1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022

499 102 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên Đề Rèn Kĩ Năng Chứng Minh Trong Kiểu Bài Nghị Luận Về Vấn Đề Lí Luận Văn Học Cho Học Sinh Giỏi Quốc Gia Môn Ngữ Văn
Tác giả Nguyễn Thị Hương, Lê Thị Thúy Hằng, Lê Nam Linh, Phùng Huệ Anh, Cô Đào
Trường học Trường THPT Chuyên Biên Hòa
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại chuyên đề
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 499
Dung lượng 3,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022 Giải Nhất Chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh tro. CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022 Giải Nhất Chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh tro.CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022 Giải Nhất Chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh tro.CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022 Giải Nhất Chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh tro.CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022 Giải Nhất Chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh tro.CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022 Giải Nhất Chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh tro.

Trang 1

3

CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

NĂM 2022

- Giải Nhất: Chuyên đề Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí

luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia môn ngữ văn, trường THPT Chuyên Biên Hòa, Hà Nam (trang 4 – 115)

- Giải Nhì: Chuyên đề Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí

luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia, tác giả Nguyễn Thị Hương, trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc, Vĩnh Phúc (trang 116 – 206)

- Giải Ba: Chuyên đề Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí

luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia, tác giả Lê Thị Thúy Hằng, Lê Nam Linh, trường THPT Chuyên Chuyên Lê Quý Đôn, Quảng Trị (trang 207 – 295)

- Giải Ba: Chuyên đề Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí

luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia, tác giả Phùng Huệ Anh, trường THPT Chuyên Lê Thánh Tông, Quảng Nam (trang 296 – 388)

- Giải Ba: Chuyên đề Rèn kỹ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí

luận văn học cho học sinh giỏi quốc gia, tác giả Cô Đào, trường THPT Chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quảng Nam (trang 389 – hết)

CHUYÊN ĐỀ RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN

ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN

Trang 2

4

Tác giả: tổ Ngữ Văn Trường THPT Chuyên Biên Hòa, Hà Nam

(Chuyên đề đạt giải Nhất)

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thomas fuller đã từng nói: Kĩ năng, chứ không phải sức mạnh, điều khiển con tàu

Tàu có đi đúng hướng hay không, về đến đích hay không phải dựa vào kĩ năng của người thuyền trưởng Sự thành thạo, thuần thục, nhuần nhuyễn trong các thao tác, các hoạt động chính là sự thể hiện của kĩ năng Muốn có một cuộc sống tốt đẹp, ta cần có kĩ năng sống, muốn hoàn thành tốt công việc của mình, ta cần có kĩ năng chuyên môn và kĩ năng xử lí vấn đề,… Đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật, lĩnh vực của cảm hứng, cảm xúc nhưng nếu không có kĩ năng thì cũng không thể tạo nên được những tác phẩm có giá trị Đối với một học sinh giỏi văn, kĩ năng viết là vô cùng quan trọng Làm thế nào để có một bài văn hay?

Làm thế nào để văn có sức hút và hấp dẫn người đọc? Thiên bẩm ư? Đó là một phần, phần còn lại làm nên thành công của một bài viết đó chính là kĩ năng: kĩ năng xử lí đề, kĩ năng giải thích, kĩ năng chứng minh, kĩ năng bình luận, đánh giá vấn đề,… Vì vậy rèn kĩ năng

cho học sinh giỏi văn, học sinh có năng khiếu văn là một trong những công việc không thể thiếu của người giáo viên dạy văn, nhất là giáo viên dạy các lớp chuyên văn

Trong những năm gần đây, đề thi học sinh giỏi quốc gia và đề thi các trường chuyên khu vực duyên hải đồng bằng Bắc Bộ thường tập trung vào kiểu bài lí luận văn học, yêu cầu trình bày quan điểm, làm sáng tỏ một hoặc một số vấn đề có tính chất lí luận Dạng đề này đòi hỏi học sinh phải vận dụng, phát huy kĩ năng và kiến thức tổng hợp kết hợp với tư duy sáng tạo trong xử lí vấn đề mới có thể đạt được thành công trong bài viết Nền tảng lí luận là cái chung nhưng làm thế nào để lí luận rõ nét, cụ thể và dễ hiểu khiến người ta tin, trầm trồ, ngưỡng mộ, khâm phục,… đó là cái tài của người viết Muốn chạm tới cái đích đó, học sinh phải thực sự thành thạo, nhuần nhuyễn và thăng hoa trong kĩ năng chứng minh vấn đề lí luận văn học Chứng minh đúng hướng, mới mẻ, sáng tạo thì bài viết thuyết phục, chứng minh lạc hướng, sơ sài, qua loa thì hoặc là sẽ lạc đề hoặc là không thể hoặc sức thuyết phục yếu ớt Hơn nữa phần chứng minh trong kiểu bài lí luận lại là

Trang 3

5

phần trọng tâm, cơ bản, chiếm nhiều điểm nhất trong bài văn Có thể giúp học sinh hình thành được kĩ năng chứng minh là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi của người giáo viên

Người ta thường nói: Đủ nắng thì hoa sẽ nở…, khi được trang bị đầy đủ kiến thức,

kĩ năng cùng với cảm xúc đong đầy thì nhất định ngòi bút sẽ nở hoa Nhưng thế nào là đủ

để hoa nở thực sự là một điều không dễ dàng Với chuyên đề: RÈN KĨ NĂNG CHỨNG

MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần củng cố, nâng cao

kĩ năng viết phần chứng minh trong bài viết của học sinh đồng thời cũng khao khát được chia sẻ với các bạn đồng nghiệp để học hỏi kinh nghiệm trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi

2 Mục đích nghiên cứu

Với chuyên đề này, chúng tôi hướng tới nhiều mục đích:

Thứ nhất, xây dựng một cách hệ thống cách thức rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học cho học sinh giỏi

Thứ hai, rèn luyện cho học sinh giỏi đội tuyển HSG Quốc gia thành thạo kĩ năng

chứng minh trong bài văn nghị luận về vấn đề lí luận văn thông qua lí thuyết và các ví dụ

minh họa

Thứ ba, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các thầy cô đồng nghiệp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong nhà trường, đặc biệt nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu của kì thi HSG cấp Quốc gia được tổ chức hàng năm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Kĩ năng chứng minh là một trong những kĩ năng vô cùng quan trọng cần được rèn luyện lâu dài, đặc biệt là đối với đối tượng học sinh giỏi trong các trường chuyên Đây cũng là đối tượng khảo sát chính của chuyên đề

Một bài văn nghị luận về vấn đề lí luận văn học cần phải trải qua một quá trình gồm nhiều bước, nhiều kĩ năng Ở đây chúng tôi tập trung sâu vào kĩ năng chứng minh qua việc hệ thống lí thuyết và các ví dụ minh họa cụ thể

Trang 4

6

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện chuyên đề, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

cơ bản sau đây:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: dựa vào chương trình chuyên sâu, sách giáo khoa, sách giáo viên về các tiết học liên quan đến các bước tiến hành kiểu bài lí luận văn học; dựa vào các tài liệu tham khảo, chuyên đề về kĩ năng làm văn nghị luận dành cho học sinh THPT, học sinh giỏi… để đúc kết những vấn đề lý thuyết

về kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học

- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: sau khi hướng dẫn kĩ năng, từ thực tế quá trình học tập của học sinh, rút ra những kinh nghiệm để vận dụng rộng rãi vào thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng bài văn với kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học của học sinh giỏi

5 Cấu trúc chuyên đề

Chuyên đề gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận

Phần Nội dung chuyên đề triển khai qua các mục sau:

I Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

II Rèn kĩ năng chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học dành cho học sinh giỏi Quốc gia

III Một số đề minh họa (10 đề)

Ngoài ra còn có 02 bài viết hoàn chỉnh của học sinh và Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

đó Đặc trưng cơ bản nhất của văn chính luận là tính chất luận thuyết Văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ

Sách giáo khoa Ngữ văn 10 Nâng cao, tập II cũng viết: Văn nghị luận là bài văn trình bày tư tưởng, quan điểm của người viết về một vấn đề

Như vậy, có thể hiểu: Văn nghị luận là một loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó bằng những luận điểm rõ ràng, với lí lẽ chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, làm cho người đọc hay người nghe hiểu, tin, có thái độ, hành động đúng với vấn đề đó

Văn nghị luận là loại văn phổ biến trong chương trình THCS và THPT, đặc biệt

là các đề thi HSG Tỉnh và HSGQG hiện nay đều tập trung vào dạng văn này Muốn làm tốt văn nghị luận yêu cầu người viết cần có tư duy logic, khả năng lập luận sắc sảo

để trình bày vấn đề một cách thuyết phục Tư duy này thể hiện rất rõ ở bố cục của bài bao giờ cũng gồm có ba phần:

- Mở bài: nêu vấn đề nghị luận

- Thân bài: triển khai vấn đề nghị luận

- Kết bài: chốt vấn đề nghị luận

Không những thế, nó còn được thể hiện ở các yếu tố cơ bản như:

- Vấn đề nghị luận: luận đề - luận điểm chính, bao trùm của bài văn

- Luận điểm: là ý kiến thể hiện quan điểm, tư tưởng của người viết được diễn đạt sáng rõ, dễ hiểu, nhất quán (hiểu là hệ thống các ý chính)

- Luận cứ: là những lí lẽ và dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm có sức thuyết phục

Trang 6

8

- Lập luận là cách lựa chọn, sắp xếp, trình bày luận điểm, luận cứ sao cho luận

cứ trở thành các căn cứ thuyết phục, làm rõ được luận điểm, hướng người đọc, người nghe đến kết luận hay quan điểm mà người viết, người nói muốn đạt tới Lập luận càng chặt chẽ, hợp lí thì sức thuyết phục của văn bản càng cao

Dựa vào nội dung nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu một kiểu bài trong dạng đề nghị luận văn học

1.1.2 Nghị luận văn học

Nghị luận văn học là những bài văn dùng lí lẽ, dẫn chứng, lập luận để bàn bạc, thuyết phục người khác về một vấn đề liên quan đến văn chương, nghệ thuật: Có thể là phân tích, bình luận, đánh giá về vẻ đẹp, giá trị của một tác phẩm văn học, làm sáng tỏ một nhận định về tác phẩm hoặc một vấn đề lí luận văn học Tuy nhiên đề văn nghị luận dành cho học sinh giỏi thường tập trung vào một số kiểu bài sau:

- Nghị luận về một vấn đề văn học sử, hoặc ý kiến bàn về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm hoặc nhóm tác phẩm

- Dạng đề so sánh, đối chiếu

- Dạng đề nghị luận về một vấn đề lí luận văn học

Trong đó, kiểu bài nghị luận về một vấn đề lí luận văn học là kiểu bài phổ biến nhất, đòi hỏi học sinh phải có kiến thức lí luận sâu sắc, có kiến thức tác phẩm văn học phong phú và có kĩ năng làm bài tốt

1.2 Kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học

1.2.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm

Lí luận văn học hiểu một cách đơn giản là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình

diện khái quát, bao gồm trong đó sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội – thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích văn học nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học

Kiến thức lí luận văn học sẽ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi có tính chất khái

quát như: Văn học bắt nguồn từ đâu? Một tác phẩm văn học do những yếu tố nào tạo

Trang 7

Các chuyên đề lí luận văn học cơ bản trong chương trình Ngữ văn chuyên

THPT bao gồm: Văn học, nhà văn và quá trình sáng tác; Thể loại văn học: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch; Tiếp nhận văn học và các giá trị văn học; Một số vấn đề về quá trình văn học; Phong cách văn học Nội dung lí luận khá phong phú dẫn đến sự

đa dạng trong các đề văn về vấn đề lí luận văn học Vậy thế nào là kiểu bài nghị luận

cứ, lập luận, Tuy nhiên, điểm khác của kiểu bài này là đề có thể đưa ra các nhận định

có tính chất lí luận, tuy nhiên không phải lúc nào vấn đề lí luận cũng hiện ra rõ ràng trên bề mặt câu chữ mà ẩn đi sau lớp ngôn từ Đề có thể gồm một hoặc nhiều mệnh đề kết hợp, có thể là một hoặc nhiều ý kiến; có thể là một đơn vị kiến thức lí luận, cũng

có thể là nhiều hơn Để xác định được đúng đề bài đang đề cập đến vấn đề lí luận nào cũng là một điều không hề đơn giản Không những thế làm thế nào để làm sáng tỏ vấn

đề đó lại đòi hỏi lối tư duy sắc bén, vốn kiến thức dày dạn, phong phú, sự tinh tế, thông minh trong việc lựa chọn dẫn chứng,

Trang 8

10

1.2.2 Các dạng đề của kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học

a Dạng đề bàn về một nhận định lí luận văn học

Đề đưa ra một ý kiến, một nhận định bàn về một hoặc một số phương diện lí

luận văn học nào đó (Đặc trưng, chức năng, nhà văn và quá trình sáng tác, thơ, truyện ngắn, phong cách, quy luật sáng tạo và tiếp nhận, ), yêu cầu người viết bình luận,

làm sáng tỏ bằng trải nghiệm văn học của mình hoặc qua một (một số) tác phẩm được

ấn định trước Nhận định có thể là một ý kiến của một nhà văn, nhà thơ, người nghiên cứu văn học, nhà phê bình, bằng một câu văn, một đoạn văn ngắn, một câu thơ hoặc một đoạn thơ; cũng có thể là một câu hỏi có tính chất mở để người viết trả lời Nhận định có thể được diễn đạt bằng một hoặc nhiều mệnh đề, có mệnh đề chính, có mệnh

đề phụ, hoặc mệnh đề song song, Nói chung, cách hỏi khá đa dạng nhằm kích thích được sự tò mò, hứng thú của học sinh

Ví dụ: Đề thi HSGQG năm 2014 đưa ra ý kiến:

Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng chỉ nhằm thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện

Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên

b Dạng đề bàn về nhiều nhận định lí luận văn học

Đây cũng là dạng đề quen thuộc với học sinh giỏi Đề đưa ra không chỉ một mà nhiều nhận định (thường là hai nhận định), yêu cầu học sình bàn luận và làm sáng tỏ

Ví dụ:

Đề thi HSGQG năm 2016 xuất hiện hai ý kiến cùng bàn về một vấn đề văn học:

Marcel Proust quan niệm: Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập Tô Hoài cho rằng: Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận những nhận định trên

Đề thi năm 2018:

Trang 9

11

Chế Lan Viên viết trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?: Hãy biết

ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!

Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt? Lưu Trọng Lư cho rằng: Sự sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phải được nâng lên, phải được tập trung cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu sự thực phải được sáng tạo, phải được nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận những quan niệm trên Hai ý kiến khác nhau hoặc cùng bàn về một vấn đề lí luận văn học (Đề thi

2016, cả hai ý kiến cùng bàn về sự sáng tạo của người nghệ sĩ, vừa mang dấu ấn cá nhân độc đáo, lại vừa in đậm dấu ấn thời đại); hoặc bàn về những khía cạnh có tính chất bổ sung cho nhau; hoặc trái ngược nhau hoàn toàn

Như vậy, với dạng đề này đòi hỏi học sinh phải đi sâu khám phá, giải thích từng

ý kiến, sau đó tổng hợp lại, rút ra mối quan hệ giữa các ý kiến đó để làm sáng tỏ vấn

đề

c Dạng đề lí luận văn học mở

Đây là xu hướng ra đề HSG trong những năm gần đây của môn Ngữ văn Đề không trích nhận định có tính chất lí luận của một tác giả cụ thể mà đưa ra những câu hỏi gợi mở để người viết suy nghĩ và trả lời

- Đề thi năm 2018 - 2019 lại đặt ra một câu hỏi yêu cầu học sinh phải trả lời bằng cách trình bày quan điểm của mình:

Rồi đây, có thể xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm thơ Lúc đó, sáng tạo

có còn là độc quyền của con người?

Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình

- Đề thi năm 2019-2020:

Thời đại ngày nay, con người phải đối mặt với nhiều áp lực trong đời sống tinh thần Liệu văn học có khả năng giúp con người hóa giải được những áp lực đó?

Trang 10

12

1.2.3 Cách làm kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học

- Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận

- Thân bài:

+ Giải thích: Khái niệm, từ ngữ then chốt; cách diễn đạt -> rút ra vấn đề nghị luận + Bình luận: Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề bằng kiến thức lí luận văn học + Chứng minh: Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề bằng dẫn chứng tác phẩm + Đánh giá: Khẳng định ý nghĩa của vấn đề đối với người sáng tác và người tiếp nhận

- Kết bài: Khái quát, chốt lại vấn đề

1.3 Chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học

1.3.1 Khái niệm, mục đích, vai trò của chứng minh

+ Còn trong văn nghị luận nói chung và trong kiểu bài lí luận văn học nói riêng, chứng minh chính là cách để làm sáng tỏ luận điểm, làm cho luận điểm trở nên đáng tin cậy, làm tăng sức thuyết phục của bài văn Tuy nhiên cũng cần phân biệt sự khác nhau về mục đích chứng minh giữa kiểu bài lí luận với các kiểu bài nghị luận văn học khác dành cho học sinh giỏi

- Vị trí, vai trò:

Trang 11

13

Trong kiểu bài lí luận văn học, chứng minh là một thao tác vô cùng quan trọng,

là phần trọng tâm của bài viết, chiếm số điểm nhiều nhất

Ở chương trình Ngữ văn cấp 2, học sinh được học về kiểu văn nghị luận chứng minh, ở đó, thao tác lập luận chứng minh là thao tác chính Trong chương trình Ngữ văn THPT, đặc biệt là các dạng đề thi dành cho học sinh giỏi, kiểu bài này được diễn

đạt bằng các cụm từ: Chứng minh nhận định trên hoặc Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua một số tác phẩm cụ thể…

Với các dạng đề khác như: Bình luận ý kiến trên; Trình bày suy nghĩ của anh/chị

về ý kiến trên? Hoặc đề có thể ra ở dạng mở, không nêu rõ yêu cầu nghị luận thì chứng

minh vẫn là thao tác cơ bản

1.3.2 Cách chứng minh

a Dùng lí lẽ để chứng minh

Lí lẽ là những suy nghĩ biểu hiện thành những nhận xét, nhận định cho thấy cách hiểu vấn đề của người viết Lí lẽ trong phần chứng minh thường là những chân lí được mọi người thừa nhận Đối với dạng đề nghị luận về vấn đề lí luận văn học, chúng ta cần phân biệt lí lẽ để giải thích, bình luận với lí lẽ để chứng minh Lí lẽ để giải thích,

bình luận nhằm mục đích để người ta hiểu được vấn đề nghị luận đó là gì? Nó có

chuẩn xác không? Còn lí lẽ trong phần chứng minh phải có tính chất thuyết phục để

người ta tin vấn đề Nghĩa là nó phải mang tính chân lí, đúng đắn được thừa nhận Do

đó những đánh giá, nhận xét, những kết luận được đưa ra phải thật đúng đắn, chính xác nhằm hướng đến làm sáng tỏ luận điểm Lí lẽ trong phần chứng minh có thể chia làm hai loại: Thứ nhất là lí lẽ dùng để làm sáng tỏ cho luận điểm Nói cách khác, sau khi đưa luận điểm, người viết phải dùng những lí lẽ để triển khai, làm rõ hơn luận điểm đó Thứ hai là lí lẽ dùng để phân tích dẫn chứng chứng minh Nếu dẫn chứng không nhờ có những lí lẽ để cắt nghĩa, lí giải, bình giá,… thì dẫn chứng không thể làm sáng tỏ được vấn đề Mặc dù không giữ vai trò chính trong bài chứng minh nhưng lí lẽ cũng quan trọng bởi dẫn chứng chỉ được làm rõ ý nghĩa nhờ những lí lẽ phân tích sắc sảo

b Dùng dẫn chứng để chứng minh

Trang 12

14

- Khái niệm và phân loại dẫn chứng:

Dẫn chứng là những sự vật, sự việc, nhân chứng, bằng chứng, số liệu, ý kiến,… rút ra từ thực tế hay từ sách ở để chứng minh cho một ý kiến, một nhận định nào đó Trong văn nghị luận văn học nói chung và trong kiểu bài lí luận nói riêng, dẫn chứng là những tác giả, tác phẩm, hiện tượng văn học, giai đoạn, trường phái, trào lưu,… được đưa ra để làm chỗ dựa vững chắc cho luận điểm, làm cho lập luận thuyết phục, vấn đề nghị luận được sáng tỏ

Đối với dạng bài nghị luận về một vấn đề có tính chất lí luận, có thể phân loại

dẫn chứng dựa trên cơ sở yêu cầu của đề bao gồm: Dẫn chứng bắt buộc, dẫn chứng tự chọn và dẫn chứng mở rộng Dẫn chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi đề đưa ra; dẫn chứng tự chọn gắn với những đề bài yêu cầu người viết phải tự xác định,

tự tìm kiếm dẫn chứng; dẫn chứng mở rộng là dẫn chứng nằm ngoài phạm vi yêu cầu

của đề, được người viết đưa ra để so sánh, đối chiếu, khắc sâu và mở rộng thêm vấn

đề

Bên cạnh đó, trong kiểu bài lí luận nhất thiết người viết phải xác định được dẫn chứng diện và dẫn chứng điểm (dẫn chứng trọng tâm) Dẫn chứng diện gắn liền với

phần chứng minh khái quát sẽ đem đến một cái nhìn bao quát hơn về văn học, thể hiện

vốn kiến thức sâu rộng và khả năng hiểu vấn đề của người viết Dẫn chứng điểm là

dẫn chứng được lựa chọn để chứng minh, phân tích sâu, kĩ nhằm làm sáng tỏ vấn đề lí luận

- Vai trò của dẫn chứng trong phần chứng minh kiểu bài lí luận văn học:

Vấn đề lí luận văn học được đặt ra trong đề bài chỉ có thể được làm sáng tỏ thông qua việc soi chiếu vào những tác phẩm văn học cụ thể Không thể nào thuyết phục người ta tin vào luận điểm của mình chỉ bằng các lí lẽ, các lập luận suông Bởi suy cho cùng, lí luận được đúc kết từ thực tiễn, muốn làm sáng tỏ lí luận ta buộc phải quay trở về thực tiễn Bởi vậy, dẫn chứng có vai trò vô cùng quan trọng trong kiểu bài

lí luận văn học Dẫn chứng thể hiện được cái tầm của người viết Sự đa dạng, mới mẻ,

chính xác,… của dẫn chứng khẳng định người viết có một vốn hiểu biết rất phong phú, sâu rộng, có tư duy sắc bén,… Đó là cách để tạo nên niềm tin, sức thuyết phục của bài

Trang 13

15

văn Trái lại, dẫn chứng nghèo nàn, cũ kĩ sẽ khiến bài viết rơi vào sáo mòn, hạn hẹp, không tạo ra được điều gì mới mẻ, hấp dẫn, do vậy cũng không khơi dậy được hứng thú của người đọc Vốn dẫn chứng ít ỏi sẽ khiến người viết không có cơ hội để lựa chọn được những dẫn chứng phù hợp nhất để làm sáng tỏ vấn đề Sự gò ép làm cho luận điểm trở nên không còn tin cậy và thuyết phục nữa

c Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng để chứng minh

Trong phần chứng minh, lí lẽ và dẫn chứng có sự kết hợp chặt chẽ Chứng minh chỉ có lí lẽ mà không có dẫn chứng hoặc chỉ có dẫn chứng mà không có lí lẽ thì sẽ không đạt được được mục đích Tuy nhiên với kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận thì dẫn chứng đóng vai trò trọng tâm, lí lẽ chủ yếu là dùng để phân tích, cắt nghĩa, bình giá,… dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề

số đề thi học sinh giỏi Quốc gia từ 2010-2020

Chủ yếu là dạng đề lí luận văn học chiếm tới 90%

Trang 14

16

Trong tác phẩm văn học, sáng tạo nghệ thuật quan trọng, đặc sắc nhất, nhiều khi không phải ở hình tượng con người mà ở hình tượng đồ vật, sự vật: một thứ thuốc chữa bệnh quái lạ (“Thuốc” - Lỗ Tấn), một bức thư pháp đẹp và quý (“Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân), một công trình kiến trúc kì vĩ, tinh xảo (“Vũ Như Tô” - Nguyễn Huy Tưởng), một cây đàn huyền thoại (“Đàn ghi ta của Lor-ca” - Thanh Thảo), Đó là những đồ vật, sự vật mang ý nghĩa biểu trưng cho nhận thức, nhân cách, ý chí, khát vọng, số phận của con người

Ý kiến của anh/chị về nhận định trên? Hãy phân tích hai trong những hình tượng

đồ vật, sự vật đã nêu để làm sáng tỏ ý kiến của mình

Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực

sự sống bằng tâm trí của người đọc

Bằng tri thức và trải nghiệm văn học của mình, bạn hãy bình luận ý kiến trên

- Đề thi năm 2015 - 2016:

Marcel Proust quan niệm: Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập Tô Hoài cho rằng: Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận những nhận định trên

- Đề thi năm 2016 - 2017:

Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời

Trang 15

17

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên

- Đề thi năm 2017 - 2018:

Chế Lan Viên viết trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?: Hãy biết

ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!

Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt? Lưu Trọng Lư cho rằng: Sự sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phải được nâng lên, phải được tập trung cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu Sự thực phải được sáng tạo, phải được nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận những quan niệm trên

Bằng hiểu biết và trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình

về những niềm khát khao, trăn trở ấy

Trên cơ sở khảo sát, thống kê trên, ta có thể nhận thấy dạng đề nghị luận văn học về một vấn đề có tính chất lí luận chiếm tỉ lệ lớn trong đề thi chọn học sinh giỏi Quốc gia Điều đó chứng tỏ được ưu thế của kiểu bài này trong việc đánh giá năng lực

Trang 16

18

của học sinh giỏi Văn Hầu hết các đề thi học sinh giỏi Quốc gia đều yêu cầu học sinh làm sáng tỏ vấn đề bằng trải nghiệm văn học của mình Để giải quyết được yêu cầu của đề, ngoài năng lực giải thích, bình luận, học sinh cần có kĩ năng chứng minh thuyết phục Rèn luyện kĩ năng này là điều vô cùng cần thiết để nâng cao chất lượng bài viết của học sinh giỏi

2.2 Cách viết phần chứng minh trong kiểu bài nghị luận về vấn đề lí luận văn học của học sinh giỏi Quốc gia

Để thăng hoa và tỏa sáng trong 180 phút thi HSGQG, các em cần phải thực sự

nỗ lực và cố gắng rất nhiều, bởi bên cạnh tố chất văn chương, học sinh còn phải có một vốn kiến thức phong phú và thành thạo các kĩ năng làm bài, từ kĩ năng tìm hiểu

đề, lập dàn ý, kĩ năng giải thích, chứng minh, bình luận,

Từ thực tế giảng dạy, ôn luyện, chấm bài của học sinh đội tuyển, chúng tôi nhận thấy được những ưu điểm và những hạn chế phổ biến mà học sinh mắc phải Những hạn chế đó nằm ở nhiều phương diện, có thể về kiến thức, có thể về kĩ năng nhưng nhiều hơn là về kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng chứng minh

- Hạn chế đầu tiên chính là học sinh viết phần giải thích, bình luận một đằng nhưng chứng minh một nẻo Nói cách khác chính là lí luận không đi với thực tiễn, thực

tiễn không làm sáng tỏ được lí luận, lí luận và chứng minh không liên quan gì đến nhau Học sinh chứng minh không đúng yêu cầu của đề bài, tất yếu sẽ không tạo nên

sự thuyết phục Nguyên nhân của hạn chế này xuất phát từ việc nắm lí thuyết mà không gắn với thực tế, không hiểu gốc rễ, căn nguyên của lí luận cùng với kĩ năng chứng minh còn non yếu, do đó chưa biết cách phân tích dẫn chứng để làm rõ được vấn đề lí luận

- Một hạn chế nữa có thể nhận thấy ở bài viết của nhiều học sinh chính là có hướng vào chứng minh để làm rõ vấn đề lí luận, tuy nhiên còn mờ nhạt, không rõ nét, không thực sự thuyết phục được người đọc

- Bên cạnh đó, một lỗi sai mà giáo viên lãnh đội thường nhận thấy ở học sinh là chứng minh không đúng yêu cầu của đề hoặc chứng minh thiếu Nguyên nhân của thực trạng này là do học sinh xác định đề chưa đúng hoặc xác định chưa đầy đủ vấn đề

Trang 17

- Trong phần phân tích dẫn chứng, có những học sinh chỉ phân tích tác phẩm chung chung, không hướng vào làm nổi bật vấn đề lí luận Nguyên nhân quan trọng nằm ở chỗ học sinh không biết cách chứng minh, không biết phân tích dẫn chứng như thế nào để làm nổi bật được yêu cầu của đề

- Có một thực tế khác không thể không nói đến trong bài viết của học sinh đó là phần chứng minh chưa đạt được sự thuyết phục do không có điều gì mới mẻ, không hấp dẫn đối với người đọc Nguyên nhân có thể vì học sinh chọn những dẫn chứng quá

cũ, dẫn chứng không tiêu biểu, không mới, không có sức nặng khiến cho bài viết rơi vào tình trạng sáo mòn Hoặc nếu chọn những dẫn chứng quen thuộc, đúng trọng tâm, tiêu biểu nhưng lại không biết cách khai thác những hướng mới, góc nhìn mới, không

có cách diễn đạt mới, Tất cả khiến bài viết không có sức hấp dẫn, không thu hút được người đọc, Bản chất của văn chương là sáng tạo, đòi hỏi người viết văn cũng cần phải sáng tạo, phải có nét riêng, mới mẻ, độc đáo, để lại dấu ấn cá nhân Đó là điều

vô cùng cần thiết để tạo nên một bài viết hay, đặc sắc

II RÈN KĨ NĂNG CHỨNG MINH TRONG KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA

1 Rèn kĩ năng tìm hiểu đề để xác định vấn đề cần chứng minh

Một trong những hạn chế trong thực trạng viết bài của học sinh chính là chứng minh không đúng vấn đề lí luận mà đề đặt ra Đề yêu cầu một đằng nhưng giải thích và chứng minh một nẻo Đề đề cập đến đặc trưng văn học nhưng học sinh lại chứng minh

Trang 18

20

chức năng dẫn đến bài viết lạc hoàn toàn, không đúng hướng, không làm sáng tỏ được

lí luận Ở trên, chúng tôi đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản của thực trạng này chính là học sinh xác định sai vấn đề lí luận ngay từ đầu Bởi vậy muốn viết được phần chứng minh đúng hướng, tập trung làm sáng tỏ được yêu cầu của đề bài thì một điều quan trọng là xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Tìm hiểu đề là khâu đầu tiên giúp cho học sinh định hướng được chính xác những yêu cầu cơ bản về:

- Kiểu/Dạng bài: Cần xác định đó là dạng bài một ý kiến hay nhiều ý kiến

- Vấn đề lí luận:

- Các thao tác nghị luận, thao tác lập luận chủ yếu:

- Phạm vi dẫn chứng:

Trong chuyên đề này, chúng tôi muốn tập trung vào việc tìm hiểu đề để xác định

đúng vấn đề lí luận cần làm sáng tỏ trong phần chứng minh Muốn vậy, giáo viên cần

hướng dẫn học sinh xem xét kĩ lưỡng để tìm ra luận đề bao trùm là gì? (những vấn đề

lí luận nào? Có một hay hai hoặc nhiều hơn hai vấn đề lí luận; vấn đề lí luận nào là chính, vấn đề nào là phụ,…) Muốn xác định được chính xác, học sinh phải thực hiện các bước sau:

+ Đọc kĩ ý kiến

+ Gạch chân dưới những từ ngữ quan trọng, có ý nghĩa then chốt

+ Giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của các từ ngữ đó, chú ý cách diễn đạt,… + Từ đó khái quát được vấn đề nghị luận mà nhận định đề cập đến là gì?

Ví dụ 1:

Tôi thu thập hình tượng cũng như con ong hút mật vậy Một con ong phải bay một đoạn đường bằng sáu lần xích đạo trong một năm ba tháng và đậu lên bảy triệu bông hoa để làm nên một gam mật

Bằng trải nghiệm văn học của mình, anh/chị hãy làm sáng tỏ vấn đề trong lời tâm

sự trên của P.Povlenko

Trang 19

21

Với đề bài trên, học sinh cần đọc kĩ ý kiến, gạch chân dưới những từ ngữ then

chốt như hình tượng, các hình ảnh so sánh tôi – con ong, hình tượng – mật để nói lên quá trình kiếm tìm chắt lọc, công phu nhọc nhằn của người cầm bút Về phạm vi dẫn chứng, yêu cầu của đề bài được diễn đạt bằng cụm từ Bằng trải nghiệm văn học… -> Từ đó xác định được vấn đề lí luận cần làm sáng tỏ: Quá trình sáng tạo hình

tượng văn học

Ví dụ 2:

Marcel Proust quan niệm: Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập Tô Hoài cho rằng: Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận những nhận định trên

Đề văn đưa ra hai ý kiến khác nhau, học sinh cần đọc kĩ, gạch chân các từ ngữ chứa đựng ý nghĩa quan trọng và giải thích được các từ ngữ đó Ý kiến thứ nhất là các

từ như thế giới, tạo lập, người nghệ sĩ độc đáo; ý kiến thứ hai là soi bóng, thời đại mà

nó ra đời

-> Trên cơ sở kết nối các từ ngữ qua cách diễn đạt của từng nhận định, chúng ta

sẽ xác định được vấn đề lí luận cần chứng minh: Quan niệm của Marcel Peoust nói về

phong cách của nhà văn; ý kiến của Tô Hoài khẳng định đặc trưng phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học và phong cách thời đại Hai ý kiến khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau cùng bàn về sự sáng tạo của người nghệ sĩ vừa mang dấu ấn

cá nhân độc đáo, riêng biệt vừa in dấu ấn của thời đại Đây chính là quy luật của sáng tạo nghệ thuật

Như vậy, muốn xác định đúng vấn đề lí luận cần chứng minh trong yêu cầu của

đề bài nhất thiết phải rèn khâu tìm hiểu đề Đây là cánh cửa đầu tiên mà học sinh buộc phải tìm được chìa khóa để mở mới có thể đi sâu vào bên trong

2 Rèn kĩ năng xác định và sắp xếp các luận điểm chứng minh

Trang 20

22

Có một thực tế trong phần chứng minh của học sinh giỏi là không có luận điểm, luận điểm không rõ ràng, không đúng với vấn đề nghị luận dẫn đến bài viết lan man, dài dòng mà không đúng trọng tâm, không làm sáng tỏ được vấn đề lí luận Bởi vậy việc xác định được những luận điểm cần chứng minh là vô cùng cần thiết Tuy nhiên

để xác định được luận điểm, luận cứ lại không phải là điều dễ dàng

2.1 Rèn kĩ năng tìm, sắp xếp các luận điểm chứng minh

Tìm luận điểm thực chất là một quá trình vận động của tư duy qua đó làm nảy sinh hoặc tái hiện trong đầu những phán đoán, những tư tưởng, những ý kiến liên quan trực tiếp tới luận đề do chính đề bài gợi ra Trong quá trình xây dựng lập luận, việc xác định các luận điểm chính là việc xác định các kết luận cho lập luận Những kết luận này có thể xuất hiện ở nhiều dạng và nhiều vị trí khác nhau trong bài Luận điểm để chứng minh cần phải đúng đắn, sáng rõ, tập trung, mới mẻ, có khả năng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận Đúng đắn nghĩa là luận điểm phải phù hợp với lẽ phải được thừa nhận Sáng rõ là luận điểm diễn đạt chuẩn xác, không mập mờ, không mâu thuẫn Tập trung là các luận điểm đều hướng vào làm rõ vấn đề nghị luận Mới mẻ là luận điểm không lặp lại giản đơn những điều đã biết mà cần phải nêu ra được những ý mới chưa

ai đề xuất

Luận điểm trong kiểu bài lí luận văn học đã được định hướng từ phần giải thích

và bình luận Tuy nhiên đến phần chứng minh, giáo viên cần rèn cho học sinh định hướng lại các luận điểm để chứng minh cho đúng hướng, đúng trọng tâm Trong chuyên đề này, dựa trên kiểu đề nghị luận về vấn đề lí luận văn học hiện nay, chúng

tôi tạm chia thành: Đề bài chứa luận điểm hiển ngôn và đề bài chứa luận điểm hàm ẩn

2.1.1 Luận điểm hiển ngôn

a Thế nào là luận điểm hiển ngôn?

Luận điểm hiển ngôn ở đây được hiểu là những ý chính cần làm sáng tỏ đã lộ hay

được gợi ra ngay từ đề bài Ta thường gặp dạng này ở kiểu đề yêu cầu bàn luận về một

ý kiến hoặc hai ý kiến Hiển ngôn có thể đọc lên sẽ thấy luôn hoặc cần nhìn sâu hơn

một chút xuyên qua lớp ngôn từ diễn đạt Trường hợp sau đòi hỏi học sinh phải giải

Trang 21

- Trả lời các câu hỏi: Có mấy luận điểm? Luận điểm nào chính còn luận điểm nào phụ hay các luận điểm tương đương nhau? Luận điểm nào nói trước, luận điểm nào theo sau?

Ví dụ 1

Có ý kiến cho rằng: Văn học chỉ tồn tại vì người khác và thông qua người khác

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ vấn đề qua một số tác phẩm văn học đặc sắc

Qua việc phân tích đề có thể nhận thấy đề văn trên gồm có 2 ý: Ý thứ nhất là

Văn học chỉ tồn tại vì người khác, ý thứ hai là Văn học tồn tại thông qua người khác Liên từ và cho thấy hai ý có sự phân tách rõ rệt, có mối quan hệ bình đẳng, tương đương nhau, không có ý nào là ý chính, ý nào là ý phụ Nếu ý thứ nhất Văn học chỉ tồn tại vì người khác đề cập đến chức năng của văn học nói chung thì ý thứ hai Văn học tồn tại thông qua người khác lại nhấn mạnh vai trò của người tiếp nhận tác phẩm Như

vậy dựa vào việc phân tích đề bài, trả lời các câu hỏi, ta có thể xác định được hai luận điểm cơ bản cần làm sáng tỏ trong phần chứng minh

Ví dụ 2

Người vẫn còn mang vết thương đã toan đi chữa vết thương cho người khác Tôi nghĩ về nghề viết và người viết cũng đơn giản vậy, chữa lành, an ủi những vết thương của người đời để làm dịu vết thương của chính mình

(Sỏi đá buồn tênh - Nguyễn Ngọc Tư)

Trang 22

24

Anh/Chị hãy bàn luận ý kiến trên

Ý kiến của Nguyễn Ngọc Tư đề cập đến tư chất và sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ: có trái tim nhạy cảm, giàu lòng nhân ái, và luôn khát khao hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ Tuy nhiên muốn xác định luận điểm chứng minh cho đề bài này

cần phải đọc thật kĩ Các ý không tách biệt với nhau mà lồng trong nhau: Người vẫn còn mang vết thương đã toan đi chữa vết thương cho người khác… Ý đầu tiên ta xác định được là người nghệ sĩ là những người thường mang những vết thương Ý thứ hai

là người nghệ sĩ vẫn còn mang vết thương đó đã toan đi chữa vết thương cho người khác Cùng với cách diễn đạt này ta thấy trọng tâm của đề rơi vào ý thứ hai nghĩa là

cần tập trung làm nổi bật tư chất và sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ Vì thế ý đầu là luận điểm phụ, ý thứ 2 là luận điểm chính Từ đó, trong phần chứng minh học sinh cần chỉ ra 2 luận điểm sau:

Luận điểm 1: Nhà văn gửi vào tác phẩm những vết thương nào của chính mình? Luận điểm 2: Nhà văn hướng tới chữa lành những vết thương gì cho con người?

Ví dụ 3

Có ý kiến cho rằng: Tình cảm là sinh mệnh của thơ

Ý kiến khác lại khẳng định: Tình cảm của người làm thơ là yếu tố cần nhưng chưa đủ để tránh cho đứa con tinh thần của mình một cái chết yểu

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên Đây là dạng đề nghị luận về hai ý kiến bàn về vấn đề lí luận văn học Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh vai trò của tình cảm trong thơ, ý kiến thứ hai không phủ nhận vai trò

quan trọng của tình cảm nhưng cho rằng chỉ có tình cảm không là chưa đủ để tránh cho thơ một cái chết yểu Nghĩa là ngoài tình cảm, sức sống của thơ còn phụ thuộc vào

tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ Hai nhận định nêu lên hai phương diện về đặc trưng thơ và yêu cầu sáng tạo thơ ca Mỗi nhận định có thể coi là một ý lớn, bổ sung cho nhau, và có vị trí tương đương nhau Như vậy trong phần chứng minh, học sinh cần làm sáng tỏ được hai luận điểm sau:

Luận điểm 1: Tình cảm là sinh mệnh của thơ

Trang 23

25

Luận điểm 2: Tình cảm được thể hiện qua hình thức nghệ thuật đặc sắc để tránh cho thi phẩm chết yểu

2.1.2 Luận điểm hàm ẩn

a Thế nào là luận điểm hàm ẩn?

Luận điểm hàm ẩn được hiểu là những ý chính cần chứng minh chưa được gợi ý trong cách diễn đạt của đề bài Người ra đề đặt những câu hỏi có tính chất mở hoặc chỉ gieo vấn đề bỏ ngỏ để người viết tự suy nghĩ trả lời

b Cách tìm và sắp xếp luận điểm

Dạng đề này không dễ, vừa có sự kết hợp kiến thức thực tế đời sống và kiến thức

lí luận văn học, đặt kiến thức lí luận văn học trong hoàn cảnh thực tế đang diễn ra để buộc người đọc phải suy nghĩ để khẳng định hoặc phủ định Muốn tìm được luận điểm, học sinh phải:

- Đọc thật kĩ đề bài

- Dựa vào kiến thức nền, khả năng tư duy và nắm bắt đề để xác định luận điểm Cần khai thác triệt để các dữ liệu mà đề bài đã cho (từ ngữ, câu hỏi gợi mở) để định hướng cho chính xác vấn đề Có thể xác định luận điểm bằng cách đưa ra những câu trả lời khác nhau đối với câu hỏi gợi mở ở đề bài hoặc từ những ý tưởng bất ngờ có thể nảy sinh Từ đó sắp xếp luận điểm tìm được một cách hợp lí

Ví dụ:

Rồi đây, có thể xuất hiện những cỗ máy biết viết văn, làm thơ Lúc đó, sáng tạo văn học có còn là độc quyền của con người?

Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình

(Đề thi Học sinh giỏi quốc gia 2018-2019)

Đề văn có hình thức một câu hỏi mở Để tìm luận điểm cho đề bài này, học sinh trước hết cần:

- Đọc kĩ đề, tập trung giải thích và khai thác ý nghĩa của các từ ngữ như cỗ máy biết viết văn, làm thơ; sáng tạo văn học; câu hỏi mở

Trang 24

26

+ Cỗ máy là sản phẩm sáng tạo kì diệu của con người trong nghiên cứu khoa học

kĩ thuật nhằm hỗ trợ, giúp đỡ con người, thậm chí thay thế con người trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, y tế, giáo dục đặc biệt là các ngành đòi hỏi độ tinh vi và nhiều nguy hiểm

+ Sáng tạo văn học là hoạt động tạo ra tác phẩm văn học nhằm phản ánh hiện

thực đời sống và thể hiện tư tưởng, tình cảm, tài năng của nhà văn Sáng tạo văn học vốn là độc quyền của con người mà cụ thể là người nghệ sĩ ngôn từ

+ Câu hỏi sáng tạo văn học có còn là độc quyền của con người trong tương lai?

gợi ra nhiều băn khoăn, trăn trở

-> Định hướng luận điểm liên quan đến vấn đề nghị luận: Đặc trưng và chức năng văn học, quá trình sáng tạo và những phẩm chất vốn có của người nghệ sĩ

- Đưa ra câu trả lời cho câu hỏi của đề bài và lí giải được vì sao sáng tạo văn học vẫn là độc quyền của con người? chính là tìm ra luận điểm

Kết hợp phần giải thích từ ngữ, trả lời câu hỏi, ta có thể tìm được các luận điểm chứng minh sau:

+ Trí tuệ nhân tạo là những sản phẩm sáng tạo kì diệu của con người trong thời

đại công nghệ 4.0

+ Sáng tạo văn học đòi hỏi người nghệ sĩ phải có những tư chất đặc biệt mà

không một cỗ máy nào có thể thay thế được, đó chính là tài năng, tấm lòng, và cái

nhìn hiện thực sắc sảo,

+ Đặc điểm chung của những cỗ máy là được lập trình để làm những công việc giống nhau, lặp đi lặp lại nhưng bản chất của văn chương là sự sáng tạo Khoa học

hướng đến cái chung, văn chương hướng đến cái tôi riêng đòi hỏi sự tìm tòi, khám phá

khơi những nguồn chưa ai khơi Điều này thì những cỗ máy không thể làm được

Máy móc không có những rung cảm mãnh liệt, những buồn vui, căm hơn, say mê, phấn khởi,

+ Sáng tạo văn học là nhu cầu thiết yếu của con người (người sáng tác và người thưởng thức)

Trang 25

27

3 Rèn kĩ năng triển khai hướng chứng minh

3.1 Thế nào là hướng chứng minh?

Hướng là đi theo một phía nào đó Hướng chứng minh là cách triển khai các

luận điểm, luận cứ theo một hướng xác định để đến được đích

3.2 Sự cần thiết phải xác định hướng chứng minh

Trong cuộc sống nếu bạn không biết mình đang đi đâu thì bạn chọn con đường nào cũng không quan trọng nữa Viết văn cũng vậy, đầu tiên phải xác định được đích

đến và tìm được hướng đi thích hợp để chạm đích Không có hướng đi cụ thể nhất định, người viết sẽ cảm thấy chênh vênh dẫn đến bài viết lộn xộn, không rõ ràng, mạch lạc, không thể làm rõ được vấn đề lí luận

3.3 Một số hướng chứng minh

Để đi đến đích không phải chỉ có một con đường, không phải có một hướng đi

mà có nhiều hướng đi Giáo viên cần dạy cho học sinh cách chứng minh để làm sáng

tỏ vấn đề theo nhiều hướng: có thể kết hợp vừa bình luận vừa chứng minh, tách phần chứng minh thành phần riêng, sau đó làm sáng tỏ vấn đề theo từng luận điểm hoặc

theo từng tác phẩm Lựa chọn hướng chứng minh nào là phụ thuộc vào tính chất của

đề cũng như trình độ, khả năng tư duy,… của học sinh

3.3.1 Chứng minh theo từng luận điểm

Đây là hướng chứng minh đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng nhuần nhuyễn, tư duy nhanh nhạy, logic, sắc bén, vốn hiểu biết rộng, sâu, nắm bắt được cái gì là trọng tâm, tiêu biểu nhất… mới có thể viết được Đi theo hướng này, học sinh cần:

- Nêu luận điểm (sau đó phân tích, cắt nghĩa, lí giải luận điểm nếu vừa bình vừa chứng minh)

- Đưa lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm đó

- Luận điểm tiếp theo có thể tiến hành tương tự

Ví dụ:

Thơ ca trong bản chất của nó là mây, một hình thể vô định và huyền ảo, và thơ

ca, cũng còn là bão tố

Trang 26

28

(Ba nghìn thế giới thơm – Nhật Chiêu)

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học hãy làm sáng tỏ vấn đề

Qua việc phân tích đề, xác định được hai luận điểm cần chứng minh:

Luận điểm 1: Thơ ca mang tính hàm súc, mơ hồ, đa nghĩa, đòi hỏi người đọc không ngừng khám phá và tri nhận

Luận điểm 2: Thơ ca là tiếng nói của những tình cảm mãnh liệt, thăng hoa, chín

đỏ, những tư tưởng sâu sắc, lay thức, khơi dậy, làm bùng nổ xúc cảm, nhận thức nơi

bạn đọc

Chọn hướng chứng minh theo luận điểm, ta có thể làm như sau:

- Luận điểm 1: Thơ ca mang tính hàm súc, mơ hồ, đa nghĩa, đòi hỏi người đọc không ngừng khám phá và tri nhận

+ Từ ngữ mơ hồ đa nghĩa: Từ đâu trong Cá đâu đớp động dưới chân bèo (Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến), từ đâu trong Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều (Tràng giang – Huy Cận)…

+ Dòng thơ/câu thơ mơ hồ đa nghĩa được tạo nên từ những cấu trúc gián đoạn, cách tỉnh lược ngôn từ (chủ thể, quan hệ) giống như nghệ thuật sắp đặt, hình ảnh mang

màu sắc tượng trưng siêu thực: những tiếng đàn bọt nước; tiếng ghi ta nâu/ bầu trời cô gái ấy/ tiếng ghi ta lá xanh biết mấy/ tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan/ tiếng ghi ta ròng ròng/ máu chảy; lila lila lila…

+ Hình ảnh/Hình tượng mơ hồ đa nghĩa: Hình ảnh mặt chữ điền trong Đây thôn

Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử; cặp hình tượng non - nước trong Thề non nước của Tản Đà,

- Luận điểm 2: Thơ ca là tiếng nói của những tình cảm mãnh liệt, thăng hoa,

chín đỏ, những tư tưởng sâu sắc, lay thức, khơi dậy, làm bùng nổ xúc cảm, nhận

thức nơi bạn đọc

+ Vội vàng – Xuân Diệu: Tình yêu cuộc sống tha thiết đắm say, niềm khát khao

giao cảm với đời, cuộc đời hiểu theo nghĩa trần thế nhất

/ Khát vọng táo bạo cuồng nhiệt: tắt nắng, buộc gió

Trang 27

29

/ Tình yêu say đắm đối với cuộc sống trần thế đẹp tựa một thiên đường trên mặt

đất: ong bướm tuần tháng mật, hoa của đồng nội xanh rì, lá của cành tơ, yến anh này đây khúc tình si

/ Nỗi ám ảnh thời gian, cảm giác sợ hãi vì đời người ngắn ngủi

/ Khát vọng sống hết mình, cháy hết mình, trọn vẹn từng phút từng giây

+ Tràng giang – Huy Cận: Tình yêu cuộc sống tha thiết ẩn chứa trong nỗi sầu

mênh mang

/ Tình yêu thiên nhiên…

/ Nỗi buồn man mác mà day dứt, ám ảnh về kiếp người bé nhỏ, lạc loài, cô đơn…

/ Nỗi nhớ quê nhà nhẹ nhàng trào lên như yên ba giang thượng nhưng mãnh liệt,

da diết khôn nguôi…

3.3.2 Chứng minh theo từng tác phẩm

Đây là hướng chứng minh truyền thống mà học sinh quen thuộc Ưu điểm của

hướng chứng minh này là có thể đào sâu, đào kĩ và đảm bảo được chỉnh thể của văn bản nhưng sẽ hạn chế về số lượng dẫn chứng, không đi được nhiều tác phẩm

Để làm theo hướng này, người viết sẽ lựa chọn những tác phẩm hay, tâm đắc, phù hợp, tiêu biểu đã được học, được đọc trong và ngoài chương trình để chứng minh Trong mỗi tác phẩm, học sinh có thể khai thác làm rõ vấn đề qua các luận điểm Sau khi phân tích xong một tác phẩm, học sinh sẽ chuyển sang tác phẩm khác để tiếp tục chứng minh

Ví dụ:

Tác phẩm văn học như con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện trong vận động Muốn làm cho nó xuất hiện, cần phải có một hoạt động cụ thể là sự đọc Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục Ngoài sự đọc ra, nó chỉ còn

là những vệt đen trên giấy trắng (J.Paul.Sartre)

Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học hãy làm sáng tỏ vấn đề

Với đề bài trên có thể triển khai hướng chứng minh theo tác phẩm như sau:

Trang 28

30

Chọn Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử để chứng minh:

- Luận điểm 1: Công việc của nhà văn là mã hóa hiện thực, tạo ra những ngôn

từ, hình ảnh và cách biểu đạt đa nghĩa cho bài thơ

Đây thôn Vĩ Dạ đã mang sự sống của riêng nó, hay chính là sự sống của Hàn

Mặc Tử Ông mắc bệnh phong khi tuổi đời còn rất trẻ và phải vào trại phong Quy Hòa khi tâm tưởng còn đang vướng vít cuộc sống bên ngoài và mối tình đơn phương ấp ủ với Hoàng Thị Kim Cúc Có thể nói tác phẩm chính là những dòng nhật kí của chính

Hàn Mặc Tử viết cho mình khi cô quạnh, nên chắc chắn nó không chỉ là một vệt đen

thông thường, mà là sự kí thác gửi gắm của tâm can qua hệ thống kí hiệu thẩm mĩ, để thể hiện nỗi nhớ về người xưa chốn cũ, sự mặc cảm, sự hoài nghi và khát khao được hòa mình trở lại cuộc đời, trở lại khu vườn xanh như ngọc dưới nắng mới lên

- Luận điểm 2: Công việc của độc giả là giải mã các kí hiệu thẩm mĩ, khám phá

chiều sâu tư tưởng tình cảm, thông điệp thẩm mĩ của nhà văn

Chính những vần thơ tâm can của Hàn Mặc Tử đã lay động người đọc, khiến họ đồng cảm, đồng tâm và cất tiếng trả lời nhà thơ, rằng tình người, tình đời vẫn còn sâu sắc, rằng họ đã đọc, đã nghe thấy chính tiếng gọi của thi sĩ họ Hàn, và dù không thể

níu giữ cuộc đời ông thì vẫn có thể níu giữ loài hoa ưu đàm mang tên Đây thôn Vĩ Dạ

mọc lên từ chính chỗ u uất nhất, tuyệt vọng nhất nhưng vẫn được tưới tắm bằng hy vọng nhỏ nhoi

Nhấn vào những điểm sáng nghệ thuật, những thi ảnh thi ngôn mang tính mơ hồ

đa nghĩa gợi sức liên tưởng Những hình ảnh, từ ngữ ấy làm nổi bật tư tưởng chủ đề, thông điệp sâu sắc của bài thơ

+ Mặt chữ điền: Hàn Mặc Tử/Hoàng Thị Kim Cúc/Người thôn Vĩ

+ Gió theo lối gió mây đường mây: nỗi cô đơn, mặc cảm

+ Khách đường xa: tiếng gọi day dứt, uất nghẹn như níu giữ những bóng hình

vốn chỉ có trong tâm tưởng đang chực chờ tan biến

+ Áo em trắng quá nhìn không ra: màu trắng trong quan niệm thẩm mỹ của

HMT; vì sao nhìn không ra…

Trang 29

-> Liên hệ đến thời điểm dịch bệnh đang hoành hành và phải giãn cách xã hội hiện nay, những tác phẩm như thế này tiếp thêm niềm tin cho con người chiến thắng đại dịch

Các dẫn chứng trong quá trình tích lũy của người viết cần đạt được mức độ kĩ, sâu, rộng và cao Kĩ, sâu tức là học sinh phải hiểu, nắm chắc, am tường đi đến tận gốc

rễ Rộng, cao giúp học sinh có tầm hiểu biết rộng, biết khái quát nâng tầm vấn đề Ví

dụ như khi tìm hiểu vẻ đẹp của sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông?

(Hoàng Phủ Ngọc Tường) cần liên hệ đến những tác phẩm khác của tác giả và một số

bài thơ viết về vẻ đẹp của xứ Huế và sông Hương: Tạm biệt Huế (Thu Bồn), Con sông huyền thoại (Nguyễn Trọng Tạo), Đọc Kiều (Chế Lan Viên) để thấy dòng sông của nó trong sâu thẳm mang vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Đó là rộng Để đạt mức cao, giáo viên

Trang 30

32

cần định hướng học sinh nâng lên, thường là vấn đề lí luận có tính chất khái quát hoặc các đặc trưng của giai đoạn, trào lưu văn học Chẳng hạn từ cách cảm nhận vẻ đẹp sông Hương và cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta có thể nâng lên đặc trưng của thể loại kí, tùy bút, phong cách tác giả…

Trong quá trình tích lũy dẫn chứng, học sinh cũng cần đặc biệt lưu ý đến tính hệ thống để vừa đạt được các mức độ trên lại có thể thuận lợi hơn cho việc sử dụng dẫn

chứng trong khi viết bài Có thể hệ thống theo các tác giả, giai đoạn, trào lưu, đề tài,… Các dẫn chứng nhận định lí luận cũng có thể hệ thống theo các chuyên đề lí luận như: đặc trưng văn học, chức năng văn học, nhà văn và quá trình sáng tác, phong cách nghệ thuật, thể loại thơ, truyện,…

4.1.2 Chọn dẫn chứng

a Căn cứ để chọn

Muốn chọn được dẫn chứng, học sinh cần phải đọc kĩ, bám sát yêu cầu đề bài Thông thường, dẫn chứng được chọn cần dựa trên 2 căn cứ chủ yếu sau:

* Vấn đề lí luận: Vấn đề lí luận và dẫn chứng có mối quan hệ chặc chẽ Đề yêu

cầu làm nổi bật vấn đề gì thì dẫn chứng phải tương ứng để làm nổi bật vấn đề đó Đề nhận định về thơ sẽ chọn thơ, đề nói về truyện ngắn sẽ phải lấy truyện ngắn để chứng minh Điều này đồng nghĩa với việc nếu xác định đề không đúng thì dẫn chứng cũng

sẽ không phù hợp

Ví dụ:

Đề thi học sinh giỏi Quốc gia THPT năm 2014:

Vấn đề nghị luận nằm trong ý kiến được trích dẫn trực tiếp: Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng chỉ nhằm thể hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện

-> Vấn đề lí luận ở đây chính là một quy luật của văn học nói riêng và nghệ thuật

nói chung đó là luôn hướng tới cái đẹp Việc miêu tả cái xấu, cái ác cùng nhằm thể

hiện khát vọng về cái đẹp, thiện Như vậy học sinh phải chọn được những tác phẩm nào đáp ứng được cả hai vế của vấn đề:

Trang 31

33

- Phản ánh cái ác, cái xấu

- Nhưng lại thể hiện được khát vọng về cái đẹp, cái thiện

-> Từ đó có thể chọn một trích đoạn trong tiểu thuyết Những người khốn khổ của Victor Hugo, Oliver Twist của Charles Dickens, Chí Phèo của Nam Cao, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu,… Tùy vào năng lực của học sinh mà chọn đâu là

dẫn chứng điểm, đâu là dẫn chứng diện

* Câu văn nêu lệnh: Câu văn nêu lệnh chính là yêu cầu đề bài, đặc biệt là yêu

cầu về phạm vi dẫn chứng Nếu đề giới hạn dẫn chứng thì chắc chắn phải chọn những tác phẩm có trong yêu cầu của đề làm dẫn chứng bắt buộc Nếu đề không bắt buộc dẫn chứng thì học sinh có thể tự do lựa chọn sao cho phù hợp với nội dung kiến thức Trong những tác phẩm tự chọn ấy, học sinh tiếp tục lựa chọn dẫn chứng để phân tích

làm sáng tỏ vấn đề Trong những năm gần đây, các đề thi học sinh giỏi Quốc gia kiểu bài lí luận văn học thường không yêu cầu dẫn chứng bắt buộc mà để học sinh tự chọn

dẫn chứng Đó vừa là thuận lợi để học sinh có thể chọn được những tác phẩm mà mình yêu thích, tạo nên sự say mê, thăng hoa trong bài viết Nhưng khó khăn ở chỗ nếu chọn dẫn chứng không tinh tế, không phù hợp, không tiêu biểu,… sẽ khiến học sinh đi chệch hướng, chất lượng bài văn không cao

Ví dụ:

Đề thi HSGQG năm 2017-2018

Chế Lan Viên viết trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?: Hãy biết

ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!

Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt? Lưu Trọng Lư cho rằng: Sự sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phải được nâng lên, phải được tập trung cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu sự thực phải được sáng tạo, phải được nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận những quan niệm trên

Trang 32

* Trước hết dẫn chứng cần phải trúng Trúng tức là đúng là trọng tâm, không

lệch ra ngoài Nhiều dẫn chứng có thể phù hợp với vấn đề lí luận nhưng dẫn chứng nào

+ Câu nêu lệnh Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

-> Dẫn chứng tự chọn, không yêu cầu bắt buộc về thể loại, giai đoạn

- Yêu cầu chọn dẫn chứng trúng nghĩa là đáp vào hai luận điểm:

Luận điểm 1: Một tác phẩm hay làm người ta rung động

Luận điểm 2: Một tác phẩm chỉ trở nên bất tử khi nó đạt đến tầm sâu triết lí nhân sinh

-> Những tác phẩm có thể chọn để chứng minh đảm bảo tiêu chí trúng

Trang 33

(Nguyễn Minh Châu)

Trong từng tác phẩm, có thể chọn dẫn chứng trúng để phân tích kĩ làm rõ được hai luận điểm, đặc biệt là luận điểm chính thứ 2 Chẳng hạn với tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), có thể chọn những dẫn chứng để phân tích kĩ như sau: Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm hay vì làm cho người ta rung động: Rung

động rất nghệ sĩ trước vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên toàn bích -> chọn dẫn chứng

cảnh đắt trời cho (phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ); phẫn nộ trước cái ác, cái xấu

-> chọn dẫn chứng cảnh người đàn ông đánh người đàn bà; nỗi băn khoăn, xót xa, trăn trở đến day dứt trước số phận của những đứa trẻ khi phải sống trong cảnh bạo hành gia đình -> chọn dẫn chứng là hình ảnh thằng Phác; cảm thương cho số phận của người đàn bà -> chọn dẫn chứng là cuộc đời người đàn bà hàng chài; trân trọng ngời ca vẻ đẹp tâm hồn của con người -> chọn dẫn chứng là vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà hàng chài

Chiếc thuyền ngoài xa trở nên bất tử vì đạt đến tầm sâu triết lí nhân sinh: Đó là

triết lí về cuộc đời, về nghệ thuật qua cách nhìn của nhân vật Phùng, qua hình ảnh người đàn bà hàng chài…

* Dẫn chứng phải tiêu biểu: Dẫn chứng tiêu biểu là dẫn chứng nổi bật nhất, đặc

trưng nhất, điển hình nhất Vì sao phải chọn dẫn chứng tiêu biểu? Vì có nhiều dẫn

chứng trúng nhưng trong đó sẽ có những tác phẩm, đoạn thơ, phần truyện,… nổi bật

hơn Nếu dẫn chứng không tiêu biểu sẽ không đủ sức tạo nên sự thuyết phục cho luận điểm Dẫn chứng được coi là tiêu biểu phải tùy vào từng vấn đề lí luận Trong trường hợp này là tiêu biểu nhưng trong trường hợp khác lại không phải Một dẫn chứng tiêu

biểu tức là phải hay, phải tầm cỡ, phải kết tinh được tư tưởng, tình cảm, tài năng của người viết, được nhiều độc giả yêu thích…

Ví dụ: Thơ để sống với đời thường và giấc mơ phía trước

Trang 34

36

(Theo https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/nguoi-thay/luu-quang-vu)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

- Căn cứ để chọn dẫn chứng

+ Vấn đề lí luận: đặc trưng thơ ca và yêu cầu đối với nhà thơ Thơ ca vừa phản

ánh hiện thực cuộc sống bình dị vừa là nơi chứa đựng niềm tin, hi vọng, khát khao cháy bỏng về những điều tốt đẹp cho tương lai -> Dẫn chứng phải phản ánh được cuộc đời bình dị, chứa đựng niềm tin, khát vọng vào tương lai

+ Câu văn nêu lệnh: Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên -> dẫn chứng phải là thơ (vì căn cứ vào vấn đề lí luận) nhưng không bắt buộc bài

thơ nào miễn là đáp ứng được yêu cầu đề bài và đảm bảo các tiêu chí

- Yêu cầu chọn dẫn chứng: Đặt yêu cầu dẫn chứng trúng lên hàng đầu để

chọn và sau đó là yêu cầu dẫn chứng tiêu biểu Có thể lựa chọn các tác phẩm thơ

Dạ (Hàn Mặc Tử), Sóng (Xuân Quỳnh), Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo),

* Dẫn chứng phải ngấm, bản thân phải tâm đắc: Học sinh cần lựa chọn

được những dẫn chứng mà mình hiểu sâu, hiểu kĩ, và phải là dẫn chứng yêu thích,

tâm đắc, thuộc sở trường của bản thân Nếu dẫn chứng trúng, tiêu biểu mà học sinh không hiểu kĩ, không thấm được thì cũng chẳng khác nào anh chàng đãng trí lao xuống dòng nước cuồn cuộn mà không biết bơi Để ngấm được dẫn chứng bên cạnh

việc trang bị, hướng dẫn của giáo viên, học sinh cần phải đọc, học, phải tìm tòi, khám phá,… mới có thể hiểu thấu, hiểu sâu, hiểu kĩ được Chọn được những dẫn

chứng mà bản thân ngấm thì luận điểm sẽ được rõ ràng, thuyết phục và bài viết được

thăng hoa hơn

Trang 35

37

* Dẫn chứng phong phú, đa dạng, toàn diện: Phong phú, đa dạng, toàn diện

tức là nhiều màu vẻ trên nhiều thể loại, nhiều giai đoạn, trào lưu, nhiều nền văn học,… khác nhau: có thơ, có truyện; có cổ, có kim; có trung đại, hiện đại; có Đông,

có Tây; có văn học trong nước, văn học nước ngoài, có trong chương trình, có ngoài chương trình,… Mục đích của việc chọn dẫn chứng phong phú, đa dạng, toàn diện là

để thấy tính chất đúng đắn của vấn đề lí luận trên diện rộng chứ không phải đơn lẻ, độc quyền Nếu dẫn chứng không đa dạng, bài văn cũng sẽ trở nên nghèo nàn, đơn điệu, không gây được hứng thú, hấp dẫn đối với người đọc Tuy nhiên phong phú đa dạng, toàn diện nhưng cũng cần phải sắp xếp một cách hợp lí, có lớp lang, trật tự để tránh hiện tượng lặp lại dẫn chứng hoặc dẫn chứng nhiều nhưng một màu

Ví dụ:

Một truyện ngắn hay bao giờ cũng có khả năng tạo ra trong đông đảo người

đọc một sức liên tưởng rộng rãi và bao quát vượt ra ngoài khuôn khổ của những trang truyện ít ỏi của bản thân nó (Nguyễn Minh Châu)

Bằng trải nghiệm văn học của mình, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

cô đọng, súc tích của truyện ngắn và sức gợi sâu xa về mặt nội dung, đặc biệt là

những liên tưởng bao quát…

+ Câu văn nêu lệnh: Bằng trải nghiệm văn học của mình, anh/chị hãy làm sáng

tỏ ý kiến trên -> Dẫn chứng tự chọn nhưng phải là truyện ngắn

- Yêu cầu chọn dẫn chứng: Sau khi đã chọn được dẫn chứng đảm bảo trúng,

tiêu biểu, ngấm và tâm đắc thì học sinh chọn lựa trên các yếu tố: tác giả, giai đoạn,

thể loại, quốc gia… để có được sự phong phú, đa dạng, toàn diện về mọi mặt mà vẫn đảm bảo yêu cầu và có độ sâu Giáo viên có thể định hướng một số tác phẩm sau:

Trang 36

38

+ Tác phẩm chứng minh diện: Chọn truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư trong

tập Cố định một đám mây, Thuốc (Lỗ Tấn),…

+ Tác phẩm chứng minh điểm (phân tích kĩ): Chí phèo (Nam Cao), Chữ người

tử tù (Nguyễn Tuân), Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu),…

* Dẫn chứng phải có tính mới: Mới tức là chưa quen thuộc Ngoài những dẫn

chứng đã học trong chương trình sách giáo khoa THPT, học sinh cần biết chọn những ngữ liệu ngoài chương trình để làm mới bài viết của mình, đem đến một luồng gió

mới tránh sự nhàm chán, đơn điệu về những dẫn chứng mà đọc bao năm người ta đã biết cả rồi Dẫn chứng mới cũng là vùng đất để học sinh có thể thỏa sức khám phá và

cày xới mà không đi theo lối mòn sẵn có Dẫn chứng mới sẽ làm cho bài viết trở nên hấp dẫn hơn, thể hiện được nét riêng của cá nhân học sinh

Ví dụ:

Trong Lời giới thiệu cho lễ kỉ niệm 25 năm ngày xuất bản “Suối nguồn”, nữ

văn sĩ Ayn Rand đã trích một câu nói của Victor Hugo để diễn tả thái độ với công

việc viết lách của nhà văn và cũng là của người cầm bút nói chung: Nếu một nhà văn chỉ viết cho thời đại của mình thì tôi sẽ phải bẻ bút và vứt nó đi

Anh/Chị hiểu như thế nào về quan điểm trên? Bằng trải nghiệm văn học của mình, hãy làm sáng tỏ ý kiến

Trong đề bài trên, Victor Hugo đã đặt ra yêu cầu đối với người nghệ sĩ và tác phẩm văn học: Phải biết hướng tới những gì lớn lao cao cả có ý nghĩa nhiều thời, muôn đời Để làm sáng tỏ vấn đề lí luận này, giáo viên có thể định hướng học sinh

những tác phẩm trong chương trình như Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Cảm hoài (Đặng Dung), Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du), Chí Phèo (Nam Cao), Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Vợ nhặt (Kim Lân), Chiếc thuyền ngoài xa

(Nguyễn Minh Châu),… Ngoài ra, học sinh cần mở rộng hướng tới những tác phẩm

mới ngoài chương trình như Đại gia Gatsby (F.Scott Fitzgerald), Giấc mơ Mỹ (Steven Millhauser),…

4.2 Rèn kĩ năng phân tích dẫn chứng

Trang 37

39

4.2.1 Kĩ năng phân tích dẫn chứng hướng đến làm sáng tỏ vấn đề nghị luận

Khi đã chọn được dẫn chứng, học sinh cần có kĩ năng phân tích dẫn chứng tốt

mới đạt được hiệu quả chứng minh Phân tích như thế nào để làm sáng tỏ được vấn đề

nghị luận là mục đích quan trọng nhất của phần chứng minh Muốn vậy học sinh cần

xác định được điểm đến của dẫn chứng Bởi cùng một dẫn chứng, phân tích khác nhau

sẽ hướng đến những đích khác nhau Cùng một dẫn chứng, một đích đến nhưng mỗi

học sinh có cách triển khai khác nhau nhưng bao giờ cũng có một cách tối ưu nhất:

Ví dụ:

Thơ ca ấy là lối đi dưới lá Hoặc là một cửa động cô tịch Bạn gọi thì nó sẽ thưa

Nghĩa là cửa động sẽ mở khi có tri âm: “Vừng ơi, mở ra”! Có nguy cơ là cửa động

vẫn đóng im lìm… vì ta chưa tìm ra tiếng gọi

(Ba nghìn thế giới thơm, Nhật Chiêu, NXB Văn học, 2015, tr.9)

Anh/Chị hiểu như thế nào về quan niệm trên? Bằng hiểu biết thơ ca của bản thân, hãy làm sáng tỏ vấn đề

- Với đề bài trên, dẫn chứng có hai điểm đến:

+ Vẻ đẹp ẩn giấu dưới lớp từ ngữ, hình ảnh

+ Tiếng nói tri âm mở cửa tác phẩm

- Cách thức triển khai dẫn chứng tối ưu nhất là nên đi theo từng tác phẩm, trong

tác phẩm làm rõ hai luận điểm trên

- Áp dụng vào một tác phẩm cụ thể: Đàn ghi ta của Lor-ca

+ Vẻ đẹp ẩn giấu dưới lớp từ ngữ, hình ảnh: Bài thơ có nhiều khoảng trống, điểm

trắng tạo độ mở lớn cho sự tiếp nhận dân chủ của người đọc (Màu sắc tượng trưng và siêu

thực: Tỉnh lược từ chỉ quan hệ, giấu đi bình diện nghĩa được nói đến của hình ảnh…)

+ Tiếng nói tri âm mở cửa tác phẩm: Cuộc đời, số phận và vẻ đẹp bi tráng của hình

tượng Lor-ca…; Tư tưởng, tình cảm, thái độ của nhà thơ: Thanh Thảo tri âm với tiếng đàn,

với người nghệ sĩ cách xa cả về không gian và thời gian, người đọc tri âm kép: Vừa phục

hiện hình tượng Lor-ca trong tâm trí mình vừa thấu hiểu nỗi lòng của thi sĩ cỏ xanh: đồng

cảm, xót thương, ngưỡng mộ và thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử của người nghệ sĩ

và nghệ thuật chân chính…

Trang 38

40

4.2.2 Kĩ năng nhấn – lướt – bỏ qua

Trong quá trình chứng minh, nhiều học sinh phân tích dẫn chứng một cách dàn trải, chỗ nào cũng phân tích như nhau khiến cho phần chứng minh trở nên đều đều,

dàn trải, không có trọng tâm Vì vậy rèn cho học sinh kĩ năng nhấn – lướt – bỏ qua là

vô cùng quan trọng Một tác phẩm văn học chứa đựng rất nhiều nội dung kiến thức nên muốn làm nổi bật cái gì thì nhấn vào cái đó, những gì không liên quan nhiều đến

vấn đề thì cần phải lướt hoặc bỏ qua Khi đã chọn được dẫn chứng cần nhấn vào thì

phải biết phân tích một cách cặn kẽ, sâu sắc các biểu hiện của vấn đề lí luận trong dẫn chứng đó, phân tích không chỉ dừng lại vở nội dung mà còn phải chỉ ra được tác dụng của các yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện nội dung đó Không những thế, muốn phân tích sâu còn cần kết hợp cả việc cắt nghĩa, lí giải, bình luận, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, bằng cách so sánh, liên hệ mở rộng để thấy được cái hay, cái đẹp, cái riêng của dẫn chứng mà chúng ta lựa chọn

Ví dụ:

Nhà văn Pháp Albert Camus từng nói rằng: Đối với tôi, nghệ thuật không phải

là một lạc thú để hưởng một mình, nghệ thuật không thể là một cuộc độc thoại

Anh/Chị hiểu như thế nào về quan điểm trên? Bằng trải nghiệm văn học của mình, hãy làm sáng tỏ ý kiến

Học sinh đã phân tích dẫn chứng với kĩ năng nhấn – lướt – bỏ qua khi phân tích Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Tuân như sau:

Nói đến một cuộc đối thoại dân chủ giữa nhà văn - bạn đọc, không thể bỏ quên

“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu Theo chân nhân vật Phùng, hiện ra trước mắt độc giả là một cảnh đắt trời cho: “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ” Đây là chất thơ của tác phẩm, ta vẫn thường hay bắt gặp những cảnh thiên nhiên thi vị như thế Đó là cảnh đêm trăng trong “Chí Phèo” của Nam Cao, là đường lên Sa

Pa trong “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, là những vì sao trong truyện ngắn

Trang 39

41

cùng tên của nhà văn Pháp Alphonse Daudet Thưởng ngoạn “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông” từ xưa đã là thú vui tao nhã, “cái đẹp chính là đạo đức” thanh lọc cho tâm hồn trong vắt tinh khôi Cảnh đẹp ấy có thể nhà văn từng chứng kiến, hoặc chỉ trong mộng tưởng, song rốt cuộc không thể phủ nhận nó đem đến sự thư thái cho lòng người, một chút nghỉ chân giữa trần ai loạn thế, biết đâu còn làm sực tỉnh những người đang điêu đứng trăm chiều, khổ vì danh lợi, đưa ta về với những giá trị đích thực của cuộc sống, nó là lạc thú Lạc thú ấy không dưng mà có, tác giả vẽ bằng ngôn

từ, độc giả nhìn vào ngôn từ và tưởng tượng Nhà văn đã “không hưởng một mình” (viết ra, viết một cách dễ hiểu), không để tác phẩm thành “một cuộc độc thoại” (bởi không nói về những vui thú mang tính cá nhân tầm thường mà nói về giá trị cốt lõi muôn đời của tâm hồn) Song nếu vì sùng bái thiên nhiên mà lãnh đạm với chuyện thiện ác ở đời thì cái đẹp có còn là chân lý? Chính Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” Trung tâm của bức tranh văn học là con người Nói đến cảnh chỉ vì cảnh làm đẹp cho hồn người, chứ không thể chỉ vì cảnh đẹp mà trở thành khán giả bàng quan của những cảnh đau xót trên đời Cảnh bạo lực gia đình phía sau con thuyền đẹp như mơ không thể gọi là lạc thú, không ai có thể vui trước cảnh bạo hành tàn nhẫn ấy, song ta vẫn có được niềm vui của người lữ hành đi tìm chân lý Qua phát hiện của mình, dường như nhân vật Phùng đã gửi tới chúng ta triết lý: “Sáng và tối là một, trong và đục cùng nơi, tròn và méo tương hình” (Nam Hoa Kinh), cuộc đời đa sự, thiện và ác luôn tồn tại với nhau như hai mặt đối lập của một thể thống nhất, bên cạnh hạnh phúc có bóng dáng khổ đau Nói cho công minh thì Phùng không có tư tưởng, nhờ Nguyễn Minh Châu thổi tư tưởng của mình vào mà có tư tưởng, trò chuyện với Phùng tức là ta đang trò chuyện với nhà văn, nhờ đó nhận thấy điều nhà văn luôn tâm niệm: “Sáng tác văn học là hành trình đi tìm những hạt ngọc ẩn trong bề sâu tâm hồn con người.” Một nghịch lý trải ra trước mắt Phùng: người đàn bà thà đi tù chứ không chịu bỏ gã chồng

vũ phu Hóa ra đằng sau người đàn bà xấu xí, nhẫn nhục tưởng như nhu nhược lại là viên ngọc tròn trịa ánh ngời của tình yêu thương con, lòng vị tha, đức hi sinh, bởi

“đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên mặt đất được” Không đơn thuần chỉ là đối thoại, Nguyễn Minh Châu còn dẫn độc giả cùng “đi tìm những hạt ngọc” với mình Đó là chuyến hành trình tuyệt vời, bởi không

Trang 40

42

những đích đến của nó là cái đẹp, mà khi dấn thân trên con đường đó, tự con người ta

cũng trở nên đẹp với tinh thần nhân đạo Hoàn toàn có thể gọi đó là lạc thú

Đối thoại với tác giả chỉ là một phía, hơn tất cả, độc giả phải đối thoại với chính bản thân mình, bởi xét cho cùng, quá trình đến với văn học, tận hưởng những nét đẹp nghệ thuật cũng là để đính thêm cho tâm hồn nhiều viên ngọc quý Mục đích của văn học là “giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy sinh ở con người những khát vọng hướng tới chân lý” (M.Gorki) Điều này hoàn toàn khả thi, bởi văn học bắt nguồn từ đời sống, “mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời” (Tô Hoài) Mỗi tác phẩm văn chương là một con đường để ta đi rộng hơn, sâu hơn và chính cuộc sống của mình chứ không phải đi phiêu lưu ở những phương trời nào vô định Trong đó ít hay nhiều ta sẽ thấy bóng dáng của ta Ta nhớ lại có lúc mình từng mơ mộng, ngờ nghệch đáng cười như Don Quijote, có lúc mong muốn được chu du khắp bốn phương trời đất như cậu bé Remi hay trở thành phù thủy như Harry Potter Ta băn khoăn không chắc chắn liệu trong tình thế của Jean Vanjean mình có cao thượng được như vậy hay chăng, hay trước

hoàn cảnh của Pavel, mình có đủ quyết tâm giựt tung vòng đai thép? (Bài viết của HS)

Trong đoạn văn trên, người viết đã lấy tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu để chứng minh cho hai luận điểm:

- Luận điểm 1: Nghệ thuật là một lạc thú

- Luận điểm 2: Nghệ thuật không là một lạc thú để hưởng thụ một mình, nghệ thuật không thể là một cuộc độc thoại

Với tác phẩm này, học sinh lựa chọn phân tích sâu hai phát hiện của người nghệ

sĩ Phùng: phát hiện thứ nhất– một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ và phát hiện thứ hai về cảnh bạo lực của gia đình người đàn bà hàng chài còn các chi tiết khác có thể bỏ qua Quá trình phân tích sâu dẫn chứng vẫn có có chỗ lướt, chỗ xoáy Lướt ở luận điểm thứ nhất nhưng xoáy sâu ở luận điểm thứ hai khiến cho bài viết khi đọc lên vừa rõ ràng vừa ấn tượng

4.2.3 Kĩ năng phân tích dẫn chứng tạo dấu ấn riêng của người viết

Ngày đăng: 04/12/2022, 23:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống  bằng tâm trí của người đọc - CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022
Hình t ượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ thực sự sống bằng tâm trí của người đọc (Trang 135)
Hình tượng đó.  nhân vật. - CÁC CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN ĐẠT GIẢI TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2022
Hình t ượng đó. nhân vật (Trang 136)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w