1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận - công cụ phái sinh - đề tài - SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRÊN THẾ GIỚI

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phát triển của các công cụ phái sinh trên thế giới
Tác giả Bùi Thị Hà, Bùi Thị Ân, Nguyễn Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Thanh Hoa, Lê Thị Thảo, Nguyễn Thị Thêm
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Thu Trang, Giảng Viên
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Bài thảo luận
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 581,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRÊN THẾ GIỚI DANH SÁCH NHÓM 5 1 Bùi Thị Hà (Nhóm trưởng) 2 Bùi Thị Ân 3 Nguyễn Thị Ngọc Ánh 4 Nguyễn Thị Thanh Hoa 5 Lê Thị Thảo 6 Nguyễn Thị Thêm LỚP TÍN CHỈ.

Trang 1

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG CỤ

PHÁI SINH TRÊN THẾ GIỚI

Trang 2

I TỔNG QUAN CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

1 Giới thiệu các Công cụ tài chính phái sinh

Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ

sở những công cụ tài chính đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Giá trị của công cụ phái sinh bắt nguồn từ một số công cụ cơ sở khác như tỉ giá, trị giá cổ phiếu, trái phiếu, chỉ

số chứng khoán, lãi suất… Công cụ tài chính phái sinh xuất hiện lần đầu tiên nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn rủi ro, trong đó thường được sử dụng cao nhất là hợp đồng kỳ hạn (forward contracts), hợp đồng tương lai (future contracts) Những công cụ trên còn có thể kết hợp với nhau, với những khoản vay hoặc những chứng khoán truyền thống để tạo nên các công cụ lai tạo

Mặc dù, xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là 1 công cụ phòng chống rủi ro nhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trường tài chính, các công cụ tài chính phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm kiến lợi nhuận và thực hiện các hoạt động đầu cơ Chính vì những biến thái như nên không phải lúc nào sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro cũng có hiệu quả Các công cụ phái sinh ngày càng tinh vi và mang theo 1 số rủi ro gây gián đoạn lớn hơn độ rủi ro thông thường Sự sụp đổ của thị trường tài chính cổ phiếu Mỹ năm 1987 chính được đẩy nhanh nhờ sử dụng rộng rãi kỹ thuật tự bảo hiểm Delta, được mua bán các hợp đồng bảo hiểm danh mục đầu tư Những người bảo hiểm này đã đầu tư, mạnh hơn vào thị trường mà nếu như không có kỹ thuật này thì có thể họ đã không làm như vậy Khi sự sụt giảm của thị trường kích hoạt bảo hiểm, khối lượng bán đột ngột gây ra một gián đoạn và thị trường sụp đổ Hay như Great Britain’s Bearing, một trong những ngân hàng lâu đời nhất thế giới đã phá sản năm 1995 khi đầu cơ các hợp đồng tương lai trong một thương vụ ở Singapore Tuy vậy, các công cụ tài chính phái sinh vẫn phát triển mạnh mẽ và được sử dụng rộng rãi tại các thị trường tài chính lớn của thế giới Nguyên nhân không nằm ngoài việc đó là phương thức duy nhất để các chủ thể trên thị trường phòng chống rủi ro Theo điều tra đối với 500 công ty lớn nhất thế giới tai 26 quốc gia khác nhau thì có tới 92 % các công ty trả lời rằng họ thường xuyên sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa và quản lí rủi

ro

Công cụ tài chính phái sinh (hay thường được gọi là các công cụ tài chính mới) là công cụ tài chính có giá trị được xác định dựa trên cơ sở giá trị của các công cụ tài chính cơ sở như chứng khoán, hối đoái, Sở dĩ gọi những công cụ tài chính này là “công cụ phái sinh” vì những công cụ này được bắt nguồn (sinh ra) từ

Trang 3

giá trị các tài sản cơ bản Việc đầu tư vào các công cụ phái sinh thường không yêu cầu một một khoản đầu tư thuần ban đầu nào hoặc chỉ yêu cầu một khoản đầu tư thuần ban đầu nhỏ hơn nhiều so với giá trị tài sản cơ bản

Khái niệm:

Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đă

có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận

Các loại công cụ phái sinh:

a) Hợp đồng quyền chọn (Option)

✓ Khái niệm: hợp đồng quyền chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định, và trong một thời gian nhất

định

Các hàng hoá cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai

✓ Những yếu tố cấu thành một quyền lựa chọn

- Tên của hàng hoá cơ sở

- khối lượng được mua theo quyền

- Loại quyền (chọn mua hay chọn bán)

- Thời hạn của quyền

- Mức giá thực hiện theo quyền

✓ Những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn:

- Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở

- Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền

- Giá quyền lựa chọn

Trang 4

Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của

chứng khoán cơ sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the money), tức là người có quyền có thể có lợi từ việc thực hiện quyền

Nếu giá thực hiện bằng với giá thị trường, quyền đang ở trạng thái hoà vốn (at the money), và nếu cao hơn, gọi là đang mất tiền (out of money)

Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở

Giá trị mà người nắm giữ quyền lựa chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value) Nếu quyền ở trạng thái bị mất tiền, giá trị nội tại bằng 0 Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằng giá trị nội tại Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với giá trị nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội giá trị theo thời gian

Nói cách khác, khi đó:

Giá trị theo thời gian của quyền chọn mua = Giá quyền - (giá thị trường - giá thực hiện)

✓ Ứng dụng của quyền lựa chọn:

Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất

Quyền lựa chọn được sử dụng để bảo vệ lợi nhuận

b) Quyền mua trước (right)

Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm các cổ phiếu thường Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định

Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đang lưu hành được kèm theo một quyền Số quyền cần để mua một cổ phiếu mới được quy định tuỳ theo từng đợt phát hành mới

Trang 5

Giá cổ phiếu ghi trên quyền thường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu Giá của quyền tính bằng chênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổ phần đang lưu hành và giá mua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượng quyền cần có

Đặc điểm:

Khác với quyền mua trước, chứng quyền có thời hạn dài hơn, do công ty đã phát hành công cụ cơ sở phát hành đồng thời với công cụ cơ sở Khác với quyền lựa chọn (option), khi chứng quyền được thực

hiện, nó tạo thành dòng tiền vào cho công ty và tăng thêm lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường

Chứng quyền có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hay cổ phiếu mà

nó đi kèm

Các điều kiện của chứng quyền được ghi rõ trên tờ chứng chỉ: số cổ phiếu được mua theo mỗi chứng quyền (thường là 1:1); giá thực hiện cho mỗi cổ phiếu; tại thời điểm chứng quyền được phát hành, giá này bao giờ cũng cao hơn giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, và giá đó có thể cố định, có thể được tăng lên định kỳ;

và thời hạn của quyền, đa số trường hợp là 5 đến 10 năm

d) Hợp đồng kỳ hạn

Hợp dồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hoá với khối lượng xác định, tại một

Trang 6

thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay

Hàng hoá ở đây có thể là bất kỳ thứ hàng hoá nào; từ nông sản, các đồng tiền, cho tới các chứng khoán

Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết, giá cả do hai bên tự thoả thuận với nhau, dựa theo những ước tính mang tính các nhân Giá hàng hoá đó trên thị trường giao ngay vào thời điểm giao nhận hàng hoá có thể thay đôỉ, tăng lên hoặc giảm xuống so với mức giá đă kư kết trong hợp đồng

Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị thiệt hại do đă cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị trường

Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình Và chỉ

có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một trong hai bên không thực hiện hợp

đồng Ngoài ra, với mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác

e) Hợp đồng tương lai

✓ Khái niêm:

Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốt hơn để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh

✓ Những điểm khác biệt căn bản của hợp đồng tương lai so với hợp đồng kỳ hạn là:

Niêm yết trên sở giao dịch Một giao dịch hợp đồng tương lai nói chung được xử lý trên một Sở giao dịch Điểm này cho phép giá cả được hình thành hợp

lý hơn, do các bên mua bán được cung cấp thông tin đầy đủ và công khai

Xoá bỏ rủi ro tín dụng Trong các giao dịch hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về đối tác giao dịch của mình Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ như một trung gian trong tất

cả các giao dịch Người bán bán cho công ty thanh toán bù trừ, và người mua cũng

Trang 7

mua qua công ty thanh toán bù trừ Nếu một trong hai bên không thực hiện được hợp đồng thì vẫn không ảnh hưởng đến bên kia

Tiêu chuẩn hoá Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với một hàng hoá bất kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai bên bán, mua Tuy nhiên, các hợp đồng tương lai niêm yết trên sở giao dịch đòi hỏi việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước

Điều chỉnh việc đánh giá theo mức giá thị trường (Marking to market) Trong các hợp đồng kỳ hạn, các khoản lỗ, lãi chỉ được trả khi hợp đồng đến hạn Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày

Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó Trên thực tế, và không bên nào biết về đối tác của mình trong giao dịch, nên những người thua đều trả tiền cho công ty thanh toán bù trừ, và công ty này sẽ trả tiền cho những người thắng

2 Thị trường công cụ tài chính phái sinh

Đặc điểm thị trường CCTCPS

✓ Giá trị giao dịch rất lớn

✓ Là thị trường có tính linh hoạt mêm dẻo

✓ Đa dạng hàng hóa giao dịch

✓ Chịu sự ảnh hưởng lơn của biến động giá cả

✓ Đa dạng chủ thể tham gia

a) Giai đoạn hình thành:

Giao dịch tài chính tiền tệ là lĩnh vực chưa có sự xuất hiện của các nhà bảo hiểm bởi tính biến động khôn lường của nó Các chủ thể tham gia không còn cách nào khác ngoài việc tự bảo hiểm cho mình bằng việc chuyển hẳn hoặc san sẻ 1 phần rủi ro cho thị trường bằng các CCTCPS Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát, mức độ áp dụng các CCTCPS ở Việt Nam còn rất hạn chế Nhiều ý kiến cho rằng, xuất phát điểm nền kinh tế lạc hậu chưa cho phép chúng áp dụng các kỹ thuật tài chính hiện đại Nói cách khác, thói quen và tập quán kinh doanh là những cản trở lớn đối với quá trình phổ biến các CCTCPS ở Việt Nam

Giao dịch kỳ hạn: là CCTCPS đầu tiên ở Việt Nam theo quyết định số

65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/1999 Các giao dịch kỳ hạn được thực hiện trong

Trang 8

hợp đồng mua bán USD và VND giữa ngân hàng thương mại với doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc với các ngân hàng thương mại khác được phép của ngân hàng nhà nước Tuy nhiên, Hợp đồng kỳ hạn ít được sử dụng, một phần là do thị trường liên ngân hàng ở VN chưa phát triển, một phần do những hạn chế vốn có của nó trong việc phòng chống rủi ro tỉ giá và những hạn chế của NHNN Vì thế, các giao dịch kỳ hạn chỉ chiếm khoảng 5-7% khối lượng giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Giao dịch hoán đổi: cũng xuất hiện khá sớm theo quyết định số

430/QĐ-NHNN13 ngày 24/12/1997 và sau này là quyết định số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 của thống đốc NHNN Tuy nhiên đây chỉ là những giao dịch hoán đổi thuận chiều giữa NHNN và NHTM Nó chỉ được sử dụng trong trường hợp các NHTM dư thừa ngoại tệ và khan hiếm VND

Theo quyết định số 1133/QĐ- NHNN ngày 30/09/2003 về quy chế thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất cho phép mở rộng danh mục các NHTM và các TCTD, các DN được sử dụng công cụ hoán đổi lãi suất Hoán đổi lãi suất được thực hiện đối với cả VND và ngoại tệ giữa các ngân hàng với DN vay vốn tại NH; giữa NH với những DN vay vốn tại các tổ chức tín dụng (TCTD) khác, kể cả vay vốn nước ngoài; giữa các NH trong nước với nhau và giữa các ngân hàng thương mại trong nước với các TCTD nước ngoài

Quyền chọn: ngoại tệ, lãi suất và vàng dường như là những CCTCPS được

thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh lãi suất và tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng thái tăng liên tục Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các DN và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện Đặc biệt, quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu

và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu Với nghiệp vụ này, chắc chắn tương lai sẽ được mở rộng bởi khi đó VND sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường tài chính thế giới Vị thế của VND và Việt Nam cũng qua đó mà tăng lên

➔Điểm lại nhưng mốc chính xuất hiện của các CCTCPS ở VN, dễ nhận thấy rằng nó chưa được thị trường đón nhận như là công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi ro

Thực trạng đó đặt ra nhiều câu hỏi Phải chăng các DN chưa thực sự có nhu cầu phòng chống rủi ro? Phải chăng khoảng cách giữa mong muốn phòng ngừa rủi

Trang 9

ro của các DN và các CCTCPS còn quá lớn? Phải chăng sự hiểu biết của các DN đối với các CCTCPS, từ đó là những chính sách sử dụng nó còn yếu kém? Phải chăng điều kiện kinh tế, đặc biệt là sự phát triển ở VN còn hạn chế? Phải chăng là việc hạch toán những nghiệp vụ ngoại bảng này còn nhiều bất cập khiến các ngân hàng còn nhiều lúng túng trong việc triển khai các dịch vụ phái sinh ? Phải chăng những quy định pháp lý hiện nay còn hạn chế sự hoạt động của các CCTCPS?

b) Giai đoạn phát triển và hoạt động của thị trường CCTCPS ở Việt Nam

Các nghiệp vụ CCTCPS là sản phẩm tất yếu của sự phát triển ngày càng sâu, rộng và đa dạng của thị trường tài chính

→Sự biến động khó lường của giá cả hàng hoá, lãi suất, tỷ giá trên thị

trường là những nguyên nhân gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư trong các phi vụ mua, bán

Đến nay, trên thị trường tài chính quốc tế nghiệp vụ TCPS đã phát triển rất mạnh với các nghiệp vụ phái sinh rất đa dạng và thị trường phái sinh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu

→Sở dĩ nó phát triển thành công như vậy, là do sử dụng nghiệp vụ này đem lại lợi ích cho các thành viên thị trường Trên thị trường có thể phân ra thành 3 loại thành viên: nhà tự bảo hiểm, nhà đầu tư, nhà kinh doanh chênh lệch tỷ giá Sự dụng nghiệp vụ tài chính phái sinh đều mang lại lợi ích cho 3 loại thành viên này

Khung pháp lý chế độ kế toán Việt Nam liên quan đến CCTCPS hiện nay như thế nào?

Trang 10

Tiếp đến, với Quyết định số 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/04/2007 của Thống đốc NHNN về Chế độ báo cáo tài chính đối với các TCTD, việc công bố thông tin về CCTCPS trên báo cáo tài chính của các TCTD đã ở mức đầy đủ, chi tiết cần thiết cho những ai quan tâm Chế độ báo cáo này gần như quán triệt tuyệt đối các chỉ tiêu cần công bố theo thông lệ Quốc tế về trình bày báo cáo tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự Đáng lưu ý là các thông tin sau: Loại CCTCPS được mua/ bán; quy mô mua/ bán; giá trị ròng về tài sản/ công nợ theo giá trị hợp lý thị trường của CCTCPS; mức độ các loại rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro giá cả khác hiện có

Đối với một vài TCTD đang thực hiện thí điểm mua/ bán các loại CCTCPS khác (ngoài phái sinh ngoại tệ), TCTD phải tự vận dụng thông lệ Quốc tế cho việc ghi chép kế toán và xác định kết quả hoạt động kinh doanh

Đối với các doanh nghiệp:

Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính: khi mua/ bán CCTCPS thì ghi nhận như thế nào? Theo quy định tại khoản 1,

Điều 7 của Luật kế toán về Nguyên tắc kế toán: "Giá trị tài sản được tính theo giá

gốc ",tuy nhiên chưa có hướng dẫn trực tiếp về xử lý kế toán, về trình bày chỉ tiêu

tài chính có liên quan trên báo cáo tài chính đối với các nghiệp vụ mua/ bán/ giao dịch CCTCPS

Nếu vận dụng các quy định hiện hành, quy trình xử lý kế toán tại doanh nghiệp như sau: khi doanh nghiệp mua tài sản là CCTCPS, doanh nghiệp sẽ ghi nhận theo giá gốc; quá trình nắm giữ, nếu giảm giá có thể trích lập dự phòng rủi ro; khi bán/ tất toán CCTCPS, chênh lệch giữa giá bán và giá trị đang ghi sổ kế toán, doanh nghiệp sẽ được ghi thu khác/ ghi chi khác Việc xử lý kế toán như vậy về công cụ tài chính nói chung, về CCTCPS nói riêng không phù hợp với thông lệ kế toán Quốc tế Tất yếu của vấn đề, kết quả kinh doanh của năm sẽ không xác định được hợp lý do chưa quán triệt được các nguyên tắc kế toán như "dồn tích", "thận trọng", "phù hợp" Những chỉ tiêu tài chính về CCTCPS cần phải trình bày trên báo cáo tài chính doanh nghiệp để cung cấp thông tin cho đối tác, cho người đầu

tư, cho cơ quan quản lý cũng chưa có

Thông tin hiệu quả hình thành giá

Các thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn thông tin quan trọng đối với giá

cả Đặc biệt, thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ yếu để xác định giá

Trang 11

giao ngay của tài sản Điều này không hề bất bình thường, bởi có rất nhiều hàng hoá được giao dịch trên thị trường tương lai nhưng thị trường giao ngay của nó rất rộng lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định được giá giao ngay của chúng

Ở đây, thường giá tương lai của những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định

là giá giao ngay Thêm nữa, thị trường giao sau, trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin do nó cung cấp có tính tin cậy cao hơn Nhữngthông

tin được cung cấp trên thị trường phái sinh dù trực tiếp hay gián tiếp đều góp phần hình thành giá giao ngay trong tương lai một cách có hiệu quả mà những người tham gia thị trường có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình

Các lợi thế về hoạt động và tính hiệu quả

Thứ nhất, chi phí giao dịch thấp hơn Điều này làm cho việc chuyển hướng

từ các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng dễ dàng và hấp dẫn hơn

Thứ 2, tính thanh khoản cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay Trước

hết đó là yêu cầu một mức vốn để tham gia thị trường là tương đối thấp Thêm nữa,

tỷ suất sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào như mong muốn

Thứ 3, Các giao dịch bán khống được thực hiện dễ dàng hơn

Ngoài ra, các nhà đầu tư có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá, chênh lệch lãi suất Tất cả các chủ thể tham gia thị

trường đều có thể tìm thấy lợi nhuận

Thị trường CCTCPS giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo Vì thế, các nhà đầu cơ với ý định thao túng thị trường cũng có những khó khăn nhất định Chính vì thế, đặt bên cạnh thị trường giao ngay, sự hiệu quả của thị trường phái sinh giúp nâng cao tính lành mạnh cho thị trường đó

Như vậy :CCTCPS là sản phẩm của nền kinh tế hiện đại Kỹ thuật tài

chính này đòi hỏi một trình độ hiểu hiết và phát triển nhất đinh của bất kỳ nền kinh

tế nào Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa chung vào hơi thở chung của nền kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, mức độ và điều kiện áp dụng ở Việt Nam còn có những hạn chế nhất định Điều đó đòi hỏi chúng ta cần có một hệ thống giải pháp tích cực để triển khai thành công kỹ thuật này trên thị trường tài chính

Trang 12

Lợi ích từ công cụ tài chính phái sinh

Là một bộ phận của Hệ thống tài chính quốc gia, việc hoàn thiện CCTCPS

và phát triển thị trường CCTCPS hiệu quả là thể hiện mức độ cao và chiều sâu của phát triển Hệ thống tài chính, sẽ là điều kiện cần để phát triển kinh tế ở tốc độ cao hơn Cụ thể lợi ích của phát triển CCTCPS, phát triển TTCCTCPS hiệu quả mà

nó mang lại là:

Xét ở góc độ tổng thể của nền kinh tế: Thị trường CCTCPS đóng góp

cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc phát huy tốt các chức năng của hệ thống tài chính, đó là: Cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư; Sàng lọc, chuyển giao, và phân tán rủi ro; Giám sát doanh nghiệp; tăng tính thanh khoản của các công cụ tài chính (vận hành Hệ thống thanh toán thông suốt)

Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có

thể mua/ bán CCTCPS với 2 mục đích: mục đích phòng ngừa rủi ro tài chính; mục đích đầu cơ, tạo lợi nhuận từ ứng dụng CCTCPS, trên cơ sở tạo trạng thái mở về lãi suất/ ngoại tệ/ hàng hóa/ chứng khoán Ngoài ra, khi sử dụng phối hợp nhiều CCTCPS với đối tác khác nhau, trên những thị trường khác nhau có thể tạo lợi nhuận trên cơ sở không phải đối mặt với các trạng thái mở, các rủi ro tài chính

Xét ở góc độ hoạt động kinh doanh của các TCTD : Các lợi ích thu được

khi ứng dụng CCTCPS cũng tương tự doanh nghiệp Hơn thế nữa, với vai trò của TCTD có thể tăng nguồn thu từ thu phí với tư cách của người môi giới; đặc biệt, khả năng mở rộng, phát triển các mặt hoạt động khác của TCTD như huy động vốn, cho vay, dịch vụ thanh toán, tư vấn cũng tăng cao và hiệu quả hơn

Những rủi ro gia tăng khi mua/ bán/ giao dịch CCTCPS

Tuy nhiên, việc sử dụng CCTCPS và hoạt động của thị trường CCTCPS cũng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng rất lớn, thậm chí khi rủi ro xảy ra có thể làm cho doanh nghiệp bị phá sản hoặc khủng hoảng tài chính nếu hoạt động của doanh nghiệp, của TCTD, của thị trường CCTCPS không hiệu quả Chính vì vậy, từng nhà quản trị doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước cần phải hiểu rõ về bản chất và những rủi ro gia tăng từ CCTCPS

Tùy thuộc từng loại CCTCPS, tùy thuộc vào mục đích và trạng thái kinh doanh sẵn có khi mua/ bán/ giao dịch công cụ tài chính phái sinh, tùy thuộc cơ sở

hạ tầng tài chính, tùy thuộc môi trường kinh doanh mà người mua, người bán sẽ phải/ không phải đối diện với những loại rủi ro tài chính, mức độ rủi ro nhất định

Trang 13

Ví dụ: nếu xét riêng lẻ một nghiệp vụ quyền chọn: đối với người mua

quyền chọn mua, lỗ nhiều nhất là mức phí quyền chọn, lãi thì có thể rất lớn; ngược

lại, đối với người bán quyền chọn mua: Lãi tối đa là phí quyền chọn, lỗ thì có thể

rất lớn (Sơ đồ 1, sơ đồ 2)

Sơ đồ 1: Khả năng lãi/ lỗ của người bán quyền chọn mua ngoại tệ

Sơ đồ 2: Khả năng lãi/ lỗ của người mua quyền chọn mua ngoại tệ

Tổng quát, các vấn đề phát sinh, các loại rủi ro tiềm tàng khi mua/ bán/ giao dịch các CCTCPS bao gồm:

Bán quyền chọn mua Lãi/lỗ

Ngày đăng: 04/12/2022, 18:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w