Trong điều kiện hiện nay, để phát huy hết tiềm năng, thế mạnh phát triển cây chè của huyện, góp phần quan trọng trong thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kinh tế xã hội phát triển nhanh và bề
Trang 1LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài 3
Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1.Vị trí, vai trò của cây chè trong sự phát triển kinh tế 4
1.1.2. Hiệu quả kinh tế 8
1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè 12
1.3 Điều kiện đạt được hiệu quả kinh tế 14
1.4 Khái niệm về yếu tố đầu vào, đầu ra 14
1.5 Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè 15
1.5.1. Khái niệm về hộ và kinh tế hộ 15
1.5.2. Đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ sản xuất 17
1.6 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè 18
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới trong những năm gần đây 20
Trang 22.2.3 Những lợi thế và khó khăn trong sản xuất chè của Việt Nam 22
2.3 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè tại tỉnh Thái Nguyên 24
2.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè tại tỉnh Thái Nguyên 24
2.3.2 Chế biến, tiêu thụ chè tại huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên 26
2.4 Bài học kinh nghiệm cho huyện Đại Từ 27
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý 28
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội, dân số và lao động 31
2.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển sản xuất nông nghiệp ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1.Cơ sở phương pháp luận 37
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 37
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 38
2.3.4 Phương pháp phân tích thông tin 39
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 39
2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ 39
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè 40
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3 1 Thực trạng sản xuất chè trên địa bàn huyện Đại Từ, giai đoạn 2017 – 2019 42
3.2 Tình hình chung và hiệu quả kinh tế của nhóm hộ nghiên cứu 45
3.3 Một số giải pháp phát triển sản xuất, nâng cao giá trị kinh tế cây chè cho huyện Đại Từ 53
Trang 33.3.2 Giải pháp với nhóm hộ điều tra 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Đề nghị 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại từ 30
qua 3 năm 2017 – 2019 30
Bảng 2.2 Tình hình nhân khẩu, lao động huyện Đại Từ 3 năm 2017 - 2019 31 Bảng 2 3 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội của huyện Đại Từ 3 năm 2017 – 2019 33
Bảng 3.1: Diện tích chè của huyện 3 năm 2017 - 2019 43
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè kinh doanh huyện Đại Từ 03 năm 2017 - 2019 44
Bảng 3.3: Tình hình nhân lực của hộ 45
Bảng 3.4: Phương tiện sản xuất chè của hộ 46
Bảng 3.4: Đất sản xuất của hộ 47
Bảng 3.5: Một số chỉ tiêu sản xuất chè của hộ 48
Bảng 3.6: Chi phí sản xuất chè của hộ 50
Bảng 3.7: Kết quả sản xuất chè của hộ 52
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại Từ là huyện miền núi, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25km Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên 57.335
ha Huyện có 30 xã, thị trấn với dân số 172.289 người, gồm 8 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong sản xuất nông nghiệp (SXNN), Đại Từ là huyện có diện tích chè lớn nhất tỉnh Thái Nguyên, là vùng sản xuất chè có truyền thống lâu đời, có tiềm năng năng suất, nguyên liệu chè có chất lượng cao, là huyện sản xuất chè có 3 chỉ tiêu về số lượng lớn nhất so với quy mô sản xuất cấp huyện,
đó là: năm 2019 diện tích trồng chè là 6.342 ha chiếm 30,5% diện tích chè tỉnh Thái Nguyên, năng suất chè khá cao đạt 105 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt69.588 tấn, cao nhất tỉnh Thái Nguyên Ngành chè Đại Từ giữ vai trò mũi nhọn trong SXNN (chỉ đứng sau cây lúa) và là cây trồng số 1 trên vùng đồi Diện tích đất trồng chè của huyện chiếm 11 % tổng diện tích đất tự nhiên, chiếm 33,9% diện tích đất nông nghiệp Chất lượng chè Đại Từ được đánh giá rất ngon, có nhiều vùng chè đặc sản nổi tiếng cả nước như: Chè La Bằng, chè Khuân Gà – thị trấn Hùng Sơn, chè Làng Thượng - Phú Thịnh, Chè Quân Chu
Trong những năm qua, cây chè được huyện coi là cây trồng chủ lực, mũi nhọn trong phát triển nông nghiệp, là cây giúp cho các hộ nông dân thoát nghèo
và tiến tới làm giàu Tuy nhiên việc đầu tư, phát triển cho cây chè chưa nhiều, chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh trong phát triển cây chè của huyện Tổ chức sản xuất chè vẫn chủ yếu các hộ nhỏ lẻ, thiếu hệ thống dịch vụ kỹ thuật, thương mại; chưa tạo ra và gắn kết các chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ chè, hiệu quả sản xuất chưa tương xứng tiềm năng Chưa gắn việc hình thành
và gắn kết ngành sản xuất chè - ngành sản xuất mũi nhọn với các ngành khác như với công thương (sản xuất thiết bị chế biến, xuất khẩu sản phẩm), ngành dịch vụ kỹ thuật (cung ứng các loại vật tư, thiết bị kỹ thuật, dịch vụ tư vấn kỹ
Trang 7thuật), ngành văn hóa du lịch (du lịch sinh thái, văn hóa trà, tuyên truyền quảng
bá sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm); chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất còn chậm, thiếu đồng bộ Người sản xuất chậm tiếp cận với thông tin khoa học và thị trường tiêu thụ chè
Trong điều kiện hiện nay, để phát huy hết tiềm năng, thế mạnh phát triển cây chè của huyện, góp phần quan trọng trong thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kinh tế xã hội phát triển nhanh và bền vững thì việc tập trung đầu tư cho phát triển cây chè là cần thiết, nhằm khai thác và sử dụng tối đa các nguồn lực để phát triển sản xuất chè tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của huyện
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiệu
quả kinh tế sản xuất chè trên địa bàn huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2017 - 2019” nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được đầy đủ, chính xác hiệu quả sản xuất chè tại huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chè trong thời gian tới, nâng cao thu nhập cho hộ dân, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế của huyện theo hướng đa dạng hoá sản phẩm
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc trồng chè tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế giúp người dân cải thiện cuộc sống
Trang 83 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những yếu tố có liên quan đến hiệu quả kinh tế của hộ nông dân sản xuất chè trên địa bàn huyện Đại Từ như: điều kiện tự nhiên, thị trường, cơ chế, chính sách, năng lực nội tại và cách thức sản xuất của các hộ
5 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài
Từ thực tiễn nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển sản xuất, kinh doanh chè tại huyện Đại Từ, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài
sẽ xác định các giải pháp để phát triển bền vững sản xuất chè tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Các giải pháp được xây dựng có tính mở có thể ứng dụng trong thực tiễn đối với các địa phương khác trong tỉnh Thái Nguyên nói riêng
và Việt Nam nói chung
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Vị trí, vai trò của cây chè trong sự phát triển kinh tế
1.1.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, nó có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người Sản phẩm chè hiện nay được tiêu dùng ở khắp các nước trên thế giới, kể cả các nước không trồng chè cũng có nhu cầu lớn về chè Ngoài tác dụng giải khát chè còn
có nhiều tác dụng khác như kích thích thần kinh làm cho thần kinh minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể, làm đẹp…
Đối với nước ta sản phẩm chè không chỉ để tiêu dùng nội địa mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng để thu ngoại tệ góp phần xây dựng đất nước Đối với người dân thì cây chè đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế văn hóa xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho bộ phận lao động dư thừa nhất là ở các vùng nông thôn Nếu so sánh cây chè với các loại cây trồng khác thì cây chè có giá trị kinh tế cao hơn hẳn, vì cây chè có chu kỳ kinh tế dài, nó có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm liên tục khoảng
30 - 40 năm, nếu chăm sóc tốt thì chu kỳ này còn kéo dài hơn nữa
Mặt khác chè là cây trồng không tranh chấp đất đai với cây lương thực,
nó là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất trung du và miền núi Chính vì vậy cây chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần cải thiện môi trường, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Nếu kết hợp với trồng rừng theo phương thức Nông - Lâm kết hợp sẽ tạo nên một vành đai xanh chống xói mòn rửa trôi, góp phần bảo vệ một nền nông nghiệp bền vững.[4]
Như vậy, phát triển sản xuất chè đã và đang tạo ra một lượng của cải vật chất lớn cho xã hội, tăng thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống ở khu vực
Trang 10nông thôn Nó góp phần vào việc thúc đẩy nhanh hơn công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giảm bớt chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi cao và đồng bằng.
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè
Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì thế
để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại
bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu
* Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất chè
a Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
+ Đất đai và địa hình: Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và cây chè nói riêng Đất đai là yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Yếu tố đất đai cho phép quyết định chè được phân bổ trên những vùng địa hình khác nhau
+ Thời tiết khí hậu: Cùng với địa hình, đất đai, các yếu tố: nhiệt độ, ẩm
độ trong không khí, lượng mưa, thời gian chiếu sáng và sự thay đổi mùa đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và chất lượng chè.[6]
b Nhóm nhân tố về kỹ thuật
+ Ảnh hưởng của giống chè: Chè là loại cây trồng có chu kỳ sản xuất
dài, giống chè tốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sản xuất Do vậy, việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất được các nhà khoa học và người sản xuất quan tâm từ rất sớm Lựa chọn thế hệ sau được tiến hành theo các đặc tính của tính trạng bên ngoài của cây như: Thân, cành, lá, búp, hoa, quả
+ Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong búp chè có hàm lượng nước lớn, song không chịu úng Chè gặp khô hạn sẽ bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ làm giảm sản lượng thậm
Trang 11chí còn chết Do đó, việc tưới nước cho chè là biện pháp giữ ẩm cho đất để cây sinh trưởng phát triển bình thường, cho năng suất và chất lượng cao.
+ Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc, điều kiện cơ giới hóa Nhìn chung, tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau, nếu mật
độ quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp, lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ dại, vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý
+ Đốn chè: Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy, kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú
+ Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu hái
có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá 10h
do nhà máy chế biến ở xa hoặc công suất máy thấp Do vậy khi thu hái không
để dập nát búp chè
+ Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản phẩm
mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gồm hai giai đoạn sơ chế và tinh chế thành phẩm
c Nhóm nhân tố về kinh tế:
+Thị trường và giá cả: trả lời 3 vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì được đặt lên hàng đầu, buộc người sản xuất phải trả lời cho được, để trả lời câu hỏi này
Trang 12người sản xuất tìm kiếm thị trường, tức là xác định được nhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường đối với hàng hoá mà họ sẽ sản xuất ra được người tiêu dùng chấp nhận ở mức độ nào, giá cả có phù hợp hay không, từ đó hình thành mối quan hệ giữa cung và cầu một cách toàn diện.
Nhu cầu trên thế giới ngày càng tăng và tập trung vào hai loại chè chính
là chè đen và chè xanh Chè đen được bán ở thị trường Châu Âu và Châu Mỹ, còn chè xanh được tiêu thụ ở thị trường Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc ) Chính vì vậy, nghiên cứu thị trường chè cần lưu ý tới độ co giãn cung cầu về chè.[6]
Cuối cùng là vấn đề sản xuất cho ai? ở đây muốn đề cập tới khâu phân phối Hàng hoá sản xuất ra được tiêu thụ như thế nào? ai là người được hưởng lợi ích từ việc sản xuất đó, cụ thể là bao nhiêu? Có như vậy mới kích thích được
sự phát triển sản xuất có hiệu quả
Thực tế cho thấy rằng, thực hiện cơ chế thị trường, sự biến động của cơ chế thị trường ảnh hưởng lớn đến đời sống của người sản xuất nói chung, cũng như người làm chè, ngành chè nói riêng Do đó, việc ổn định giá cả và mở rộng thị trường tiêu thụ chè là hết sức cần thiết cho ngành chè góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp
Để ổn định giá cả và mở rộng thị trường chè, một yếu tố cần thiết là hệ thống đường giao thông Phần lớn những vùng sản xuất chè xa đường quốc lộ rất khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm Do đường giao thông kém, đi lại khó khăn nên người sản xuất thường phải bán với giá thấp do tư thương ép giá, làm hiệu quả sản xuất thấp Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như phát triển ngành chè trong tương lai cần thiết phải có hệ thống giao thông thuận lợi để nâng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.[6]
+ Cơ cấu sản xuất sản phẩm: Đa dạng hoá sản phẩm là quan điểm có ý nghĩa thực tiễn cao, vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội Đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của thị trường và tiêu thụ được nhiều
Trang 13sản phẩm hàng hoá nhưng đồng thời phải phát huy những mặt hàng truyền thống đã có kinh nghiệm sản xuất, chế biến, được thị trường chấp nhận [6]
1.1.2. Hiệu quả kinh tế
1.1.2.1 Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh
tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng
Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế
Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế
- Quan điểm thứ nhất: Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi vì nếu cùng một kết quả xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả
- Quan điểm thứ hai: Hiệu quả đạt được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân, hiệu quả sẽ cao khi các nhịp
độ tăng của các chỉ tiêu đó cao Nhưng chi phí hoặc nguồn lực được sử dụng tăng nhanh vì sao? Hơn nữa, điều kiện sản xuất năm hiện tại khác với năm trước, yếu tố bên trong và bên ngoài của nền kinh tế có những ảnh hưởng cũng khác nhau Do đó, quan điểm này chưa được thoả đáng
- Quan điểm thứ ba: Hiệu quả là mức độ hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng chứ không phải là giá trị
- Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức độ tăng khối lượng kết quả
Trang 14hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân.[10]
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá mà không cắt sản lượng một loại hàng hoá nào khác Một nền kinh tế
có hiệu quả nằm trên đường khả năng giới hạn sản xuất của nó Giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng (Potential Gross National Produst) là tổng sản phẩm quốc dân cao nhất có thể đạt được, đó là mức sản lượng tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ giữa tổng sản phẩm quốc dân thực tế với tổng sản phẩm quốc dân tiềm năng là chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu chênh lệch tuyệt đối giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế là phần sản lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần lãng phí Tuy nhiên, khái niệm tiềm năng phụ thuộc vào lao động tiềm năng là lao động ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Sản lượng tiềm năng cũng phải ứng với một tỷ lệ huy động tài sản cố định nào đó thì mới hợp lý
Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả do đó việc xác định khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ quan điểm triết học Mác xít và những luận điểm của lý thuyết hệ thống để có cách nhìn nhận và đánh giá đúng đắn
Một là: Theo quan điểm triết học Mác xít thì bản chất của hiệu quả kinh
tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng, quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật này, nó quy định động lực phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện phát triển phát minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại.[10]
Hai là: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao
Trang 15gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội.
Việc bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối liên hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài, đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
Ba là: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật xác định bằng các tỷ lệ so sánh giữa đầu
ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực và việc tạo ra lợi ích nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội
Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả như trên ta thấy rằng hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của hiệu quả kinh tế và quản lý Hơn nữa việc xác định hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp về lý luận và cả thực tiễn Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất
và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Muốn vậy, sản xuất không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Quan điểm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất mang lại lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường Chính vì vậy mà hiệu quả của một quá trình nào đó cần được đánh giá toàn diện cả ba khía cạnh: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.[10]
Trang 161.1.2.2 Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác
Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra
Một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là một phương ánđạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư
Từ khái niệm chung đó cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh
tế, đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời
kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế -
xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau.[11]
Mặt khác, tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả của xí nghiệp Vì vậy, nhu cầu thì đa dạng, thay đổi theo thời gian và tuỳ thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất Mặt khác, nhu cầu cũng gồm nhiều loại: nhu cầu tối thiểu, nhu cầu
có khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung Có thể coi thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay
Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thoả mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá
Trang 17thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra.
Đối với cây chè tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế ta phải đứng trên góc độ hạch toán kinh tế, tính toán các chi phí, các yếu tố đầu vào đồng thời tính toán được đầu ra từ đó
Xác định mối tương quan kết quả giữa đầu vào bỏ ra và kết quả đạt được
và đó chính là lợi nhuận.[11]
1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là: nâng cao cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, góp phần ổn định chính trị và xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn hoá cho nhân dân tức là
đã đạt hiệu quả về mặt xã hội
Đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh
tế xã hội, còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà ngành kinh tế khác không thể có được Cũng có thể một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân loại chúng để có kết luận chính xác
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 phạm trù: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội Ba phạm trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Trang 18Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối (phép chia) mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối (phép trừ) và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối.[10]
Kết quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả kinh tế đạt được và lượng chi phí bỏ ra, thì hiệu quả xã hội là mối tương quan
so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra
Hiệu quả về kinh tế, xã hội thể hiện mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được các kết quả đó
Có thể nói hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm có vai trò quyết định nhất
và nó được đánh giá một cách đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế
Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh tế thành:
Hiệu quả kinh tế theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ trong từng ngành lớn có lúc phải phân bổ hiệu quả kinh tế cho những ngành hẹp hơn
Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung toàn bộ nền sản xuất xã hội
Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ là xét riêng cho từng vùng, từng tỉnh, từng huyện
Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp là xem xét cho từng doanh nghiệp, vì doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng rẽ và lấy lợi nhuận làm mục tiêu cao nhất, nên nhiều hiệu quả của doanh nghiệp không đồng nhất với hiệu
Trang 19quả của quốc gia Cũng vì thế mà nhà nước sẽ có các chính sách liên kết vĩ mô với doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất và sản xuất dịch vụ
Căn cứ vào yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành từng loại:
Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng lao động
Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị
Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng
Hiệu quả áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và quản lý
1.3 Điều kiện đạt được hiệu quả kinh tế
- Điều kiện cần: Khi với mức sản lượng chè nhất định nếu có thể tiết kiệm được chi phí đầu vào (phân bón, thuốc sâu…) tức là tiết kiệm được chi phí cho quá trình sản xuất trong khi mức thu nhập vẫn ổn định
Trong trường hợp đầu vào (phân bón, thuốc trừ sâu…) không thay đổi nếu sản lượng tăng tức là hiệu quả kinh tế tăng lên Cả hai trường hợp trên đều làm gia tăng lợi nhuận cho quá trình sản xuất chè
Điều kiện đủ: Chọn ra phương án canh tác, sản xuất tối ưu Ví dụ trong quá trình sản xuất chè có những kết hợp đầu vào có mức chi phí thấp nhất và mức sản lượng lớn nhất
1.4 Khái niệm về yếu tố đầu vào, đầu ra
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và mức
độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là thước đo trở lên ngày càng quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế, là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
* Đối với các yếu tố đầu vào
Trang 20Các yếu tố đầu vào trong hoạt động sản xuất của người dân bao gồm tất
cả các chi phí về tài chính, thời gian, công lao động …(chi phí đất đai, hạ tầng, giống, phân bón, maketting…)
Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng nhất nên rât khó xác định giá trị nào đào thải và chi phí sửa chữa nên việc tính khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chỉ tiêu hiệu quả chỉ có tính chất tương đối Bên cạnh đó một số yếu tố đầu vào khó lượng hóa như thông tin, tuyên truyền nên việc lượng hóa gặp khó khăn
* Đối với yếu tố đầu ra
Yếu tố đầu ra của hoạt động sản xuất của người dân chính là kết quả của quá trình sản xuất đó là các sản phẩm nông nghiệp, những lợi ích từ các hoạt động kinh tế Phần lớn những kết quả sản xuất ra là có thể lượng hóa được một cách cụ thể, nhưng vẫn có những yếu tố không thể lượng hóa được: Bảo vệ môi trường; năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất khả năng tạo việc làm
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt hiệu quả tối đa chi phí và chi phí tối thiểu ở đây được hiểu theo nghĩa rộng đó là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực bao gồm cả chi phí cơ hội Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh tối đa nhất các mặt hàng sản xuất có hiệu quả cao
1.5 Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè
1.5.1 Khái niệm về hộ và kinh tế hộ
1.5.1.1 Khái niệm về hộ
Hộ là một tổ chức kinh tế xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn khác nhau của đất nước Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm khác nhau: [4]
Theo Liên Hiệp quốc: Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ
Trang 21Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại ở Hà Lan năm
1980, các đại biểu Hà Lan nhất trí rằng: Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác
- Theo Megê năm 1989: hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
- Theo các tác giải nhóm nhân chủng học từ năm 1982 – 1985: Hộ là đơn
vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo thong qua quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất
Như vậy, các cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về hộ không giống nhau Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân biệt
về hộ, đó là:
+ Chung hay không cùng chung huyết tộc (huyết tộc và quan hệ hônnhân)
+ Cùng chung sống dưới một mái nhà
+ Cùng chung một nguồn thu nhập (ngân quỹ)
+ Cùng ăn chung
+ Cùng tiến hành sản xuất chung
1.5.1.2 Khái niệm về hộ nông dân
Theo Ellis năm 1988: Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một
hệ thống kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức động hoàn hảo không cao
Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn
Trang 22Theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc trong phân tích điều tra nông thôn
2011 cho rằng: Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp ( làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, …) và thông thường nguồn sinh sống chính của họ dự vào nông nghiệp
1.5.1.3 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển.[4]
Do vậy hộ không thuê lao động nên không có khái niệm về tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Nông hộ chỉ có thu nhập chung của tất cả các hoạt động kinh tế Đó là sản lượng thu được hằng năm của hộ trừ
đi chi phí mà hộ đã bỏ ra để phục vụ sản xuất
1.5.2 Đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ sản xuất
- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và quyền sử dụng các yếu tố sản xuất
- Sở hữu trong nông hộ là sự sở hữu chung, nghĩa là mọi thành viên trong
hộ đều có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có, cũng như các tài sản khác của hộ Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và cùng nhau chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí, sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý Từ đó hiệu quả sử dụng lao động trong kinh tế nông hộ rất cao
- Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao
Do kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng có sự thích ứng dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô lớn Nếu gặp điều kiện thuận lợi nông hộ có thể tập trung mọi nguồn nhân lực Khi gặp các điều
Trang 23kiện bất lợi thì cũng có khă năng duy trì bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất có khi quy về sản xuất tự cung, tự cấp.
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động.Trong kinh tế nông hộ mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế , huyết tộc và cùng chung ngân quỹ nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực để phát triển kinh tế nông hộ vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích của người lao động và lợi ích kinh tế đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế nông hộ
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả Quy mô nhỏ nhưng không đồng nghĩa với lạc hậu, năng suất thấp Kinh tế nông hộ vẫn
có khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để cho hiệu quả kinh tế cao thì đó là biểu hiện của sản xuất lớn Thực tế đã chứng tỏ kinh
tế nông hộ là loại hình thích hợp nhất với đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, với cây trồng, vật nuôi trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần sự tác động kịp thời
- Kinh tế nông hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu.[4]
1.6 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt, kinh tế và văn hoá của con người Tuy nhiên, chè là cây trồng đòi hỏi kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc tới thu hoạch, bảo quản và chế biến
Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè:
a Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất chè Các yếu tố như lượng mưa, khí hậu, nhiệt độ, đất đai … là các yếu tố quan trọng có tác động đến chất lượng chè
b Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật
Trang 24Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng của cây chè Nếu áp dụng khoa học kỹ thuật tốt sẽ tạo điều kiện cho năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm chè Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ có liên quan đến trình độ tay nghề, những hiểu biết của người làm chè về những kỹ thuật trong trồng, chế biến chè, các tiến bộ kỹ thuật đó là:
+ Giống chè: là yếu tố ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng chè Giống
là yếu tố tiên quyết đối với chất lượng chè (yếu tố chất lượng sẽ ảnh hưởng đến thu nhập thông qua giá bán và số lượng bán ra)
+ Áp dụng khoa học kỹ thuật : Đối với ngành chè, khoa học kỹ thuật đã
tham gia ở tất cả các khâu từ yếu tố giống, trồng, chăm sóc và chế biến
c Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế xã hội
+ Thị trường và giá cả: Thị trường và giá cả tác động đến việc ra quyết
định của doanh nghiệp
+ Nguồn lao động: Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản
xuất Không có lao động thì không có các hoạt động nông nghiệp Chính vì vậy, lao động trong nông nghiệp nói chung, lao động trong sản xuất, chế biến chè nói riêng có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất, kinh doanh
+ Hệ thống cơ sở chế biến chè
Cơ sở chế biến là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất, chế biến chè Cơ sở chế biến phải đủ điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh và được thiết kế theo nguyên tắc từ khâu đầu vào đến đầu ra tránh mất vệ sinh
Trang 251.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới trong những năm gần đây
Trong năm 2018 sản lượng chè toàn cầu tăng 3,14% so với năm 2017, chủ yếu do sản lượng của Kenya tăng mạnh Cụ thể, sản lượng chè đen thế giới trong năm vừa qua đạt 2.102,79 triệu kg, so với 2.038,78 triệu kg năm 2017 Trong đó Việt Nam là một trong những nước có sản lượng chè sản xuất đứng thứ 5 Qua thống kê sản phẩm chè của các nước trên thế giới thì thị phần Châu Á chiếm 83% sản lượng chè thế giới, tiếp theo là Châu phi chiếm 15% và Nam Mỹ chiếm 2,4%
Về thị trường tiêu thụ trong giai đoạn gần đây, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm Các nước nhập khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản… sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới
Những thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với sản phẩm chè xanh và chè đen là: Thị trường Nga (đã nhập khẩu trên 174.000 tấn, Pakistan nhập khẩu 126.170 tấn, Hy Lạp nhập khẩu 81.700 tấn, Iran nhập khẩu 62.000 tấn, và Morocco nhập khẩu 58.000 tấn)
Ngoài ra còn có các chi nhánh bán lẻ ở thị trường Mỹ và Canada với tổng
số lượng chè nhập khẩu lên tới 144.000 tấn, Vương quốc Anh là 126.000 tấn
và EU với tổng số lượng chè nhập khẩu là 128.000 tấn
Sản lượng chè trên toàn cầu dự báo sẽ tăng 2,2% mỗi năm trong thập kỷ tới, đạt 4,4 triệu tấn vào năm 2027, phản ánh sản lượng tăng nhiều ở Trung Quốc, Kenya và Sri Lanka – trong đó sản lượng chè của Trung Quốc sẽ tăng lên bằng của Kenya – nước xuất khẩu chè lớn nhất thế giới Sản lượng chè xanh toàn cầu dự báo sẽ còn tăng nhanh hơn, khoảng 7,5% mỗi năm, đạt 3,6 triệu tấn vào 2027, chủ yếu bởi Trung Quốc, nơi sản xuất chè xanh sẽ tăng gấp đôi, từ 1,5 triệu tấn/năm giai đoạn 2015- 2017 lên 3,3 triệu tấn năm 2027 FAO cũng
Trang 26cảnh báo rằng sản lượng chè sẽ rất nhạy cảm với những điều kiện sinh trưởng
Do không dễ thích nghi với mọi môi trường nên chè chỉ được sản xuất ở một
số quốc gia, trong khi nhiều nước dự báo sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu Những sự thay đổi về nhiệt độ, mưa, lũ lụt, hạn hán… đều ảnh hưởng tới sản lượng, chất lượng và giá chè
2.2.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu chè của Việt Nam trong những năm gần đây
Tại Việt Nam, theo Tổng cục Thống kê, sản lượng chè búp năm 2018 đạt 987,3 nghìn tấn, tăng 1,6% so với năm 2017 Về xuất khẩu, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm ư018 cả nước xuất khẩu 127.338 tấn chè, thu về 217,83 triệu USD, giảm 8,9% về lượng và giảm 4,4% về kim ngạch so với năm 2017 Giá chè xuất khẩu bình quân trong năm 2018 đạt 1.710,7 USD/tấn, tăng 4,9%
so với năm 2017 Pakistan tiếp tục là thị trường nhập khẩu nhiều chè Việt Nam nhất trong năm qua, với 38.213 tấn, tương đương 81,63 triệu USD, chiếm 30% trong tổng khối lượng chè xuất khẩu của Việt Nam và chiếm 37,5% trong tổng kim ngạch, tăng 19,4% về lượng và tăng 18,8% về kim ngạch so với năm 2017 Giá chè xuất khẩu sang Pakistan giảm nhẹ 0,5%, đạt 2.136,3 USD/tấn Đài Loan là thị trường lớn thứ 2 tiêu thụ chè của Việt Nam chiếm gần 14,6% trong tổng khối lượng và chiếm 13,2% trong tổng kim ngạch, đạt 18.573 tấn, tương đương 28,75 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 5,4% về kim ngạch; giá xuất khẩu sang thị trường này sụt giảm 0,6%, chỉ đạt 1.548 USD/tấn Xuất khẩu sang thị trường Nga – thị trường lớn thứ 3 sụt giảm mạnh 20% về lượng và giảm 114,6% về kim ngạch, đạt 13.897 tấn, tương đương trên 21,21 triệu USD, chiếm 10,9% trong tổng khối lượng và chiếm 9,7% trong tổng kim ngạch Giá xuất khẩu tăng 6,7%, đạt 1.526,2 USD/tấn Riêng chè xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc lại tăng giá rất mạnh so với năm 2017, tăng 47,3%, đạt trung bình 1.943,3 USD/tấn, vì vậy lượng chè xuất khẩu tuy giảm 8,8%, đạt 10.121 tấn nhưng kim ngạch lại tăng 34,2%, đạt 19,67 triệu USD Các thị trường nổi bật
Trang 27về mức tăng mạnh kim ngạch trong năm 2018 gồm có: Đức tăng 39%, đạt 1,96 triệu USD; Philippines tăng 24%, đạt 1,6 triệu USD, Saudi Arabia tăng 33,1%, đạt 5,72 triệu USD; Pakistan tăng 18,8%, đạt 81,63 triệu USD Các thị trường sụt giảm mạnh về kim ngạch gồm có: Ấn Độ giảm 56,6%, đạt 0,91 triệu USD;U.A.E giảm 59,1%, đạt 4,21 triệu USD; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 48%, đạt 0,78 triệu USD.
Bước sang năm 2018, giá chè cành chất lượng cao tại Thái Nguyên ở mức 195.000 đồng/kg, chè xanh búp khô tại Thái Nguyên 105.000 đồng/kg, chè búp tươi loại 1 (nguyên liệu chè) tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) 9.000 đồng/kg, trong khi chè búp tươi loại làm nguyên liệu sản xuất chè đen ở Bảo Lộc 6.000 đồng/kg
2.2.3 Những lợi thế và khó khăn trong sản xuất chè của Việt Nam
2.2.3.1 Những lợi thế:
Lợi thế đầu tiên phải kể đến là tiềm năng về đất đai và sự phân bố đất đai trên nhiều miền khí hậu khác nhau Với gần 10 triệu ha đất nông nghiệp với các vùng đất cấu tạo khác nhau, các vùng khí hậu khác nhau đã hình thành các vùng sản xuất sản phẩm hàng hoá đa dạng khác nhau
+ Với khí hậu nhiệt đới chúng ta đã hình thành 2 vùng đồng bằng lớn sản xuất lúa nước, có thể sản xuất từ 2 - 3 vụ lúa và cây vụ đông, cây ăn quả
+ Vùng đất đỏ bazan ở Tây Nguyên và dải miền Trung đã hình thành vùng trồng cafe, cao su, hồ tiêu, điều, hoa quả
+ Vùng núi phía Bắc trồng chè, cây ăn quả Vì vậy, chúng ta có thể đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp hàng hoá và lại hình thành các vùng chuyên canh với quy trình sản xuất có thể diễn ra quanh năm, đáp ứng được yêu cầu của thị trường
Nước ta là một nước có nguồn lao động nông nghiệp dồi dào, 70% lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp, hiện nay đang thiếu việc làm, công lao động lại rất thấp Một ngày công lao động nông nghiệp ở Đài Loan là 30
Trang 28USD còn cao hơn thu nhập một tháng của người lao động nông nghiệp chăm chỉ, cần cù, sáng tạo ở Việt Nam.
Nước ta có hệ thống cảng biển, cảng sông, giao thông đường sắt, đường
bộ và hàng không có thể giao lưu thuận lợi với các Châu lục và các nước trong khu vực tạo điều kiện cho việc vận chuyển thuận lợi Từ khi thay đổi cơ chế,
hệ thống giao, thông giao thông của nước ta đã được đầu tư nâng cấp bước đầu đáp ứng được yêu cầu giao lưu thuận tiện trong cả nước và Quốc tế
Đường lối chính sách sách đổi mới kinh tế của nước ta đã được mở rộng,
tự do hoá thương mại, hoà nhập thị trường Quốc tế Các chính sách, luật đã tạo hành lang thông thoáng cho các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh Đã có nhiều chính sách khuyến khích mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước có điều kiện thuận lợi để tham gia liên doanh liên kết đầu tư phát triển sản xuất
Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ cũng ngày càng được Nhà nước quan tâm và ngày càng được nâng cao, thông qua nhiều kênh để đến với người sản xuất nhằm năng cao chất lượng sản phẩm và công nghệ sản xuất
2.2.3.2 Những khó khăn
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất chủ yếu là công cụ thủ công nên quá trình sản xuất của các hộ nông dân tạo ra nguyên liệu ban đầu chất lượng chưa cao, công nghệ sau thu hoạch chủ yếu còn lạc hậu nên thất thoát về lượng cũng chiếm khoảng từ 10 - 15%, sự thất thoát về chất lượng bị giảm đi còn chưa tính được Đây là vấn đề còn khó khăn nhất đòi hỏi phải có một cố gắng lớn và thời gian dài, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ sinh học, việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và cho yêu cầu của công nghiệp chế biến
Trang 29Để làm được điều này không chỉ người sản xuất mà còn là chiến lược phát triển chung của đất nước cần được sự hỗ trợ của Nhà nước, sự quan tâm khuyến khích các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học.
Phát triển công nghiệp nặng để chế tạo ra máy móc phục vụ công nghiệp chế biến Hiện nay nền công nghiệp của nước ta chưa đủ sức để đảm nhiệm việc đó, vì vậy hầu như các loại máy móc phục vụ cho công nghiệp chế biến và bảo quản chúng ta phải nhập ở nước ngoài, giá của các công nghệ này còn quá cao
Cụ thể là là công nghiệp chế biến chè của nước ta chủ yếu nhập từ Liên
Xô cũ, công nghệ lạc hậu, cũ kỹ cho nên sản phẩm làm ra khó cạnh tranh, việc thay đổi lại công nghệ này không phải ngày một ngày hai đã làm được Cho nên hiện nay Việt Nam phần lớn còn xuất khẩu sản phẩm thô, chưa đủ công nghệ để chế biến ra sản phẩm cuối cùng, điều chắc chắn là một bất lợi cho người sản xuất
Hệ thống cơ sở hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông, bến cảng, kho tàng tuy
đã được nâng cấp nhưng chưa đủ đáp ứng cho yêu cầu của sản xuất và lưu thông Sản xuất vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên, gây nên hạn úng mất mùa Chính sự yếu kém của các cơ sở hạ tầng đã gây nên sự chậm trễ cho việc thu gom sản phẩm và đáp ứng yêu cầu sản phẩm của thị truờng
Cơ chế chính sách: Chưa được hoàn thiện cho việc tạo ra hệ thống tổ chức loại hình doanh nghiệp, đầu tư tài chính, chính sách đầu ra, thuế nhằm tạo
ra sự hoà nhập với khu vực và thế giới là cần thiết
2.3 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè tại tỉnh Thái Nguyên
2.3.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè tại tỉnh Thái Nguyên
Cây chè phát triển không những trở thành một trong những đặc sản của Thái Nguyên để “làm đầu câu chuyện” mỗi khi khách đến mà còn là món quà quý, sang trọng trong hành trang của mỗi du khách khi về biếu bạn bè người thân Hơn thế, cây chè ở Thái Nguyên cũng là một trong những mặt hàng chủ
Trang 30lực tham gia xuất khẩu đem lại ngoại tệ mạnh cho tỉnh, mà cây chè còn được mệnh danh là cây “xoá đói giảm nghèo” với người nghèo; cây “làm giầu” với người giầu có Hiện nay diện tích chè của tỉnh có hơn 18.600ha trong đó có gần 17.000ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn
Hiện nay, sản phẩm chè của Thái Nguyên đã có mặt ở các thị trường:
Mỹ, Canada, Trung Quốc, ấn độ, Đài Loan… Năm 2018, toàn tỉnh đã xuất khẩu được 8.023 tấn, chiếm gần 19% sản lượng chè búp khô của toàn Tỉnh Số ngoại
tệ thu được 11,779 triệu USD Đối với thị trường trong tỉnh, sản lượng chè tiêu thụ chiếm trên 81% sản lượng của cả tỉnh Trong đó, nhu cầu tiêu thụ chủ yếu tập trung vào 2 loại chè chính là: chè xanh và chè đen, phục vụ cho tiêu dùng hằng ngày của nhân dân; loại thu hái để chế biến nâng cao chất lượng xuất khẩu và bán trong nước Sản phẩm chính của chè Thái Nguyên ở thị trường trong nước là chè xanh, chè xanh chất lượng cao, chè ướp hương đóng gói hay đóng hộp Chè xuất khẩu đi các nước chủ yếu là chè thô Hiện có 30 doanh nghiệp đăng ký chế biến, tiêu thụ chè cho nông dân, trong đó có 11 doanh nghiệp thường xuyên hoạt động thu mua (các doanh nghiệp còn lại hoạt động không thường xuyên, do không thu mua được nguyên liệu), chế biến hàng năm khoảng trên 50 nghìn tấn, chiếm 30% tổng sản lượng toàn tỉnh, chủ yếu là chè đen và chè xanh bán thành phẩm Số còn lại được chế biến thủ công trong dân
Không những quan tâm đến phát triển diện tích, năng suất sản lượng,Thái Nguyên đã và đang triển khai nhiều dự án về đổi mới công nghệ kết hợp với kỹ thuật truyền thống từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến, bảo quản và bao bì đóng gói để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và tạo sản phẩm
an toàn để bảo vệ sức khoẻ người trồng chè cũng như người uống trà Đi đôi là
tổ chức các Hội thi chè giữa các vùng chè truyền thống; xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên Hiện tại, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận đăng
Trang 31ký nhãn hiệu hàng hoá: “Nhãn hiệu tập thể Chè Thái Nguyên” với 13 doanh nghiệp và 31 cá nhân đang sử dụng Nhãn hiệu tập thể này.
Cây chè Thái Nguyên đang “lên ngôi” và trở thành cây mũi nhọn, cây chủ lực, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, vì thế tỉnh Thái Nguyên đang tiếp tục mở rộng diện tích, nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng và xây phát triển thương hiệu chè Diện tích chè ở các địa phương (tính đến năm 2020) được phân bố như sau: Thành phố Thái Nguyên 1.545 ha; thị xã Sông Công 654 ha; Định Hoá 2.647 ha; Võ Nhai 1265 ha; Phú Lương 4.090 ha; Đồng Hỷ 3.796 ha; Đại Từ 6.342 ha; Phú Bình 253 ha; Phổ Yên 1.689 ha Quy hoạch các vùng sản xuất tập trung gồm: Vùng chè đen (dự kiến 15% diện tích chè) chủ yếu ở các huyện: Định Hoá, Phú Lương; vùng sản xuất chè xanh 55% diện tích chè, chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Đại Từ, Võ Nhai, Sông Công; vùng sản xuất chè cao cấp, chè đặc sản chiếm 25% diện tích chè, tập trung ở thành phố Thái Nguyên, Đại Từ, Đồng
Hỷ, Phổ Yên, Phú Lương
Chè Thái Nguyên thơm ngon nổi tiếng từ lâu, ngày càng có nhiều người tìm đến trà Thái Nguyên để được thưởng thức hương vị trà có màu xanh, hương cốm, uống sau vài giờ vẫn đọng lại nơi cổ họng đầy quyễn rũ, làm cho ai đã uống một lần rồi lại không muốn uống một thứ trà nào khác Cây chè Thái Nguyên mỗi năm tăng thêm đến hàng trăm ha; giá bán cũng chẳng rẻ chút nào (có loại chè tới vài triệu đồng/cân) mà vẫn chẳng đủ để thoả mãn tấm lòng người tri kỷ
2.3.2 Chế biến, tiêu thụ chè tại huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên
Để nâng cao chất lượng, giá trị các sản phẩm từ chè, trong những năm gần đây, huyện Đại Từ đang quan tâm đầu tư, sản xuất chè tập trung theo hướng
an toàn, áp dụng quy trình VietGAP, sản xuất an toàn hữu cơ đạt chuẩn Organic…; giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, tăng sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc trừ sâu sinh học và các chế phẩm sinh học Từ đó, tạo ra các
Trang 32sản phẩm trà chất lượng cao, an toàn cho người sản xuất và người tiêu dùng, chinh phục thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó nhằm nâng cao giá trị, quảng bá sản phẩm chè ra thị trường, nhiều năm qua, các sở, ngành của tỉnh, huyện Đại Từ đã có không ít chương trình hỗ trợ người trồng chè, như: Hỗ trợ máy móc, cây giống, chuyển giao quy trình sản xuất an toàn, chứng nhận sản phẩm chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, hỗ trợ bao bì, tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tập huấn kiến thức khoa học kỹ thuật Được hỗ trợ, người trồng chè trên địa bàn cũng nhiệt tình tham gia, hưởng ứng các chương trình, hoạt động, đồng thời tích cực đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Mặc dù năng suất, chất lượng sản phẩm chè tại các Hợp tác xã trong thời gian đã có sự thay đổi đáng kể, song, các Hợp tác xã chè vẫn chưa phát triển như mong đợi của cả người dân và cơ quan quản lý
2.4 Bài học kinh nghiệm cho huyện Đại Từ
Một là, đẩy mạnh công tác ứng dụng, chuyển giao đưa các loại giống giống mới tiên tiến, có năng suất, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường
Hai là, lựa chọn và ứng dụng một cách hiệu quả, phù hợp các quy trình sản xuất tiến bộ như: VietGAP, GlobalGAP… vào sản xuất
Ba là, tăng cường sự tham gia của nông dân trong giới thiệu sản phẩm.Bốn là, chú trọng đầu tư công tác xây dựng thương hiệu sản phẩm và chỉ dẫn địa lý
Năm là, hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển hợp tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản
Trang 33Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý
a Vị trí địa lý
Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 57.335 ha Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang; phía đông giáp huyện Phú Lương; phía bắc giáp huyện Định Hoá; phía nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên Đại Từ là “Vùng địa lợi” nằm giữa khu vực căn cứ kháng chiến cũ, có nhiều di tích lịch sử văn hóa; nằm trên quốc lộ 37, cách Hà Nội 100 km, cách thành phố Thái Nguyên 25km, cách thành phố Tuyên Quang 50 km, là cầu nối giữa vùng An toàn khu Thái Nguyên với tỉnh Tuyên Quang
Đặc điểm địa hình: huyện Đại Từ được bao bọc bởi các dãy núi ở bốn phía, phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam Đảo với độ cao từ 300 - 600m, phía Đông là dãy núi Pháo với độ cao từ 150 - 300m, phía Bắc có núi Hồng và núi Chúa, phía Nam có núi Thằn Lằn thấp dần từ Bắc xuống Nam Đặc điểm địa hình tương đối phức tạp, mang đặc trưng vùng núi, trung du Hướng chủ đạo địa hình của huyện theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
b Điều kiện khí hậu, thủy văn
- Khí hậu: Khí hậu có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, gió Đông Nam chiếm ưu thế, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều Mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3, gió đông bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: nhiệt độ trung bình từ 22, 90 C; tổng tích ôn từ 7.000-8.0000 C
Đại Từ có lượng mưa cao, bình quân 1.872 mm/năm, phù hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển Lượng mưa phân bố không đều, có chênh lệch lớn
Trang 34giữa mùa mưa và mùa khô Về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gần 80% tổng lượng mưa trong năm.
Độ ẩm không khí khá cao, trung bình năm 82% Chênh lệch độ ẩm giữa mùa mưa và mùa khô lớn Về mùa mưa do ảnh hưởng của gió mùa, mưa nhiều nên độ ẩm khá cao 81-86%, mùa khô độ ẩm thấp, cây trồng thường thiếu nước vào vụ đông
- Thủy văn: Địa bàn huyện có hệ thống sông, suối, ao, hồ khá dày đặc, với nguồn nước rồi dào, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu trồng trọt và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân Sông Công chảy từ huyện Định Hoá, chiều dài chạy qua địa phận của huyện là 24km Ngoài ra còn có hệ thống các suối như: suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Phục Linh là nguồn cung cấp nước rất quan trọng trong huyện Hồ Núi Cốc rộng 25km2 với dung tích 175 triệu m3 nước, phần diện tích thuộc địa bàn huyện Đại Từ khoảng 769ha, là khu du lịch và là nơi cung cấp nước cho sản xuất và sinh sinh hoạt cho nhân dân
đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14%, Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ: 1.3036 ha chiếm 22,55%, Đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ: 13.247 ha chiếm 22,94% đất Sông ngòi, thủy văn