1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tuyển tập các bài soạn văn hay lớp 7 cả năm

784 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyển Tập Các Bài Soạn Văn Hay Lớp 7 Cả Năm
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Soạn Văn
Định dạng
Số trang 784
Dung lượng 49,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 7 trang 26 Tập 1 Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1) Tìm và giải thích nghĩa của các từ địa phương trong những câu dưới đây (ở đoạn trích Người đàn ông cô độc gi.

Trang 1

Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 7 trang 26 Tập 1

Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Tìm và giải thích nghĩa của các từ

địa phương trong những câu dưới đây (ở đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng của Đoàn Giỏi) Các từ đó được sử dụng ở vùng miền nào và chúng có tác

dụng gì trong việc phản ánh con người, sự vật?

a) Tía thấy con ngủ say, tía không gọi

b) Điều đó, má nuôi tôi quả quyết

c) Chú em cầm hộ lọ muối chỗ vách kia đưa giùm qua chút!

d) Bả không thua anh em ta một bước nào đâu

- Tác dụng trong việc phản ánh con người, sự vật:

+ Làm rõ hoàn cảnh, không gian diễn ra sự việc

+ Tô đậm màu sắc địa phương miền Nam, tầng lớp xã hội cũng như tính cách nhân vật

Câu 2 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Những từ nào trong các câu dưới đây là từ địa phương? Chúng được sử dụng ở vùng miền nào? Giải thích nghĩa

Trang 2

của các từ địa phương đó và nêu tác dụng của việc sử dụng chúng trong đoạn trích “Dọc đường xứ Nghệ” của Sơn Tùng

a) Ai tưởng tượng ra đầu tiên hình dáng các hòn núi nớ hẳn là mắt tiên, cha nhể?

b) Đền ni thờ một ông quan đời nhà Lý đó, con ạ

c) Việc đời đã dớ dận, mi lại “thông minh” dớ dận nốt

- Tác dụng của việc sử dụng từ ngữ địa phương trong đoạn trích:

+ Tăng giá trị biểu đạt cho nội dung văn bản

+ Tô đậm màu sắc địa phương miền Trung, tầng lớp xã hội cũng như tính cách nhân vật

Câu 3 (trang 27 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Viết đúng và luyện phát âm một

số từ có đặc điểm sau:

a) Từ có tiếng chứa phụ âm đầu là l, n, v:

- l, ví dụ: lo lắng, lạnh lùng,

Trang 3

- n, ví dụ no nê, nao núng,

- v, ví dụ: vội vàng, vắng vẻ,

b) Từ có tiếng chứa vần với âm cuối là n, t:

- n, ví dụ: bàn bạc, bền bỉ, ngăn cản,

- t, ví dụ: bắt bớ, luật lệ, buốt giá,

c) Từ có tiếng chứa các thanh hỏi, thanh ngã:

- Thanh hỏi, ví dụ: tỉ mỉ, nghỉ ngơi, …

- Thanh ngã, ví dụ nghĩ ngợi, mĩ mãn, …

Trả lời:

a) Từ có tiếng chứa phụ âm đầu là l, n, v:

- l, ví dụ: líu lo, lặng lẽ, lạnh lẽo, lũ lượt, lặc lè, le lói, lo lắng, lời lãi, lung lay,

lũ lượt, lực lưỡng, …

- n, ví dụ: nôn nao, nền nã, nóng nảy, núng nính, nao núng, nắc nỏm, nói năng,

nóng nực, nô nức, nung nấu, nức nở,

- v, ví dụ: vui vẻ, vội vã, vấn vương, vênh váo, ví von, vội vàng, vô vị, vu vạ,

vững vàng,

b) Từ có tiếng chứa vần với âm cuối là n, t:

- n, ví dụ: cần mẫn, lan man, an bài, bàn bạc, bền bỉ, gán ghép, ngăn cản, phàn

nàn, san sẻ,

Trang 4

- t, ví dụ: bắt nạt, nạt nộ, ngột ngạt, bắt bớ, buốt giá, chia cắt, chắt chiu, đan

lát, đắt đỏ, gắt gỏng, luật lệ, …

c) Từ có tiếng chứa các thanh hỏi, thanh ngã:

- Thanh hỏi, ví dụ: sửa sang, chỉn chu, hỏi han, bền bỉ, bổ sung, bủng beo, nghỉ

Trả lời:

Trong đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng có sử dụng rất nhiều các phương ngữ Nam Bộ Có thể lấy một số ví dụ tiêu biểu như các từ tía, má, khám, nhà việc, … Việc sử dụng các từ ngữ địa phương như vậy có tác dụng tô

đậm màu sắc vùng miền, gợi ra không gian Nam Bộ dân dã, nơi xảy ra câu chuyện và cũng là quê hương sinh sống của các nhân vật Ngoài ra, các từ ngữ được sử dụng cũng góp phần tô đậm tính cách các nhân vật, thể hiện tâm tư tình cảm và mạch suy nghĩ của từng người Qua đó, tác giả kể lại câu chuyện một cách chân thực đồng thời bày tỏ tình cảm, tư tưởng của mình

Trang 5

Soạn bài Viết bài văn kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật

- Nhân vật hoặc sự kiện không chỉ có trong lịch sử đấu tranh giữ nước mà còn

là những con người hoặc sự kiện trong các lĩnh vực lao động, văn hoá, khoa học như các nhà bác học, các nhà phát minh sáng chế, những nhà văn, hoạ sĩ, nhạc

sĩ, các vận động viên nổi tiếng,

- Các câu chuyện liên quan đến sự kiện hoặc nhân vật lịch sử thường được kể lại bởi người chứng kiến hoặc được sưu tầm, nghiên cứu và thể hiện lại qua sách, báo, phim ảnh,

- Vì thế, muốn viết bài văn theo yêu cầu trên, các em cần đọc sách, báo, , sưu tầm một số câu chuyện lịch sử về:

+ Những anh hùng dân tộc từ xưa đến nay

+ Những tấm gương về lòng yêu nước, lòng dũng cảm trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm

+ Chuyện về cuộc đời hoạt động cách mạng và sinh hoạt đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các chiến sĩ cách mạng hoặc các nhà hoạt động xã hội nổi tiếng

+ Những hoạt động khoa học, sáng tạo trong nhiều lĩnh vực cuộc sống

Trang 6

* Tìm hiểu bài mẫu: Nhạc sĩ Văn Cao sáng tác Tiến quân ca

Câu hỏi (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):

- Văn bản kể về sự việc gì? Ai là người kể chuyện?

- Sự việc ấy liên quan đến nhân vật hay sự kiện lịch sử nào?

- Những câu văn nào thể hiện sự kết hợp các yếu tố miêu tả với yếu tố tự sự?

Trả lời:

- Văn bản kể lại sự việc nhạc sĩ Văn Cao sáng tác bài hát Tiến quân ca và được cộng đồng đón nhận

- Người kể chuyện: người kể chuyện ngôi thứ ba - tác giả bài viết: Ngọc An

- Sự việc ấy liên quan đến:

+ Nhân vật: nhạc sĩ Văn Cao

+ Sự kiện lịch sử: kháng Nhật, cuộc mít tinh của công chức Hà Nội, cuộc mít tinh vào ngày 19-8

- Những câu văn thể hiện sự kết hợp yếu tố miêu tả với tự sự:

+ Lúc đó, ông rất háo hức muốn được nhận “một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang”, nhưng nhiệm vụ mà ông được giao là sáng tác nghệ thuật

+ Nhưng với tất cả lòng nhiệt huyết của chàng trai trẻ yêu nước, trên căn gác nhỏ ở phố Nguyễn Thượng Hiền - Hà Nội, Văn Cao thấy mình như đang “sống

ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc”, ông đã viết nên những giai điệu

và ca từ của Tiến quân ca

Trang 7

+ Có lẽ lúc đó, Văn Cao không ngờ rằng chỉ một thời gian ngắn sau, lần đầu tiên, vào ngày 17-8-1945, khi diễn ra cuộc mít tinh của công chức Hà Nội, bài hát Tiến quân ca được hàng ngàn người hòa nhịp cất cao tiếng hát trước Quảng trường Nhà hát Lớn.

+ Bài hát Tiến quân ca đã nổ như một trái bom Nước mắt tôi trào ra Xung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất vang lên theo những đoạn sôi nổi

+ Anh là người đã buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát Con người trầm lặng ấy đã có sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên, và cũng là một lần duy nhất

+ Hàng chục ngàn giọng hát cất lên, thét lên tiếng căm thù vào mặt bọn đế quốc với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng

b) Để viết bài văn kể lại một sự việc có thật liên quan đến nhân vật hoặc sự kiện lịch sử, các em cần chú ý:

- Xác định sự việc sẽ kể là sự việc gì Sự việc ấy có liên quan đến nhân vật hoặc

sự kiện lịch sử nào? Sự việc do em nghe kể lại hay đọc được từ sách, báo, ?

- Xác định ngồi kề, nhân vật và sự việc chính,

- Lập dàn ý cho bài viết

- Sử dụng kết hợp các yếu tố miêu tả trong khi kể

2 Thực hành

Bài tập (trang 34 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chọn một trong hai đề sau:

Trang 8

Đề 1: Các em đã học và đọc nhiều câu chuyện lịch sử, hãy viết bài văn kể lại

sự việc liên quan đến một nhân vật hoặc sự kiện lịch sử mà em yêu thích

Đề 2: Dựa vào văn bản ở mục “Định hướng”, em hãy đóng vai nhạc sĩ Văn Cao,

viết bài văn kể lại sự ra đời của bài hát “Tiến quân ca”

- Gợi lại bối cảnh, câu chuyện, dấu tích liên quan đến nhân vật, sự kiện

+ Câu chuyện, huyền thoại liên quan đến nhân vật, sự kiện

+ Dấu tích liên quan

- Thuật lại nội dung/ diễn biến của sự việc có thật liên quan đến nhân vật, sự kiện lịch sử

+ Bắt đầu - diễn biến - kết thúc

+ Sử dụng được một số bằng chứng (tư liệu, trích dẫn, ); kết hợp kể chuyện với miêu tả

Trang 9

- Ý nghĩa, tác động của sự việc đối với đời sống hoặc đối với nhận thức về nhân vật/ sự kiện lịch sử

c Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của sự việc hoặc nêu cảm nhận của người viết

“Phá cường địch, báo hoàng ân”, nổi danh sử sách Có lẽ, nói đến đây ai cũng biết, chàng thiếu niên ấy chính là Hoài Văn vương Trần Quốc Toản

Trần Quốc Toản sinh năm 1267, là con trai của Trung Thành vương (sử liệu không ghi rõ Trung Thành vương có tên thật là gì), nên được phong là Hoài Văn hầu

Trước khi Hoài Văn hầu chào đời 10 năm, quân, dân Đại Việt đã khiến giặc Nguyên Mông thua tan tác trong trận quyết chiến Đông Bộ Đầu, giành thắng lợi tưng bừng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất Biết rằng giặc Nguyên Mông không bao giờ từ bỏ giấc mộng thôn tính Đại Việt, triều đình nhà Trần một mặt giảng hòa với nhà Nguyên, một mặt tích cực chuẩn bị lực lượng sẵn sàng ứng phó Suốt từ năm 1258 trở đi, trong khoảng 1/4 thế kỷ, nhà Trần áp dụng phương sách đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhưng cũng không kém phần cương quyết, không ít lần vua Trần khéo léo từ chối những yêu sách quá quắt của Hốt Tất Liệt, hoàng đế Nguyên Mông Điều này

Trang 10

càng khiến Hốt Tất Liệt nung nấu quyết tâm thôn tính Đại Việt và càng ngày càng đưa ra những yêu sách quá quắt để “nắn gân” và “dọn đường” cho cuộc tấn công xuống Đại Việt Đó là lý do vua Trần triệu tập hội nghị Bình Than vào tháng 10 năm 1282, khởi đầu cho câu chuyện “bóp nát quả cam” hy hữu trong lịch sử của Trần Quốc Toản.

Trước nguy cơ giặc Nguyên Mông đánh chiếm Đại Việt hiện hữu, tháng

10 năm 1282, vua Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Bình Than để bàn phương hướng kháng chiến, tiến cử và quyết định nhân sự cho cuộc kháng chiến khi Nguyên Mông xua quân đánh chiếm nước ta Hội nghị này bao gồm quan lại, vương hầu và được đích thân vua Trần chủ trì Do mới 16 tuổi (theo cách tính tuổi như bây giờ thì khi ấy, Trần Quốc Toản mới 15 tuổi), nên Hoài Vương hầu không được mời dự Hội nghị Tuy vậy, Hoài Vương hầu vẫn tới bến Bình Than, đòi được vào dự Hội nghị Bị lính canh chặn cửa, Hoài Văn hầu vặn hỏi:

– Ta là Hoài Văn hầu, quan gia truyền gọi tất cả vương, hầu tới họp Ta

là hầu, cớ sao không cho vào?

Thấy chuyện ầm ĩ bên ngoài, Trần Nhân Tông hỏi ra mới biết chuyện, bèn cho người mang ban cho Hoài Văn hầu một quả cam và khuyên Hoài Văn hầu lui bước vì chưa đến tuổi bàn việc nước Về chuyện này, Đại Việt sử ký toàn thư chép lại như sau: “Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn Quốc Toản trong lòng

hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết.”

Trở về từ Hội nghị Bình Than, Hoài Văn hầu vẫn quyết tâm tìm cách đánh giặc cứu nước Chàng thiếu niên có vóc dáng vạm vỡ hơn người do sớm thao luyện võ nghệ bèn quy tập gia nhân, trai tráng trong vùng được hơn 1000 người, rèn luyện binh khí, tích trữ lương thảo, ngày đêm luyện võ, tập trận Trần

Trang 11

Quốc Toản còn cho thêu trên một lá cờ lớn 6 chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.

Cuối tháng 2 năm 1285, quân Nguyên Mông ồ ạt tấn công Đại Việt Trong các trận chiến chống giặc ngoại xâm, Trần Quốc Toản thường dẫn quân xông lên trước lính triều đình, tả xung hữu đột đương đầu trực tiếp với thế giặc đang mạnh Lá cờ thêu 6 chữ vàng của Trần Quốc Toản xuất hiện trên nhiều mặt trận, góp phần quan trọng làm chậm bước tiến của quân Nguyên Về chuyện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “khi đối trận với giặc, (Hoài Văn hầu)

tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch”

Cảm kích trước tấm lòng trung chinh và tinh thần dũng cảm của chàng thiếu niên Hoài Văn hầu, khi Trần Nhân Tông chuẩn y mưu kế lập vườn không nhà trống, rút toàn bộ khỏi thành Thăng Long, nhà vua đã cho Hoài Văn hầu đi theo hộ giá vào Thanh Hóa

Do không chiếm được lương thảo, chỉ sau đó vài tháng, quân Nguyên Mông bắt đầu rơi vào tình cảnh khốn cùng Kế vườn không nhà trống của nhà Trần đã mang lại cơ hội không thể tốt hơn cho việc tổng phản công giặc Trong khoảng từ đầu tháng 5 tới đầu tháng 6 năm 1285, Hoài Văn hầu cùng các tướng lĩnh theo Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đốc quân ngược ra Bắc để phản công giặc

Dọc theo phòng tuyến sông Hồng, quân triều đình chia làm 3 mũi tấn công, Hoài Văn hầu theo mũi tấn công do Chiêu Thành vương và tướng quân Nguyễn Khoái chỉ huy đánh thẳng vào bến Tây Kết (gần bãi Đà Mạc-Thiên Mạc, nay thuộc địa phận huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), khiến quân giặc thua chạy táo tác Những chiến thắng liên tiếp có công sức không nhỏ của Trần Quốc

Trang 12

Toản khiến quân giặc liên tục vỡ trận phải tháo chạy, trong đó có chiến thắng lịch sử ở Chương Dương Độ Trần Quốc Toản cùng đội quân thiện chiến và lá

cờ theo 6 chữ vàng hòa cùng đại quân triều đình vây khốn quân Nguyên ở thành Thăng Long, khiến Thoát Hoan phải mở đường máu qua sông Hồng để tháo chạy Trần Quốc Toản lại dẫn quân truy đuổi, tới bờ sông Như Nguyệt thì đón đầu được quân Nguyên Không địch nổi với Trần Quốc Toản, không vượt sông Như Nguyệt được, quân Nguyên phải tháo chạy lên Vạn Kiếp Chàng thiếu niên dũng mãnh Trần Quốc Toản quyết truy đuổi tới cùng Tuy nhiên, trong lúc truy đuổi, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản không may hy sinh Tuy tử trận, nhưng Trần Quốc Toản đã góp công không nhỏ trong sự thành công của cuộc tổng phản công của quân đội triều đình, quét sạch bóng xâm lăng chỉ trong vòng khoảng 2 chục ngày đêm

Nhận được tin Hoài Văn hầu tử trận, Trần Nhân Tông rất đỗi thương tiếc Khi đất nước sạch bóng giặc, nhà vua cử hành tang lễ rất trọng thể, đích thân làm văn tế và truy tặng Trần Quốc Toản tước Hoài Văn vương

(Theo Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long Hà Nội, hoangthanhthanglong.vn)

Trang 13

Thân bài

Dựa vào câu chuyện Nhạc sĩ Văn Cao sáng tác Tiến quân ca, lần lượt

kể lại quá trình sáng tác bài hát đó theo một trình tự nhất định Ví dụ: + Tôi trước khi sáng tác bài hát Tiến quân ca

+ Tôi khi viết bài hát Tiến quân ca

+ Tôi sau khi bài hát Tiến quân ca ra đời, được công bố, chào đón,

• Bài hát được hát lần đầu trong ngày 17-8-1945, khi diễn ra cuộc mít tinh của công chức Hà Nội Bài hát Tiến quân ca được hàng ngàn người hoà nhịp cất cao tiếng hát trước Quảng trường Nhà hát Lớn Những kỉ niệm của buổi hôm đó …

• Lần thứ hai, trong cuộc mít tinh vào ngày 19-8, hàng ngàn người và các em thiếu nhi cùng hát Tiến quân ca Những kỉ niệm của lần thứ hai

Kết bài

Phát biểu suy nghĩ của người kể lại câu chuyện Ví dụ:

+ Bài hát Tiến quân ca đã ra đời như thế Sau đó, bài hát được chọn làm Quốc ca Việt Nam cho đến ngày nay

+ Bài hát là niềm tự hào không phải của riêng tôi mà là của cả dân tộc

* Bài mẫu tham khảo:

Ngày nay, bài hát Tiến quân ca đã quá quen thuộc và gần gũi với tất cả người dân Việt Nam vì đó là Quốc ca Nhưng bài hát đó đã ra đời như thế nào thì không phải ai cũng rõ Tôi xin kể lại câu chuyện về sự kiện lịch sử ấy

Trước khi sáng tác bài hát Tiến quân ca, đã có lúc tôi tưởng mình không còn những ước mơ và khát vọng của tuổi thanh niên Tôi thực sự đã rất buồn chán và thất vọng Bạn bè tôi đều cho rằng tôi là người tài hoa, hiểu biết cả hội

Trang 14

họa, thơ ca và âm nhạc Nhưng sự thất vọng khiến tôi muốn từ bỏ tất cả Thật may lúc đó tôi đã gặp lại người anh Ph D Nhờ Ph D mà tôi được gặp lại anh

Vũ Qúy, một người anh từ lâu đã luôn dõi theo con đường nghệ thuật của tôi Sau buổi nói chuyện với anh Vũ Qúy, tôi đã tìm thấy một con đường đi mới, tìm được lí tưởng sống, đó là con đường cách mạng

Tôi đã rất háo hức muốn được nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang Nhưng nhiệm vụ mà tôi nhận được là sáng tác nghệ thuật Khi ấy khóa quân chính kháng Nhật sắp mở, cần một bài hát cổ vũ tinh thần cho quân đội cách mạng Trước đây, tôi đã sáng tác nhiều bài hát thể hiện lòng yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, nhưng tôi chưa từng viết một bài ca cách mạng

Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào, tôi chỉ biết đang làm một bài hát Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta trong khóa quân chính đầu tiên ấy để biết họ hát như thế nào Vậy là, bằng tất cả lòng nhiệt huyết yêu nước, trên căn gác nhỏ ở phố Nguyễn Thượng Hiền, tôi đã cảm tưởng như mình sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc Ở căn gác nhỏ của sự tưởng tượng ấy, tôi đã viết nên giai điệu và ca từ của Tiến quân ca

Anh Ph D - người chứng kiến sự ra đời của Tiến quân ca, anh Vũ Qúy - người đầu tiên được biết đến bài hát và Nguyễn Đình Thi - người đầu tiên xướng

âm ca khúc, đã vô cùng xúc động Họ như được tiếp thêm lòng tin và ý chí

Tôi cũng không ngờ rằng chỉ một thời gian ngắn sau, lần đầu tiên, vào ngày 17-8-1945, khi diễn ra cuộc mít tinh của công chức Hà Nội, bài hát của tôi đã được hàng ngàn người hòa nhịp cất cao tiếng hát trước Quang trường Nhà hát Lớn Bài Tiến quân ca đã nổ như một trái bom Nước mắt tôi trào ra Xung

Trang 15

quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất vang lên theo những đoạn sôi nổi Ở cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng đã thay băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim Trong một lúc, những tờ truyền đơn in Tiến quân ca được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít tinh Tôi đã đứng lẫn vào đám đông quần chúng trước cửa Nhà hát Lớn Tôi đã nghe giọng hát quen thuộc của bạn tôi, anh Ph D, qua loa phóng thanh Anh là người đã buông lá cờ

đỏ sao vàng trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát Con người trầm lặng

ấy đã có sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên, và cũng là một lần duy nhất

Lần thứ hai bài hát của tôi được vang lên là trong cuộc mít tinh vào ngày 19-8, hàng ngàn người và các em thiếu nhi cùng hát Tiến quân ca Hàng chục ngàn giọng hát cất lên, thét lên tiếng căm thù vào mặt bọn đế quốc với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng

Bài hát Tiến quân ca đã ra đời như thế Sau đó, bài hát được chọn làm Quốc ca Việt Nam cho đến ngày nay Bài hát là niềm tự hào không phải của riêng tôi mà là của cả dân tộc

Trang 16

Soạn bài Thực hành tiếng Việt lớp 7 trang 26 Tập 1

Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Tìm và giải thích nghĩa của các từ

địa phương trong những câu dưới đây (ở đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng của Đoàn Giỏi) Các từ đó được sử dụng ở vùng miền nào và chúng có tác

dụng gì trong việc phản ánh con người, sự vật?

a) Tía thấy con ngủ say, tía không gọi

b) Điều đó, má nuôi tôi quả quyết

c) Chú em cầm hộ lọ muối chỗ vách kia đưa giùm qua chút!

d) Bả không thua anh em ta một bước nào đâu

- Tác dụng trong việc phản ánh con người, sự vật:

+ Làm rõ hoàn cảnh, không gian diễn ra sự việc

+ Tô đậm màu sắc địa phương miền Nam, tầng lớp xã hội cũng như tính cách nhân vật

Câu 2 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Những từ nào trong các câu dưới đây là từ địa phương? Chúng được sử dụng ở vùng miền nào? Giải thích nghĩa

Trang 17

của các từ địa phương đó và nêu tác dụng của việc sử dụng chúng trong đoạn trích “Dọc đường xứ Nghệ” của Sơn Tùng

a) Ai tưởng tượng ra đầu tiên hình dáng các hòn núi nớ hẳn là mắt tiên, cha nhể?

b) Đền ni thờ một ông quan đời nhà Lý đó, con ạ

c) Việc đời đã dớ dận, mi lại “thông minh” dớ dận nốt

- Tác dụng của việc sử dụng từ ngữ địa phương trong đoạn trích:

+ Tăng giá trị biểu đạt cho nội dung văn bản

+ Tô đậm màu sắc địa phương miền Trung, tầng lớp xã hội cũng như tính cách nhân vật

Câu 3 (trang 27 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Viết đúng và luyện phát âm một

số từ có đặc điểm sau:

a) Từ có tiếng chứa phụ âm đầu là l, n, v:

- l, ví dụ: lo lắng, lạnh lùng,

Trang 18

- n, ví dụ no nê, nao núng,

- v, ví dụ: vội vàng, vắng vẻ,

b) Từ có tiếng chứa vần với âm cuối là n, t:

- n, ví dụ: bàn bạc, bền bỉ, ngăn cản,

- t, ví dụ: bắt bớ, luật lệ, buốt giá,

c) Từ có tiếng chứa các thanh hỏi, thanh ngã:

- Thanh hỏi, ví dụ: tỉ mỉ, nghỉ ngơi, …

- Thanh ngã, ví dụ nghĩ ngợi, mĩ mãn, …

Trả lời:

a) Từ có tiếng chứa phụ âm đầu là l, n, v:

- l, ví dụ: líu lo, lặng lẽ, lạnh lẽo, lũ lượt, lặc lè, le lói, lo lắng, lời lãi, lung lay,

lũ lượt, lực lưỡng, …

- n, ví dụ: nôn nao, nền nã, nóng nảy, núng nính, nao núng, nắc nỏm, nói năng,

nóng nực, nô nức, nung nấu, nức nở,

- v, ví dụ: vui vẻ, vội vã, vấn vương, vênh váo, ví von, vội vàng, vô vị, vu vạ,

vững vàng,

b) Từ có tiếng chứa vần với âm cuối là n, t:

- n, ví dụ: cần mẫn, lan man, an bài, bàn bạc, bền bỉ, gán ghép, ngăn cản, phàn

nàn, san sẻ,

Trang 19

- t, ví dụ: bắt nạt, nạt nộ, ngột ngạt, bắt bớ, buốt giá, chia cắt, chắt chiu, đan

lát, đắt đỏ, gắt gỏng, luật lệ, …

c) Từ có tiếng chứa các thanh hỏi, thanh ngã:

- Thanh hỏi, ví dụ: sửa sang, chỉn chu, hỏi han, bền bỉ, bổ sung, bủng beo, nghỉ

Trả lời:

Trong đoạn trích Người đàn ông cô độc giữa rừng có sử dụng rất nhiều các phương ngữ Nam Bộ Có thể lấy một số ví dụ tiêu biểu như các từ tía, má, khám, nhà việc, … Việc sử dụng các từ ngữ địa phương như vậy có tác dụng tô

đậm màu sắc vùng miền, gợi ra không gian Nam Bộ dân dã, nơi xảy ra câu chuyện và cũng là quê hương sinh sống của các nhân vật Ngoài ra, các từ ngữ được sử dụng cũng góp phần tô đậm tính cách các nhân vật, thể hiện tâm tư tình cảm và mạch suy nghĩ của từng người Qua đó, tác giả kể lại câu chuyện một cách chân thực đồng thời bày tỏ tình cảm, tư tưởng của mình

Trang 20

Soạn bài Buổi học cuối cùng

1 Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 21 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):

- Đọc trước truyện “Buổi học cuối cùng”, tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn An-phông-xơ Đô-đê

- Đọc thông tin để hiểu bối cảnh của truyện:

Kết thúc chiến tranh Pháp-Phổ (1870-1871), nước Pháp thua trận, hai vùng dát và Lo-ren của nước Pháp bị nhập vào nước Phổ Các trường học thuộc hai vùng này bị bắt bỏ tiếng Pháp, chuyển sang học tiếng Đức Truyện viết về buổi học tiếng Pháp cuối cùng của các em học sinh vùng An-dát

An-Trả lời:

1 Thông tin về nhà văn An-phông-xơ Đô-đê

- An-phông-xơ Đô-đê (1840-1897), nhà văn Pháp

- Ông là tác giả của nhiều tập truyện nổi tiếng

Trang 21

2 Bối cảnh của truyện:

- Truyện Buổi học cuối cùng được nhà văn viết từ thế kỉ XIX Câu chuyện kể

về buổi học bằng tiếng Pháp cuối cùng của một lớp học ở trường tiểu học trong một làng quê thuộc vùng An-dát, sau khi vùng này đã bị cắt về cho nước Phổ (vì Pháp thua trận trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ năm 1870 - 1871) Việc dạy và học bằng tiếng Pháp trong nhà trường các cấp ở nước Pháp vốn là việc hết sức bình thường, tự nhiên như việc dạy và học tiếng mẹ đẻ ở bất kì quốc gia nào Nhưng điều không bình thường là: Đây là buổi học cuối cùng mà thầy, trò ngôi trường đó được dạy và học bằng tiếng Pháp – tiếng mẹ đẻ của họ Sau buổi học đó, các trường học ở vùng này đều phải dạy bằng tiếng Đức - ngôn ngữ của

kẻ chiếm đóng Trong tình huống và thời điểm đặc biệt ấy, mỗi người có mặt

Trang 22

trong lớp học, từ thầy giáo Ha-men đến các học trò khác và những người dân hay những cụ già

đến dự buổi học này đều cảm thấy ý nghĩa đặc biệt của nó Họ đều thấm thía điều hết sức quan trọng và thiêng liêng là phải biết yêu quý, trau dồi và gìn giữ tiếng Pháp - ngôn ngữ của dân tộc mình Điều đó càng đặc biệt có ý nghĩa khi

mà quê hương của họ đang bị kẻ khác chiếm đóng và có ý đồ “đồng hoá”, trước hết là đồng hoá bằng ngôn ngữ Lòng yêu nước, tình cảm dân tộc ở đây đã được thể hiện cụ thể trong tình yêu và sự quý trọng tiếng nói của dân tộc mình

2 Đọc hiểu

* Nội dung chính: Qua câu chuyện buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở vùng

An-dát bị quân Phổ chiếm đóng và hình ảnh cảm động của thầy giáo Ha-men, truyện đã thể hiện lòng yêu nước trong một biểu hiện cụ thể là tình yêu tiếng nói của dân tộc và nêu lên chân lí: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù”

Trang 23

* Trả lời câu hỏi giữa bài:

Câu 1 (trang 21 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý người kể ngôi thứ nhất và

tác dụng của ngôi kể này

Trả lời:

Ngôi kể thứ nhất giúp câu chuyện được chân thực và bộc lộ cảm xúc

Trang 24

Câu 2 (trang 22 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Từ sự khác thường của bối cảnh buổi học, dự đoán về sự kiện xảy ra

Trả lời:

Em dự đoán buổi học này không phải là buổi học bình thường như mọi khi, nó

có sự bất thường xảy ra vì đó buổi học cuối cùng

Câu 3 (trang 22 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý không khí lớp học; cách ăn mặc và thái độ khác thường của thầy Ha-men

Trả lời:

- Không khí lớp im lặng; trang phục nghiêm chỉnh cùng thái độ dịu dàng khác

lạ của thầy Ha-men

Câu 4 (trang 23 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý sự đối lập trong cảm nhận của Phrăng về những cuốn sách

Trang 25

Câu 6 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Em có suy nghĩ gì về những dòng

chữ in đậm: “khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững được tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù”.

Trả lời:

Câu nói của thầy Ha-men đã chỉ ra ý nghĩa của tiếng nói dân tộc với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ nền độc lập của các quốc gia Ngôn ngữ mang đặc trưng của mỗi dân tộc và đóng vai trò vô cùng quan trọng với mỗi đất nước

Câu 7 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Cậu bé Phrăng băn khoăn điều gì

về những con chim bồ câu trên mái nhà trường?

Trả lời:

Băn khoăn của cậu bé Phrăng “Liệu người ta có bắt cả chúng nó cũng phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ?” đã gợi cho em liên tưởng về một sự độc tài, đàn áp

vô lý của phát xít Đức khi bắt người Pháp phải nói tiếng Đức

Câu 8 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý hình dáng, vẻ mặt của thầy Ha-men khi viết dòng chữ cuối cùng ở phần 5

Trả lời:

Thầy Ha-men “cầm một hòn phấn và dằn mạnh hết sức…” thể hiện niềm tiếc thương và lưu luyến với nước Pháp

* Trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Em hiểu thế nào về nhan đề Buổi học cuối cùng Người kể lại câu chuyện là ai? Chỉ ra tác dụng của ngôi kể này

Trang 26

Trả lời:

- Nhan đề Buổi học cuối cùng: Đây là buổi học cuối cùng mà thầy, trò ngôi

trường đó được dạy và học bằng tiếng Pháp – tiếng mẹ đẻ của họ Sau buổi học

đó, các trường học ở vùng này đều phải dạy bằng tiếng Đức - ngôn ngữ của kẻ chiếm đóng

- Người kể lại câu chuyện là nhân vật Phrăng - một học sinh lớp thầy Ha-men, xưng “tôi” Đây là nhân vật vừa là người kể chuyện, vừa tham gia vào câu chuyện

- Tác dụng của ngôi kể: giúp cho Phrăng vừa kể vừa bộc lộ được những thái độ, suy nghĩ, cảm xúc của mình về quanh cảnh ngoài đường, trong trường và những

sự việc xảy ra trong lớp học; góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm

Câu 2 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Đặc điểm tính cách nhân vật thầy Ha-men được nhà văn khắc họa từ những phương diện nào? Hãy nêu một số biểu hiện cụ thể trong văn bản

Trả lời:

Đặc điểm tính cách nhân vật thầy Ha-men được nhà văn khắc họa từ những phương diện:

diềm lá sen gấp nếp mịn - những thứ trang phục chỉ dùng cào những buổi lễ trang trọng Qua cách ăn vận cho thấy ý nghĩa hệ trọng của “buổi học cuối cùng”.Thái độ đối với học

sinh

Lời lẽ dịu dàng, nhắc nhở nhưng không trách mắng Phrăng khi cậu đến muộn và cả khi cậu không thuộc

Trang 27

bài; nhiệt tình và kiên nhẫn giảng bài như muốn truyền hết mọi hiểu biết của mình cho học sinh

Điều tâm niệm tha

thiết nhất mà thầy

Ha-men muốn nói

với học sinh và mọi

người trong vùng

An-dát

“thầy Ha-men nói với chúng tôi … chốn lao tù”: Hãy yêu quý, giữ gìn và trau dồi cho mình tiếng nói, ngôn ngữ của dân tộc vì đó là một biểu hiện của tình yêu nước

đã dồn hết sức mạnh để viết lên bảng dòng chữ thật to:

“Nước Pháp muôn năm!”

Câu 3 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Phân tích một số chi tiết cụ thể (suy nghĩ, cách nhìn nhận về thầy Ha-men và thái độ đối với việc học tiếng Pháp) để làm rõ diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” trong “buổi học cuối cùng”

Trang 28

vẫn nhẹ nhàng, thậm chí dịu dàng với cậu Tất cả nói lên sự khác thường, báo hiệu 1 cái gì đó nghiêm trọng sắp diễn ra

+ Diễn biến của “buổi học cuối cùng” và hình ảnh thầy Ha-men đã tác động sâu sắc nhận thức, tình cảm của cậu:

• Khi được thầy Ha-men nói cho biết đây là buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp, Phrăng thấy choáng váng, sững sờ và cậu đã hiểu ra nguyên nhân của mọi sự khác lạ trong buổi sáng hôm ấy ở lớp học, ở trụ sở xã và trên trang phục của thầy giáo

• Cậu thấy nuối tiếc và ân hận về sự lười nhác học tập, ham chơi của mình lâu nay Sự ân hận của cậu còn lớn hơn khi đến lượt mình đọc bài mà cậu không thuộc chút nào về quy tắc phân từ Sự ân hận đã trở thành nỗi xấu hổ, tự giận mình Chính tâm trạng ấy khiến cho cậu khi nghe thầy giáo giảng về ngữ pháp

đã thấy thật rõ ràng, dễ hiểu

• Ngoài ra, được chứng kiến những hình ảnh rất cảm động của các cụ già đến

dự buổi học cuối cùng, nghe và hiểu được những lời nhắc nhở tha thiết nhất của thầy Ha-men và qua tất cả những gì đã diễn ra trong buổi học ấy, nhận thức và tâm trạng của Phrăng đã có những biến đổi sâu sắc Cậu hiểu được ý nghĩa thiêng liêng của việc học tiếng Pháp và tha thiết muốn được trau dồi học tập, nhưng đã không còn cơ hội để tiếp tục học tiếng Pháp ở trường nữa

Câu 4 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Đọc phần 5 của văn bản Buổi học cuối cùng, liệt kê các chi tiết miêu tả thầy Ha-men (về hành động, ngôn ngữ,

ngoại hình) Các chi tiết này đã giúp tác giả khắc họa được tâm trạng gì của thầy Ha-men?

Trả lời:

Trang 29

- Trong phần (5), phần cuối của truyện, có nhiều chi tiết miêu tả đặc sắc: thầy Ha-men “người tái nhợt”, “nghẹn ngào, không nói được hết câu”, “cầm một hòn phấn và dằn hết sức, thầy cố viết thật to: NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM!” và “đầu dựa vào tường”, “chẳng nói”, chỉ “giơ tay ra hiệu”, …

→ Đây là những chi tiết rất cảm động, khắc họa được tình yêu vô bờ của thầy Ha-men đối với tiếng Pháp Đó cũng là tình yêu nước sâu đậm của thầy đối với nước Pháp

- Lòng yêu nước của thầy Ha-men được thể hiện trong bối cảnh đặc biệt: “Nước Pháp ra đi” vì thất thủ trong cuộc chiến chống quân Phổ Đó là nỗi đau mất nước, nỗi nhục nô lệ và nỗi xót xa vì không được quyền nói tiếng nói của dân tộc trên chính đất nước mình Điều đó được thể hiện tập trung và cá biệt hơn trong bối cảnh là một thầy giáo dạy quốc văn ngày cuối cùng được dạy tiếng nói của dân tộc

- Bối cảnh, tâm trạng đó là điều kiện để lòng yêu nước trong thầy được biểu hiện một cách đặc sắc Những chi tiết miêu tả hình dáng, cử chỉ của thầy ở phần cuối buổi học đã diễn tả sâu sắc điều đó Nỗi đau được thể hiện cụ thể bằng cảm giác cơ thể, như hiện hình trên da thịt Sự xúc động đến tái mặt, run người, không nói nên lời của thầy Ha-men cho thấy Tổ quốc thiêng liêng và có ý nghĩa biết bao trong tâm hồn thầy, kết tinh trong tiếng nói dân tộc mà thầy hằng dạy

Câu 5 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Câu chuyện đã gợi lên trong em những suy nghĩ và tình cảm như thế nào? Em rút ra bài học gì cho bản thân sau khi học xong truyện?

Trả lời:

Trang 30

- Buổi học cuối cùng là một câu chuyện ngợi ca tình yêu nước của thầy Ha-men

và câu học trò Phrăng Ý nghĩa của tiếng nói dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do Tiếng nói của mỗi dân tộc là tài sản tinh thần vô cùng quý báu

Vì vậy, khi bị kẻ xâm lược đồng hóa về ngôn ngữ, tiếng nói của dân tộc bị mai một thì dân tộc ấy khó có thể giành được độc lập, thậm chí rơi vào nguy cơ bị diệt vong

- Rút ra bài học về tình yêu tiếng mẹ đẻ, phải biết yêu quý, giữ gìn và học tập

để nắm vững tiếng nói của dân tộc mình, nhất là khi đất nước rơi vào vòng nô lệ

Câu 6 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Trong truyện “Buổi học cuối cùng”, em thích nhất nhân vật hoặc chi tiết, hình ảnh nào? Hãy viết một đoạn văn (khoảng 6-8 dòng) giải thích lí do vì sao em thích

Trả lời:

Trong truyện Buổi học cuối cùng, em thích nhất đoạn trích miêu tả lại

không khí của giờ tập viết tiếng Pháp trong buổi học cuối cùng Với đoạn trích này, tác giả muốn làm nổi bật tình yêu tiếng mẹ đẻ của các em học sinh sau khi được thầy Ha-men truyền giảng Với các em, tiếng Pháp là tất cả: “Ai nấy đều chăm chú hết sức và cứ im phăng phắc! Chỉ nghe thấy tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy Có lúc, những con bọ dừa bay vào nhưng chẳng ai để ý, ngay cả những trò nhỏ nhất cũng vậy, chúng đang cặm cụi vạch những nét sổ với một tấm lòng, một ý thức, như thể cái đó cũng là tiếng Pháp …” Tác giả dùng cái động để nói về cái tĩnh (tiếng ngòi bút chạy trên giấy, tiếng côn trùng bay vào cửa sổ, tiếng bồ câu gù khẽ, … làm nổi bật không khí trang nghiêm, yên lặng khác thường của lớp học); đến lượt cái tĩnh ấy lại là nền cho những xao động cuộn sóng trong lòng người về buổi học cuối cùng, về tình cảnh mất chủ quyền

Trang 31

đất nước, mất cả tiếng nói của cha ông, quyền dạy và học tiếng nói của dân tộc mình …

Trang 32

Soạn bài Buổi học cuối cùng

1 Chuẩn bị

Yêu cầu (trang 21 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1):

- Đọc trước truyện “Buổi học cuối cùng”, tìm hiểu thêm thông tin về nhà văn An-phông-xơ Đô-đê

- Đọc thông tin để hiểu bối cảnh của truyện:

Kết thúc chiến tranh Pháp-Phổ (1870-1871), nước Pháp thua trận, hai vùng dát và Lo-ren của nước Pháp bị nhập vào nước Phổ Các trường học thuộc hai vùng này bị bắt bỏ tiếng Pháp, chuyển sang học tiếng Đức Truyện viết về buổi học tiếng Pháp cuối cùng của các em học sinh vùng An-dát

An-Trả lời:

1 Thông tin về nhà văn An-phông-xơ Đô-đê

- An-phông-xơ Đô-đê (1840-1897), nhà văn Pháp

- Ông là tác giả của nhiều tập truyện nổi tiếng

Trang 33

2 Bối cảnh của truyện:

- Truyện Buổi học cuối cùng được nhà văn viết từ thế kỉ XIX Câu chuyện kể

về buổi học bằng tiếng Pháp cuối cùng của một lớp học ở trường tiểu học trong một làng quê thuộc vùng An-dát, sau khi vùng này đã bị cắt về cho nước Phổ (vì Pháp thua trận trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ năm 1870 - 1871) Việc dạy và học bằng tiếng Pháp trong nhà trường các cấp ở nước Pháp vốn là việc hết sức bình thường, tự nhiên như việc dạy và học tiếng mẹ đẻ ở bất kì quốc gia nào Nhưng điều không bình thường là: Đây là buổi học cuối cùng mà thầy, trò ngôi trường đó được dạy và học bằng tiếng Pháp – tiếng mẹ đẻ của họ Sau buổi học đó, các trường học ở vùng này đều phải dạy bằng tiếng Đức - ngôn ngữ của

kẻ chiếm đóng Trong tình huống và thời điểm đặc biệt ấy, mỗi người có mặt

Trang 34

trong lớp học, từ thầy giáo Ha-men đến các học trò khác và những người dân hay những cụ già

đến dự buổi học này đều cảm thấy ý nghĩa đặc biệt của nó Họ đều thấm thía điều hết sức quan trọng và thiêng liêng là phải biết yêu quý, trau dồi và gìn giữ tiếng Pháp - ngôn ngữ của dân tộc mình Điều đó càng đặc biệt có ý nghĩa khi

mà quê hương của họ đang bị kẻ khác chiếm đóng và có ý đồ “đồng hoá”, trước hết là đồng hoá bằng ngôn ngữ Lòng yêu nước, tình cảm dân tộc ở đây đã được thể hiện cụ thể trong tình yêu và sự quý trọng tiếng nói của dân tộc mình

2 Đọc hiểu

* Nội dung chính: Qua câu chuyện buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp ở vùng

An-dát bị quân Phổ chiếm đóng và hình ảnh cảm động của thầy giáo Ha-men, truyện đã thể hiện lòng yêu nước trong một biểu hiện cụ thể là tình yêu tiếng nói của dân tộc và nêu lên chân lí: “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù”

Trang 35

* Trả lời câu hỏi giữa bài:

Câu 1 (trang 21 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý người kể ngôi thứ nhất và

tác dụng của ngôi kể này

Trả lời:

Ngôi kể thứ nhất giúp câu chuyện được chân thực và bộc lộ cảm xúc

Trang 36

Câu 2 (trang 22 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Từ sự khác thường của bối cảnh buổi học, dự đoán về sự kiện xảy ra

Trả lời:

Em dự đoán buổi học này không phải là buổi học bình thường như mọi khi, nó

có sự bất thường xảy ra vì đó buổi học cuối cùng

Câu 3 (trang 22 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý không khí lớp học; cách ăn mặc và thái độ khác thường của thầy Ha-men

Trả lời:

- Không khí lớp im lặng; trang phục nghiêm chỉnh cùng thái độ dịu dàng khác

lạ của thầy Ha-men

Câu 4 (trang 23 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý sự đối lập trong cảm nhận của Phrăng về những cuốn sách

Trang 37

Câu 6 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Em có suy nghĩ gì về những dòng

chữ in đậm: “khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững được tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khóa chốn lao tù”.

Trả lời:

Câu nói của thầy Ha-men đã chỉ ra ý nghĩa của tiếng nói dân tộc với sự nghiệp đấu tranh bảo vệ nền độc lập của các quốc gia Ngôn ngữ mang đặc trưng của mỗi dân tộc và đóng vai trò vô cùng quan trọng với mỗi đất nước

Câu 7 (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Cậu bé Phrăng băn khoăn điều gì

về những con chim bồ câu trên mái nhà trường?

Trả lời:

Băn khoăn của cậu bé Phrăng “Liệu người ta có bắt cả chúng nó cũng phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ?” đã gợi cho em liên tưởng về một sự độc tài, đàn áp

vô lý của phát xít Đức khi bắt người Pháp phải nói tiếng Đức

Câu 8 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Chú ý hình dáng, vẻ mặt của thầy Ha-men khi viết dòng chữ cuối cùng ở phần 5

Trả lời:

Thầy Ha-men “cầm một hòn phấn và dằn mạnh hết sức…” thể hiện niềm tiếc thương và lưu luyến với nước Pháp

* Trả lời câu hỏi cuối bài:

Câu 1 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Em hiểu thế nào về nhan đề Buổi học cuối cùng Người kể lại câu chuyện là ai? Chỉ ra tác dụng của ngôi kể này

Trang 38

Trả lời:

- Nhan đề Buổi học cuối cùng: Đây là buổi học cuối cùng mà thầy, trò ngôi

trường đó được dạy và học bằng tiếng Pháp – tiếng mẹ đẻ của họ Sau buổi học

đó, các trường học ở vùng này đều phải dạy bằng tiếng Đức - ngôn ngữ của kẻ chiếm đóng

- Người kể lại câu chuyện là nhân vật Phrăng - một học sinh lớp thầy Ha-men, xưng “tôi” Đây là nhân vật vừa là người kể chuyện, vừa tham gia vào câu chuyện

- Tác dụng của ngôi kể: giúp cho Phrăng vừa kể vừa bộc lộ được những thái độ, suy nghĩ, cảm xúc của mình về quanh cảnh ngoài đường, trong trường và những

sự việc xảy ra trong lớp học; góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm

Câu 2 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Đặc điểm tính cách nhân vật thầy Ha-men được nhà văn khắc họa từ những phương diện nào? Hãy nêu một số biểu hiện cụ thể trong văn bản

Trả lời:

Đặc điểm tính cách nhân vật thầy Ha-men được nhà văn khắc họa từ những phương diện:

diềm lá sen gấp nếp mịn - những thứ trang phục chỉ dùng cào những buổi lễ trang trọng Qua cách ăn vận cho thấy ý nghĩa hệ trọng của “buổi học cuối cùng”.Thái độ đối với học

sinh

Lời lẽ dịu dàng, nhắc nhở nhưng không trách mắng Phrăng khi cậu đến muộn và cả khi cậu không thuộc

Trang 39

bài; nhiệt tình và kiên nhẫn giảng bài như muốn truyền hết mọi hiểu biết của mình cho học sinh

Điều tâm niệm tha

thiết nhất mà thầy

Ha-men muốn nói

với học sinh và mọi

người trong vùng

An-dát

“thầy Ha-men nói với chúng tôi … chốn lao tù”: Hãy yêu quý, giữ gìn và trau dồi cho mình tiếng nói, ngôn ngữ của dân tộc vì đó là một biểu hiện của tình yêu nước

đã dồn hết sức mạnh để viết lên bảng dòng chữ thật to:

“Nước Pháp muôn năm!”

Câu 3 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Phân tích một số chi tiết cụ thể (suy nghĩ, cách nhìn nhận về thầy Ha-men và thái độ đối với việc học tiếng Pháp) để làm rõ diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” trong “buổi học cuối cùng”

Trang 40

vẫn nhẹ nhàng, thậm chí dịu dàng với cậu Tất cả nói lên sự khác thường, báo hiệu 1 cái gì đó nghiêm trọng sắp diễn ra

+ Diễn biến của “buổi học cuối cùng” và hình ảnh thầy Ha-men đã tác động sâu sắc nhận thức, tình cảm của cậu:

• Khi được thầy Ha-men nói cho biết đây là buổi học cuối cùng bằng tiếng Pháp, Phrăng thấy choáng váng, sững sờ và cậu đã hiểu ra nguyên nhân của mọi sự khác lạ trong buổi sáng hôm ấy ở lớp học, ở trụ sở xã và trên trang phục của thầy giáo

• Cậu thấy nuối tiếc và ân hận về sự lười nhác học tập, ham chơi của mình lâu nay Sự ân hận của cậu còn lớn hơn khi đến lượt mình đọc bài mà cậu không thuộc chút nào về quy tắc phân từ Sự ân hận đã trở thành nỗi xấu hổ, tự giận mình Chính tâm trạng ấy khiến cho cậu khi nghe thầy giáo giảng về ngữ pháp

đã thấy thật rõ ràng, dễ hiểu

• Ngoài ra, được chứng kiến những hình ảnh rất cảm động của các cụ già đến

dự buổi học cuối cùng, nghe và hiểu được những lời nhắc nhở tha thiết nhất của thầy Ha-men và qua tất cả những gì đã diễn ra trong buổi học ấy, nhận thức và tâm trạng của Phrăng đã có những biến đổi sâu sắc Cậu hiểu được ý nghĩa thiêng liêng của việc học tiếng Pháp và tha thiết muốn được trau dồi học tập, nhưng đã không còn cơ hội để tiếp tục học tiếng Pháp ở trường nữa

Câu 4 (trang 26 sgk Ngữ văn lớp 7 Tập 1): Đọc phần 5 của văn bản Buổi học cuối cùng, liệt kê các chi tiết miêu tả thầy Ha-men (về hành động, ngôn ngữ,

ngoại hình) Các chi tiết này đã giúp tác giả khắc họa được tâm trạng gì của thầy Ha-men?

Trả lời:

Ngày đăng: 04/12/2022, 16:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  thầy  Ha- - Tuyển tập các bài soạn văn hay lớp 7 cả năm
nh ảnh thầy Ha- (Trang 27)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w