ĐỊNH NGHĨA: Thời gian ra đời:Học thuyết lợi thế tuyệt đối ra đời trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp giữa thế kỷ 18 kéo theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hệ thống ngân hàng
Trang 1MÔN: KINH DOANH QUỐC TẾ
Chủ đề: Chương 6; HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI
GVHD: Nguyễn Anh Tuấn Lớp: IBS2001-47K23.2 Nhóm: 6
Thành viên:
Trang 2Năm học 2021-2022
MỤC LỤC
I HỌC THUYẾT CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG: 3
1 ĐỊNH NGHĨA: 3
2 NỘI DUNG CHÍNH: 3
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT: 3
4 HẠN CHẾ: 3
II HỌC THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH TUYỆT ĐỐI 4
1 ĐỊNH NGHĨA: 4
2 NỘI DUNG CHÍNH: 4
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT: 4
4 HẠN CHẾ: 5
III HỌC THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH TƯƠNG ĐỐI 5
1 ĐỊNH NGHĨA: 5
2 NỘI DUNG CHÍNH: 6
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT: 6
4 HẠN CHẾ: 6
IV HỌC THUYẾT HECKSCHER – OHLIN 6
1 ĐỊNH NGHĨA: 6
2 NỘI DUNG CHÍNH: 6
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT: 7
4 HẠN CHẾ: 7
V HỌC THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM 7
1 ĐỊNH NGHĨA: 7
2 NỘI DUNG CHÍNH: 8
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT: 9
4 HẠN CHẾ: 10
VI HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI MỚI 10
1 ĐỊNH NGHĨA: 10
2 NỘI DUNG CHÍNH: 10
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT: 11
4 HẠN CHẾ: 12
VII HỌC THUYẾT LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA MICHAEL PORTER: 12
1 ĐỊNH NGHĨA: 12
2 NỘI DUNG CHÍNH: 12
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT: 15
Trang 34 HẠN CHẾ: 15
I HỌC THUYẾT CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG:
1 ĐỊNH NGHĨA:
Thời gian ra đời: Học thuyết trọng thương hình thành và phát triển ở châu Âu, mạnh
mẽ nhất là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỉ XV, suy tàn vào giữa thế kỉ XVHI
Về mặt kinh tế - chính trị, đây là thời kì cuối của phương thức sản xuất phong kiến, thời kì đầu của phưong thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Người đưa ra học thuyết: Thomas Mun, James Stewart (người Anh) và Jean Bordin, Melon, Jean Colbert (người Pháp)
2. NỘI DUNG CHÍNH: một học thuyết kinh tế ủng hộ quan điểm cho rằng các QG nên khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
+ Xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu để thu vàng, bạc – là những trụ cột chính cho sự thịnh vượng của QG
+ Ủng hộ sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được thặng dư trong cán cân thương mại + Coi thương mại như một trò chơi có tổng lợi ích bằng không – lợi nhuận của nước này đồng nghĩa với tổn thất của nước khác
- Vai trò của chính phủ: hạn chế hoạt động nhập khẩu bởi các biện pháp thuế quan và
hạn ngạch, trong khi tài trợ cho việc xuất khẩu
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT:
Đây là học thuyết đầu tiên đề cao vai trò của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế
Tư tưởng đề cao thương mại tiến bộ hơn các trào lưu tư tưởng phong kiến đương thời -vốn coi thường thương mại và chỉ coi trọng sản xuất tự cung tự cấp, đặc biệt là coi trọng sản xuất nông nghiệp và khai thác Có thể coi học thuyết trọng thương là tuyên ngôn tư tưởng của chủ nghĩa tư bản giai đoạn tích luỹ ban đầu
Thấy được vai trò của Nhà nước trong điều tiết hoạt động ngoại thương nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung thông qua các công cụ như thuế quan, hạn ngạch, độc quyền trong ngoại thương
Lần đầu tiên trong lịch sử, lý thuyết về kinh tế được nâng lên như là lý thuyết khoa học, khác hẳn với các tư tưởng kinh tế thời trung cổ giải thích các hiện tượng kinh tế bằng quan niệm tôn giáo
4 HẠN CHẾ:
Học thuyết còn nhiều luận điểm không chính xác, phiến diện về tiêu chuẩn đánh giá sự giàu có của quốc gia, về lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế, tính ngang giá trong trao đổi quốc tế, về tác động của cán cân thương mại
Trang 4Học thuyết chỉ giải thích được các hiện tượng bề ngoài của thương mại quốc tế mà chưa phân tích được bản chất quan hệ bên trong của các hoạt động thương mại quốc tế Học thuyết trọng thương được đánh giá là ít tính lý luận và chủ yếu nêu lên dưới hình thức lời khuyên thực tiễn về chính sách thương mại, mang nặng tính kinh nghiệm (rút ra từ thực tiễn thương mại của Anh và Pháp)
Tóm lại, học thuyết trọng thương là học thuyết mặc dù còn khá nhiều điểm phiến diện, nhưng có vai trò mở đường cho việc nghiên cứu một cách khoa học các hiện tượng thương mại quốc tế Học thuyết đã chỉ ra sự cần thiết và cách thức tác động của Nhà nước đến hoạt động ngoại thương
II HỌC THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH TUYỆT ĐỐI
1 ĐỊNH NGHĨA:
Thời gian ra đời:Học thuyết lợi thế tuyệt đối ra đời trong bối cảnh của Cách mạng
công nghiệp giữa thế kỷ 18 kéo theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hệ thống ngân hàng, tại thời điểm này, đòi hỏi những quan điểm mới và tiến bộ hơn về thương mại quốc tế thay thế quan điểm trọng thương, từ bối cảnh này, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ra đời.
Người đưa ra học thuyết: Người đưa ra học thuyết là nhà kinh tế học Adam Smith, người Scotland.
2 NỘI DUNG CHÍNH:
Đề cao vai trò của cá nhân và các doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương mại tự
do, không có sự can thiệp của Chính phủ Mậu dịch tự do sẽ làm cho thế giới sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn, mang lại lợi ích nhiều hơn
Khẳng định nguyên tắc phân công lao động để tạo ra nhiều lợi nhuận làm cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối Theo Ông, hai quốc gia tham gia mậu dịch với nhau là tự nguyện và cả hai đều phải cùng có lợi Có nghĩa là quốc gia A, xét trong tương quan với quốc gia B, có thể tỏ ra có hiệu quả hơn (có lợi thế tuyệt đối) trong sản xuất mặt hàng X và kém hiệu quả hơn (có mức bất lợi tuyệt đối ) trong việc sản xuất mặt hàng Y Khi đó B là quốc gia có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng Y, và bất lợi tuyệt đối trong sản xuất mặt hàng X Như vậy theo Ông, nếu mỗi quốc gia tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối, và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia để đổi lấy mặt hàng mà mình có mức bất lợi tuyệt đối, thì sản lượng của cả hai mặt hàng sẽ tăng lên và cả hai quốc gia đều trở nên sung túc hơn.
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT:
Trang 5 Học thuyết là bước tiến bộ vượt bậc so với thuyết trọng thượng, giải thích bản chất kinh tế và ích lợi trong thương mại quốc tế, giải thích được sự phát triển của thương mại quốc tế hai chiều giữa các quốc gia thời kỳ đầu công nghiệp hóa ở châu Âu.
Học thuyết khuyến khích tự do thương mại, tự do định giá trao đổi, có tác dụng lành mạnh hóa và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.
Đề cao chủ nghĩa cá nhân
4 HẠN CHẾ:
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối dựa trên thương mại tự do thực sự giữa các quốc gia Trên thực tế, điều này hiếm khi xảy ra do thuế quan, hạn ngạch và các yếu tố khác gây trở ngại cho thương mại giữa các khu vực Ngay cả khi một quốc gia
có thể sản xuất một sản phẩm với chi phí thấp hơn các quốc gia khác, thì các hạn chế thương mại có thể khiến các quốc gia khác tự sản xuất sản phẩm vẫn mang về hiệu quả kinh tế cao hơn Thậm chí các quốc gia còn có thể cố tình áp dụng thuế quan để bảo vệ các doanh nghiệp trong nước trước lợi thế của nước khác.
Chưa giải thích được hiện tượng trao đổi thương mại vẫn diễn ra với những nước có lợi thế hơn hẳn những nước khác ở mọi sản phẩm hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối về tất cả sản phẩm.
Việc tập trung tất cả sản xuất của một quốc gia vào một hàng hóa duy nhất là không thực tế và tiềm ẩn nhiều nguy cơ.Việc tập trung sản xuất 1 sp nhưng nếu nhu cầu về sp không cao thì sẽ không mang lại lợi ích kinh tế
lý thuyết lợi thế tuyệt đối là nó giả định thương mại chỉ liên quan đến hai bên
và hai hàng hóa Trên thực tế, trao đổi quốc tế phức tạp hơn nhiều, với hầu hết các quốc gia giao dịch với hàng chục quốc gia khác và trao đổi hàng trăm hoặc hàng nghìn thứ khác nhau.
Thương mại quốc tế chỉ xảy ra khi mỗi quốc gia về lợi thế tuyệt đối một trong 2 mặt hàng đó là hạn chế lớn nhất.
Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hóa Tuy nhiên, lí thuyết này lại đồng nhất hóa sự phân công lao động quốc tế với sự phân công lao động trong nước
mà không tính đến sự khác biệt giữa các quốc gia là rất lớn về thể chế chính trị,
về phong tục, tập quán…
Thương mại quốc tế chỉ xảy ra khi mỗi quốc gia đều có lợi thế tuyệt đối III HỌC THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH
1 ĐỊNH NGHĨA:
Trang 6Thời gian ra đời: Thế kỷ 19 David Ricardo một nhà kinh tế học người Anh xuất bản cuốn “Những nguyên tắc Chính trị và Thuế” ( 1817 ) trong đó ông đề cập đến lợi thế so sánh Theo học thuyết của David Ricardo về lợi thế so sánh, vẫn
có ý nghĩa khi một quốc gia chuyên môn hoá trong sản xuất những hàng hoá mà
họ SX hiệu quả nhất và mua những hàng hoá mà họ sản xuất kém hiệu quả hơn (nhưng vẫn hiệu quả hơn các QG khác)
2 NỘI DUNG CHÍNH:
Lợi thế so sánh xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối
Lợi thế so sánh có thể đạt được ở mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế nếu như quốc gia nào đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có ít bất lợi hơn và nhập khẩu những mặt hàng mà mình có nhiều bất lợi hơn
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT:
Là một trong những quy luật quan trọng nhất của kinh tế, đặt cơ sở nền móng cho mậu dịch quốc tế.
Chứng minh được rằng tất cả các quốc gia đều có lợi khi giao thương với nhau bất kể là quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không.
4 HẠN CHẾ:
Chính phủ có thể hạn chế thương mại Nếu một quốc gia tự rút khỏi hiệp định thương mại quốc tế hoặc chính phủ áp đặt thuế quan, điều đó có thể tạo
ra phức tạp cho các doanh nghiệp đang dựa vào các quốc gia đó để tìm nguồn lực.
Sự chuyên môn hóa ngày càng tăng có thể gây khó khăn cho việc mở rộng quy mô Nếu sản phẩm và dịch vụ của bạn yêu cầu các kỹ năng chuyên biệt,
có thể khó tăng quy mô tổ chức hoặc sản lượng, vì khó tìm được nhân viên
có các kỹ năng chuyên biệt đó.
Chi phí vận tải có thể lớn hơn lợi thế so sánh Số tiền tiết kiệm ( khi mua nguyên vật liệu, nhân công rẻ từ nước ngoài) có thể không đủ lớn hơn chi phí vận chuyển Trong một số trường hợp, chi phí vận chuyển có thể lớn hơn bất kỳ lợi thế so sánh nào.
IV HỌC THUYẾT HECKSCHER – OHLIN
1 ĐỊNH NGHĨA:
Thời gian ra đời: Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin đã đưa ra cách giải
thích khác về lợi thế so sánh,chứng tỏ lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trong mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất Học thuyết của hai ông xâydựng được gọi là học thuyết Heckscher - Ohlin (H - O)
Người đưa ra học thuyết: Eli Heckscher (1919 người ThụyĐiển) và Bertil Ohlin
( 1933 người Thụy Điển)
2 NỘI DUNG CHÍNH:
Trang 7Trong một nền kinh tế mở, mỗi nước sẽ có lợi nhất nếu hướng đến việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu các hàng hóa mà việc sản xuất chúng sử dụng nhiều yếu tố có lợi (sẵn có hon và giá rẻ hon), nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất chúngcần nhiều yếu tố có giá đắt hon và tương đối khan hiếm hon”- nước nào có thuận lợi về vốn nên chuyên môn hóa sản xuất những mặt hàng có hàm lượng vốn cao; nước nào có lao động rẻnên chuyên môn hóa các mặt hàng có hàm lượng lao động cao;nước nào có đất đai, tài nguyên phong phú nên chuyên môn hóa các mặt hàng sử dụng nhiều tài nguyên
Mô hình Heckscher-Ohlin lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi
sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực Nó dự đoán rằng một nước sẽ xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh, và nhập khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm Tuy
nhiên, nhiều công trình nghiên cứu nhằm kiểm nghiệm mô hình H-O lại đưa ra những kết quả mâu thuẫn, trong đó có công trình của Wassili Leontief, còn được biết đến với tên gọi Nghịch lý Leontief., Leontief đã phát hiện Mỹ mặc dù là quốc gia với tỉ lệ vốn/lao động cao nhưng tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàng tương đương hàng nhập khẩu của
Mỹ lại cao hơn tỉ lệ vốn/lao động của các mặt hàng xuất khẩu
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT:
Thuyết H - O đã góp phần lý giải thêm nhiều hiện tượng của quan hệ thương mại quốc tế vàđược đánh giá là một trong các học thuyết có mức độ ảnh hưởnglớn trong kinh tế học quốc tế, góp phần quan trọng trong việc giải thích cơ chế vận hành của
nền kinh tế thị trường
- Thuyết H - o đã chứng tỏ rằng lợi thế so sánh của một quốc gia không chỉ dựa trên
sự khác biệt về năng suất lao động, mà rộnghơn, nó dựa trên sự khác biệt trong mức độ sẵn có các yếu tố sản xuất
- Chỉ với những giả thiết đơngiản và dựa trên khái niệm về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất, thuyết này không chỉ cho phép đưa ra dự đoán về cơ cấu sản xuất và thương mại của các quốc gia, mà còn giúp cho việc nghiên cứu một loạt các vấnđề liên quan đến giá cả các yếu tố sản xuất, tác động của sự tăng trưởng các yếu tố sản xuất đến quy mô sản xuất và thương mại
- Học thuyết tạo tiền đề cho các học thuyết mới sau này ra đời tiếp tục giải thích về một nền thương mại quốc tế hiện đại
4 HẠN CHẾ:
Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX, địa vị của thuyết H - o đã gặp phải những thách thức nghiêm trọng, khi kết quả của các công trình kiểm chứng thực tế của thuyết này thường bị bóp méo bởi các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường, mà điển hình là công trình của nhà kinh tế MLeontief (người đạt giải Nobel kinh tế năm 1973) - thường được biết đến với tên gọi nghịch lý Leontief
Nội dung chính của nghịch líLeontief:Trong những năm 50 của thế kỉXX, Mỹ là nước giàu và dồi dào về vốn nhất thế giới Nhưng nghiên cứu của Leontief đã chỉ ra rằng, các mặt hàng xuất khẩu của Mỹ ít sử dụng về vốn hơn là các mặt hàng nhập khẩu Điều này trái ngược với dự báo của thuyết H - o Kết quả nghiên cứutrên được gọi là nghịch lýLeontief
Trang 8V HỌC THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM
1 ĐỊNH NGHĨA:
Thời gian ra đời: Raymond Vernon là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về vòng đời sản
phẩm vào giữa thập kỷ 1960 của thế kỷ trước (Mỹ thống trị nền kinh tế thế giới) Lý thuyết của ông dựa trên những quan sát thực tế là trong suốt thế kỷ XX một tỷ lệ rất lớn các sản phẩm mới của thế giới đã được phát triển bởi các công ty Hoa Kỳ và được tiêu thụ ban đầu tại thị trường Hoa Kỳ
Vòng đời sản phẩm là lí thuyết tìm cách lí giải những thay đổi trong xu thế phát triển của thương mại quốc tế theo thời gian Lý thuyết về vòng đời sản phẩm được xây dựng trên
cơ sở một chuỗi các quá trình đổi mới và quảng bá sản phẩm nối tiếp nhau.
2 NỘI DUNG CHÍNH: Các giai đoạn của lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm: Theo lý thuyết này, chu kỳ sống của sản phẩm được chia thành 4 giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Giới thiệu sản phẩm Khi một sản phẩm mới được đưa ra thị trường, quốc
gia tiêu thụ sản phẩm cũng là quốc gia sản xuất vì có mối quan hệ chặt chẽ giữa đổi mới
và nhu cầu Quốc gia sản xuất ban đầu này-thường là các nước công nghiệp tiên tiến - trở thành nhà xuất khẩu sang các nước có thu nhập cao khác Theo Vernon, giai đoạn này thường bắt đầu ở Hoa Kỳ Một số đặc điểm chính của giai đoạn này:
+ Chi phí đầu tư: Doanh nghiệp còn phải chi nhiều cho các hoạt động marketing, quảng
bá thương hiệu
+ Giá thành sản phẩm: Do tốn nhiều chi phí cho hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) nên giá thành của sản phẩm lúc này rất cao
+ Doanh thu: Sản phẩm bắt đầu có doanh thu nhưng số tiền thu về không đủ bù chi phí ban đầu
* Giai đoạn 2: Tăng trưởng Giai đoạn này khách hàng bắt đầu biết đến sản phẩm, nhu
cầu tăng mạnh Doanh thu vì thế mà bắt đầu tăng trưởng mạnh Đồng thời, các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện Trong giai đoạn này, chúng ta thấy hoạt động sản xuất bắt đầu diễn ra ở các nước công nghiệp hàng đầu khác và dần dần chuyển xuất khẩu của các nhà đổi mới sang các thị trường này Như vậy, FDI dần xuất hiện trong giai đoạn này giai đoạn tăng trưởng của lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm Một số đặc điểm chính của giai đoạn này:
+ Chi phí đầu tư: Doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mạnh vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm, mặc dù chi phí đầu tư đã giảm so với giai đoạn đầu
+ Giá thành sản phẩm: Nhờ sản xuất hàng loạt nên giá thành sản phẩm đã giảm đáng kể
so với thời kỳ sản phẩm mới tung ra thị trường
+ Doanh thu: Doanh thu của sản phẩm tăng vọt Công việc kinh doanh bắt đầu hòa vốn và thu được đồng lãi đầu tiên
+ Đối thủ cạnh tranh: Các đối thủ cạnh tranh dần dần xuất hiện
* Giai đoạn 3: Bão hòa Trong giai đoạn này, sản phẩm và quy trình sản xuất được tiêu
chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở nên phổ biến, doanh nghiệp phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng suất năng lực cạnh
Trang 9tranh, FDI tiếp tục phát triển vô cùng mạnh mẽ Các tập đoàn dần chú trọng sản xuất sản phẩm ở những nước có lợi thế hơn (về lao động, nguyên liệu đầu vào, môi trường pháp
lý, thị trường ) Một số đặc điểm chính của giai đoạn này:
+ Chi phí đầu tư: Chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong giai đoạn này là thấp nhất + Giá thành sản phẩm: Sản phẩm có giá thành tương đối ổn định tương đương với giai đoạn trước Doanh thu: Trong giai đoạn này, doanh số bán sản phẩm đang ở mức cao nhất Tuy nhiên, tốc độ tăng doanh thu lại giảm so với kỳ trước
+ Đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh của sản phẩm bắt đầu tăng dần Doanh nghiệp
đã nghĩ ra cách khác biệt hóa thương hiệu, đa dạng hóa tính năng để nâng cao chất lượng sản phẩm vị trí cạnh tranh
* Giai đoạn 4: Suy thoái Với sự phát triển và thay đổi của thói quen tiêu dùng và lý do
công nghệ, lợi nhuận kinh doanh và sản phẩm tiếp tục giảm, các sản phẩm cũ trên thị trường, không đáp ứng được nhu cầu thị trường đã có hiệu suất tốt hơn, giá thấp hơn so với các sản phẩm mới trên thị trường, đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng Tại thời điểm này do chi phí thua lỗ cao các doanh nghiệp sẽ dần dần ngừng sản xuất các sản phẩm này sẽ tiếp tục đến cuối vòng đời, và cuối cùng là rút lui hoàn toàn khỏi thị trường Một số đặc điểm chính của giai đoạn này:
+ Chi phí đầu tư: Để duy trì nhiệt doanh nghiệp buộc phải đầu tư chi phí lớn để lôi kéo người tiêu dùng tiếp tục sử dụng sản phẩm
+ Giá thành sản phẩm: Doanh nghiệp buộc phải hạ giá thành sản phẩm để kích cầu mua sắm của người tiêu dùng
+ Doanh thu: Doanh thu bán sản phẩm giảm nhiều so với các kỳ trước đó
+ Đối thủ cạnh tranh: Số lượng đối thủ đạt mức cao nhất Thị trường đạt đến mức bão hòa Ở giai đoạn này, nếu doanh nghiệp không có chiến lược hồi sinh sản phẩm thông minh thì hoặc sản phẩm sẽ chết, hoặc sản phẩm sẽ sống và chờ đợi một tương lai bất định phía trước
3 GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT:
Về mặt lịch sử, lý thuyết vòng đời sản phẩm dường như là một lời giải thích khá chính xác về các mô hình trao đổi trong thương mại quốc tế Mô hình này phác thảo trình tự từ nghiên cứu và phát triển đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm Các bước phát triển mới
sẽ diễn ra tuần tự từ các nước phát triển cao đến các nước phát triển thấp hơn đến các nước đang phát triển, với xu hướng tìm kiếm các địa điểm có chi phí sản xuất thấp hơn Theo lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm, các doanh nghiệp thực hiện FDI ở một giai đoạn cụ thể trong chu kỳ sống của sản phẩm mà họ đã giới thiệu ban đầu Khi một sản phẩm mới được giới thiệu, công ty chọn làm sản phẩm đó trong nhà, gần gũi với khách hàng Nhưng khi sản phẩm trưởng thành và nhu cầu nước ngoài tăng lên, công ty có thể bắt đầu sản xuất ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước có chi phí thấp, để phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu sản phẩm trong nước Như vậy, ở một chừng mực nào đó, lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm có thể giải thích được động thái đầu tư FDI của các tập đoàn lớn trên thế giới, các tập đoàn đa quốc gia Như sau:
Trang 10- Đối với các nhà sản xuất trong nước, họ giành được lợi thế xuất khẩu độc quyền thông qua việc giới thiệu các sản phẩm mới, hoặc bằng cách cải tiến các sản phẩm đang được sản xuất riêng cho thị trường nội địa của họ
- Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm mới, việc sản xuất tiếp tục được tập trung ở trong nước ngay cả khi chi phí sản xuất ở nước ngoài có thể thấp hơn Trong giai đoạn này Để thâm nhập thị trường nước ngoài, doanh nghiệp có thể xuất khẩu hàng hoá vào các thị trường đó
- Khi sản phẩm đã trở thành tiêu chuẩn hóa trong thời kỳ tăng trưởng, các nhà sản xuất
sẽ đầu tư ưu đãi ra nước ngoài để tận dụng chi phí sản xuất thấp và quan trọng hơn là để ngăn chặn khả năng bị rớt giá bàn tay của các nhà sản xuất trong nước
- Ở giai đoạn bão hòa, sản phẩm và quy trình sản xuất được tiêu chuẩn hóa, thị trường
ổn định, hàng hóa trở nên phổ biến Do các doanh nghiệp chịu áp lực giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng sức cạnh tranh, đầu tư ra nước ngoài tiếp tục tăng trưởng
4 HẠN CHẾ:
Tuy nhiên, lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm không phải là không có điểm yếu của nó Nhìn vào triển vọng châu Á và châu Âu, lập luận của Vernon cho rằng phần lớn các sản phẩm mới được phát triển và bán ở Hoa Kỳ dường như quá chủ nghĩa dân tộc Mặc dù thực tế là Hoa Kỳ đã thống trị nền kinh tế toàn cầu (từ năm 1945 đến năm 1975), hầu hết các sản phẩm mới đều được bắt đầu ở Mỹ, luôn có những ngoại lệ Những trường hợp ngoại lệ này ngày càng trở nên thường xuyên hơn Nhiều sản phẩm hiện nay có xuất xứ
từ Nhật Bản (Như bàn phím trò chơi điện tử) hoặc Châu Âu (Như điện thoại di động) Tương tự như vậy, với sự gia tăng của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, một số sản phẩm mới (như máy tính xách tay, đĩa compact, máy ảnh kỹ thuật số) hiện đang bắt đầu xuất hiện cùng lúc ở Mỹ, Nhật Bản và các nước tiên tiến Điều này xảy ra cùng với quá trình sản xuất được phân phối trên toàn cầu, với các thành phần của một sản phẩm mới được sản xuất ở các địa điểm khác nhau trên thế giới, nơi có sự kết hợp của chi phí con người các yếu tố và kỹ năng thuận lợi nhất, sau đó được tập hợp tại một địa điểm, rồi được phân phối, giới thiệu và tiêu thụ đồng thời tại nhiều thị trường khác nhau thay vì theo tuần tự của lí thuyết Vernon đề cập
VI HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI MỚI
1 ĐỊNH NGHĨA:
Thời gian ra đời: Nổi lên từ thập kỉ 70 của thế kỉ XX, khi các nhà kinh tế chỉ ra rằng việc đạt được lợi thế theo quy mô có thể có một ý nghĩa quan trọng đối với thương mại quốc tế
Krugman (sinh năm 1953, người Mỹ), năm 1979 (khi mới 26 tuổi) đã đưa ra học thuyết mới về thương mại so với các học thuyết trước đó
2 NỘI DUNG CHÍNH: Học thuyêt thương mại mới nêu ra 2 đặc điểm quan trọng: