về chính sách, pháp luật an toàn thực phẩm", Báo Đại Đoàn Kết, truy cập ngày 03/12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý về chính sách, pháp luật an toàn thực phẩm
Tác giả: Thủy Anh
Năm: 2015
2. Bộ Công an (2016), Báo cáo kết quả công tác điều tra, xử lý hình sự các vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác điều tra, xử lý hình sự các viphạm trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2016
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2016), Báo cáo về việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về việc thực hiện chính sách, phápluật về an toàn thực phẩm
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2016
4. Bộ Y tế (2001), Quyết định số 3742/2001/QĐ-BYT ngày 31/8/2001 về việc ban hành Quy định danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3742/2001/QĐ-BYT ngày 31/8/2001 về việc banhành Quy định danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thựcphẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2001
5. Bộ Y tế (2001), Quyết định số 4128/2001/QĐ-BYT ngày 03/10/2001 ban hành quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăn tập thể và cơ sở kinh doanh chế biến suất ăn sẵn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4128/2001/QĐ-BYT ngày 03/10/2001 ban hànhquy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăntập thể và cơ sở kinh doanh chế biến suất ăn sẵn
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2001
6. Bộ Y tế (2005), Quyết định số 39/2005/QĐ-BYT ngày 28/11/2005 ban hành quy định về các điều kiện vệ sinh chung đối với cơ sở sản xuất thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 39/2005/QĐ-BYT ngày 28/11/2005 ban hànhquy định về các điều kiện vệ sinh chung đối với cơ sở sản xuất thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2005
7. Bộ Y tế (2005), Quyết định số 41/2005/QĐ-BYT ngày 08/12/2005 ban hành Quy định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 41/2005/QĐ-BYT ngày 08/12/2005 ban hànhQuy định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm đối vớicơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2005
8. Bộ Y tế (2005), Quyết định số 42/2005/QĐ-BYT ngày 08/12/2005 về việc ban hành Quy chế về công bố tiêu chuẩn sản phẩm thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 42/2005/QĐ-BYT ngày 08/12/2005" về việc ban hành Quy chế về công bố tiêu chuẩn sản phẩm thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2005
9. Bộ Y tế (2005), Quyết định số 43/2005/QĐ-BYT ngày 20/12/2005 ban hành Quy định yêu cầu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thực phẩm đối với người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 43/2005/QĐ-BYT ngày 20/12/2005 ban hànhQuy định yêu cầu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm an toàn thựcphẩm đối với người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2005
10. Bộ Y tế (2008), Quyết định số 48/2008/QĐ-BYT ngày 30/12/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 48/2008/QĐ-BYT ngày 30/12/2008 quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục An toàn vệsinh thực phẩm an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
11. Bộ Y tế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Công Thương (2013), Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 01/8/2013 quy định điều kiện, trình tự, thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 01/8/2013quy định điều kiện, trình tự, thủ tục chỉ định cơ sở kiểm nghiệm thựcphẩm phục vụ quản lý nhà nước
Tác giả: Bộ Y tế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Công Thương
Năm: 2013
12. Bộ Y tế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Công Thương (2014), Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09/4/2014 hướng dẫn việc phân công, phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09/4/2014hướng dẫn việc phân công, phối hợp trong quản lý nhà nước về an toànthực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Công Thương
Năm: 2014
13. Bộ Y tế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Công Thương (2014), Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27/10/2014 hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, thực phẩm bao gói sẵn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày27/10/2014 hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ giathực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, thực phẩm bao gói sẵn
Tác giả: Bộ Y tế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Công Thương
Năm: 2014
14. Chính phủ (2007), Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg ngày 28/3/2007 về việc triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg ngày 28/3/2007 về việc triểnkhai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15. Chính phủ (2007), Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 về việc quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
16. Chính phủ (2008), Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18/7/2008 về việc quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18/7/2008 về việc quyđịnh hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh antoàn thực phẩm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
17. Chính phủ (2012), Quyết định số 20/2012/QĐ-TTg, ngày 04/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2012/QĐ-TTg, ngày 04/01/2012 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giaiđoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
18. Chính phủ (2012), Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn thực phẩm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chitiết một số điều của Luật An toàn thực phẩm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
19. Chính phủ (2012), Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định xử phạt vi phạm hành chính về An toàn thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định xửphạt vi phạm hành chính về An toàn thực phẩm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
20. Chính phủ (2013), Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn thực phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xửphạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn thực phẩm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.4. Cách đấu đúng và không đúng cuộn dây stato ba pha hình sao (Υ ). - LV ths luật học thực trạng thi hành luật an toàn thực phẩm 2010   những bất cập và hướng hoàn thiện
Hình 1.4. Cách đấu đúng và không đúng cuộn dây stato ba pha hình sao (Υ ) (Trang 25)
Bảng 3.1: Tình hình ngộ độc thực phẩm - LV ths luật học thực trạng thi hành luật an toàn thực phẩm 2010   những bất cập và hướng hoàn thiện
Bảng 3.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm (Trang 52)
TÌNH HÌNH BAN HÀNH CÁC QUY CHUẨN KỸ THUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM - LV ths luật học thực trạng thi hành luật an toàn thực phẩm 2010   những bất cập và hướng hoàn thiện
TÌNH HÌNH BAN HÀNH CÁC QUY CHUẨN KỸ THUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w