Quản trị quan hệ khách hàng là có lẽ là khái niệm quan trọng nhất trong tiếp thị hiện đại. Nó bao gồm vô số các hoạt động trọng yếu cũng như một loạt các nguyên lý cốt lõi. Một trong số đó chính là quản trị vòng đời khách hàng. Vậy, vòng đời khách hàng là gì? Quản trị vòng đời khách hàng là việc quản lý các phân đoạn trong hành trình của khách hàng theo từng giai đoạn từ giai đoạn thu hút khách hàng, giữ chân khách hàng đến giai đoạn phát triển khách hàng. Để quản trị vòng đời khách hàng hiệu quả, doanh nghiệp phải tự mình trả lời các câu hỏi liên quan đến các quá trình đã nêu. Chẳng hạn như đối với việc thu hút khách hàng: Khách hàng mục tiêu nào nên được thu hút? Cách tiếp cận đến những đối tượng này như thế nào? Đối với giữ chân khách hàng: Khách hàng nào nên được giữ lại? Mục tiêu của doanh nghiệp là gì?... Bài phân tích dưới đây sẽ làm rõ hơn các vấn đề trên xét dưới góc độ lý thuyết, sau đó chiến lược quản trị vòng đời khách hàng của Amazon sẽ được phân tích dựa trên khung lý thuyết đó. MỤC LỤC1.Thu nhận khách hàng11.1Khách hàng mới11.1.1Khách hàng mới đối với danh mục sản phẩm1Khách hàng mới đến công ty:1Mua theo danh mục nhà cung cấp11.2Tìm kiếm khách hàng tiềm năng21.2.1Tìm kiếm khách hàng tiềm năng từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng41.2.2KPIs trong thu nhận khách hàng71.2.3Thực hiện những ưu đãi71.3Công cụ CRM tác nghiệp để thu hút khách hàng mới81.3.1Quản trị khách hàng tiềm năng81.3.2Quản trị chiến dịch91.3.3Marketing sự kiện (EBM)91.3.4Hỗ trợ từ phân tích CRM92Giữ chân khách hàng102.1Quản trị giữ chân khách hàng hay duy trì giá trị khách hàng102.1.1Định nghĩa về giữ chân khách hàng102.1.2Đo lường việc giữ chân khách hàng10Ba cách đo lường việc giữ chân khách hàng hay tỉ lệ khách hàng được duy trì112.1.3Các lập luận kinh tế trong việc giữ chân khách hàng112.2Khách hàng nào nên giữ chân và duy trì?122.3Chiến lược giữ chân khách hàng132.3.1Chiến lược giữ chân khách hàng tiêu cực132.3.2Chiến lược giữ chân khách hàng tích cực142.4Đo lường mức độ hiệu quả của chiến lược giữ chân khách hàng.192.5Phát triển khách hàng192.5.1Khái quát192.5.2Chiến lược phát triển khách hàng192.6Chiến lược loại bỏ khách hàng222.7Customer Churn243Quản trị vòng đời khách hàng Trường hợp của Amazon243.1Lịch sử hình thành và phát triển của Amazon243.2Chiến lược quản trị vòng đời khách hàng của Amazon263.2.1Nhóm khách hàng của Amazon263.2.2Chiến lược quản trị vòng đời khách hàng của Amazon273.3Đánh giá chiến lược quản trị vòng đời khách hàng của Amazon333.3.1Ưu điểm333.3.2Nhược điểm343.3.3Kết luận34 1.Thu nhận khách hàng1.1Khách hàng mới 1.1.1Khách hàng mới đối với danh mục sản phẩmLà những khách hàng xác định nhu cầu mới hoặc tìm được những giải pháp mới cho nhu cầu hiện có của bản thân. Hoặc cũng có thể là những khách hàng bắt đầu một hoạt động mới yêu cầu những nguồn tài nguyên nguyên liệu mới từ doanh nghiệp.Khách hàng mới đến công tyLà những khách hàng mới làm quen với công ty, công ty giành họ từ những đối thủ cạnh tranh. Những khách hàng này chuyển sang công ty bạn vì có thể bạn đa dạng hoặc đưa ra những giải pháp tốt hơn cho họ. Bên cạnh đó, để có thể lôi kéo được những khách hàng này, công ty phải chịu một khoản chi phí khá lớn để quảng cáo trên nhiều phương tiện.Mua theo danh mục nhà cung cấpCam kết là một chức năng của sự hài lòng với thương hiệu, sự hấp dẫn của các lựa chọn thay thế và sự gắn bó với thương hiệu.Jan Hofmeyr đã phát triển Mô hình chuyển đổi. Mô hình chuyển đổi cho phép khách hàng được phân đoạn thành bốn tập hợp con theo mức độ cam kết của họ: cố chấp, bình thường, nông cạn và dễ chuyển đổi. Có hai nhóm khách hàng đã cam kết và 2 trong số không cam kết như sau:Khách hàng đã cam kếtKhách hàng đã tham gia và khó có khả năng chuyển đổi trong tương lai gần.Khách hàng trung bình không có khả năng thay đổi trong ngắn hạn nhưng có thể chuyển đổi trong trung hạn.Khách hàng chưa cam kếtKhách hàng nông thôn có mức cam kết thấp hơn mức trung bình và một số trong số họ đã đang xem xét các lựa chọn thay thế.
Trang 1ĐỀ TÀI: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên thông qua hệ thống đào tạo trực tuyến: trường hợp với sinh viên Trường Đại học Kinh tế
- Đại học Đà Nẵng
Giáo viên hướng dẫn: TS Hoàng Văn Hải
Sinh viên thực hiện: Đà Nẵng, ngày 11 tháng 10 năm 2020
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mô hình học tập trực tuyến trực tiếp – Synchronous Training System 81.2.2 Mô hình học tập trực tuyến gián tiếp – Asynchronous Training System 8
Trang 3KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17
3.1 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo 34
Trang 44.2 Phân tích hồi quy tuyến tính 44
4.2.2 Kiểm tra sự vi phạm các giả định mô hình hồi quy: 44
5 Phân tích sự khác biệt về giá trị trung bình kết quả học tập giữa các nhóm đặc
Trang 6Bảng 1 Nghiên cứu định tính sơ bộ 18
Bảng 2 Thống kê theo tên tác giả, năm nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp
Bảng 3 Bảng thống kê theo từng nhân tố, tác giả, năm nghiên cứu 23
Bảng 14 Độ tin cậy thang đo tài nguyên giáo dục mở 35
Bảng 18 Ma trận xoay nhân tố trong mô hình lần đầu 37
Bảng 19 Ma trận xoay nhân tố trong mô hình lần cuối 38
Bảng 20 Phương sai trích của các nhân tố trong mô hình 40
Bảng 24 Hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 43
Bảng 26 Kiểm định giả thiết phần dư có phân phối chuẩn 45
Bảng 27 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình 46
Bảng 28 Kiểm định hiện tượng phương sai không đồng nhất trong mô hình 46
Bảng 29 Kiểm định hiện tượng tự tương quan trong mô hình 47
Trang 7Bảng 31 Bảng kết quả hồi quy 48
Bảng 32 Hệ số beta chuẩn hóa của các nhân tố trong mô hình 48
Trang 8Biểu đồ 1 Điểm số trước và sau khi học trực tuyến 28
Biểu đồ 2 Mô tả giá trị trung bình nhân tố động cơ học tập 29
Biểu đồ 3 Mô tả giá trị trung bình nhân tố phương pháp học tập 30
Biểu đồ 4 Mô tả giá trị trung bình nhân tố tài nguyên giáo dục mở 31
Biểu đồ 5 Mô tả giá trị trung bình nhân tố năng lực giảng viên 32
Biểu đồ 6 Mô tả giá trị trung bình nhân tố công nghệ 33
Biểu đồ 7 Mô tả giá trị trung bình nhân tố kết quả học tập 33
Trang 9phương thức đào tạo truyền thống vẫn chưa được phát triển mạnh để đáp ứng được
nhu cầu này Do đó, cùng với sự bùng nổ của “Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” là
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào nhiều lĩnh vực Cụ thể trong lĩnh vực giáo dụcthì một hình thức đào tạo mới đã ra đời đó là E-learning, góp phần vào việc thỏa mãnnhu cầu trau dồi kiến thức của học viên Đào tạo trực tuyến đang ngày càng được ápdụng phổ biến hơn ở các trường đại học trên cả nước nói chung và khu vực thành phố
Đà Nẵng nói riêng Chính vì thế, mối quan tâm hàng đầu hiện nay của ngành giáo dục
là việc đánh giá chất lượng học tập trực tuyến Mục tiêu là giúp các nhà quản trị có cáinhìn toàn diện hơn về những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên.Phương pháp nghiên cứu dựa vào việc tổng hợp lý thuyết và các mô hình, nhóm tiếnhành nghiên cứu định tính sơ bộ và định lượng chính thức Kết quả có 5 nhân tố ảnhhưởng đến kết quả học tập: Động cơ học tập; Phương pháp học tập; Tài nguyên giáodục mở; Năng lực giảng viên và cuối cùng là Yếu tố công nghệ Nhằm đóng góp chocác trường đại học, cơ sở giáo dục những kết quả và kiến nghị nhằm cải tiến và nângcao chất lượng học tập của đào tạo trực tuyến cũng chính là hàm ý của nghiên cứu
Từ khóa: Đào tạo trực tuyến, kết quả học tập, nhân tố ảnh hưởng
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, trong bối cảnh thế giới đang bùng nổ “Cuộc cách mạng công nghiệp4.0” thì sự ảnh hưởng sâu rộng của cuộc cách mạng này đến hầu hết mọi lĩnh vực là rấtđáng kể, đặc biệt là công nghệ thông tin bao gồm: Vạn vật kết nối (IoT – Internet ofThings), Trí tuệ nhân tạo (AI – Artificial Intelligence), Dữ liệu lớn và phân tích (BigData & Analyitcs) [1]
Cuộc cách mạng này đã mang lại lợi ích rất lớn cho thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng Sự phát triển nhanh chóng của CNTT và truyền thông (ICT) cùng với
sự bùng nổ của Internet đã tiếp tục có những ảnh hưởng đến các mô hình cung cấpdịch vụ của môi trường kỹ thuật số toàn cầu ngày nay, như: kinh doanh điện tử,thương mại điện tử, chính phủ điện tử, ngân hàng điện tử,… Con người dù ở bất kì đâuvẫn có thể tham gia các hoạt động một cách trực tuyến như mua hàng, giải trí, học tập,
… và điều này giúp cho chúng ta tiết kiệm công sức, thời gian và hơn hết là mang lại
sự tiện lợi – thứ mà con người chỉ có hữu hạn và cũng không thể thay thế bằng bất kỳloại vật chất nào khác
Song song với những lợi ích từ sự bùng nổ của CMCN 4.0, là những đòi hỏi vềnguồn nhân lực có kỹ năng nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cao hơn không chỉ đốivới công nhân mà còn đối với những người đã có bằng cấp Điều này kéo theo nhu cầuhọc tập của học sinh/sinh viên ngày càng cao hơn Không những vậy, nhu cầu học tậpnày cũng đóng vai trò quan trọng đối với những người đã và đang lao động, ở mọi lứatuổi Bên cạnh đó, để đáp ứng mục tiêu hiện nay theo tiêu chí của UNESCO đặt ra cho
ngành GD-ĐT của thế kỷ XXI là “Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dạy cho
mọi người với mọi trình độ tiếp thu khác nhau” thì sứ mệnh của giáo dục phải “giúp cho người học đạt được những kiến thức và kỹ năng, và giúp cho họ có thể tiếp tục việc học tập suốt đời”.[7] Chính vì vậy, đòi hỏi các đơn vị, tổ chức giáo dục và cáctrường đại học cần phải thay đổi căn bản và toàn diện, cải tiến chương trình đào tạo, ápdụng hình thức học kết hợp, trong đó mở rộng mạnh mẽ hơn hình thức học trực tuyếnbằng việc tận dụng những bước đột phá của CNTT nhằm mang lại cho người học
Trang 11nhiều kỹ năng, kiến thức mới, phù hợp với xu hướng của đất nước và sự phát triển củaThế giới
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, đào tạo trực tuyến đã xuất hiện lần đầu tiên trênthế giới với hình thức giáo dục điện tử là đào tạo trên máy tính (CBT) (Garrison,2011) Và cho đến hiện nay, ta có thể thấy rằng E-learning đang dần đóng một vai tròquan trọng trong việc thực hiện mục tiêu xã hội hóa học tập Theo báo cáo của Allen &Seaman (2007), tỷ lệ tăng trưởng về số lượng sinh viên đại học và cao đẳng đăng kýtham gia ít nhất một lớp học trực tuyến là 9.7% và vượt đáng kể so với mức tăngtrưởng 1.5% trong tổng số sinh viên giáo dục đại học trong cùng một thời kỳ.[2] Cùngvới đó là sự bùng nổ của mạng xã hội dẫn đến sự hình thành và phát triển học trựctuyến từ mạng xã hội (social online E-learning) (Bari, M và nhóm đồng tác giả,2018) Điển hình là sự thành lập Trường Đại học Mở - Vương quốc Anh (UKOU), đây
là một trong những tổ chức tiên phong thực hiện phương pháp giáo dục đào tạo từ xanhưng vẫn dựa trên các giáo trình bằng giấy trên thế giới Ở Ấn Độ, để phục vụ chonền giáo dục Quốc gia, trường Đại học Mở Quốc gia Indira Gandhi cũng đã sử dụngđồng thời việc ghi hình các giáo trình, phát sóng trên các thiết bị vô tuyến hay cáccông nghệ từ xa khác Sau một thời gian, các chuyên gia tại Ấn Độ đã thực hiện đánhgiá và có được kết quả, tỷ lệ bỏ học ở những ngôi trường này có xu hướng giảm đi sovới những trường học truyền thống khác Từ đó, họ đã cho rằng phương pháp dạy họcnày cũng tương tự như cách dạy trực tiếp trên lớp Nó chỉ khác nhau ở điểm, trung tâmcủa tiết học sẽ thuộc về học viên thông qua máy tính, giảng viên chỉ là người hướngdẫn, sự chủ động và thoải mái sẽ là chìa khóa cho sự thành công của tiết học Đào tạotrực tuyến linh hoạt hơn cách dạy học tại giảng đường vì giáo viên chính là người sẽquyết định phối hợp các tài liệu bằng hình ảnh, âm thanh vào lớp học như thế nào chohợp lý nhất.[8] Từ đó, ta có thể thấy việc ứng dụng E-learning sẽ giúp cho mọi cá nhân,mọi hoàn cảnh đều có cơ hội tiếp cận nền giáo dục thông qua hệ thống đào tạo trựctuyến và hướng đến việc học tập suốt đời.[2] Điều này được xem là tất yếu trong chínhsách hội nhập thương mại quốc tế trong kỷ nguyên giáo dục 4.0, giáo dục dựa trên nềntảng CNTT
Trang 12Bên cạnh việc triển khai cũng như phổ cập phương thức dạy học trực tuyến ở cáctrường đại học thì vấn đề làm sao có thể đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng học tậpđồng thời mang lại kết quả học tập tốt cho những người tham gia học tập đang là mộtvấn đề đáng quan tâm Tại Việt Nam, E-learning vẫn chỉ chiếm một thị phần nhỏ trongthị trường giáo dục, đặc biệt là ở các bậc đào tạo chính quy và sau đại học Như đã biếttrong giai đoạn phát triển này, Việt Nam đang từng bước ứng dụng hình thức dạy họctrực tuyến nên công tác tổ chức để mang lại kết quả cũng như chất lượng học tập tốtcho học viên vẫn còn hạn chế, điều này là nguyên nhân dẫn đến chương trình mất sứchút đối với sinh viên và kéo theo tỷ lệ sinh viên thường xuyên bỏ học giữa chừng trongquá trình tham gia đào tạo.
Từ những phân tích trên, với tính cấp bách và vô cùng cần thiết, nhóm đã quyết
định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học
tập của sinh viên thông qua hệ thống đào tạo trực tuyến: trường hợp với sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng” dưới góc độ đánh giá của sinh viên.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm rõ và trả lời câu hỏi: Các nhân tố ảnhhưởng đến KQHT của sinh viên thông qua đào tạo trực tuyến: trường hợp với sinhviên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng?
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về đào tạo trực tuyến, KQHT của sinh viên
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên thông qua đào tạo trựctuyến
- Xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến KQHT của sinh viênthông qua đào tạo trực tuyến
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh đến KQHT của sinh viên Trường Đại học
Kinh tế - Đại học Đà Nẵng thông qua đào tạo trực tuyến
- Đối tượng khảo sát bao gồm sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
đã từng tham gia học trực tuyến
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 1 tháng 10 năm 2020 đến ngày 24 tháng 12 năm 2020.
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được nhóm tiến hành bằng việc tìm hiểu, thống kê và tậphợp các lý thuyết, các bài nghiên cứu trước đó cả trong và ngoài nước về đào tạo trựctuyến, KQHT của sinh viên Sau đó, nhóm tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi.Dựa trên kết quả của cuộc khảo sát nhóm có thể điều chỉnh, loại bỏ hoặc bổ sung cácbiến có hoặc không có ảnh hưởng của đào tạo trực tuyến đến KQHT của sinh viên.Cuối cùng là đánh giá lại thang đo, đề xuất mô hình nghiên cứu để tiến hành cho việcnghiên cứu định lượng
4.2 Nghiên cứu định lượng
Nhóm áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc sử dụng bảngcâu hỏi để tiến hành khảo sát với đối tượng là sinh viên trường Đại học Kinh tế đãtừng tham gia học trực tuyến Thu thập dữ liệu và chạy trên phần mềm SPSS để kiểmđịnh hệ số Cronback’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích tương quan và hồi quytuyến tính để đánh giá các thang đo, các biến độc lập, các giả thuyết nghiên cứu và các
mô hình lý thuyết đã đưa ra
5 Những đóng góp của nghiên cứu
5.1 Về lý thuyết
Trong nghiên cứu này, nhóm sinh viên đã hệ thống được ba lý thuyết liên quan làThuyết hành động hợp lý (Theory of reasoned action – TRA), Mô hình chấp nhận
Trang 14công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) và Mô hình các cấp độ nhận thứccủa Bloom Cụ thể như sau:
Thứ nhất, thuyết hành động hợp lý (TRA) được xây dựng từ 1967 bởi Fishbein,sau đó được tiếp tục nghiên cứu, phát triển bởi Fishbein và Ajzen (1975) TRA được
sử dụng để dự đoán cách mà con người sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi
đã có từ trước của họ Các cá nhân sẽ hành động dựa vào những kết quả mà họ mongđợi khi thực hiện hành vi đó.[9] Trong TRA, ý định của hành vi sẽ được dự đoán bởithái độ đối với hành vi Ý định thể hiện các lựa chọn giữa việc thực hiện hoặc khôngthực hiện hành vi của một người đã đưa ra, điều này đã được định hình thông qua mộtquá trình cân nhắc đáng kể về tinh thần, xung đột và cam kết
Thứ hai, để khám phá thực nghiệm các yếu tố quyết định chấp nhận công nghệ thìmột trong những mô hình được biết đến và sử dụng nhiều nhất là mô hình chấp nhậncông nghệ TAM (Davis, 1989) Davis (1989) lần đầu tiên giới thiệu TAM như mộtphần mở rộng về mặt lý thuyết của thuyết TRA, giải thích rõ hơn về sự chấp nhận củangười dùng Khi xem xét tiềm năng to lớn của CNTT, mức độ chấp nhận và sử dụngtrong đối tượng mục tiêu tác động đáng kể đến hiệu quả của việc sử dụng CNTT (Teo
và Noyes, 2014) Để nhận ra các rào cản và xác định ý định của người dùng thì mụctiêu trên là một mục tiêu nghiên cứu đầy thách thức hướng tới sự phát triển E-Learningbền vững
Thứ ba, đã từ lâu, thang cấp độ tư duy trong mô hình các cấp độ nhận thức củaBloom được xem là công cụ nền tảng trong việc xây dựng mục tiêu cũng như hệ thốngcác bài tập, câu hỏi dùng để kiểm tra và đánh giá KQHT của người học Sau khi đượcđiều chỉnh bởi Lorin W Anderson và David R Krathwohl (2001), thang đo Bloombao gồm các tiêu chí: nhận biết, hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá Giáoviên bên cạnh việc tạo ra môi trường học tập chất lượng cũng như hệ thống học tập đadạng thì việc thay đổi phương thức tiếp cận và áp dụng phương pháp giảng dạy phùhợp cũng đóng một vai trò quan trọng nhằm giúp người học nâng cao mức độ nhậnthức
Trang 155.2 Về thực tiễn
Thông qua nghiên cứu này, nhóm muốn tìm ra các nhân tố ảnh hưởng của đào tạotrực tuyến đến KQHT của sinh viên Qua đó, nhằm cung cấp các thông tin hữu ích,kiến nghị những giải pháp cho Đại học Đà Nẵng nói chung và trường Đại học Kinh tếnói riêng để giảm thiểu một cách tối đa những mặt tiêu cực còn tồn tại trong thực tiễn.Bên cạnh đó, giúp các nhà quản trị tìm ra các giải pháp khắc phục, từng bước nâng caochất lượng dạy học trực tuyến và qua đó nhằm nâng cao KQHT của sinh viên Giúpcho mô hình học tập này vừa đạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí, thời gian, công sứccho sinh viên vừa đảm bảo tính khả thi và hiệu quả nhất
6 Những hạn chế của nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu trong một khoảng thời gian bị giới hạn khiến cho việcnghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong quá trình thu thập dữ liệu để làm cơ sở cho đề tàinghiên cứu
Sự hiểu biết về quá trình thực hiện đề tài đối với các thành viên nghiên cứu cònhạn hẹp vì các thành viên chưa được tiếp cận nhiều với các phương pháp Nghiên cứukhoa học.Trong khi đó để tiến hành một bài Nghiên cứu khoa học hoàn chỉnh và đúngphương pháp, điều đầu tiên là phải nắm rõ cách thức để thực hiện Chính vì vậy đây cóthể là điểm hạn chế hàng đầu đối với đề tài này
Tài liệu tham khảo đóng vai trò không nhỏ trong hoạt động NCKH Để đảm bảomột bài NCKH hoàn chỉnh và chính xác, sinh viên cần tham khảo nhiều nguồn tài liệu
có độ chính xác cao Trong khi đó, hiện nay nguồn tài liệu về đào tạo trực để nhóm cóthể tiếp cận còn khá ít Đặc biệt những tài liệu hay sách mang tính chất nghiên cứu và
đi sâu vào những đề tài mà nhóm lựa chọn có số lượng hầu như không đủ đáp ứng.Mặc dù nguồn tài liệu trên Internet hiện nay đang trở nên rất phổ biến và đa dạngnhưng lại khó xác thực về độ chính xác - điều cơ bản mà một bài NCKH cần có Chính
vì vậy giới hạn về tài liệu tham khảo cũng là mặt hạn chế của đề tài
7 Bố cục báo cáo
Bố cục của bài báo cáo gồm các nội dung như sau:
MỞ ĐẦU
Trang 16Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm: Lý do chọn đề tài; Mụctiêu nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ýnghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và Kết cấu của đề tài.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trình bày cơ sở lý thuyết về đào tạo trực tuyến, KQHT của sinh viên và xácđịnh các nhân tố ảnh hưởng của đào tạo trực tuyến đến KQHT
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trình bày về phương pháp nghiên cứu và xây dựng thang đo
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trình bày về kiểm định thang đo và kết quả chạy hồi quy
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Tổng kết nghiên cứu, đề xuất giải pháp, kiến nghị và đưa ra hướng nghiên cứutiếp theo
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Lý thuyết về đào tạo trực tuyến
1.1 Khái niệm
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) có nghĩa là đào tạo trực tuyến hay họctập trực tuyến và đang là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến hiện nay Có rấtnhiều khái niệm cũng như cách hiểu về thuật ngữ E-Learning này Theo Hiệp hội vềĐào tạo và Phát triển Hoa Kỳ (ASTD) định nghĩa “Học trực tuyến như là một tập hợpcác ứng dụng và các quá trình trong đó bao gồm việc học tập dựa trên WEB, học tậpdựa trên máy tính, lớp học ảo và hợp tác kỹ thuật số Phần lớn trong số này được gửiqua Internet, mạng nội bộ (LAN/WAN), âm thanh và video, phát sóng truyền hình vệtinh, truyền hình tương tác và đĩa CD-ROM”
Còn theo Cheng (2011), Engelbrecht (2005), Welsh và cộng sự (2003) thì “Họctrực tuyến là học tập điện tử, được định nghĩa như là một công cụ sử dụng dựa trên nềntảng công nghệ mạng máy tính như Internet, mạng nội bộ và mạng Extranet để cungcấp môi trường học tập trực tuyến cho người dùng”
Có thể hiểu theo một cách khác rằng “E-Learning là việc cung cấp giáo dục (baogồm tất cả các hoạt động có liên quan đến hướng dẫn, giảng dạy và học tập) thông quacác phương tiện truyền thông điện tử khác nhau như Internet, Intranet, Extranet, video/
âm thanh hoặc CD ROM” (Koong & Harman, 2005)
Hay hiểu một cách đơn giản hơn thì “E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tảviệc học tập, đào tạo dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và các phương tiện truyềnthông” (Compare Infobase Inc)
Một mặt khác, E-learning còn được hiểu theo nhiều ngữ cảnh khác nhau, chẳnghạn như học từ xa, học trực tuyến và học qua mạng (Wilson 2001) E-learning đượcxem xét để mô tả việc sử dụng công nghệ truyền thông thông tin (ICT) trong quá trìnhdạy và học nhằm thúc đẩy sự tương tác giữa giảng viên với học viên, giữa các học viênvới nhau (Holley 2002)
Volery (2000) lập luận rằng sự bùng nổ của Internet và những tiến bộ công nghệthông tin, cùng với sự hạn chế về ngân sách và nhu cầu xã hội về việc nâng cao khả
Trang 18năng tiếp cận giáo dục đại học, đã tạo ra một khuyến khích đáng kể cho các trường đạihọc giới thiệu các khóa học E-learning Volery (2000) tiếp tục chỉ ra rằng nếu cáctrường đại học không nắm bắt kịp thời công nghệ E-learning sẵn có, họ sẽ bị bỏ lại ởphía sau trong quá trình theo đuổi toàn cầu hóa
Theo lập luận của Ribiero (2002), nếu các trường đại học muốn tối đa hóa tiềmnăng của E-learning như một công cụ nhằm cung cấp và hỗ trợ giáo dục đại học, họphải nhận thức về tầm quan trọng của E-learning một cách đầy đủ và sự thành côngcủa các yếu tố liên quan đến việc giới thiệu các mô hình giáo dục trực tuyến này
1.2 Các mô hình học tập trực tuyến
1.2.1 Mô hình học tập trực tuyến trực tiếp – Synchronous Training System
Mô hình học tập trực tuyến trực tiếp hay còn gọi là hệ thống giáo dục đồng bộ,được hiểu là mô hình học tập mà tại cùng một thời điểm nhiều người có thể truy cậpmạng và tương tác với nhau hay với người dạy, thông qua các phần mềm học trựctuyến như Zoom, Microsoft Teams, Google Meet, Trên thực tế, thực chất mô hìnhlớp học trực tuyến vẫn là một lớp học truyền thống, nó chỉ khác biệt là việc dạy họckhông còn bị bó buộc trong không gian một phòng học Họ có thể tham gia vào lớphọc miễn là có kết nối với Internet dù là ở bất cứ đâu
1.2.2 Mô hình học tập trực tuyến gián tiếp – Asynchronous Training System
Ngược lại với mô hình trên là mô hình học tập trực tuyến gián tiếp hay còn gọi là
hệ thống giáo dục không đồng bộ, ví dụ như các khóa học qua Internet, diễn đàn, đĩa
CD, E-mail, Trong mô hình này, người học không cần phải truy cập mạng tại cùngmột thời điểm mà thay vào đó giảng viên sẽ chuẩn bị tài liệu trước khi khóa học diễn
ra bằng cách quay video các bài học và đăng tải lên các diễn đàn hay các khóa học.Còn về phía học viên, họ có thể tự do lựa chọn thời gian tham gia khóa học (Karrer T,2006)
1.2.3 Mô hình học kết hợp – Blended learning
Mô hình học kết hợp chính là mô hình có sự kết hợp giữa mô hình học tập trựctuyến trực tiếp và mô hình học tập trực tuyến gián tiếp Rất nhiều ưu điểm của BlendedLearning trong giáo dục được Scardamalia và Bereiter (2003) đưa ra trong giai đoạn
Trang 19đầu triển khai như phát huy tính sáng tạo, khả năng tự học và tạo động lực thích thú.Moskal, Dziuban, và Hartman (2013) chỉ ra rằng phương pháp này không chỉ giúp mọingười có thêm nhiều cơ hội học tập trong điều kiện thiếu hụt về cơ sở vật chất, mà còntăng khả năng tương tác nhiều hơn so với hoạt động truyền thống đồng thời cải thiệntính tinh gọn trong công tác quản lý hành chính trong các hoạt động đào tạo nhờ ápdụng công nghệ Ngoài ra, theo Watson (2008), Blended Learning ít tốn kém hơn cáclớp học truyền thống, thậm chí là có thể cắt giảm được chi phí giáo dục.
1.3 Một số lợi ích và hạn chế của học tập trực tuyến
1.3.1 Lợi ích
E-learning mang lại rất nhiều lợi ích không những cho người học mà còn cho các
tổ chức giáo dục và xã hội … Dưới đây là một số lợi ích cơ bản của E-learning:
Thứ nhất, E-learning giúp mở rộng phạm vi giảng dạy về cả không gian và thờigian. Chỉ cần có kết nối với Internet, người học có thể học tập thoải mái ngay tại nhàriêng thay vì phải tập trung tại một phòng học Điều này giúp người học tiết kiệm thờigian, tận dụng thời gian đó để tập trung vào việc học nhằm đạt được KQHT cao hơn(Paul Jackson, Lisa Harris and Peter M Eckerseley, 2003)
Thứ hai, E-learning giúp cho người học luyện tập và phát huy tính tự giác tronghọc tập (Wu et al., 2012).Xuyên suốt quá trình học tập trực tuyến, người học cần phải
tự xây dựng kế hoạch học tập hợp lý và chọn lựa các tài liệu phù hợp với từng mônhọc cũng như tự thực hiện các yêu cầu của khóa học,… nhờ đó mà khả năng tự họcđược cải thiện từng ngày (Wu et al., 2012)
Thứ ba, Kaur M (2013) cho rằng việc áp dụng E-learning cho phép người dạynâng cao khả năng ứng dụng CNTT trong quá trình giảng dạy thông qua việc kết hợpđồng thời nhiều công cụ truyền đạt thông tin như các cuộc thảo luận trực tuyến hayvideo bài giảng, Bên cạnh đó, giảng viên có thể dễ dàng theo dõi sinh viên và đánhgiá một cách công bằng học lực của học viên thông qua kết quả các bài kiểm tra hayviệc tham gia thảo luận các chủ đề trên diễn đàn
Thứ tư, đối với các tổ chức giáo dục, E-learning giúp giảm được các chi phí nhưchi phí đầu tư cho phòng học, chi phí đầu tư trang thiết bị hiện đại Bên cạnh đó,
Trang 20giảng viên đại học ngoài yêu cầu đứng lớp, họ còn phải dành thời gian cho nghiên cứukhoa học, tham gia hội thảo, tư vấn nghề nghiệp… Do đó, đào tạo trực tuyến giúp Nhàtrường giải quyết những khó khăn về thời gian cho giảng viên.Đào tạo trực tuyến chophép giảng viên mang bài giảng của mình đến hàng trăm người học (Kaur M 2003).Thứ năm, đối với xã hội, E-learning giúp thực hiện nhiệm vụ xây dựng xã hội hóahọc tập và định hướng học tập suốt đời Vì những hạn chế của đào tạo truyền thống,nên chỉ những ai vượt qua các kỳ thi, hoặc có đủ điều kiện về thời gian và tài chính thìmới có thể vào được giảng đường đại học Nhưng với đào tạo trực tuyến, cơ hội họctập có thể mở ra với hầu hết mọi người khi mà họ không cần đến lớp nhưng vẫn có thểxem được những bài giảng của giảng viên bằng việc kết nối Internet.[3]
1.3.2 Hạn chế
Bên cạnh những lợi ích nổi bật của E-learning thì những mặt hạn chế còn tồn tại
và cần phải được khắc phục là:
Thứ nhất, việc triển khai dựa trên nền tảng CNTT và sử dụng mạng Internet đã gây
ra những khó khăn nhất định cho người học trong việc tiếp cận phương pháp học tậptrực tuyến, cụ thể đối với những người không có điều kiện tiếp cận tín hiệu mạngmạnh (Ferraiolo, 1992) Điều này làm ảnh hưởng đến quá trình học tập cũng nhưKQHT của học viên bởi vì trong điều kiện môi trường học tập không đáp ứng đượcnhu cầu công nghệ thì quá trình học tập sẽ bị gián đoạn và dẫn đến chất lượng của buổihọc sẽ không cao
Thứ hai, Seok (2008) đã chỉ ra rằng so với môi trường đào tạo truyền thống thìmôi trường E-learning có mức độ phức tạp cao hơn về sự tương tác giữa những ngườihọc; cơ sở hạ tầng – cấu trúc phần mềm; và giao diện người dùng hệ thống Đây chính
là các rào cản khiến cho quá trình học của những người chưa tiếp xúc nhiều với hạtầng công nghệ hay không quen sử dụng mạng Internet gặp phải những khó khăn vàdẫn đến chất lượng dạy học trực tuyến ít nhiều cũng bị ảnh hưởng
Thứ ba, hiện nay, sự kiểm soát đối với E-learning vẫn chưa được thực hiện tốt Sựảnh hưởng của các yếu tố như đường truyền Internet hay sự yếu kém về kỹ năng sửdụng CNTT khiến giảng viên sẽ khó có thể kiểm soát được toàn bộ trạng thái học tập
Trang 21của người học và kéo theo tình trạng trốn tiết, bỏ tiết giữa chừng hay vừa học vừa làmviệc riêng Điều này khiến chất lượng giảng dạy không được đảm bảo (Pantazis,Cynthia, 2002).
Thứ tư, học tập trực tuyến làm hạn chế sự tương tác cũng như sự giao tiếp trực tiếpgiữa người học với nhau hay với người dạy Điều này làm cho người học trong đó baogồm học sinh, sinh viên khó có thể phát triển các kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹnăng giải quyết vấn đề,… (Mohammedi và cộng sự, 2010)
2 Lý thuyết về KQHT
2.1 Khái niệm
Theo James Madison University (2003), James O Nichols (2002) định nghĩa
“KQHT là bằng chứng sự thành công của học sinh/sinh viên về kiến thức, kỹ năng,năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” Hay theo Young, Klemz &Murphhy (2003) thì cho rằng: “KQHT đánh giá mức độ kiến thức và kĩ năng sinh viênđạt được cũng như khả năng vận dụng vào thực tiễn sau quá trình học tập”
Theo một cách hiểu khác, “KQHT của sinh viên bao gồm các kiến thức, kĩ năng vàthái độ mà họ có được và các kiến thức, kĩ năng này được tích lũy từ các môn họckhác nhau trong suốt quá trình học được quy định cụ thể trong chương trình đào tạo”(Clarke & Ctg 2001) KQHT còn được thể hiện qua việc sinh viên tự đánh giá kết quảhọc tập và tìm kiếm việc làm
2.2 KQHT của sinh viên
KQHT của sinh viên được đánh giá thông qua khả năng đáp ứng chuẩn đầu ra vềkiến thức chuyên môn; khả năng vận dụng vào thực tiễn; khả năng nhận thức và giảiquyết vấn đề; công việc có được sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu mang tính đặc thùkhác đối với từng trình độ, ngành đào tạo (Theo Bộ giáo dục và Đào tạo, 2010)
Theo B.S.Bloom (1956), “KQHT được đánh giá trên 6 cấp độ khác nhau (nhậnbiết, hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá) để khẳng định chất lượng đào tạotheo mức độ nông sâu của kiến thức do người học lĩnh hội được”
Một số phương pháp để đánh giá KQHT của sinh viên như:
Trang 22- Phương pháp đánh giá tiêu chí: Đo lường kiến thức, kỹ năng, năng lực mà sinhviên lĩnh hội Chuẩn để đối chiếu là so với những sinh viên khác.
- Phương pháp đánh giá tiêu chuẩn: Đo lường kiến thức, kỹ năng mà sinh viên lĩnhhội được Chuẩn để đối chiếu là so với kiến thức, kỹ năng đề ra trong mục tiêu củahọc phần
- Phương pháp đánh giá hoạt động: Đo lường khả năng vận dụng kiến thức và các
kỹ năng Chuẩn để đối chiếu là so với kiến thức, kỹ năng thực sự vận dụng trongcác hoạt động thực tế
- Phương pháp đánh giá tổng hợp: Đo lường kiến thức chung của sinh viên Chuẩn
để đối chiếu là so với giới hạn nội dung chương trình của học phần
Như vậy, để đo lường được KQHT của sinh viên có thể sử sụng các phương phápkiển tra đánh giá trên giúp đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng trong các họcphần khác nhau Từ các phương pháp đánh giá trên Trường Đại học Kinh tế cho ra kếtquả đánh giá quy đổi ra thang điểm 4.0 như sau:
Loại xuất sắc: ĐTB tích luỹ từ 3,60 đến 4,00;
Loại giỏi: ĐTB tích luỹ từ 3,20 đến 3,59;
Loại khá: ĐTB tích lũy từ 2,50 đến 3,19;
Loại TB: ĐTB tích lũy từ 2,00 đến 2,49;
Loại yếu: ĐTB dưới 2,00;
3 Một số nghiên cứu liên quan
Các nghiên cứu trước đây tập trung khá nhiều vào việc nghiên cứu các nhân tố tácđộng đến sự hài lòng của học viên tham gia đào tạo trực tuyến E-learning được xem
là một loại hình dịch vụ mà trong đó người học sẽ được tham gia trực tiếp vào quátrình cung cấp dịch vụ.[3] Sự thiếu hỗ trợ về mặt kĩ thuật hay sự lo lắng của người học
về hệ thống và tính dễ sử dụng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bạicủa E-learning Do đó, để phục vụ cho việc đánh giá sự hài lòng của người học đốivới hình thức đào tạo trực tuyến, Chin W.W and M.K.O Lee (2000) đã đi vào đánhgiá quá trình hình thành sự hài lòng của người dùng với HTTT Quá trình này đượcbắt đầu từ việc xây dựng mong đợi của họ trước khi tiếp xúc với hệ thống, và sau quá
Trang 23trình trải nghiệm, người dùng sẽ đánh giá sự chênh lệch giữa mong muốn ban đầu vàthực tế nhận được, kết quả của sự chênh lệch này được tổng hợp tạo nên sự hài lònghay không hài lòng của họ về HTTT.[4] Ngoài ra, một số yếu tố như tính năng dễ sửdụng của hệ thống, sự linh hoạt của E-learning, năng lực giảng viên, hay chất lượngbài giảng,… cũng tác động đến sự hài lòng của sinh viên khi sử dụng E-learning [5]
Bên cạnh đó, KQHT của sinh viên cũng đã được đánh giá trong một vài nghiêncứu trước đây Theo mô hình 3P của Biggs (1999) - mô hình phổ biến nhất trong giảngdạy và học tập đaz chỉ ra rằng sự tác động qua lại lần nhau của các yếu tố như môitrường dạy học, đặc điểm của sinh viên, hoạt động học tập và KQHT của sinh viên.Hay theo mô hình của Bratti và Staffolani (2002) thì KQHT được thể hiện chủ yếu quathái độ học tập của sinh viên, bởi vì việc phân bổ thời gian việc học là do chính họquyết định
Theo mô hình ứng dụng của Checchi et al được xác định bởi Checchi & ctg (2000)nhằm dự đoán về mối quan hệ giữa đầu tư giáo dục của gia đình và KQHT của sinhviên Cơ sở của mô hình này là cha mẹ phải dành một phần thu nhập của mình để đầu
tư vào việc học tập của con Điều kiện gia đình càng cao thì việc đầu tư cho giáo dụccủa con cái cũng tăng, tác động tích cực đến KQHT Ngoài ra nguồn lực của nhàtrường cũng đóng một vai trò quan trọng Điều kiện học tập, cơ sở vật chất, phươngpháp giảng dạy cũng ảnh hưởng đáng kể đến KQHT của sinh viên (theo mô hình củaDickie, 1999)
Từ những nghiên cứu trên, ta có thể thấy khoảng cách nghiên cứu được tạo ra từcác nghiên cứu trước đây là việc đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng của đàotạo trực tuyến đến KQHT của sinh viên Vì vậy, nhóm sinh viên đã quyết định thựchiện đề tài nghiên cứu trên nhằm tìm ra các giải pháp giúp cải thiện chất lượng đào tạotrực tuyến, qua đó nâng cao kết quả học tâp của sinh viên và định hướng mở rộng môhình đào tạo trực tuyến phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới nói chung vànước ta nói riêng
Trang 244 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
4.1 Các giả thuyết
❖ Mối quan hệ giữa Động cơ học tập và KQHT
Theo Spratt, Humphreys và Chan (2002), động cơ học tập được sử dụng để giảithích tại sao người học lại nhiệt tình, hăng hái, tích cực và không cảm thấy áp lực khitham gia các hoạt động học tập Không những thế, động cơ học tập còn có mối tươngquan tích cực đến phát triển tư duy phân tích, phê phán, khả năng tự chủ của người học(Spratt, Humphreys & Chan, 2002 and Murphy, Holleran, Long & Zeruth, 2005)
Hay theo Noe (1986), ĐCHT là lòng ham muốn, sự nhiệt tình của sinh viên khitham gia vào quá trình học tập Ngoài sự khác biệt về khả năng vốn có thì ĐCHT củasinh viên cũng ảnh hưởng đến KQHT và chất lượng của hoạt động giảng dạy ĐCHTgiúp cho quá trình thu nhận kiến thức và nâng cao các kỹ năng của sinh viên trở nênhiệu quả hơn và được thể hiện rõ hơn trong KQHT của họ
Trong môi trường học tập trực tuyến, sinh viên sẽ không thể nào đạt được KQHTtốt nếu không có thái độ học tập đúng đắn hay cụ thể hơn là động cơ học tập tích cực.Người học phải chủ động và tự tìm tòi các tài liệu học tập có liên quan nhằm phục vụcho quá trình học tập của mình Điều này giúp phát huy khả năng tự học của sinh viên
và đem lại KQHT cao hơn cho chính họ
H1: Có mối quan hệ tích cực giữa động cơ học tập và KQHT.
❖ Mối quan hệ giữa Phương pháp học tập và KQHT
Theo Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh (2001) cho rằng: “Phương pháp làcách thức để đạt được mục tiêu, là các hoạt động được sắp xếp theo phương thức xácđịnh” Vận dụng khái niệm này, ta có thể hiểu phương pháp học tập là cách thức tiếnhành một phương thức nhất định để đạt được KQHT tốt nhất Theo GS RobertFeldman thuộc Đại học Massachusetts, phương pháp học tập gồm các thành phần cơbản: lập kế hoạch học tập, hoạt động tự học, hoạt động học tương tác, Sự đánh giáKQHT nhằm hướng dẫn sinh viên có KQHT tốt nhất Khi sinh viên có phương pháphọc tập hiệu quả thì việc học trở nên dễ dàng và đạt kết quả cao (Võ Thị Tâm 2008)
Trang 25Trong môi trường học tập trực tuyến cũng vậy, nếu người học có phương pháp họctập hiệu quả thì họ cũng có thể đạt được kết quả tốt Nếu họ xây dựng một kế hoạchhọc tập tối ưu và phát huy tối đa khả năng tự học thì họ sẽ có được kết quả như mongmuốn Để có thể tiếp cận sâu trong quá trình học, sinh viên cần học tập một cách chủđộng Điều này có nghĩa là sinh viên cần phải tìm hiểu các định nghĩa, thay vì chỉ đơngiản tái hiện thông tin trong các bài kiểm tra (Edward và cộng sự, 2007).
H2: Có mối quan hệ tích cực giữa phương pháp học tập và KQHT.
❖ Mối quan hệ giữa Tài nguyên giáo dục mở và KQHT
Thuật ngữ “tài nguyên giáo dục mở” lần đầu tiên được thông qua tại diễn đànUNESCO về tác động của Open Course Ware cho giáo dục đại học của các nước đang
phát triển dưới sự tài trợ của Quỹ William và Flora Hewlett Theo UNESCO, “Tài
nguyên giáo dục mở bao gồm tất cả các dạng tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập trong nhà trường được xuất bản rộng rãi và quyền truy cập mở Bản chất của loại tài liệu này cho phép việc nhân bản, sử dụng, thay đổi và chia sẻ lại nội dung tài liệu hoàn toàn miễn phí và hợp pháp Tài nguyên giáo dục mở bao gồm nhiều loại từ sách giáo khoa đến giáo trình, các khung chương trình đào tạo, đề cương môn học, bài giảng, bài luận, các bài kiểm tra, các dự án, các đoạn âm thanh, hình ảnh (audio, video) và hình ảnh động” (UNESCO, 2015).
Mục tiêu của các tài nguyên giáo dục mở này chính là tạo ra sự bình đẳng cho tất
cả học viên trong tiếp cận thông tin và giáo dục, với phương châm giáo dục cho tất cảmọi người Trong môi trường E-learning, người học có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức
và tăng mức độ hứng thú trong học tập thông qua các bài giảng được mô hình hóa vàthể hiện một cách trực quan dựa trên việc ứng dụng các phần mềm tin học (MicrosoftTeam, Google Classroom, Zalo, Skype ) Tài nguyên giáo dục mở trong đào tạo trựctuyến sẽ giúp sinh viên tăng cường kiến thức, khả năng tiếp cận và sử dụng các tài liệuhọc thuật Với đặc điểm này, sinh viên sẽ ngày càng chủ động hơn trong việc lựa chọncách thức học phù hợp, tạo ra cơ hội được học tập suốt đời Nhờ vào sự phát triểnnhanh chóng và mạnh mẽ của CNTT, truyền thông và mạng Internet, sinh viên có thểtiếp cận các tài liệu học tập cần thiết để cải thiện kiến thức của mình một cách dễ dàng
Trang 26Từ đó chúng ta có thể nhận thấy rằng, tài nguyên giáo dục mở là công cụ hữu ích trongđào tạo trực tuyến sẽ giúp KQHT của sinh viên ngày càng cải thiện hơn.[9]
H3: Có mối quan hệ tích cực giữa tài nguyên giáo dục mở và KQHT.
❖ Mối quan hệ giữa Năng lực giảng viên và KQHT
Vai trò của giảng viên trong việc thu hút người học và nâng cao chất lượng giảngdạy cho chương trình học trực tuyến là rất quan trọng.[6] Như Allen và Seaman (2014)nhận định rằng việc không thể thuyết phục giảng viên về giá trị của chương trình đàotạo này cũng là một trong những thất bại của E-learning Vai trò của người thầy trongmôi trường học tập trực tuyến cũng rất quan trọng bởi vì chính họ là người tạo ra cácbài giảng phục vụ cho hoạt động giảng dạy cũng như triển khai các hoạt động E-Learning Khả năng truyền đạt kiến thức của giảng viên và sự tương tác với sinh viênảnh hưởng trực tiếp đến việc thu nhận kiến thức cũng như KQHT của sinh viên Nếugiảng viên có thể nắm bắt sự phát triển CNTT và áp dụng một cách đa dạng trong việcthiết kế các tài liệu học tập, các bài giảng cũng như có các phương pháp giảng dạykhác nhau thì điều này cũng sẽ giúp cho sinh viên có thể cải thiện khả năng tư duy,khả năng tự học và đạt được KQHT tốt Do đó, một lớp học trực tuyến có thể thànhcông hay không còn phụ thuộc nhiều vào năng lực giảng viên
H4: Có mối quan hệ tích cực giữa năng lực giảng viên và KQHT của sinh viên.
❖ Mối quan hệ giữa Yếu tố công nghệ và KQHT
Triển khai đào tạo trực tuyến không chỉ đơn thuần là một giải pháp công nghệ, màcòn là quá trình bao gồm nhiều yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và
sử dụng CNTT vào đào tạo trực tuyến đại học như xã hội, cá nhân, các điều kiện chínhsách và văn hóa (Liaw và Huang, 2011)
Thông qua một cuộc nghiên cứu, theo Moravec và cộng sự (2015), các công cụhọc tập điện tử trong đào tạo trực tuyến sẽ tác động tích cực đến KQHT và nghiên cứucủa sinh viên, giúp cho thành tích học tập chung của sinh viên được nâng cao rõ rệt
Trang 27Do đó, ở bất cứ đâu, CNTT là một phần không thể thiếu trong trải nghiệm học tập đạihọc đối với mọi lứa tuổi.
Theo Delone và Mclean (2003), thước đo về chất lượng dịch vụ là một trongnhững yếu tố thành công của hệ thống trực tuyến, do đó việc xác định mô hình nhằmmục đích tập trung vào đo lường yếu tố này Nhà cung cấp Internet cung cấp HTTTnhằm bảo trì hệ thống, hướng dẫn người dùng và xử lý các sự cố phát sinh Các yếu tốchính ảnh hưởng đến KQHT khi tham gia hình thức học trực tuyến là yếu tố côngnghệ Yếu tố công nghệ và sự hỗ trợ về đường truyền, độ bảo mật, được thiết kế hiệuquả để đảm bảo việc truyền tải các thành phần của khóa học một cách hiệu quả nhất.Nếu hệ thống học trực tuyến với giao diện dễ sử dụng, đòi hỏi ít kiến thức về CNTThay tình trạng truy cậ vào hệ thống không bị hạn chế, thì sẽ giúp cho quá trình họctập diễn ra dể dàng hơn, suôn sẽ hơn và giúp cho sinh viên đạt được KQHT cao hơn
H5: Có mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố công nghệ và KQHT của sinh viên.
4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ những giả thuyết trên, nhóm sinh viên đã xây dựng được một mô hình kháiquát các nhân tố ảnh hưởng đến KQHT khi tham gia hình thức học trực tuyến như sau:
Trang 28Mô hình nghiên cứu đề xuất
Mô hình trên thể hiện rõ 5 yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của sinh viên khi tham giađào tạo trực tuyến, bao gồm: Động cơ học tập, Phương pháp học tập, Tài nguyên giáodục mở, Năng lực giảng viên và Yếu tố công nghệ Dựa vào các giả thuyết đã đưa ra,nhóm sinh viên đã dự đoán rằng, giữa các nhân tố này với KQHT của sinh viên đều cómối quan hệ tích cực
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, nhóm sinh viên đã hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết liên quanđến đào tạo trực tuyến và KQHT cũng như xác định được 5 nhân tố ảnh hưởng đếnKQHT của sinh viên thông qua đào tạo trực tuyến Qua đó, nhóm sinh viên đã xâydựng được mô hình nghiên cứu đề xuất nhằm đánh giá sự tác động của từng yếu tố đếnKQHT của sinh viên thông qua các phương pháp nghiên cứu cụ thể và được nêu rõ ởchương tiếp theo
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo 2 bước:
1.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính (NCĐT) được tiến hành thông qua kỹ thuật thảo luận nhómvừa để khám phá, vừa để khẳng định, điều chỉnh, bổ sung các nhân tố ảnh hưởng đếnkết quả học tập của sinh viên thông qua hệ thống đào tạo trực tuyến: trường hợp vớisinh viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng Nghiên cứu được tiến hànhthông qua bảng câu hỏi đối với 40 sinh viên của tất cả các khoa Kết quả NCĐT sẽ là
cơ sở cho việc thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu chính thức
Thảo luận với 40 bạn bằng một số câu hỏi mở có tính chất khám phá để xem cácsinh viên phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên thông qua
hệ thống đào tạo trực tuyến: trường hợp với sinh viên Trường Đại học Kinh tế ĐàNẵng Kết quả các sinh viên đều đồng ý với các nhân tố nhóm nêu ra và không cónhân tố nào được đề nghị thêm vào
Bảng 1 Nghiên cứu định tính sơ bộ
ST
Đồng ý Không đồng ý Tổng cộng
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Như vậy, sau khi khảo sát định tính, ta thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến kết quảhọc tập của sinh viên thông qua hệ thống đào tạo trực tuyến đối với sinh viên trườngĐại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng được sắp xếp từ cao xuống dưới là: Tài nguyên
Trang 30giáo dục mở; Động cơ học tập; Năng lực của giảng viên; yếu tố công nghệ; Phươngpháp học tập Điều này phù hợp với đặc điểm của các sinh viên, trường Đại học Kinh
tế - Đại học Đà Nẵng và thực tế xã hội
1.2 Nghiên cứu định lượng
Nhóm áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc sử dụng bảngcâu hỏi để tiến hành khảo sát với đối tượng là sinh viên trường Đại học Kinh tế đãtừng tham gia học trực tuyến Thu thập dữ liệu và chạy trên phần mềm SPSS để kiểmđịnh hệ số Cronback’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích tương quan và hồi quytuyến tính để đánh giá các thang đo, các biến độc lập, các giả thuyết nghiên cứu và các
mô hình lý thuyết đã đưa ra
2 Thu thập dữ liệu
Dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu là dữ liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng là phương pháp điều tra bảng hỏi cungcấp thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên thông qua hệthống đào tạo trực tuyến đối với sinh viên trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.Kết quả thu thập được 255 mẫu
3 Xây dựng thang đo
KQHT được đánh giá trên 6 mức độ khác nhau (nhận biết, hiểu, ứng dụng, phântích, tổng hợp, đánh giá) để khẳng định chất lượng đào tạo theo mức độ nông sâu củakiến thức do người học lĩnh hội được (theo B.S.Bloom, 1956)
Một số phương pháp để đánh giá KQHT của sinh viên như: phương pháp đánh giá tiêuchí, phương pháp đánh giá tiêu chuẩn, phương pháp đánh giá hoạt động, phương phápđánh giá tổng hợp
Như vậy để đo lường được KQHT của sinh viên có thể sử sụng các phương phápkiểm tra đánh giá trên giúp đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng trong các họcphần khác nhau Từ các phương pháp đánh giá trên Trường Đại học Kinh tế cho ra kếtquả đánh giá quy đổi ra thang điểm 4.0 như đã nêu ở trên
Trang 314 Mã hóa dữ liệu
Dựa vào các nghiên cứu trước đây, nhóm đã thống kê được một số mô hình nghiêncứu có liên quan trực tiếp đến các biến trong bài nghiên cứu này và được thể hiện rõtrong 2 bảng dưới đây:
Trang 32Tác giả Năm NC Mô hình nghiên cứu Phương
Hệ số beta Giá trị t
- Môi trường học tập
- Điều kiện học tập
- Chương trình đào tạo
- Chất lượng giảng viên
0,1510.1310,3450,359
4,4433,85310,12510,582
Trang 33mô hình phương trình cấu trúc (SEM)
NLGV – ĐCHTĐCHT – KTTNNLGV - KTTN
0.4850.7391.62
Trang 34- Phương pháp LPS.
- Cấu trúc tuyến tính mối quan
– 0.015+0.118+0.075+0.135+0.031+0.065
+.2483+1.6713+1.6169+3.8166+.7687+1.0805
Trang 35Đỗ Văn
Hùng
lượng (mô hình phương trình cấu trúc SEM)
- Nội dung học tập
- Các công cụ để phát triển và quản trị OER
- Hệ thống giấy phép, các nguyên tắc triển khai OER
0.4340.342
0.042
3.6823.581
- Cấu trúc tuyến tính mối quan
3,922,261,762,75
Trang 36Bảng 3 Bảng thống kê theo từng nhân tố, tác giả, năm nghiên cứu
Phương pháp học tập
- Xây dựng kế hoạch học tập
- Chủ động học tập
- Thay đổi nhận thức
và tâm lý tự học
- Tự đánh giá kết quả học tập
Nguyễn, T P T 2014
Nội dung học tập - Tài liệu học tập
- Nội dung bài giảng Trương Minh Hòa 2017
2019