1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THU HOẠCH MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

76 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả Lê Văn Thiên, Hoàng Ngọc Diễm Quỳnh, Mai Lê Khánh Huyền, Lê Thị Thuỳ Trang, Y Tình, Vòng Thị Mỹ Phi
Người hướng dẫn Th.s Bùi Chí Kiên
Trường học Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
Chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhândân đến cách mạng xã hội chủ ngh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH KHOA DU LỊCH VÀ VIỆT NAM HỌC

 BÀI THU HOẠCH MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH GVHD: Th.s Bùi Chí Kiên LỚP: 20DTC1A SVTH: Lê Văn Thiên 2100006574

Hoàng Ngọc Diễm Quỳnh 2100002966

Mai Lê Khánh Huyền 2100008873

Lê Thị Thuỳ Trang 2100010234

Y Tình 2100009301

Vòng Thị Mỹ Phi 2100009210

Thời gian: Ngày 23 Tháng 07 Năm 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

đã đưa bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, xin bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - thầy Bùi Chí Kiên Chính thầy làngười đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt học

kỳ vừa qua Trong thời gian tham dự lớp học của thầy, tôi đã được tiếp cận với nhiềukiến thức bổ ích và rất cần thiết cho quá trình học tập, làm việc sau này của tôi

Bộ Tư tưởng Hồ Chí Minh là một môn học thú vị và vô cùng bổ ích cung cấpcho tôi cái nhìn tổng quát và cụ thể hơn, giúp cho tôi thấm nhuần những giá trị tốt đẹp

từ Tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, do vốn kiến thức và kỹ năng về môn học củatôi vẫn còn nhiều hạn chế Mặc dù tôi đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài thuhoạch khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kínhmong thầy và hội đồng chấm thi xem xét và góp ý để bài thu hoạch của tôi được hoànthiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 07 năm 2022

Nhóm sinh viên thực hiện

Lê Văn Thiên

Hoàng Ngọc Diễm Quỳnh

Lê Thị Thuỳ Trang

Y Tình

Vòng Thị Mỹ Phi Mai Lê Khánh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

I I THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

1.1 Sơ lược về gia đình chủ tịch Hồ Chí Minh

1.2 Giai đoạn ( 1890 – 1911 )

1.3 Giai đoạn ( 1911 – 1920 )

1.4 Giai đoạn ( 1921 – 1930 )

1.5 Giai đoạn ( 1930 – 1945 )

1.6 Giai đoạn ( 1945 – 1954 )

1.7 Giai đoạn ( 1954 – 1969 )

II NHỮNG CỐNG HIẾN VỀ MẶT LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀO KHO TÀNG LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MAC- LÊNIN VÀ CÁCH MẠNG VÔ SẢN

2.1 Bổ sung sức sống của lý luận

2.2 Trách nhiệm kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

III.CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

3.1 Cống hiên vĩ đại chủ tịch Hồ Chí Minh vào Cách mạng Việt Nam

3.2 Cống hiến vĩ đại chủ tịch Hồ Chí Minh vào cách mạng thế giới

IV HỌC TẬP LÀM THEO TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH SINH VIÊN CẦN PHẢI LÀM GÌ?

4.1 Những quan điểm cơ bản nhất của Hồ Chí Minh về đạo đức

4.2 Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

4.3 Sinh viên Việt Nam học và làm theo lời Bác

V BẢNG ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xâydựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng.Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đềđạo đức mà chính bản thân Người trong suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách mẫu mựcnhững tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra Người là nhà lãnh đạo nổi tiếngđược nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng, một vị nguyên thủ tài ba mà gần gũi, đượchàng triệu đồng bào Việt Nam yêu mến Hồ Chí Minh đồng thời cũng là một nhà vănhóa lớn với nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị để lại cho đời Có thể nói, có rấtnhiều yếu tố để tạo nên một con người vĩ đại với những thành tựu xuất chúng và dànhđược trái tim, tình cảm của nhiều đồng bào trong nước nói riêng và nhân dân thế giớinói chung Song một yếu tố quan trọng then chốt và cơ bản đó chính là nội lực tự thânbên trong Hồ Chí Minh – là toàn bộ tư tưởng, quan điểm, nhận thức cũng như phẩmchất đạo đức của Người

Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhândân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triểnchủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinhhoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóngcon người Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh còn là một trong những con đường để nhậnthức đầy đủ và sâu sắc hơn về công lao to lớn của Người đối với nhân dân, đất nướcViệt Nam và nhân dân của các nước thuộc địa trên thế giới Thấm thía công lao củaNgười cũng sẽ khơi gợi trong mỗi một người dân Việt Nam lòng biết ơn, lòng tự hàodân tộc, thể hiện được nét đẹp truyền thống của dân tộc – đạo lý “Uống nước nhớnguồn”

Vì vậy, việc học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta khám phá và hiểu rõ hơnnhững phẩm chất, quan niệm sâu sắc của Người, cũng là qua đó tìm ra cho mình mộttấm gương sáng để noi theo và những bài học bổ ích để vận dụng trong cuộc sống Đối

Trang 6

với Hồ Chí Minh, giữa tư tưởng với đạo đức – phong cách – lối sống là luôn thốngnhất nên việc nghiên cứu tư tưởng của Người không chỉ cho ta cái nhìn giản đơn vềnhững quan niệm của Người trong các lĩnh vực, mà mặt khác còn cho ta cảm nhậnđược phẩm chất, đạo đức cao đẹp của Người Hồ Chí Minh cùng thành quả của Ngườichính là tấm gương sáng “người thực việc thực” cho những ai am hiểu sâu sắc những

tư tưởng của Người học tập và làm theo

I.THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

1.1 Sơ lược về gia đình chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời thơ ấu tên là NguyễnSinh Cung, sinh ngày 19-5-1890, tại quê ngoại làlàng Hoàng Trù (còn gọi là làng Trùa), xã Chung

Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh

Nghệ An) Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình

nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương cótruyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm Sốngtrong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ củathực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên củamình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấutranh chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đấtnước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào

Ông là một nhà cách mạng và chính khách người Việt Nam Ông là người sánglập Đảng Cộng sản Việt Nam, từng là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà từ 1945–1969, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm 1945–

1955, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từ 1956–

1960, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từnăm 1951 cho đến khi qua đời

Trang 7

Trong quãng thời gian sinh sống và hoạt động trước khi lên nắm quyền, Hồ Chí Minh

đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục, ông được cho là đã sử dụng 50 đến 200 bídanh khác nhau Về mặt tư tưởng chính trị, Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩaMarx – Lenin Ông là nhà lãnh đạo phong trào độc lập Việt Minh tiến hành Cách mạngTháng Tám năm 1945 Ông cũng là người đã soạn thảo, đọc bản Tuyên ngôn độclập thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và trở thành Chủ tịch nước sau cuộctổng tuyển cử năm 1946 Trong giai đoạn diễn ra chiến tranh Đông Dương và chiếntranh Việt Nam, Hồ Chí Minh là nhân vật chủ chốt trong hàng ngũ lãnh đạo của ViệtNam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Hồ ChíMinh giảm dần hoạt động chính trị vào năm 1965 vì lý do sức khỏe rồi qua đời vàonăm 1969 Năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến thắng, hai miền Việt Namđược thống nhất, dẫn đến sự ra đời của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam vào năm 1976 Thành phố Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ ChíMinh để tôn vinh ông cũng như sự kiện này

Ngoài hoạt động chính trị, Hồ Chí Minh cũng là nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiềutác phẩm viết bằng tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp

Trang 8

Cha của Người là Nguyễn Sinh Sắc (Nguyễn Sinh Huy), sinh năm 1862, mất năm 1929,quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung Cự, nay là xã KimLiên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Ông Nguyễn Sinh Sắc xuất thân từ gia đình nôngdân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó làm việc và ham học Vì vậy, ông được nhàNho Hoàng Xuân Đường ở làng Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi Là ngườiham học và thông minh, lại được nhà Nho Hoàng Xuân Đường hết lòng chăm sóc, dạy

dỗ, ông thi đỗ Phó bảng và sống bằng nghề dạy học

Đối với các con, ông Sắc giáo dục ý thức lao động và học tập để hiểu đạo lý làm người.Khi còn trẻ, như nhiều người có chí đương thời, ông dùi mài kinh sử, quyết chí đi thi.Nhưng càng học, càng hiểu đời, ông nhận thấy: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ,hựu nô lệ”, nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn”

Do đó, sau khi đỗ Phó bảng, được trao một chức quan nhỏ, nhưng vốn có tinh thần yêu

nước, khẳng khái, ông thường chống đối lại bọn quan trên và thực dân Pháp Vì vậy, saumột thời gian làm quan, ông bị cắt chức và thải hồi Ông vào nam bộ làm thầy thuốc sốngcuộc đời thanh bạch cho đến lúc qua đời

Hoàng Thị Loan (1868—1901) là thân mẫu của Hồ Chí Minh Bà là con gái của

cụ Hoàng Xuân Đường , được ông gả vào năm 15 tuổi Sau khi chồng bà là ôngNguyễn Sinh Sắc đi thi ở Huế , vì túng thiếu tiền bạc nên ngỏ ý mời bà lên kinh giúp

Trang 9

ông học tập, bà đã gửi con gái đầu lòng của mình lại Nghệ An, rồi đưa hai con trai làNguyễn Sinh Khiêm (7 tuổi) và Nguyễn Sinh Cung (5 tuổi) cùng chồng vào Huế Ởđây, bà làm nghề dệt vải để trang trải cuộc sống vật chất cho gia đình.Năm 1900, saukhi sinh người con thứ tư là Nguyễn Sinh Nhuận cộng với sự vất vả khó nhọc trước

đó, Hoàng Thị Loan sinh bệnh rồi qua đời vào ngày 10 tháng 2 năm 1901, là ngày 22tháng Chạp năm Canh Tý Lúc ấy, chồng và con cả của bà đang ở Thanh Hóa, chỉ cócậu Nguyễn Tất Thành 11 tuổi (là Hồ Chí Minh sau này) đứng ra làm chủ tang cùng bàcon chôn cất mẹ khi ngày Tết đang đến gần

Năm 1922, hài cốt của bà được trưởng nữ Nguyễn Thị Thanh đưa về an táng tại vườnnhà mình ở Làng Sen, Kim Liên Năm 1942, cải táng tại núi Động Tranh thấp, thuộcdãy núi Đại Huệ Năm 1985, nhân dân và chính quyền địa phương xây dựng tại đâymột khu lăng mộ dành cho bà

Trước phần mộ xuống sân bia có 33 bậc, ứng với con số 33 là tuổi đời của bà Hai cụmcây hoa giấy che mát phần mộ được lấy giống từ Huế — nơi bà mất và khu lăng mộcủa ông Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp Phần trên mộ được xây dựng theo hình khungcửi cách điệu để mô tả công lao dệt vải nuôi chồng con của bà

Trang 10

Nguyễn Thị Thanh (1884–1954) là người chị cả, có hiệu khác là Bạch Liên nữ sĩ, bàhoạt động tích cực chống Pháp dưới ngọn cờ yêu nước của chí sĩ Phan Bội Châu.Năm 1918, bà Nguyễn Thị Thanh phối hợp với Nguyễn Kiên tổ chức lấytrộm súng trong doanh trại lính khố xanh đóng tại thành phố Vinh.

Bị phát giác nên Nguyễn Thị Thanh bị bắt và nhốt vào nhà tù tra tấn dã man Vào năm 1918, thực dân Pháp chỉ thị cho quan lại địa phương mở phiên tòa số 80 xử phạt

bà Nguyễn Thị Thanh 100 trượng và 9 năm khổ sai Ngày 2 tháng 12 năm 1918, Nguyễn Thị Thanh bị đày vào giam tại nhà lao Quảng Ngãi Án sát tỉnh Quảng Ngãi lúc đó là Phạm Bá Phổ có người vợ bị bệnh đau ở vú không cho con bú được dù đã được cố gắng cứu chữa Thương người phụ nữ bị bệnh, bà Nguyễn Thị Thanh đã chữa

cho, ít ngày sau bệnh khỏi, dòng , dòng sữa con bú được phục hồi Phạm Bá Phổ rất nể

Trang 11

Nguyễn Sinh Khiêm (1888–1950) là con thứ hai của trong gia đình cụ Phó bảng, sau chị

cả Nguyễn Thị Thanh và là anh trai của Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Sinh Nhuận

Ông còn được gọi là Cả Khiêm, tên tự là Tất Đạt Thời thanh niên, ông tham gia cáchoạt động yêu nước chống thực dân và phong kiến nên từng bị tù đày nhiều nǎm Dohành nghề thầy thuốc và thầy địa lý, ông còn có biệt danh là "Thầy Nghệ" Ông lập giađình với bà Nguyễn Thị Giáng (1897-1960) và có với nhau ba người con nhưng đềuchết sớm Người con duy nhất của hai người, con riêng của bà Giáng, là Hà HữuThừa, Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam

Trang 12

1.2 Giai đoạn ( 1890 – 1911 )

Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh Cung sống ở quê nhà trong sự chăm sóc đầytình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn lên trong truyền thống tốt đẹp của quêhương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa trong cuộc sống và bất khuất trước kẻthù Nguyễn Sinh Cung ham hiểu biết, thích nghe chuyện và hay hỏi những điều mới lạ,

từ các hiện tượng thiên nhiên đến những chuyện cổ tích mà bà ngoại và mẹ thường kể.Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng với gia đình chuyển vào Huế lần thứ nhất, khi ôngNguyễn Sinh Sắc vào Kinh thi hội Từ cuối năm 1895 đến đầu năm 1901, Nguyễn SinhCung sống cùng cha mẹ tại Huế, ở nhờ nhà một người quen ở trong thành nội (nay là sốnhà 112, đường Mai Thúc Loan) Đó là những năm tháng gia đình ông Sắc sống trongcảnh gieo neo, thiếu thốn Bà Hoàng Thị Loan làm nghề dệt vải, còn ông Sắc ngoài thờigian học, phải đi chép chữ thuê để kiếm sống, để học và dự thi

Hơn 5 năm sống ở kinh thành Huế, Nguyễn Sinh Cung thấy được nhiều điều mới lạ Sovới quê hương xứ Nghệ, Huế có nhiều nhà cửa to đẹp, nhiều cung điện uy nghiêm.Nguyễn Sinh Cung cũng thấy ở Huế có nhiều lớp người, những người Pháp thống trịnghênh ngang, hách dịch và tàn ác; những ông quan Nam triều bệ vệ trong những chiếc

áo gấm, hài nhung, mũ cánh chuồn, nhưng khúm núm rụt rè; còn phần đông người laođộng thì chịu chung số phận đau khổ và tủi nhục Đó là những người nông dân rách rưới

mà người Pháp gọi là bọn nhà quê, những phu khuân vác, những người cu ly kéo xe tay,những trẻ em nghèo khổ, lang thang trên đường phố Những hình ảnh đó đã in sâu vào

ký ức của Nguyễn Sinh Cung

Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Huy( Nguyễn Sinh Sắc ) đậu Phó bảng khoa thi hộiTân Sửu Khoảng tháng 9-1901, Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình chuyển về sống ởquê nội Ông Nguyễn Sinh Huy làm lễ vào làng cho hai con trai với tên mới là NguyễnTất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung)

Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo HoàngPhan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thân Các thầy đều là những ngườiyêu nước Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi bàn luận thời cuộc

Trang 13

và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan Trong những người

mà ông Sắc thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu Giống như nhiều nhà Nho yêu nướclúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt trước hiện tình đất nước và số phận của dântộc Con người nhiệt huyết ấy trong lúc rượu say vẫn thường ngâm hai câu thơ củaViên Mai:

“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,

Lập thân tối hạ thị văn chương”.

Nghĩa là:

“Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,

Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.

Câu thơ đã tác động nhiều đến Nguyễn Tất Thành và góp phần định hướng cho ngườithiếu niên sớm có hoài bão lớn

Lớn dần lên, càng đi vào cuộc sống của người dân địa phương, Nguyễn Tất Thànhcàng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước Đó là nạn thuế khoá nặng

nề cùng với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng đường trong tỉnh, làm đường từCửa Rào, đi Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc Những cuộc ra đi không

có ngày về, nhân dân lầm than, ai oán

Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến xã Võ Liệt, huyện ThanhChương, tỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán Tại đây Nguyễn Tất Thành lại có dịpnghe chuyện thời cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình

Cuối năm 1904, Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh

Hà Tĩnh, khi ông Sắc đến đây dạy học Ngoài thời gian học tập, Nguyễn Tất Thànhthường theo cha đến các vùng trong tỉnh như làng Đông Thái, quê hương của PhanĐình Phùng, thăm các di tích thành Lục niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp,v.v

Tháng 7-1905, Nguyễn Tất Thành theo cha đến huyện Kiến Xương, Thái Bình, trongdịp ông Nguyễn Sinh Sắc đi gặp các sĩ phu ở vùng đó

Khoảng tháng 9- 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được ông Nguyễn SinhHuy xin cho theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành

Trang 14

phố Vinh Chính tại ngôi trường này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc vớikhẩu hiệu Tự do - Bình đẳng - Bác ái.

Những chuyến đi này giúp Nguyễn Tất Thành mở rộng thêm tầm nhìn và tầm suynghĩ Anh nhận thấy ở đâu người dân cũng lam lũ đói khổ, nên dường như trong họđang âm ỉ những đốm lửa muốn thiêu cháy bọn áp bức bóc lột thực dân phong kiến.Trước cảnh thống khổ của nhân dân, anh đã sớm “có chí đuổi thực dân Pháp giảiphóng đồng bào”

Sau nhiều năm lần lữa việc đi làm quan, cuối tháng 5-1906, ông Nguyễn Sinh Huy vàokinh đô nhậm chức Nguyễn Tất Thành và anh trai cùng đi theo cha Vào Huế, NguyễnTất Thành cùng với anh trai được cha cho đi học Trường tiểu học Pháp - Việt tỉnhThừa Thiên, lớp dự bị (cours préparatoire, tháng 9-1906); lớp sơ đẳng (coursélémentaire, tháng 9-1907)

Ở Huế, lần này xảy ra một sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời của Nguyễn TấtThành Tháng 4-1908, anh tham gia cuộc biểu tình chống thuế của nông dân tỉnh ThừaThiên, khởi đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời Người vì quyền lợi của nhân dân laođộng Vì những hoạt động yêu nước, tham gia cuộc đấu tranh của nông dân, NguyễnTất Thành bị thực dân Pháp để ý theo dõi Ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng khiểntrách vì đã để cho con trai có những hoạt động bài Pháp

Tuy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi Nguyễn Sinh Côn, vẫn đượcông Hiệu trưởng Quốc học Sukê (Chouquet) tiếp nhận vào học tại trường Tháng 9-

1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours moyen) tại Trường Quốchọc Huế

Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc nhiềuvới sách báo Pháp Các thầy giáo của Trường Quốc học Huế có người Pháp và cảngười Việt Nam, cũng có những người yêu nước như thầy Hoàng Thông, thầy Lê VănMiến Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách báo tiến bộ mà anhđược tiếp xúc, ý muốn đi sang phương Tây tìm hiểu tình hình các nước và học hỏinhững thành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn dần trong tâm trí của Nguyễn

Trang 15

động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những bàn luận vềcon đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.

Khoảng tháng 6-1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế theo cha vàoBình Định, khi ông được bổ nhiệm chức Tri huyện Bình Khê Trong thời gian ở BìnhKhê, Nguyễn Tất Thành thường được cha dẫn đi thăm các sĩ phu trong vùng và thăm

di tích lịch sử vùng Tây Sơn.Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi học tiếpchương trình lớp cao đẳng (lớp nhất - cours supérieur), tại Trường tiểu học Pháp - ViệtQuy Nhơn Ông Nguyễn Sinh Sắc hiểu khả năng và chí hướng người con trai thứ củamình nên đã tạo điều kiện cho anh được tiếp tục học lên

Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành hoàn thành chương trình tiểu học Sau khi nghe tincha bị cách chức Tri huyện Bình Khê, bị triệu hồi về Kinh, anh không theo cha trở vềHuế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam Trên đường từ Quy Nhơn vào Sài Gòn,Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết Ở đây anh xin vào làm trợ giáo(moniteur), được giao dậy một số môn, đồng thời phụ trách các hoạt động ngoại khoácủa Trường Dục Thanh, một trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và NguyễnQuý Anh (con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907.Ngoài giờ lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụNguyễn Thông để đọc Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ củacác nhà khai sáng Pháp như Rútxô (Rousseau), Vônte (Voltair), Môngtétxkiơ(Montesquieu) Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc anh tìm đường

đi ra nước ngoài

Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy và vào Sài Gòn cũng với sự giúp đỡcủa Hội Liên Thành Tại đây, Nguyễn Tất Thành theo học trường Bá Nghệ là trườngđào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son (bây giờ

là trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng), vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng đểkiếm sống và đồng thời tìm hiểu đời sống công nhân Ở đây, ông học được 3 tháng ỞSài Gòn một thời gian ngắn, anh thường đi vào các xóm thợ nghèo, làm quen vớinhững thanh niên cùng lứa tuổi Ở đâu anh cũng thấy nhân dân lao động bị đọa đày,

Trang 16

khổ nhục Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương đểđược ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây.

Chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville

1.3 Giai đoạn ( 1911 – 1920 )

Trang 17

Ngày 5-6-1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phốSài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đườngcứu nước Nguyễn Tất Thành lấy tên Văn Ba lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên

chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến

bộ từ các nước phương Tây Ngày 6 tháng 7 năm 1911, sau hơn 1 tháng đi biển, tàu cậpcảng Marseille, Pháp Tại Marseilles, ông đã viết thư đến Tổng thống Pháp, xin được

nhập học vào Trường Thuộc địa (École Coloniale), trường chuyên đào tạo các nhân viên hành chánh cho chính quyền thực dân, với hy vọng "giúp ích cho Pháp" Thư yêu cầu của

ông bị từ chối và được chuyển đến Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế Ngày 31 tháng 11 năm

1912, ông chuyển 15 đồng bạc Đông Dương cho cha mình

Không dừng lại ở Pháp, năm 1912, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu củahãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng củamột số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây,Xênêgan, Rêuyniông… Đến đâu anh cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự

áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị Một trong những cảnh ấy anh đãtrông thấy ở Đaca (Dacar): “Đến Đaca, bể nổi sóng rất dữ Tàu không thể vào bờ Cũngkhông thể thả canô xuống vì sóng rất to Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt nhữngngười da đen phải bơi ra chiếc tàu Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước.Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi” Cảnh tượng đó làm cho Nguyễn TấtThành rất đau xót Anh liên tưởng một cách tự nhiên đến số phận của người dân ViệtNam, đồng bào khốn khổ của anh Họ cũng là nạn nhân của sự hung ác, vô nhân đạo củabọn thực dân Những sự việc như vậy diễn ra khắp nơi trên đường anh đi qua, tạo nên ởanh mối đồng cảm sâu sắc với số phận chung của nhân dân các nước thuộc địa

Trang 18

Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi qua Máctiních (Martinique) (Trung Mỹ),Urugoay và Áchentina (Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ cuối năm 1912 Tại đây, anh có

dịp tìm hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn độc

lập nổi tiếng trong lịch sử Anh vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống của

những người lao động Mỹ Anh đã đến thăm quận Brúclin (Brooklin) của thành phố NiuOóc (New York) Anh đi xe điện ngầm đến khu Háclem (Harlem) để tìm hiểu đời sống

và cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc của những người da đen.Với mục đích ra đi

để tìm hiểu, do vậy, trong thời gian tàu dỡ hàng và lấy hàng, Nguyễn Tất Thành đã tranhthủ lúc rỗi rãi đi xem xét nhiều nơi, từ những khu phố hoa lệ nổi tiếng thế giới với nhữngngôi nhà cao chọc trời ở Niu Oóc đến những ngôi nhà ổ chuột ở khu Háclem

Dừng chân ở nước Mỹ không lâu nhưng Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra bộ mặtthật của đế quốc Hoa Kỳ Đằng sau khẩu hiệu “cộng hòa dân chủ” của giai cấp tư sản

Mỹ là những thủ đoạn bóc lột nhân dân lao động rất tàn bạo Anh cảm thông sâu sắcvới đời sống của người dân lao động da đen và rất căm giận bọn phân biệt chủng tộc,hành hình người da đen một cách man rợ, mà sau này anh đã viết lại trong bài

báo Hành hình kiểu Linsơ.

Khoảng đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đósang Anh Đến nước Anh, để kiếm tiền sinh sống, anh nhận cào tuyết cho một trườnghọc, rồi làm thợ đốt lò Công việc hết sức nặng nhọc, nhưng sau mỗi ngày anh đềutranh thủ thời gian học tiếng Anh

Từ nước Anh, ông gửi thư cho Phan Châu Trinh, thông báo vắn tắt tình hình bản thân,đưa ra những nhận xét về chiến tranh thế giới đang diễn ra và dự đoán những chuyểnbiến có thể có Ông cũng gửi cho Phan Châu Trinh một bài thơ thất ngôn bát cú với haicâu mở đầu như sau:

Chọc trời khuấy nước tiếng đùng đùng Phải có kiên cương mới gọi hùng

và hai câu kết:

Ba hột đạn thầm hai tấc lưỡi Sao cho ích giống mấy cam lòng.

Trang 19

Cuối năm 1913, sau hai tuần nghỉ việc vì bị cảm, Nguyễn Tất Thành đến làm thuê ởkhách sạn Đraytơn Cơớc, đại lộ Đraytơn, khu Oét Ilinh (Drayton Court, Drayton Av.,West Ealing), phía tây Luân Đôn.

Một thời gian sau, Nguyễn Tất Thành lại chuyển sang làm phụ bếp ở khách sạnCáclơtơn (Carlton), phố Hây Makét, một khách sạn sang nổi tiếng ở Luân Đôn.Nguyễn Tất Thành làm việc dưới sự điều khiển của vua bếp Étcốpphie (Escophier),một người Pháp có tư tưởng tiến bộ Nguyễn Tất Thành được giao nhiệm vụ thu dọn

và rửa bát, đĩa, nồi, chảo, v.v Những người giàu có khi ăn uống rất lãng phí, bỏ thừakhá nhiều, có khi cả một phần tư con gà Anh gói lại những miếng ngon đưa cho nhàbếp Ông Étcốpphie chú ý tới việc làm đó và hỏi anh:

“Tại sao anh không quẳng thức ăn thừa vào thùng như những người kia?

– Không nên vứt đi Ông có thể cho người nghèo những thứ ấy

– Ông bạn trẻ của tôi ơi, anh nghe tôi Ông Étcốpphie vừa nói vừa cười và có vẻ bằnglòng Tạm thời anh hãy gác ý nghĩ cách mạng của anh lại một bên, và tôi sẽ dạy choanh cách làm bếp, làm ngon anh sẽ được nhiều tiền Anh bằng lòng chứ?”

Từ đó, ông chuyển anh vào chỗ làm bánh với mức lương cao hơn

Tại Anh, Nguyễn Tất Thành đã hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trờicủa nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia Hội những người lao động hải ngoại, ủng

hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Airơlen Cũng trong thời gian này anh đượcđọc một tờ báo Anh đưa tin về ông Terence Mac Swiney, Thị trưởng thành phố(Cork), nhà đại ái quốc Airơlen, đấu tranh chống đế quốc Anh, bị bắt Trong tù ông đãtuyệt thực Ông nằm nghiêng một phía, không ăn, không cử động hơn 40 ngày và hysinh Hàng ngàn người Airơlen lưu vong nối nhau thành hàng dài trên đường phố LuânĐôn đưa tiễn ông Mac Swiney về yên nghỉ tại Cork Nguyễn Tất Thành hết sức xúc

Trang 20

động và cảm phục tinh thần bất khuất của ông: “Can đảm biết bao! Dũng cảm biếtbao! Một dân tộc có những người như ông Cúc sẽ không bao giờ đầu hàng”.

Ngày 16 tháng 4 năm 1915, ông viết thư cho Toàn quyền Đông Dương, thông qua lãnh

sự Anh tại Sài Gòn, nhờ tìm địa chỉ của cha Thư ký tên Paul Thành

Giữa lúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra ác liệt, tình hình Đông Dương đang

có những biến động, vào khoảng cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lạiPháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong tràocông nhân Pháp, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.Trở lại Pháp, đến Thủ đô Pari, lúc đầu Nguyễn Tất Thành ở phố Sarôn (Charonne)trong một thời gian ngắn; từ ngày 7 đến 11-6-1919 ở nhà số 10, phố Xtốckhôm(Stokholm); ngày 12-6-1919, chuyển đến ở nhà số 56 phố Mơxiên lơ Pơranhxơ(Monsieur le Prince); tháng 7-1919, ở nhà số 6, phố Vila đê Gôbơlanh (Villa desGobelins), quận 13; ngày 14-7-1921, chuyển đến ở nhà số 12, phố Buyô Trong tháng7-1921, Nguyễn Tất Thành chuyển đến nhà số 9, ngõ Côngpoanh (Compoint), quận

17, một trong những khu lao động nghèo nhất của Thủ đô nước Pháp Ông làm thợ ảnh

và trọ tại ngôi nhà số 9, Căn phòng trọ rất thiếu thốn tiện nghi, không có lò sưởi nênmùa đông rất lạnh Bởi vậy, cũng giống như những người nghèo ở Pháp khi đó, mỗibuổi sáng mùa đông trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của bà chủ nhà(tên là Jammot), chiều về lấy viên gạch ra, bọc vào trong những tờ báo cũ rồi lót xuốngnệm cho đỡ rét, nhiệt sẽ được giữ lại khá lâu giống một túi sưởi Ngày 14-3-1923, anhđến ở nhà số 3, phố Mácsê đê Patơriácsơ

Trang 21

Tấm biển đồng gắn tại nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17

Thời gian đầu khi tới Pari, chưa có giấy tờ hợp pháp, Nguyễn Tất Thành được cácđồng chí trong Ban đón tiếp những người lao động nhập cư của Đảng Xã hội Phápgiúp đỡ Trong khi chờ các đồng chí tìm cho giấy tờ quân dịch hợp pháp, anh phảisống ẩn náu, hạn chế đi lại để tránh sự kiểm tra của cảnh sát Cuộc sống của anh lúc đógặp rất nhiều khó khăn Vừa hoạt động chính trị, vừa phải kiếm sống một cách chậtvật, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệTrung Hoa, nhưng anh vẫn kiên trì, hăng say học tập và hoạt động Anh thường xuyêngặp gỡ với những người Việt Nam ở Pháp, có tư tưởng và khuynh hướng tiến bộ nhưPhan Châu Trinh, Phan Văn Trường Nguyễn Ái Quốc từng bước tham gia vào cuộcđấu tranh của phong trào công nhân và lao động Pháp

Trang 22

Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp Khi được hỏi

vì sao vào Đảng, anh trả lời: Vì đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý củaĐại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”

Năm 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước

đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở Vécxây (Versailles) (Pháp) Hội nghị nàycòn gọi là Hội nghị hoà bình Pari, nhưng thực chất đó là nơi chia phần giữa các nước

đế quốc thắng trận và trút hậu quả chiến tranh lên đầu nhân dân các nước thua trận và

các dân tộc bị áp bức Văn kiện chính của hội nghị là Hiệp ước Vécxây xác định sự

thất bại của nước Đức và các nước Đồng minh của Đức, phân chia lại bản đồ thế giớitheo hướng có lợi cho các đế quốc thắng trận, chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp

Thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng

Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây Dưới bản Yêu sách Nguyễn Tất Thành ký tên: Nguyễn Ái Quốc.

Đây là lần đầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện Nguyễn Ái Quốc tới lâu đài

Vécxây gửi bản Yêu sách cho văn phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gửi bản Yêu

sách đến các đoàn đại biểu các nước Đồng minh dự hội nghị Hầu hết các đoàn đại

biểu đều có thư trả lời Nguyễn Ái Quốc

Bản Yêu sách gồm tám điểm:

1 Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2 Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyềnhưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà

án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trongnhân dân An Nam;

3 Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4 Tự do lập hội và hội họp;

Trang 23

5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6 Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh chongười bản xứ;

7 Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8 Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị việnPháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ

Nguyễn Ái Quốc còn tự tay viết Yêu sách bằng hai thứ tiếng: một bản bằng chữ quốcngữ theo thể văn vần, nhan đề Việt Nam yêu cầu ca và một bản chữ Hán nhan đề AnNam nhân dân thỉnh nguyện thư Anh đến Nhà in Sácpăngchiê, số 70 phố Gôbơlanh,

bỏ tiền túi của mình thuê in 6.000 bản Yêu sách của nhân dân An Nam để phân pháttrong các cuộc hội họp, míttinh, phát đi nhiều nơi và bí mật gửi về Việt Nam

Thực dân Pháp bắt đầu chú ý tới người có tên Nguyễn Ái Quốc Trong một lần đếntheo dõi buổi nói chuyện ở Hội trường Hooctiquyntơ tại Pari, viên mật thám Pháp PônÁcnu (Paul Arnoux) chuyên theo dõi người Việt Nam sống ở Pari, tận mắt chứng kiếnNguyễn Ái Quốc đang phân phát truyền đơn in bảnYêu sách cho những người có mặt,

đã phải thốt lên dự cảm: “Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này cóthể là người sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương”

Bản Yêu sách phản ánh nguyện vọng của nhân dân Việt Nam không được hội nghị xem xét Đối với dư luận Pháp, Yêu sách cũng không có tiếng vang như mong muốn,

nhưng lại tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam trong nước và nước ngoài Mộtngười Việt Nam với tên gọi Nguyễn Ái Quốc đã dũng cảm đưa vấn đề chính trị củaViệt Nam ra quốc tế, đòi cho Việt Nam có những quyền cơ bản chính đáng, thiết thực.Đây là dấu hiệu mới của cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trên đường đi tới độc

lập dân tộc Qua việc bản Yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc nhận

thấy, như sau này Người đã viết:

Trang 24

“Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn” và “Muốn được giải phóng, các dântộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.

Từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, Nguyễn Ái Quốc thấy cần phải học viết báo để tố cáotội ác của thực dân Pháp Phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội ở Pháp đã đưa anhđến với hoạt động báo chí Trong hai năm 1919-1920, Nguyễn Ái Quốc đã viết 5 bài

báo Bài đầu tiên làVấn đề bản xứ , đăng trên báo Nhân đạo (L’ Humanité),ngày

2-8-1919

Bài báo nhắc lại những nội dung chính bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội

nghị Vécxây, tháng 6-1919, khẳng định nguyện vọng đó của nhân dân Việt Nam làchính đáng; đồng thời tố cáo, lên án những chính sách cai trị cùng các thủ đoạn đàn áp,cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương và tin tưởng rằng nhân dân tiến bộ Pháp

sẽ đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh vì tự do và công lý của nhân dân Việt Nam

Báo Dân chúng (Le Populaire) đăng bài Đông Dương và Triều Tiên của Nguyễn Ái

Quốc Bài báo nhắc đến sắc lệnh của Thiên Hoàng công bố tại Tôkyô ngày 19-8-1919với nội dung định rõ quyền bình đẳng giữa người bản xứ Triều Tiên với người Nhậttrong tất cả các luật lệ Bài báo so sánh chính sách cai trị của đế quốc Nhật ở TriềuTiên và đế quốc Pháp ở Đông Dương, nghiêm khắc lên án chính sách ngu dân củaPháp và đặt câu hỏi: Nước Pháp có thể đối với Đông Dương ít nhất một cách sáng suốtnhư Nhật đối với Triều Tiên không?

Qua các bài báo trên, chúng ta thấy rõ về mặt tư tưởng, Nguyễn Ái Quốc là một ngườiyêu nước tiến bộ, căm thù chủ nghĩa thực dân Pháp Khát vọng của Người là đấu tranhgiải phóng dân tộc, nhưng làm thế nào và đi theo hướng nào để đạt được mục đích đó,Nguyễn Ái Quốc vẫn còn đang tìm kiếm

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhânquốc tế phát triển mạnh mẽ Đầu năm 1919, Lênin và những người theo chủ nghĩa Mácủng hộ lập trường của Lênin họp đại hội ở Mátxcơva, thành lập Quốc tế III – tức Quốc

tế Cộng sản Quốc tế Cộng sản đã kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở

Trang 25

các nước phương Đông.Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và

vấn đề thuộc địa của Lênin được Đại hội lần thứ hai Quốc tế Cộng sản họp năm 1920

thông qua, đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc

địa và phụ thuộc Lần đầu tiên trên báo Nhân đạo, ngày 16 và 17-7-1920 đã đăng Sơ

thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin.

Tên đầu bài có liên quan đến vấn đề thuộc địa lập tức thu hút sự chú ý của Nguyễn ÁiQuốc Trong văn kiện này, Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những ngườiđứng đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng

sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảngcộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụthuộc, về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao củatất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến

Luận cương của Lênin đã chỉ cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân

tộc và tự do cho đồng bào Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người nói:

“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biếtbao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lênnhư đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây làcái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”!

Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”

Từ bản Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy phương hướng và đường

lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, trong đó có cách mạng ViệtNam Niềm tin ấy là cơ sở tư tưởng để Nguyễn Ái Quốc vững bước đi theo con đườngcách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác-Lênin Quyết tâm đi theo con đường của Lênin

vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc xin gia nhập Uỷ ban Quốc tế III, do một số đồng chí trongĐảng Xã hội Pháp lập ra, nhằm tuyên truyền vận động gia nhập Quốc tế III

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp từ ngày 25 đến ngày30-12-1920, tại thành phố Tua (Pháp), đã tranh luận gay gắt về việc gia nhập Quốc tế

Trang 26

III hay ở lại Quốc tế II, thành lập Đảng Cộng sản, hay giữ nguyên Đảng Xã hội.Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội với tư cách là đại biểu chính thức và duy nhất củacác nước thuộc địa Đông Dương.

Tại phiên họp buổi chiều ngày 26-12-1920, Nguyễn Ái Quốc được mời phát biểu.Trong bài phát biểu, Người lên án chủ nghĩa đế quốc Pháp, vì lợi ích của nó, đã dùnglưỡi lê chinh phục Đông Dương và trong suốt nửa thế kỷ, nhân dân Đông Dươngkhông những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độcmột cách thê thảm Bằng những sự thật, Nguyễn Ái Quốc tố cáo những sự tàn bạo màbọn thực dân Pháp đã gây ra ở Đông Dương, và cho rằng:

“Đảng Xã hội cần phải hoạt động một cách thiết thực để ủng hộ những người bản xứ

bị áp bức”, rằng “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộcđịa… đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề thuộc địa…” Nguyễn Ái Quốc kếtthúc bài phát biểu bằng lời kêu gọi thống thiết:

“Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫnphái tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi!”

Tại đại hội lịch sử này, cùng với những người cách mạng chân chính của nước Pháp,Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III Quốc tế Cộng sản, trởthành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thànhngười cộng sản Việt Nam đầu tiên Đó là một sự kiện chính trị vô cùng quan trọngtrong đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và trong lịch sử cách mạng nước

ta Nếu như cuộc đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị Vécxây năm 1919 mới

là phát pháo hiệu thức tỉnh nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dânPháp, thì việc Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đã đánh dấumột bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tưtưởng và lập trường chính trị của Người: Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩaLênin 40 năm sau nhìn lại sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

Trang 27

“Cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và đượcrèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp,

mà tôi đã tìm thấy chân lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã từ một người yêu nước tiến

bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”

Như vậy, từ năm 1911 đến năm 1920, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc khảo sát, nghiên cứu

để lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của bọn thực dân,phong kiến Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ Trải quanhững tháng năm lao động kiếm sống, thâm nhập đời sống thực tế của những ngườilao động nhiều nước trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc thấy rõ cảnh bất công, tàn bạo của

xã hội tư bản, anh vô cùng xúc động trước đời sống khổ cực của giai cấp công nhân vànhân dân lao động các nước Đến một số nước thuộc địa châu Phi, Người thấy rõ ở đâungười dân mất nước cũng khổ cực như nhau Bước đầu anh rút ra kết luận quan trọnglà: ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác và vô nhân đạo, ở đâu nhân dân lao động cũng

bị áp bức, bóc lột rất dã man; các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù chung là bọn đếquốc thực dân Anh nhận rõ giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước đều làbạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là kẻ thù Sau này anh đã khái quát thành một chânlý:

“Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột vàgiống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vôsản”

Cũng từ thực tế lao động, học tập, thâm nhập đời sống những người lao động, phântích tình hình chính trị thế giới, tiếp cận với chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc

đã lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường cách mạng vô sản mà saunày Người đã đúc kết:

“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cáchmạng vô sản”

Trang 28

Sự lựa chọn và hành động của Nguyễn Ái Quốc phù hợp với trào lưu tiến hóa của lịch

sử, chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, đã kéo theo cả một lớpngười Việt Nam yêu nước chân chính đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin Từ đó chủ nghĩaMác – Lênin bắt đầu thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nướcViệt Nam, cách mạng Việt Nam từ đây có một phương hướng mới

1.4 Giai đoạn ( 1921 – 1930 )

Năm 1921, ông cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệpThuộc địa (Union intercoloniale – Association des indigènes de toutes les colonies)nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc.Ngày11/4/1922, Tờ báo Người cùng khổ (Le Paria) được xuất bản, Nguyễn Ái Quốc đượcphân công làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút của tờ báo Cũng từ những bài báo, Nguyễn

Ái Quốc đã góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân ởcác thuộc địa, thức tỉnh phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Đồng thời, thông quanội dung các bài báo, Người chỉ ra yêu cầu cần thiết của việc thực hiện đoàn kết giaicấp và đoàn kết quốc tế, giữa nhân dân các thuộc địa, giữa thuộc địa với chính quốc vàcoi đó là những điều kiện bảo đảm cho cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi hoàn toàn.Ngày 13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pari đến Đức , 22/6/1923 đi Liên Xô quê hươngcủa Cách mạng Tháng Mười (30/6/1923), bắt đầu một thời kỳ hoạt động, học tập vànghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin, về chế độ xã hội chủ nghĩa ngay trên đất nướccủa Lênin vĩ đại.Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngàycàng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ởĐại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản

ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản Nhận thức của Người về sức mạnh củanhân dân lao động, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở cácnước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, về vai tròlãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng …ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo

Từ tháng 7/1923-10/1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộngsản quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa Người hoạt động

Trang 29

trong Quốc tế Nông dân; tham dự Đại hội II Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tếCộng sản Thanh niên; tiếp tục viết nhiều sách báo tuyên truyền cách mạng, hoàn thành

tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp; học tập tại trường Đại học phương Đông;

tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là cán bộ Ban phươngĐông Quốc tế Cộng sản

Thẻ đại biểu tư vấn Đại hội V Quốc tế Cộng sản của đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc)lấy tên LýThuỵ Tại đây, vào tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanhniên, trực tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ, ra Báo Thanh niên (21/6/1925) - tờ báocách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về ViệtNam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Thời gian này ông cũng gặp mặt một số nhà cách mạng lão thành người Việt đangsống và hoạt động lưu vong trên đất Trung Quốc, trong đó có Phan Bội Châu Trongmột báo cáo gửi đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản đề ngày 18 tháng 12 năm 1924, ôngviết về Phan Bội Châu:

Trang 30

"Ông ấy không hiểu chính trị và lại càng không hiểu việc tổ chức quần chúng,tôi

đã giải thích cho ông ấy hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không có cơ sở Ông ấy đã đưa tôi một bản danh sách của 14 người Việt Nam đã cùng ông ta hoạt động bấy lâu."

Trong nhóm 14 người này có một số thành viên của Tâm Tâm xã – một tổ chức cấptiến hoạt động từ 1923 với những thành viên như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, PhạmHồng Thái, Lê Hồng Phong, Lâm Đức Thụ, Những thành viên đầu tiên của TâmTâm xã là Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Giản Thanh, Đặng Xuân Hồng,Trương Quốc Huy, Lê Cầu, Nguyễn Công Viễn; đến đầu năm 1924 thì Lê HồngPhong và Phạm Hồng Thái được kết nạp

Năm 1925, ông lựa chọn một số phần tử tích cực của Tâm Tâm xã, huấn luyện thêm vàtrên cơ sở đó, lập ra Cộng sản đoàn, rồi tiếp tục dựa trên Cộng sản đoàn mà thành lậpViệt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (hay còn gọi là Hội Việt Nam cáchmạng Thanh niên) vào tháng 6 Hội này phái người về nước vận động và đưa thanhniên sang Quảng Châu đào tạo Cho tới 1927, hội mở được 3 khoá gần 10 lớp huấnluyện, đào tạo 75 hội viên, mỗi khóa chỉ kéo dài 2–3 tháng Nguyễn Ái Quốc đứnglớp, Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn phụ giảng Việc làm quan trọng nhất của hội trongthời gian này là cử được người đi học tại Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trườngQuân chính Hoàng Phố của Quốc dân Đảng Trung Quốc Nguyễn Hải Thần và VũHồng Khanh cũng từng làm việc hoặc học tập ở trường Hoàng Phố Trần Phú, LêHồng Phong, Bùi Công Trừng, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn,… lànhững người được đưa đi đào tạo tại một trong hai trung tâm trên Phần lớn ngườikhác, như Nguyễn Lương Bằng, sau đó về nước hoạt động Chương trình học tập gồm:

 Học "nhân loại tiến hóa sử", nhưng chủ yếu học thời kì tư bản chủ nghĩa cho tới đếquốc chủ nghĩa; sau đó học lịch sử vận động giải phóng của Triều Tiên, TrungQuốc, Ấn Độ, lịch sử mất nước của Việt Nam

 Chủ nghĩa Mác – Lenin, học có phê phán chủ nghĩa Tam dân và chủ nghĩa Gandhi

 Phần sau là về tổ chức: lịch sử và tổ chức ba Quốc tế Cộng sản, các tổ chức phụ

nữ, thanh niên quốc tế, quốc tế cứu tế đỏ, quốc tế nông dân

Trang 31

 Phần cuối là về vận động quần và tổ chức quần chúng, bài tập là các buổi thực tập.Sau mỗi tuần có "báo cáo học vấn" tại các tiểu tổ, học viên tự kiểm tra, phê bình và

tự phê bình lẫn nhau

Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được tập hợp và in thành tác phẩm Đường Kách

mệnh, được xuất bản vào năm 1927; phát hành với số lượng lớn về Việt Nam Nội

dung cuốn sách đã khẳng định: Cách mạng trước tiên cần có Đảng Cách mạng Đảng

có vững cách mạng mới thành công Cũng như người cầm lái có vững thuyền mớichạy Do đó, cách mạng Việt Nam muốn đi đến thắng lợi trước tiên phải xây dựngđược một Đảng cách mạng vững mạnh Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm cốt,trong Đảng ai cũng phải học, ai cũng phải theo Nguyễn Ái Quốc còn phát hiện rarằng, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc là động lực lớn của phong trào giải phóngdân tộc và Đảng Cộng sản là đội tiền phong cách mạng của giai cấp và dân tộc

Mùa hè năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc đi Liên Xô, sau đó đi Đức(11/1927) rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội đồng liên đoànchống đế quốc (12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ, sang Italia.Mùa thu 1928, HồChí Minh từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấnluyện cho Việt kiều, đồng thời móc nối một số thanh thiếu niên Việt Nam sang Thái

Lan hoạt động Theo Bác Hồ – hồi ký, phần kể của Lê Mạnh Trinh thì khi đó có

khoảng 2 vạn người Việt sống ở Thái Lan, kiếm sống chủ yếu bằng lao động và sinhsống khá rải rác, thiếu liên kết, tập trung nhiều hơn cả là ở vùng Đông Bắc Cho tớithời điểm 1928, đa số họ mới di cư sang Thái Lan trong vòng khoảng mấy chục năm.Ngô Quảng, Thần Sơn, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, đã từng hoạt động tại Thái,tuy nhiên không ai trong số họ tuyên truyền và tổ chức cho Việt kiều cả

Hồ Chí Minh chủ trương tuyên truyền cho kiều bào và tổ chức họ vào những hội thân

ái, tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa cho họ, xin chính phủ Thái cho mở trường dànhcho Việt kiều, Hồ Chí Minh đi (chủ yếu là đi bộ) và vận động hầu khắp các vùng có

kiều bào ở Thái Lan Giống như tại nhiều nơi đã hoạt động, ông cho in báo – tờ Thân

ái.

Cuối năm 1929, Hồ Chí Minh rời Thái Lan, theo ngả Singapore để sang Trung Quốc

Trang 32

Từ ngày 6/1-7/2/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủtrì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Hộinghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành lập Đảng Sự

ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - nin, với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời chứng tỏ sự trưởng thành về nhận thức chính trị của giai cấp công nhân vànhân dân lao động Việt Nam, chấm dứt thời kỳ bế tắc về đường lối, khủng hoảng vềlãnh đạo của cách mạng Việt Nam

Lê-1.5 Giai đoạn ( 1930 – 1945 )

Từ năm 1930-1941, tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạosát sao phong trào cách mạng trong nước Thời kỳ này, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chứcxây dựng được đường dây liên lạc quốc tế, đặc biệt là các nước Đông Nam Á với mụcđích tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân, tổ chức các nước trên thế giới, xâydựng lực lượng hậu thuẫn cho cách mạng Việt Nam thắng lợi

Trang 33

Tháng 6/1931, Người bị nhà cầm quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông Cuối năm 1932,Người được trả tự do; những năm 1934-1938, Nguyễn Ái Quốc rời Thượng Hải điVlađivôxtốc (Liên Xô) vào học tại Trường Quốc tế Lênin, sau đó công tác tại ViệnNghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc(tên gọi là P.C.Lin) được Ban Chỉ huy ở ngoài và Ban Trung ương của Đảng chỉ định

là đại diện của Đảng ở Quốc tế Cộng sản và được cử đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộngsản vào ngày 31/3/1935

Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô đến Diên An (Trung Quốc) làm việc tại Bộ chỉ huyBát lộ quân, sau đó bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước trực tiếp chỉ đạocách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân QuếLâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của ĐảngCộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc vào mùa đông 1938 Khi này đang làthời kì Quốc – Cộng hợp tác trong cuộc kháng chiến chống Nhật, Tưởng GiớiThạch có đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một đoàn cán bộ đi hướng dẫn choQuốc Dân Đảng về kỹ thuật chiến đấu du kích Tổng phụ trách đoàn là Diệp KiếmAnh Từ tháng 6 năm 1939, người được gửi tới phái đoàn này làm người phụ tráchchính trị

Ngày 28/1/1941, sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về nước (tại cộtmốc 108 thuộc xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng)

Sau khi về nước Nguyễn Ái Quốc bắt đầu sống và làm việc tại hang Cốc Bó, thôn Pác

Bó, Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng Cuối tháng 4/1941, theo đề nghị của Người,một cuộc hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng được triệu tập, để tổng kết kinh nghiệm tổchức thí điểm các hội quần chúng như: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc nhằmtiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh trong toàn quốc

Từ ngày 10 đến 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trungương Đảng Cộng sản Đông Dương Nghị quyết Hội nghị Trung ương tám đã đề cập vàlàm rõ nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam, trong bối cảnh Chiến tranhthế giới thứ hai ngày càng lan rộng Từ việc phân tích kỹ tình hình, thế và lực của cáchmạng Việt Nam, Hội nghị quyết định "Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai

Trang 34

cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếukhông giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do chotoàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựatrâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Ngày 19/5/1941, Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) chínhthức ra đời nhằm mục đích tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, tranh thủ mọi lựclượng yêu nước

Ngày 13/8/1942, với tên mới Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc lên đường đi TrungQuốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam và lực lượng Đồngminh Ngày 27/8/1942, Hồ Chí Minh bị bắt Hơn một năm trời, bị giải qua hơn 30 nhàlao, phải trải qua những ngày tháng bị giam cầm thiếu thốn, khổ cực, bệnh tật, thờigian này Người đã viết Ngục trung nhật ký Tháng 9/1943, Người được trả tự do.Cuối tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về Pác Bó (Cao Bằng) Trước tình hình thế giới,cùng những điều kiện thuận lợi và khó khăn của cách mạng Việt Nam, sau khi phântích tình hình và cân nhắc những điều kiện, chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa, Hồ ChíMinh nhấn mạnh phương châm kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh

vũ trang, đẩy mạnh phong trào cách mạng, tiến tới khởi nghĩa giành chínhquyền Người quyết định thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (nay làQuân đội nhân dân Việt Nam) Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ngày 22/12/1944, ĐộiViệt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Sam Cao (còn gọi

là Trần Hưng Đạo), thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm 34 đội viên dođồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy Sự ra đời và những hoạt động của Đội Việt Namtuyên truyền giải phóng quân là một biểu hiện sinh động của tư tưởng quân sự Hồ ChíMinh Đây vừa là sự kế thừa, phát triển di sản quân sự truyền thống của cha ông tatrong lịch sử, vừa là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo tư tưởng lý luận quân sự hiện đạicủa học thuyết Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam

Để có thể kịp thời chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước, đầu tháng 5/1945, HồChí Minh quyết định chuyển về hoạt động tại Tuyên Quang, nơi phong trào cách mạngphát triển, giao thông giữa miền xuôi và miền ngược đều thuận tiện Đến giữa tháng8/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, khởi nghĩa từng phần đã cuồn cuộn dâng lên từ

Trang 35

Bắc đến Nam Trong khi đó, quân Đồng minh đã đánh bại quân đội phátxít Nhật Thời

cơ tổng khởi nghĩa chín muồi, đã đến lúc nhân dân ta vùng dậy giành lại quyền độc lậpcủa mình Trước cơ hội có một không hai ấy, tại Tân Trào, thủ đô lâm thời của nướcViệt Nam mới, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến 15/8/1945,quyết định Đảng phải phát động và lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa, giành chínhquyền Ngày 16/8/1945, Hồ Chí Minh dự Đại hội quốc dân tại Tân Trào Đại hội đãnhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và Tổng bộ Việt Minh Đạihội đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ ChíMinh làm Chủ tịch

Thực hiện quyết định của Đảng và của Quốc dân Đại hội Tân Trào, chớp đúng thời cơ,toàn dân ta từ Bắc đến Nam, từ miền núi đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị đãđứng lên khởi nghĩa giành lấy chính quyền từ tay phátxít Nhật Sức mạnh của nhândân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bùng lên thành bão táp cách mạng, quyếtgiành lại độc lập, tự do Ngày 19/8, Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội, ngày 23/8

ở Huế, và ngày 25/8 ở Sài Gòn Trong một thời gian ngắn, cuộc Tổng khởi nghĩa giànhchính quyền trong cả nước đã thành công, làn sóng cách mạng và sức mạnh bạo lựccách mạng của quần chúng đã làm tê liệt mọi sự kháng cự của các thế lực thù địch, xoá

bỏ bộ máy chính quyền của giai cấp thống trị, chính quyền cách mạng đã về tay nhândân

Ngày 02/9/1945, trong cuộc mít tinh tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội, trước hàng chụcvạn đồng bào Thủ đô, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, Hồ Chí Minh đọcbản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra thời đạirực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc, thời đại Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho phong trào yêunước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươnlên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượngsáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đilên chủ nghĩa xã hội

Trang 36

Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đãđóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới củaphong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nướcthuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội)

ngày 2/9/1945.

1.6 Giai đoạn ( 1945 – 1954 )

Vừa mới giành được chính quyền, nhân dân ta phải đối phó với tình hình cực kỳ khókhăn, phức tạp Nạn đói khủng khiếp do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra đã làmhơn 2 triệu người chết Kinh tế tài chính quốc gia hầu như kiệt quệ Trong khi đó ởmiền Bắc 20 vạn quân Tưởng thừa lệnh Mỹ kéo sang Việt Nam, mượn cớ tước vũ khíquân đội Nhật, kỳ thực nhằm âm mưu tiêu diệt Đảng và nhà nước ta Đồng thời bọnphản động trong nước như Việt quốc, Việt Cách đòi thay đổi thành phần chính phủ

Trang 37

và đòi Chủ tịch Hồ Chí Minh phải từ chức Còn ở miền Nam, được quân đội Anh chechở, thực dân Pháp quay trở lại đánh chiếm nước ta một lần nữa.Đứng trước vận mệnhnước nhà như “ngàn cân treo sợi tóc” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận lấy trách nhiệmnặng nề trước nhân dân:“Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào

để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờhạnh phúc của nhân dân”

Ngày 03/09/1945, chủ toạ phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ, Người nêu ra 6nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết: Chống nạn đói, diệt nạn dốt, chuẩn bị tổ chứctổng tuyển cử, thực hành tiết kiệm, bài trừ mê tín dị đoan và hủ tục lạc hậu, bỏ ngaycác loại thuế vô lý Những công việc đó được chính phủ tán thành, tạo sự phấn khởitrong toàn thể nhân dân và đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp, tạo được niềm tin to lớn

Ngày 02/03/1946 Quốc Hội khoá I kỳ họp đầu tiên đã bầu Người làm Chủ tịch nướcViệt Nam Dân chủ cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm trực tiếp việcbiên soạn dự thảo Hiến pháp

Trang 38

Sau cách mạng tháng Tám, chúng ta phải cùng một lúc đối phó với nhiều kẻ thù, Chủtịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhận rõ kẻ thù nguy hại nhất của nhân dân talúc này là bọn thực dân Pháp xâm lược Để đối phó với kẻ thù Người đã đề ra nhữngsách lược rất khôn khéo, tạm thời hoà hoãn với Tưởng để rảnh tay đối phó với Pháp,

đồng thời tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chuẩn bị cho cuộc khángchiến chống Pháp ở miền Nam Nhưng đến đầu năm 1946, quân Tưởng đã thoả hiệp,cho quân

Pháp kéo ra miền Bắc thay thế chúng Trước tình hình nguy hiểm đó, Hồ Chủ tịch đãchuyển sang chủ trương tạm thời hoà hoãn với quân Pháp bằng “Hiệp định Sơ bộ ngày06/03/1946” Nhờ đó mà ta đã loại trừ được kẻ thù tạo thời gian để củng cố lực lượng

Ngày 31/05/1946, Hồ Chủ tịch lên đường thăm nước Pháp với tư cách là thượng kháchcủa chính phủ Pháp Tại cuộc mitting của hơn 5 vạn đồng bào tiễn đưa Người ở HàNội, Người thiết tha nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi

Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân ”

Ngày đăng: 04/12/2022, 22:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nguyễn Sinh Khiêm (1888–1950) là con thứ hai của trong gia đình cụ Phó bảng, sau chị cả Nguyễn Thị Thanh và là anh trai của Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Sinh Nhuận. - BÀI THU HOẠCH MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
guy ễn Sinh Khiêm (1888–1950) là con thứ hai của trong gia đình cụ Phó bảng, sau chị cả Nguyễn Thị Thanh và là anh trai của Nguyễn Sinh Cung và Nguyễn Sinh Nhuận (Trang 11)
Vừa mới giành được chính quyền, nhân dân ta phải đối phó với tình hình cực kỳ khó khăn, phức tạp - BÀI THU HOẠCH MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
a mới giành được chính quyền, nhân dân ta phải đối phó với tình hình cực kỳ khó khăn, phức tạp (Trang 36)
Pháp kéo ra miền Bắc thay thế chúng. Trước tình hình nguy hiểm đó, Hồ Chủ tịch đã chuyển sang chủ trương tạm thời hồ hỗn với quân Pháp bằng “Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946” - BÀI THU HOẠCH MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
h áp kéo ra miền Bắc thay thế chúng. Trước tình hình nguy hiểm đó, Hồ Chủ tịch đã chuyển sang chủ trương tạm thời hồ hỗn với quân Pháp bằng “Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946” (Trang 38)
V. BẢNG ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM - BÀI THU HOẠCH MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
V. BẢNG ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w